1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai

67 675 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi loài Lan có một đặc tính và vẻ đẹp riêng. Nếu như các loại Lan ngoại nhập hoặc Lan được trồng theo phương pháp cấy mô công nghệ sinh học như: Hồ điệp, Van đa, Đen rô, Hoàng hậu, Vũ nữ…, được trồng và bán đại trà, ra hoa quanh năm và ép cho hoa nở vào ngày tết, đa số đều đẹp nhưng không thơm, bền nhưng khó chăm sóc, thì Lan rừng một loại đặc sản “hương hoa quý của núi rừng” có sức sống bền dai, dễ trồng, dễ chăm sóc, hoa nở ngắn ngày nhưng bù lại rất thơm làm ngây ngất lòng người. Ở Gia Lai, Lan rừng cũng rất phong phú với hàng nghìn chủng loại: Từ Nghinh Xuân, Giả hạc, Đuôi cáo, Quế tím, Quế vàng cho đến các loại Hồ điệp, Vũ nữ, Đoản kiếm, Vũ kiếm, Hài đài cuộn, Kim tuyến, Kim điệp,… và thay nhau nở suốt bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Nếu như mùa Xuân là mùa khoe sắc của những bông hoa Nghinh xuân, Trúc Lan, Giả Hạc,... thì mùa Hạ đã có hoa lan Giáng Hương, Quế Vàng, Quế Tím các loại với mùi hương đậm đà và quyến rũ. Trước đây, người mua Lan rừng chủ yếu tới các cửa hàng Lan, vựa hoa cây cảnh…. Nhưng những năm gần đây người chơi Lan chuyển qua thú săn Lan rừng về tự trồng và chăm sóc. Ở thành phố Pleiku, Lan rừng được bán quanh năm nhưng mùa mưa là thời điểm rộ nhất, bởi tại thời điểm này, người chơi Lan thường tìm cho mình những giống Lan đẹp để chuẩn bị cho mùa Tết. Tây nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của các loại Lan rừng. Nhưng điều kiện để phát triển ngành trồng Lan rừng còn khó khăn, chưa có đơn vị nghiên cứu chuyên sâu về Lan rừng, tài liệu nghiên cứu về Lan rừng còn hạn chế. Chính vì lý do đó mà đề tài “Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai” được thực hiện nhằm làm tài liệu tham khảo cho các hộ gây trồng và kinh doanh Lan rừng và làm cơ sở ban đầu cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho việc kinh doanh Lan rừng ở thành phố Pleiku và các địa phương khác có điều kiện lập địa tương tự.

Trang 1

Mỗi loài Lan có một đặc tính và vẻ đẹp riêng Nếu như các loại Lan ngoại nhập hoặc Lan được trồng theo phương pháp cấy mô công nghệ sinh học như: Hồ điệp, Van

đa, Đen rô, Hoàng hậu, Vũ nữ…, được trồng và bán đại trà, ra hoa quanh năm và ép cho hoa nở vào ngày tết, đa số đều đẹp nhưng không thơm, bền nhưng khó chăm sóc, thì Lan rừng một loại đặc sản “hương hoa quý của núi rừng” có sức sống bền dai, dễ trồng, dễ chăm sóc, hoa nở ngắn ngày nhưng bù lại rất thơm làm ngây ngất lòng người

Ở Gia Lai, Lan rừng cũng rất phong phú với hàng nghìn chủng loại: Từ Nghinh Xuân, Giả hạc, Đuôi cáo, Quế tím, Quế vàng cho đến các loại Hồ điệp, Vũ nữ, Đoản kiếm,

Vũ kiếm, Hài đài cuộn, Kim tuyến, Kim điệp,… và thay nhau nở suốt bốn mùa Xuân -

Hạ - Thu - Đông Nếu như mùa Xuân là mùa khoe sắc của những bông hoa Nghinh xuân, Trúc Lan, Giả Hạc, thì mùa Hạ đã có hoa lan Giáng Hương, Quế Vàng, Quế Tím các loại với mùi hương đậm đà và quyến rũ

Trước đây, người mua Lan rừng chủ yếu tới các cửa hàng Lan, vựa hoa cây cảnh… Nhưng những năm gần đây người chơi Lan chuyển qua thú săn Lan rừng về tự trồng và chăm sóc Ở thành phố Pleiku, Lan rừng được bán quanh năm nhưng mùa

Trang 2

mưa là thời điểm rộ nhất, bởi tại thời điểm này, người chơi Lan thường tìm cho mình những giống Lan đẹp để chuẩn bị cho mùa Tết

Tây nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho

sự sinh trưởng phát triển của các loại Lan rừng Nhưng điều kiện để phát triển ngành trồng Lan rừng còn khó khăn, chưa có đơn vị nghiên cứu chuyên sâu về Lan rừng, tài

liệu nghiên cứu về Lan rừng còn hạn chế Chính vì lý do đó mà đề tài “Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai” được thực hiện nhằm làm tài liệu tham khảo cho các hộ gây trồng và kinh

doanh Lan rừng và làm cơ sở ban đầu cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho việc kinh doanh Lan rừng ở thành phố Pleiku và các địa phương khác có điều kiện lập địa tương tự

Trang 3

Chương 2 TỔNG QUAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quang

2.1.1 Các nghiên cứu về Lan rừng trên thế giới

Ở châu Á, danh từ Lan là tên có từ xa xưa trong Tứ thư Ngũ kinh và cả trong Kinh Dịch của Bách Gia Chư Tử (Trung Quốc 551 – 479 trước Công nguyên) Theo Bretchneider từ đời vua Thần nông – Trung Quốc (2800 trước Công nguyên) trong một tài liệu về cây thuốc, còn ghi lại hai loài lan được làm thuốc trị bệnh Đến đời nhà Tần – Trung Quốc (255 – 206 trước Công nguyên) có một quan thượng thư nghiên cứu và viết một tác phẩm về cây cỏ có mô tả hai loài lan làm thuốc Đời nhà Tống – Trung Quốc (960 – 1279) tác giả Mao Siang có viết một cuốn sách về dược thảo và phương pháp dưỡng sinh Cuốn sách trình bày về công dụng dược học của nhiều loài hoa lan Năm 1728, Matsuka (Nhật Bản) đã viết một quyển sách chỉ dẫn kỹ thuật trồng hoa lan

và bón phân, tưới nước cho hoa lan (Phan Thúc Huân, 2005)

Ở châu Âu, con người cũng biết đến hoa lan rất sớm Lan (Orchidologia) bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại Theo Phrastus (370 – 285 trước Công nguyên) là người đầu tiên dùng danh từ Orchis trong tác phẩm “Nghiên cứu về thực vật” để chỉ một loài lan Đầu thể kỷ 1 sau Công nguyên, Dioscoride đã đặt tên gọi cho hai cây trong tác phẩm của mình về cây thảo mộc làm thuốc Lobelius (1539 – 1616) trong nghiên cứu về thực vật của mình đã nhận xét về cây cỏ và xếp thành các họ đơn giản, trong đó có họ lan Các thế kỷ 16, 17, 18 người Châu Âu đặc biệt là người Anh đã đi khắp thế giới để nghiên cứu, sưu tầm cây cỏ Trong thời kỳ này nhiều loài hoa Lan nhiệt đới đã được đưa về Anh Năm 1794 ở Anh người ta đã biết được 15 loài Lan nhiệt đới và đến năm

Trang 4

1812, Loridiges đã thiết lập vườn Lan thương mại đầu tiên trên thế giới (Phan Thúc Huân, 2005)

Đến năm 1924, Gagnepain và Guillaumin với cuốn Flore General de

L’Indochine đã liệt kê ra 96 chi và 485 loài cho toàn thể Đông Dương với các mẫu vật

được lưu trữ tại Viện bảo tàng Paris

Năm 1992, Gunnar Seidenfaden ấn hành cuốn The Orchids of Indochina đã liệt

kê và mô tả được 140 chi và 800 loài cho cả 3 nước Việt, Miên , Lào

2.1.2 Các nghiên cứu về Lan rừng ở Việt Nam

Vào năm 1993, Phạm Hoàng Hộ trong cuốn Cây cỏ Việt Nam quyển III tập 2 đã

ghi nhận được khoảng 90 chi và 800 loài với hình vẽ, lời mô tả và nơi Lan mọc

Năm 1988, Trần Hợp trong cuốn Phong lan Việt Nam ghi nhận được 137 chi và

1153 loài, với một số rất ít hình ảnh còn một phần lớn là hình vẽ và lời mô tả Đến năm

2007, Trần hợp lại cho xuất bản cuốn Phong Lan vườn quốc gia Hoàng Liên Cuốn

sách đã giới thiệu về một tập hợp hơn 200 loài, thuộc 50 chi Lan khác nhau phân bố trên địa bàn 30.985 ha của Vườn Quốc gia Hoàng Liên

Năm 2005, Phan Thúc Huân viết cuốn Hoa Lan nuôi trồng và kinh doanh Tác giả đã tổng hợp, nghiên cứu, trình bày một cách hệ thống từ sinh học, kỹ thuật nhân giống, nuôi trồng và kinh doanh hoa lan Cuốn sách mang lại cho những người quan tâm, ham thích chơi hoa lan và nuôi trồng, kinh doanh hoa lan nhiều bổ ích lý thú để áp dụng trong nuôi trồng và kinh doanh

Theo khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá đa dạng di truyền của giống lan rừng Dendrobium thu thập tại tỉnh Bình Phước và thị xã Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) bằng kỹ thuật RAPD” (Lê Trần Phúc Khoa, 2007) Khóa luận đã rút ra kết luận các loài lan rừng giống Dendrobium khảo sát có sự đa dạng cao về di truyền

Năm 2008, Đào Thanh Vân đã xuất bản Giáo trình Hoa Lan Giáo trình nêu lên được những kiến thức cơ bản về giá trị, phân loại, đặc điểm hình thái, yêu cầu ngoại cảnh và kỹ thuật trồng Hoa Lan

Trang 5

Năm 2009, Nguyễn Thị Mỹ Duyên và công tác viên đã thực hiện đề tài “Nhân giống lan Dendrobium anosmum, Dendrobium mini bằng phương pháp nuôi cấy mô

Nghiên cứu các loại giá thể trồng lan Dendrobium mini thích hợp và cho hiệu quả cao”

Đề tài đã thực hiện hai quá trình vi nhân giống lan Dendrobium anosmum, Dendrobium mini và thử nghiệm ra cây Dendrobium mini trên nhiều loại giá thể khác

nhau với tổng cộng 6 thí nghiệm gồm 5 thí nghiệm trong phòng và 1 thí nghiệm ngoài

vườn Kết quả đạt được là sau 9,5 tháng từ hạt lan gieo cấy Dendrobium anosmum đã

cho ra cây lan hoàn chỉnh và có thể đem ra vườn trồng Sau 4 tháng nuôi cấy đã cho ra

được cây lan con Dendrobium mini hoàn chỉnh và có thể đem ra vườn trồng Thử nghiệm ra cây trên nhiều giá thể khác nhau thì thấy rằng đối với lan Dendrobium mini

trong giai đoạn đầu nuôi trồng thì giá thể thích hợp nhất cho cây là dớn và dừa miếng

2.1.3 Tình hình sản xuất và kinh doanh Phong Lan

2.1.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều nước trồng và xuất khẩu hoa Lan với số lượng lớn Trồng Lan đã trở thành một nghề đem lại lợi nhuận đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Ở Châu Âu có Hà Lan, Hungari, Đông Âu, Châu Á có Thái Lan, Singapo, Indonexia,… là những nước trồng và xuất khẩu Lan lớn nhất thế giới Ngoài ra cũng có nhiều quốc gia khác ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ cũng tham gia vào trồng và xuất khẩu hoa Lan

Trong các nước láng giềng của Việt Nam, Thái Lan có ngành công nghiệp hoa Lan rất phát triển nhờ tiếp thu thành tựu công nghệ sinh học thế giới Sự tiến bộ trong cải tiến quy trình và luôn tạo ra các sản phẩm mới lạ chủ yếu là do thành quả của việc nghiên cứu đa ngành, do đó ngành công nghệ sinh học vẫn sẽ tiếp tục là yếu tố chính trong sự phát triển công nghệ hoa Lan Thái Lan Diện tích hoa kiểng của Thái Lan là 12.160 ha trong đó Hoa Lan chiếm diện tích cao nhất là 3718 ha (2009) Dẫn đầu là hai loại Lan Dendrobium và Mokara kế đến là Oncidium, Aranda, Arachinis, Vanda, Ascodenda, Cattleya,… Đặc biệt là họ đã nhân giống thành công Lan Hài đặc hữu của

Trang 6

Việt Nam và được trồng khá rộng rãi Thái Lan có rất nhiều công ty lớn sở hữu vài chục ha như công ty Thái Orchid ở Ratchaburi, công ty Siam Taiyo ở Samut – Sakhon Các công ty này ngoài trực tiếp quản lý 15 – 20 ha, họ còn liên kết với các công ty nông trại nhỏ tạo thành hệ thống vệ tinh trong đó họ là hạt nhân trong sản xuất và xuất khẩu Các công ty lớn của Thái Lan đều sản xuất khép kín từ khâu tạo giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch, đóng gói, xuất khẩu Có khoảng 60 - 70% sản lượng Lan cắt cành của Thái Lan được xuất khẩu đến 38 nước trên thế giới, đạt giá trị 104 triệu đô (Trần Viết Mỹ, 2009)

Ngày nay, thú chơi hoa Lan đã được nâng lên thành nghệ thuật, nghề trồng Lan

đã được phát triển thành ngành công nghiệp có lợi nhuận cao như ở một số nước Thái Lan, Đài Loan,… Hơn nữa, nhờ quá trình sưu tầm các loài Lan đẹp, lạ mắt và các kỹ thuật lai tạo ra các thứ Lan mới tuyệt đẹp, nên số loài hoa Lan hiện nay trên thế giới có thể đã lên đến 100 ngàn loài Vì thế trong thời gian gần đây, trên thế giới cũng như ở Việt Nam ta, thú chơi hoa Lan đã trở nên phổ biến và có điều kiện phát triển hơn, không phân biệt địa vị, tuổi tác, hoàn cảnh kinh tế nữa, số người chơi và yêu chuộng hoa Lan ngày càng tăng nhanh, hay nói cách khác nhu cầu sử dụng các chủng loại hoa Lan đã và đang tăng Hoa Lan hiện đang được trồng và kinh doanh với 3 kiểu dáng là hoa cắt cành, cây đã thành thục trong chậu treo hay bám trên giá thể và cây Lan con từ

10 - 15cm

2.1.3.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam các vùng trồng hoa kiểng lớn như Tây Tựu (Hà Nội), Đà Lạt (Lâm Đồng), Thành phố Hồ Chí Minh, Sa đéc (Đồng Tháp) và Cái Mơn (Bến Tre) nhưng hoa Lan chỉ tập trung ở Đà Lạt và Thành phố Hồ Chí Minh với các loài hoa chính như: Dendrobium, Mokara, Oncidium, Vanda…và với diện tích khá khiêm tốn khoảng 200

ha Chúng ta chỉ có những nông trại quy mô nhỏ từ vài trăm m2 đến trên dưới 1 ha Chưa có công ty nào quy mô sản xuất từ 2 ha trở lên Tuy nhiên vài nông trại, doanh nghiệp cũng tạo được mối liên kết gắn bó với các hộ trồng Lan tạo thành hệ thống vệ

Trang 7

tinh trong sản xuất và tiêu thụ nhưng vẫn ở quy mô nhỏ vài ha Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô đã đạt được những thành công bước đầu tuy nhiên chất lượng sản phẩm còn thấp chưa thể cạnh tranh với sản phẩm cùng loại nhập từ nước ngoài (Trần Viết Mỹ, 2009)

Ở Thành phố Hồ Chí Minh với 168 ha Lan, sản lượng hàng năm mới chỉ giải quyết được 30% nhu cầu tại chỗ Một vài công ty như Long Đỉnh cũng xuất khẩu vài container sang Mỹ, Nhật với Mokara cắt cành tuy chất lượng đạt yêu cầu nhưng giá thành khá cao nên khó cạnh tranh với hoa Lan của các nước khác Đó là chưa kể đến số lượng không thể đáp ứng được khi xuất một lượng lớn theo thời gian dài Bên cạnh đó

do việc sản xuất nhỏ lẻ manh mún nên khâu hậu thu hoạch như xử lý mầm bệnh, đóng gói bao bì xuất khẩu chưa được các nhà sản xuất quan tâm (Trần Viết Mỹ, 2009)

Ở Việt Nam mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất và kinh doanh Phong lan song do còn thiếu công nghệ hiện đại để sản xuất hoa Lan xuất khẩu như công nghệ thu hoạch, kỹ thuật đóng gói cũng như khả năng bảo quản tại các cảng xuất hàng còn kém,

do đó việc tiếp nhận những công nghệ tiên tiến là rất cần thiết để nghề trồng Lan ở Việt Nam thật sự mang lại hiệu quả

Ở Gia Lai nói chung và Pleiku nói riêng sản xuất và kinh doanh Hoa Lan còn manh múng nhỏ lẻ chủ yếu theo quy mô hộ gia đình, sản xuất theo kinh nghiệm của riêng mình, chưa đầu tư một cách khoa học bài bản và áp dụng khoa học kỹ thuật cao trong sản xuất Hoa Lan nên chưa thật sự đem lại hiệu quả cao Ngoài ra, cần tạo mối liên kết giữa hộ trồng và kinh doanh Hoa Lan nhỏ lẻ trên địa bàn thành phố Pleiku với các công ty sản xuất, xuất khẩu Hoa Lan để tạo quy trình sản xuất và kinh doanh hiệu quả, để nghề trồng

và kinh doanh Hoa Lan phát triển hơn nữa và đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người trồng Lan

Trang 8

2.2 Địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Vị trí địa lý

Thành phố Pleiku là đô thị phía bắc Tây Nguyên, nằm trên trục giao thông giữa quốc lộ 14, quốc lộ 19 nối thông suốt cả nước, nằm trên cung đường Hồ Chí Minh, và trong vùng tam giác tăng trưởng các tỉnh lân cận, cũng như các quốc gia láng giềng như Campuchia, Lào Tổng diện tích tự nhiên là 26166,36 ha, là trung tâm kinh

tế, chính trị, văn hóa - xã hội của tỉnh Gia Lai Phía Bắc giáp huyện Chư Păh, phía Nam giáp huyện Chư prông và Chư sê, phía Tây giáp với Iagrai, phía Đông giáp với huyện Đăk Đoa Tọa độ địa lý từ 107050’30’’ đến 108006’10’’ kinh độ Đông, từ

13050’10’’ đến 14005’15’’ vĩ độ Bắc

2.2.2 Địa hình, khí hậu thủy văn

2.2.2.1 Địa hình

Thành phố Pleiku có địa hình cao nguyên miền núi, độ cao trung bình từ 720 –

800 mét so với mực nước biển, địa hình có hướng thoải dần về phía Đông Nam, có độ dốc từ 5 – 100

chia cắt bởi các nhánh suối, miệng núi lửa

2.2.2.2 Khí hậu

Thành phố Pleiku nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa

rõ rệt:

Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, khí hậu trong mùa này có

số lượng ngày nắng cao, nhiệt độ thay đổi từ 15 – 300C, độ ẩm thấp, lượng nước bốc hơi cao, gió chủ yếu hướng Đông – Bắc đến Tây – Nam

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 15 – 260C, độ ẩm cao, lượng nước bốc hơi thấp, gió chủ yếu từ Tây – Nam đến Đông – Bắc Lượng nước mưa trung bình hàng năm 2.234 mm/năm

Trang 9

2.2.2.3 Thủy văn

Thành phố Pleiku có hai hệ thống suối Tao bưng và Taikian và các nhánh nhỏ của chúng như Iarơdung, Iakrôm… có chiều dài tổng cộng 45 km, lưu vực 149 km2, chảy uốn lượn độ dốc dòng chảy 5 – 150

lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa

2.2.3 Các nguồn tài nguyên

2.2.3.1 Tài nguyên đất

Đất có nguồn gốc là sản phẩm phong hóa của đá mác ma phun trào siêu ma fic: bazan và tuf bazan gồm cả nhóm đất đỏ vàng chiếm 90% tổng diện tích Phân bố chủ yếu trên bề mặt nằm ngang và hơi nghiêng Đây là loại đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất ở

Nhóm đất thung lũng là nhóm đất có nguồn gốc trầm tích lắng đọng gồm các vật liệu sét, bột, cát, sạn mảnh vụn đá bazan phong hóa dở dang Màu xám nâu xen lẫn đôi chỗ màu xám đen do nhiễm các vật chất than, mùn hữu cơ Phân bố dọc theo các thung lũng suối Đây là đối tượng chủ yếu sản xuất nông nghiệp

Nhóm đất xói mòn là sản phẩm còn lại của quá trình xói mòn, xâm thực, bị phong hóa bạc màu, bị phân cắt mảnh, đây chủ yếu là nhóm đất chưa sử dụng

2.2.3.2 Tài nguyên nước

Thành phố có một hồ tự nhiên Biển hồ rộng khoảng 250 ha và các hồ nhân tạo

ở Biển hồ, Trà đa diện tích hơn 120 ha, đây là nguồn cung cấp nước chính cho thành phố

2.2.3.3 Thảm thực vật

Lớp phủ thực vật trên địa bàn thành phố Pleiku ở mức trung bình, do địa hình khác nhau mà thảm thực vật cũng khác nhau Ở thành phố chủ yếu là thảm thực vật nhân tạo trồng các giống cây đã thuần hóa: thông, cao su, keo lá tràm, keo lai và các loại cây công nghiệp cà phê, hồ tiêu, cây an trái,… Bên cạnh đó còn có hoa màu như: lúa, khoai mỳ, bắp… Ngoài ra còn có hệ thống cây xanh đường phố nhằm cải thiện môi trường và cảnh quan thành phố

Trang 10

Hồ T'nưng, Ngoài ra ngay tại Pleiku, du khách có thể được thưởng thức hương vị cà phê đặc thù và các món ăn đặc sản ở phố núi Pleiku

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 14,65% (giai đoạn 1999 - 2004), cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng ngày càng tăng trong cơ cấu chung của GDP Thu nhập bình quân đầu người đạt 662 USD/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 550 hộ chiếm 1,45%

(cuối năm 2003 là 1,78%)

Trang 11

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần, nguồn gốc Lan rừng được gây trồng tại thành phố Pleiku

- Mô tả đặc điểm hình thái một số loài được gây trồng tại thành phố Pleiku

- Điều tra kỹ thuật nhân giống và chăm sóc các loài Lan rừng tại khu vực nghiên cứu

- Thị trường tiêu thụ và vai trò kinh tế khi kinh doanh Lan rừng

- Những khó khăn và đề xuất khắc phục

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Ngoại nghiệp

- Kế thừa các thông tin về điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hóa của khu vực

nghiên cứu từ Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Pleiku

Trang 12

- Tiến hành phỏng vấn hộ trồng và kinh doanh Lan rừng dựa trên bảng câu hỏi đóng đã được chuẩn bị trước

- Khảo sát địa điểm nghiên cứu, khảo sát hiện trường để thu thập các thông tin

về thu gom Lan rừng

- Phân tích thị trường tiêu thụ

- Cuối cùng, sử dụng những nguồn thông tin đã được tổng hợp, tính toán để làm

cơ sở phân tích hoàn thành đề tài nghiên cứu

Trang 13

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thành phần, nguồn gốc Lan rừng được gây trồng tại thành phố Pleiku

4.1.1 Danh sách các loài Lan rừng được gây trồng và thu gom tại thành phố Pleiku

Quá trình điều tra Lan rừng tại thành phố Pleiku ghi nhận được 81 loài thuộc 14 chi được gây trồng và thu gom tại địa điểm nghiên cứu Được thể hiện tại bảng 4.1

Bảng 4.1: Danh sách các loài Lan rừng được gây trồng và thu gom tại thành phố Pleiku

STT Tên khoa học Tên phổ thông Tên địa phương Ghi

Dáng hương lá

2 Aerides falcata Lindl &

3 Aerides falcatum Lindl Dáng hương tam

4 Aerides houlettiana Rchb f Dáng hương quế

nâu

Dáng hương quế

5 Aerides multiflora Roxbury Dáng hương nhiều

Trang 14

6 Aerides odorata Poir Lour Quế lan hương Quế lan hương

7 Aerides rosea Loddiges ex

Lindl & Paxt

Dáng hương nhiều

8 Ascocentrum miniatum

13 Coelogyne calcicola Kerr Thanh đạm môi

14 Coelogyne eberhardtii

Gagnep

Thanh đạm Langbiang

Thanh đạm Langbiang

15 Cymbidium aloifolium (L.)

16 Cymbidium iridioides D Don Kiếm hồng hoàng Kiếm hồng hoàng

Trang 15

17 Cymbiduum atropurpureum

VIII Dendrobium Chi Lan Hoàng

Hoàng thảo Kim

27 Dendrobium cariniferum

Reichb f

Hoàng thảo nhất điểm hoàng Nhất điểm hoàng

28 Dendrobium christyanum

Trang 16

31 Dendrobium clavatum Hoàng thảo Kim

32 Dendrobium crepidatum

Lindl & Paxton

Hoàng thảo Long

Tuyết mai, Thanh

Tang & F.T Wang

Hoàng thảo hương duyên Trúc tình duyên

41 Dendrobium falconeri Hook

f

Hoàng thảo Trúc

Trang 17

42 Dendrobium farmeri Paxton Thủy tiên trắng Kiều trắng, Kiều

48 Dendrobium henryi Schltr Hoàng thảo henry Hoàng thảo henry

49 Dendrobium heterocarpum

50 Dendrobium jenkinsii Wall ex

Trang 18

56 Dendrobium nestor Trầm tím Trầm tím

57 Dendrobium nobile Lindley Hoàng thảo đùi gà Đùi gà tròn

58 Dendrobium pendulum Roxb Trúc phật bà Trúc quan âm

66 Dendrobium tortile Lindley Hoàng thảo xoắn Hoàng thảo xoắn

Trang 19

71 Dendrobium wattii Rchb f Hoàng thảo Bạch

72 Eria discolor Lindl Len hai màu Len hai màu

73 Eria globifera Rolfe Len hoa đơn Len hoa đơn

74 Holcoglossum subulifolium

(Rchb f.) Christenson Tóc tiên trung Tóc tiên

75 Hygrochilus parishii Veitch et

76 Pholidota imbricata (Roxb.)

Lindl

Tục đoạn đuôi phượng

Tục đoạn đuôi

77 Pholidota rubra Lindl Tục đoạn đỏ Tục đoạn đỏ

78 Renanthera coccinea Lour Huyết nhung dún Phượng vĩ bắc

Trang 20

Qua Bảng 4.1 số lượng loài Lan rừng được trồng và thu gom ở thành phố Pleiku rất đa dạng và phong phú Trong đó chi Hoàng thảo (Dendrobium) chiếm số lượng lớn nhất (54 loài) kết quả này cho thấy chính sự đa dạng phong phú về loài, màu sắc, kiểu dáng và hương thơm cũng như dễ chăm sóc và gây trồng của chi Hoàng thảo (Dendrobium) được nhiều người quan tâm, yêu thích và gây trồng cũng như thu gom

và kinh doanh nhiều nhất so với các chi Lan khác

4.1.2 Thành phần và nguồn gốc thu gom các loài Lan rừng tại thành phố Pleiku

Mỗi loài Lan rừng có đặc tính sinh thái riêng, có loài phân bố rất rộng từ Bắc vào Nam cũng có loài chỉ phân bố ở một vùng nhất định và đặc hữu chỉ vùng đó mới

có Nguồn gốc của các loài Lan rừng được thu gom tại thành phố Pleiku được trình bày

ở bảng 4.2 và bảng 4.3

Bảng 4.2: Thành phần và nguồn gốc thu gom các loài Lan rừng tại thành phố Pleiku

STT Tên loài

Số hộ thu gom

Nguồn gốc Ghi

chú

1 Dáng hương lá dày 14 Kon Tum, Đăk lăk, Lâm

Trang 21

6 Quế lan hương, Dáng hương

7 Dáng hương hồng 10 Lâm Đồng, Kon Tum,

8 Hỏa hoàng, Hoàng yến cam 13 Kon Tum, Đăk lăk

10 Lọng vàng cam 7 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk

12 Cù lao minh, Bạch môi, Uyên

13 Thanh đạm môi lông, Thanh

14 Thanh đạm Langbiang 8 Lâm Đồng, Bảo Lộc

15 Kiếm lô hội 10 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

Trang 22

18 Hoàng thảo lá cong 8 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

27 Hoàng thảo nhất điểm hoàng 14 Đà Lạt, Kon Tum

28 Đại bạch hạc 3 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

29 Hoàng thảo hoa vàng, Phi điệp

30 Hoàng thảo hoàng lạp 8 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

Trang 23

31 Hoàng thảo Kim thoa 9 Kon Tum, Lâm Đồng

32 Hoàng thảo sáp 14 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

35 Hoàng thảo bạch câu, Tuyết

36 Hoàng thảo Ngọc thạch, Hoàng

38 Thủy tiên mỡ gà 18 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

42 Hoàng thảo Trúc mành 10 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

Lâm Đồng, Điện Biên

43 Thủy tiên trắng 18 Gia Lai, Kon Tum, Lâm

Trang 24

46 Hoàng thảo Ý thảo 20 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

47 Hoàng trúc lan 9 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

Lâm Đồng, Quảng Trị

48 Thủy tiên tua, Thủy tiên râu

cánh, Hoàng thảo tua 18 Lâm Đồng, Đà Lạt

49 Hoàng thảo henry 10 Hoàng Liên Sơn, Lào Cai,

Trang 25

59 Trúc phật bà 18 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

61 Hoàng thảo thái bình, Lộng lẫy 4 Quảng Trị

62 Hoàng thảo Trinh bạch 8 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

67 Hoàng thảo ý ngọc, Phi điệp

68 Kim điệp thơm 9 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

Trang 26

72 Len hai màu 5 Lâm Đồng

76 Tục đoạn đuôi phượng 6 Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk,

80 Nghinh xuân, Ngọc điểm Đai

Gia Lai, Kon Tum, Đăk lăk, Lâm Đồng, Quảng Trị, Tây Ninh

Trang 27

rừng phát triển Cũng như nhờ sự đa dạng phong phú của hệ thực vật, động vật nói chung và Lan rừng nói riêng đã tạo nên nguồn cung cấp Lan rừng vô cùng quý giá

Để tính được tỷ lệ phần trăm các loài Lan rừng đã được thu gom đề tài đã thực hiện điều tra 20 hộ gia đình kinh doanh Lan rừng trên địa bàn thành phố Pleiku và kết quả được thể hiện tại bảng 4.3

Bảng 4.3: Tỷ lệ phần trăm các loài Lan rừng đã được thu gom tại thành phố Pleiku

STT Tên khoa học Tên phổ thông Số loài Tỷ lệ %

Ghi chú

8 Dendrobium Chi Lan Hoàng thảo 54 67%

Qua bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ phần trăm các loài Lan rừng được thu gom chênhlệch lớn và cao nhất là các loài thuộc chi Hoàng thảo (Dendrobium) chiếm tỷ lệ 67%, tiếp theo là chi Lan Dáng Hương (Aerides) chiếm tỷ lệ 9%; chi Lan Kiếm (Cymbidium) và chi Lan Ngọc điểm (Rhynchostylis) chiếm tỷ lệ 4%; các chi Lan Lọng (Bulbophyllum), chi Lan Thanh đạm (Coelogyne), chi Lan Len (Eria), chi Lan Tục đoạn (Pholidota) chiếm tỷ lệ 2%; các chi còn lại chiếm tỷ lệ 1%

Trang 28

Sở dĩ có sự chênh lệch về các loài được thu gom như vậy là vì đặc điểm hình thái của những loài này có hoa đẹp, thơm, lâu tàn được nhiều người ưa chuộng và đặc biệt các loại này dễ chăm sóc, giá cả hợp lý Còn các loại còn lại ví dụ như Cù lao

minh (Christensonia vietnamica Haager), Môi nứt vàng (Chiloschista parishii Seidenf.), Lan Len hai màu (Eria discolor Lindl.), Lan Len hoa đơn (Eria globifera Rolfe), Lọng vàng cam (Bulbophyllum elassonotum Summerh.), Lọng hoa to (Bulbophyllum macranthum Lindley),… chỉ những người thích sưu tầm các loại Lan rừng mới chú ý đến nên số lượng thu gom của các loài này khá ít

4.2 Đặc điểm hình thái của một số loài Lan rừng được gây trồng tại thành phố Pleiku

Mỗi loài Lan rừng đều có một đặc điểm hình thái riêng biệt, đôi khi cũng có những loài có đặc điểm hình thái y hệt nhau chỉ khi ra hoa mới phân biệt được Chính

vì lý do đó mà đề tài đã tiến hành điều tra thực tế và tham khảo một số tài liệu về Lan rừng để mô tả đặc điểm hình thái của 14 loài đại diện thuộc 14 chi Lan rừng tại thành phố Pleiku Cụ thể được trình bày trong bảng 4.4 dưới đây:

Bảng 4.4: Đặc điểm hình thái của một số loài Lan rừng được gây trồng tại thành phố Pleiku

STT Tên khoa học Tên phổ

thông

Tên địa phương Đặc điểm hình thái

Ghi chú

I Aerides

Chi Lan Dáng Hương

Phong lan thân ngắn, lá khoảng 12 chiếc cứng và dài

30 - 40 cm Chùm hoa dài 30

- 40 cm, hoa 30 - 50 chiếc, to 2,5 cm, mọc sát vào nhau, cánh dày, có hương thơm

Hoàng yến

Phong lan nhỏ, thân thẳng cao 25 - 30 cm, lá dày và cứng dài 20 - 30 cm rộng 2 -

3 cm Chùm hoa mọc thẳng

Trang 29

dài 20 - 25 cm, hoa 20 -30 chiếc to 2 cm, cánh hoa dài màu vàng cam

III Bulbophyllum Chi Lan

Lọng vàng cam

Phong lan nhỏ, củ hình trái

lê, cao 3 - 4 cm vuông góc

Lá 1 chiếc dài 15 - 20 cm Chùm hoa dài 20 cm, hoa nhiều to 1 cm

Căn diệp vàng

Phong lan lá rất nhỏ rụng hay héo khi ra hoa Chùm hoa dài 20 - 40 cm, hoa 15 -

Cù lao minh

Phong lan nhỏ, cao 20 - 30

cm, thân đơn lá mọc 2 bên, dài 4 - 6 cm, rộng 1,5 cm Chùm hoa mọc ở gần ngọn dài 10 - 15 cm, hoa 5 - 7 chiếc to 3,5 cm

VI Coelogyne

Chi Lan Thanh đạm

Thanh đạm Langbiang

Phong lan, củ bẹ cao 2 cm,

lá 2 chiếc ở đỉnh, dài 15 cm, rộng 3 cm Chùm hoa mọc ở ngọn củ, dài 6 cm, hoa 1 - 2 chiếc to 4 - 5 cm

Phong lan, củ rất nhỏ, lá dài

Trang 30

Long tu

đá

Phong lan thân dài 30 - 45

cm, buông rũ, lá dài 10 cm rộng 3 - 4 cm, rung lá vào mùa Thu Hoa 1 - 3 chiếc mọc ở các đốt gần ngọn, to 3

Len hoa đơn

Phong lan, củ tròn, lá 1 chiếc Hoa đơn to 3 cm

X Holcoglossum Chi Lan

Phong lan, lá 5 - 7 chiếc, hình ống dài chừng 30 - 50

cm Dò hoa dài 30 - 70 cm mang theo 15 - 20 hoa mầu trắng trong họng mầu nâu vàng, to chừng 4 - 5 cm

Cẩm báo nhung

Phong lan, thân ngắn, nhiều

rễ Lá thuôn trái xoan dài 15

- 25 cm, rộng 4 - 7 cm Cụm hoa chùm dài hơn lá, có 1 - 6 hoa ở đỉnh Hoa lớn, màu vàng xanh có đốm, vệt đỏ nâu, hoa thơm

Tục đoạn đuôi phượng

Phong lan, củ nhăn nheo, một lá Chùm hoa dài tới 40

Phượng vĩ bắc

Phong lan, thân dài 1 - 2 mét Chùm hòa dài 40 - 100

cm, hoa 30 - 70 chiếc to 5 - 6

Trang 31

XIV Rhynchostylis Chi Ngọc

Nghinh xuân, Ngọc điểm Đai châu

Phong lan, thân đơn cao 70 -

80 cm, lá to bản dài 30 - 40

cm, rộng 4 - 7 cm Chùm hoa dài 20 - 40 cm, hoa 40 -

60 chiếc, to 2 cm, có nhiều màu, hoa thơm

Qua bảng 4.4 trên cho thấy 14 loài Lan rừng có các đặc điểm hình thái riêng, có

loài xanh tốt quanh năm như Nghinh xuân (Rhynchostylis gigantea [Lindl.] Ridley), Đuôi cáo (Aerides multiflora Roxbury), cũng có loài rụng lá mới ra hoa như Long tu (Dendrobium primulinum Lindley) Vào mùa Thu bắt đầu rụng lá, khi rụng hết lá chỉ

còn lại trơ thân khẳng khiu Đây chính là mùa nghỉ của các loài Lan rừng để chuẩn bị cho một mùa ra hoa mới Cũng có loài Lan rừng không có lá như Môi nứt vàng

(Chiloschista parishii Seidenf.) chỉ có bộ rễ bám vào thân cây Quả thực Lan rừng rất

đa dạng phong phú về loài, hình thái, màu sắc, hương thơm,… và ngày càng có nhiều loài Lan rừng mới được phát hiện Dưới đây là hình ảnh một số loài Lan rừng đại diện trong quá trình nghiên cứu

Hình 4.2: Đuôi cáo

(Aerides multiflora Roxbury)

Hình 4.1: Lan Nghinh xuân

(Rhynchostylis gigantea [Lindl.] Ridley)

Trang 32

Hình 4.4: Hỏa hoàng

(Ascocentrum miniatum (Lindl.)

Kuntze)

Hình 4.6: Cù lao minh

(Christensonia vietnamica Haager)

Hình 4.5: Kiếm lô hội (Cymbidium

aloifolium (L.) Sw.)

Hình 4.3: Môi nứt vàng

(Chiloschista parishii Seidenf.)

Trang 33

Hình 4.9: Tục đoạn đuôi phượng

(Pholidota imbricata (Roxb.) Lindl.)

Ngày đăng: 06/02/2017, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga, 2008. Giáo trình Hoa Lan. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 79 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hoa Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
2. Phan Thúc Huân, 2005. Hoa Lan nuôi trồng và kinh doanh. Nhà xuất bản Phương Đông, Hồ Chí Minh, 60 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Lan nuôi trồng và kinh doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
3. Trần hợp, 1998. Phong lan Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hồ Chí Minh, 20 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong lan Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
4. Nguyễn Công Nghiệp, 2000. Trồng hoa lan. Nhà xuất bản Trẻ, Hồ Chí Minh, 40 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng hoa lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
5. Huỳnh Văn Thới, 1996. Cẩm nang nuôi trồng và kinh doanh phong lan. Nhà xuất bản Trẻ, Hồ Chí Minh, 21 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nuôi trồng và kinh doanh phong lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
6. Phạm Hoàng Hộ, 1993. Cây cỏ Việt Nam quyển III tập 2. Nhà xuất bản Trẻ, Hồ Chí Minh, 25 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam quyển III tập 2
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
7. Lê Trần Phúc Khoa, 2007. Đánh giá đa dạng di truyền của giống lan rừng Dendrobium thu thập tại tỉnh Bình Phước và thị xã Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) bằng kỹ thuật RAPD. Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Nông Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đa dạng di truyền của giống lan rừng "Dendrobium thu thập tại tỉnh Bình Phước và thị xã Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) bằng kỹ thuật RAPD
9. Trần Viết Mỹ, Sản xuất và tiêu thụ Hoa Lan: Những điều ghi nhận ở Thailand, 2009. http://www.khuyennongtphcm.com/index.php?mnu=6&s=600007&id=2935 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.2: Đuôi cáo - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.2 Đuôi cáo (Trang 31)
Hình 4.4: Hỏa hoàng - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.4 Hỏa hoàng (Trang 32)
Hình 4.6: Cù lao minh - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.6 Cù lao minh (Trang 32)
Hình 4.5: Kiếm lô hội (Cymbidium - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.5 Kiếm lô hội (Cymbidium (Trang 32)
Hình 4.9: Tục đoạn đuôi phượng - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.9 Tục đoạn đuôi phượng (Trang 33)
Hình 4.8: Tóc tiên trung - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.8 Tóc tiên trung (Trang 33)
Hình 4.10: Thanh đạm Langbiang - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.10 Thanh đạm Langbiang (Trang 33)
Hình 4.7: Lọng vàng cam - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.7 Lọng vàng cam (Trang 33)
Hình 4.14: Len hoa đơn - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.14 Len hoa đơn (Trang 34)
Hình 4.12: Hoàng thảo sáp - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.12 Hoàng thảo sáp (Trang 34)
Hình 4.13: Phượng vĩ bắc - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.13 Phượng vĩ bắc (Trang 34)
Hình 4.11: Cẩm báo nhung - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.11 Cẩm báo nhung (Trang 34)
Bảng 4.7: Phòng trừ sâu bệnh - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Bảng 4.7 Phòng trừ sâu bệnh (Trang 43)
Hình 4.15: Sơ đồ kênh tiêu thụ Lan rừng tại thành phố Pleiku - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Hình 4.15 Sơ đồ kênh tiêu thụ Lan rừng tại thành phố Pleiku (Trang 45)
Bảng 4.10: Vai trò kinh tế của kinh doanh Lan rừng đối với các hộ tại thành phố Pleiku - Đánh giá thực trạng gây trồng và kinh doanh Lan rừng quy mô hộ gia đình tại thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
Bảng 4.10 Vai trò kinh tế của kinh doanh Lan rừng đối với các hộ tại thành phố Pleiku (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w