1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài thảo luận QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT 2 NHIỆM vụ dân tộc dân CHỦ của CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn 1930 – 1945

31 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 178,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. THỰC TIỄN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ KHI PHÁP XÂM LƯỢC Thực dân Pháp khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam để kinh doanh lấy lợi, chủ nghĩa tư bản đã phát sinh. Chúng ra sức bóc lột nhân dân Việt Nam, coi đó là nguồn nhân công rẻ mạt để phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa của chúng. Trong vô vàn hình thức bóc lột, phải kể đến thủ đoạn bóc lột nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng (thuế ruộng đất, thuế thân, thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện và hàng trăm thứ thuế khác…). Chính điều đó làm cho nhân dân ta càng khốn đốn, mâu thuẫn giữan hân dân ta và thực dân Pháp ngày càng quyết liệt. Sự bóc lột của thực dân Pháp đã làm cho tình hình xã hội Việt Nam có sự phân hoá sâu sắc; trong đó giai cấp nông dân chiếm trên 90% vừa bị phong kiến, lại vừa bị thực dân bóc lột nặng nề bằng cả thủ đoạn sưu cao, thuế nặng, tô tức, phu phen, tạp dịch… giai cấp công nhân ra đời sớm nhưng cũng bị Pháp đàn áp. Giai cấp tư sản bị Pháp chèn ép đến cùng, không thể nào ngóc đầu lên được. Thực trạng Việt Nam lúc này vô cùng khốn đốn. Trong xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản cần phải được giải quyết. 1. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, đế quốc. 2. Mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân đông đảo và giai cấp địa chủ phong kiến. Giải quyết được hai mâu thuẫn trên, chính là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam. Nhiệm vụ dân tộc dân chủ do đó vừa là tất yếu vừa là bắt buộc của cách mạng Việt Nam. Nó xuất phát từ thực tiễn của bối cảnh Việt Nam. Hai nhiệm vụ này không phải đến khi Đảng ra đời mới được đặt ra, mà nó đã nhen nhóm từ đó rất lâu. Ngay giữa thế kỷ thứ 19, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì các phong trào yêu nước đã nổ ra và phát triển mạnh mẽ. Các cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp đã nổi dậy ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam và trở thành mục tiêu của mọi cuộc đấu tranh và mọi cuộc khởi nghia. Dù đó là phong trào do các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,…..hay đó là phông trào của nông dân, trí thức yêu nước, tiểu tư sản, tư sản dân tộc,.. thì đó đều nhằm mục đích đánh đuổi cho bằng được thực dân Pháp. Nhưng rốt cuộc các phong trào này đều bị đánh bại. Nguyên nhân là họ chưa xác định được kẻ thù ( ví dụ như : Phan Bội Châu dựa vào Pháp để đánh Nhật, Phan Chu Trinh lại chủ trương đổi mới theo mô hình của nước Pháp ) từ nhận thức sai kể thù nên các vị tiền bối đi trước đều không nhận thức rõ mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn đó là gì. Vì vậy, không thể nhìn ra rõ nhiệm vụ cần thiết. Đến tận đầu thế kỷ XX, nước ta vẫn trong tình trạng khủng hoảng về đường lối Mãi đến sau này thông qua hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ khi bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước, qua quá trình buôn ba, khảo nghiệm ở các nước phương Tây … cho đến khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam mới tìm được đường đi cho cách mạng Việt Nam. Thông qua quá trình tìm tòi, học hỏi và khảo cứu tình trạng nước ngoài kết hợp với việc phân tích tình hình trong nước, đến ngày 321930 tại Hương Cảng, Trung Quốc. Người đã thành lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam và đề ra “cương lĩnh vắn tẵt và sách lược vắn tắt” trong đó Người nêu ra cách mạng Việt Nam phải trải qua 2 giai đoạn: cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn đó kế tiếp nhau, không có bức tường nào ngăn cách. Cương lĩnh viết “ chủ truơng làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Như vậy ngay từ đầu Người đã thông suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng nước ta là con đường kết hợp đang cao ngon cờ độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa. Như vậy mục tiêu đó cho thấy tính chất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đó là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân, giai cáp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên cơ sở liên minh công nông, nhằm mục đích đánh đổ đế quốc, phong kiền, giải phóng dân tộc, thực hiện người cày có ruộng đất, lập nên nứơc Việt Nam dân chủ công hoà, tức nhà nước dân chủ nhân dân, mà tạo điều kiện cho nhà nước Việt Nam không qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa. Và một cuộc cách mạng như thế người ta gọi là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Đó cũng là cuộc cánh mạng dân chủ kiểu mới ở một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến, nó khác với cuộc cách mạng dân chủ kiểu cũ do giai cấp tư sản lãnh đạo như cách mạng Pháp 1789 và cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ năm 1925. Tiến hành cuộc cách mạng dân tộc chình là tiến tới đánh đuổi đế quốc thực dân làm cho nước nhà hoàn toàn độc lập. Còn giải quyết nhiệm vụ dân chủ chình là đánh đổ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nhân dân. Đó là nhiệm vụ cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam nhưng không phải lúc nào cũng diễn ra cùng một lúc. Tuỳ từng thời kỳ, tưng giai đoạn mà vận dụng hợp lý. Vậy haio nhiệm vụ đó được thực hiện như thế nào và thực hiện đến đâu đi từng vào giai đoạn cụ thể sẽ sáng rõ.

Trang 1

MỤC LỤC

I THỰC TIỄN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ KHI PHÁP XÂM

LƯỢC 3

II VẤN ĐỀ DÂN TỘC – DÂN CHỦ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO TRONG CÁC CƯƠNG LĨNH CỦA ĐẢNG TA 6

1 Giai đoạn 1930 – 1935 6

1.1 Luận cương chính trị tháng 10 – 1930 6

Nội dung Luận cương: 6

1.2 Chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng từ 1931 – 1935 13

2 Giai đoạn 1936 -1939 15

2.1Hoàn cảnh lịch sử 15

Tình hình thế giới: 15

Tình hình trong nước: 16

2.2 Chủ trương và nhận thức mới của Đảng 17

3.Giai đoạn 1939 – 1945 19

3.1 Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng 19

a Tình hình thế giới và trong nước 19

b.Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng 21

c Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 23

3.2 Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền 24

a Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần * Thời cơ trong cách mạng tháng Tám: 24

b Tổng khởi nghĩa tháng Tám giành chính quyền trong cả nước: 27

c Ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử của Cách mạng tháng Tám 1945: 29

III KẾT LUẬN 31

Trang 2

ĐỀ TÀI: QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT 2 NHIỆM VỤ DÂN TỘC DÂN CHỦ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945

LỜI MỞ ĐẦU: Trước kia, Việt Nam vốn là một nước phong kiến và nông nghiệp Từ khi bị đế quốc Pháp xâm chiếm, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Với đặc trưng của một nước tư bản chủ nghĩa, Pháp trong cả hai lần khai thác thuộc địa đã

áp dụng chính sách độc quyền - chia để trị Chúng chia nước ta làm

ba xứ để cai trị : Bắc kì - Trung kì và Nam kì Giữa thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam có sự cấu kết chặt chẽ với nhau Pháp dựa vào phong kiến để lấy cơ sở đàn áp nhân dân, còn phong kiến Việt Nam lại nhờ vào Pháp để duy trì địa vị của mình Những hình thức áp bức, bóc lột tàn nhẫn, dã man của phong kiến chẳng những không được xoá bỏ mà còn bị thực dân Pháp lợi dụng để bóc lột, áp bức nhân dân Việt Nam nặng nề thêm Nguyên nhân đó là dẫn đến sự mâu thuẫn gay gắt giữa nông dân và phong kiến, vấn đề dân chủ được đặt ra.

Trang 3

I THỰC TIỄN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ KHI PHÁP XÂM LƯỢC

Thực dân Pháp khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam để kinh doanh lấylợi, chủ nghĩa tư bản đã phát sinh Chúng ra sức bóc lột nhân dân ViệtNam, coi đó là nguồn nhân công rẻ mạt để phục vụ cho quá trình khaithác thuộc địa của chúng Trong vô vàn hình thức bóc lột, phải kể đếnthủ đoạn bóc lột nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng (thuế ruộngđất, thuế thân, thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện và hàng trămthứ thuế khác…) Chính điều đó làm cho nhân dân ta càng khốn đốn,mâu thuẫn giữan hân dân ta và thực dân Pháp ngày càng quyết liệt Sựbóc lột của thực dân Pháp đã làm cho tình hình xã hội Việt Nam có sựphân hoá sâu sắc; trong đó giai cấp nông dân chiếm trên 90% vừa bịphong kiến, lại vừa bị thực dân bóc lột nặng nề bằng cả thủ đoạn sưucao, thuế nặng, tô tức, phu phen, tạp dịch… giai cấp công nhân ra đờisớm nhưng cũng bị Pháp đàn áp Giai cấp tư sản bị Pháp chèn ép đếncùng, không thể nào ngóc đầu lên được Thực trạng Việt Nam lúc này

vô cùng khốn đốn Trong xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bảncần phải được giải quyết

1 Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, đế quốc.

2 Mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân đông đảo và giai cấp địa chủ phong kiến.

Giải quyết được hai mâu thuẫn trên, chính là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ ở Việt Nam Nhiệm vụ dân tộc - dân chủ do đó vừa là tất yếu vừa là bắt buộc của cách mạng Việt Nam Nó xuất phát từ thực tiễn của

Trang 4

bối cảnh Việt Nam Hai nhiệm vụ này không phải đến khi Đảng ra đời mới được đặt ra, mà nó đã nhen nhóm từ đó rất lâu Ngay giữa thế kỷ thứ 19, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì các phong trào yêu nước đã nổ

ra và phát triển mạnh mẽ Các cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp đã nổi dậy

ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam và trở thành mục tiêu của mọi cuộc đấu tranh và mọi cuộc khởi nghia Dù đó là phong trào do các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… hay đó là phông trào của nông dân, trí thức yêu nước, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, thì đó đều nhằm mục đích đánh đuổi cho bằng được thực dân Pháp Nhưng rốt cuộc các phong trào nàyđều bị đánh bại Nguyên nhân là họ chưa xác định được kẻ thù ( ví dụ như : Phan Bội Châu dựa vào Pháp để đánh Nhật, Phan Chu Trinh lại chủ trương đổi mới theo mô hình của nước Pháp ) từ nhận thức sai kể thù nên các vị tiềnbối đi trước đều không nhận thức rõ mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn đó là

gì Vì vậy, không thể nhìn ra rõ nhiệm vụ cần thiết Đến tận đầu thế kỷ XX, nước ta vẫn trong tình trạng khủng hoảng về đường lối

Mãi đến sau này thông qua hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ khi bắt đầu ra

đi tìm đường cứu nước, qua quá trình buôn ba, khảo nghiệm ở các nước phương Tây … cho đến khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam mới tìm được đường đi cho cách mạng Việt Nam Thông qua quá trình tìm tòi, học hỏi và khảo cứu tình trạng nước ngoài kết hợp với việc phân tích tình hình trong nước, đến ngày 3-2-1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc Người đã thành lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam và đề ra “cương lĩnh vắn tẵt và sách lược vắn tắt” trong đó Người nêu ra cách mạng Việt Nam phải trải qua 2 giaiđoạn: cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai giai đoạn đó kế tiếp nhau, không có bức tường nào ngăn cách Cương lĩnh viết “

Trang 5

chủ truơng làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới

xã hội cộng sản” Như vậy ngay từ đầu Người đã thông suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng nước ta là con đường kết hợp đang cao ngon cờ độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa Như vậy mục tiêu đó cho thấy tính chất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Đó là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân- một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân, giai cáp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên cơ sở liên minh công nông, nhằm mục đích đánh đổ

đế quốc, phong kiền, giải phóng dân tộc, thực hiện người cày có ruộng đất, lập nên nứơc Việt Nam dân chủ công hoà, tức nhà nước dân chủ nhân dân,

mà tạo điều kiện cho nhà nước Việt Nam không qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa Và một cuộc cách mạng như thế người

ta gọi là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Đó cũng là cuộc cánh mạng dân chủ kiểu mới ở một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến, nó khác với cuộc cách mạng dân chủ kiểu cũ do giai cấp tư sản lãnh đạo như cách mạng Pháp 1789 và cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ năm 1925 Tiến hành cuộc cách mạng dân tộc chình là tiến tới đánh đuổi đế quốc thực dân làm cho nước nhàhoàn toàn độc lập Còn giải quyết nhiệm vụ dân chủ chình là đánh đổ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nhân dân Đó là nhiệm vụ cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam nhưng không phải lúc nào cũng diễn ra cùng một lúc Tuỳ từng thời kỳ, tưng giai đoạn mà vận dụng hợp lý Vậy haio nhiệm

vụ đó được thực hiện như thế nào và thực hiện đến đâu đi từng vào giai đoạn

cụ thể sẽ sáng rõ

II VẤN ĐỀ DÂN TỘC – DÂN CHỦ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO TRONG CÁC CƯƠNG LĨNH CỦA ĐẢNG TA

Trang 6

1 Giai đoạn 1930 – 1935

1.1 Luận cương chính trị tháng 10 – 1930

Nội dung Luận cương:

Luận cương đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phongkiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ởĐông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo

- Luận cương chỉ rõ: mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa 1 bên là thợthuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với 1 bên là địa chủ phong kiến

và tư bản đế quốc

- Luận cương vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng ĐôngDương là : lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc cách mạng tưsản dân quyền, có tính chất thổ địa và phản đế , tư sản dân quyền cáchmạng là thời kì dự bị để làm xã hội cách mạng, sau khi cách mạng tư sảndân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kì tư bản mà tranhđấu thẳng lên con đường XHCN

- Luận cương khẳng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là :đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để để đánh đổ

đề quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hainhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau, vì có đánh đổ đếquốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ, để tiến hành cách mạngthổ địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổđược đế quốc chủ nghĩa Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định:

Trang 7

“ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở

để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày

- Về lực lượng cách mạng: Luận cương chỉ rõ, giai cấp vô sản vừa là

động lục chính của cách mạng tư sản dân quyền, vừa là giai cấp lãnh đạocách mạng Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và là lục lượng mạnh củacách mạng Tư sản thương nghiệp thì đứng về phe đế quốc và địa chủchống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc giacải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc Tronggiai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự, tiểu tưsản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng háitham gia chống đế quốc trong thời kì đầu Chỉ có các phần tử lao khổ ởcác đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thấtnghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi

- Về phương pháp cách mạng : Luận cương chỉ rõ, để đạt được mục tiêu

cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giànhchính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng vềcon đường võ trang bạo động, phải tuân theo khuôn phép nhà binh

- Về quan hệ giữa cách mạng VN với cách mạng thế giới: Luận cương

khẳng định cách mạng đông dương là 1 bộ phận của cách mạng vô sảnthế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giaicấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiếtliên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địanhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ởĐông Dương

Trang 8

- Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Luận cương khằng định: sự lãnh đạo của

đảng cộng sản là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng , đảngphải có đường lối chính trị đúng dắn, có kỉ luật tập trunng , liên hệ mậtthiết với quần chúng Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủnghĩa Mác- Lê nin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợicủa giai cấp vô sản ở đông dương, đấu tranh đề đạt được mục đích cuốicùng là chỉ nghĩa cộng sản

* Ý nghĩa của Luận cương :

Từ nội dung cơ bản nêu trên, có thể thấy, Luận cương chính trị \khẳng địnhlại nhiều vấn đề căn bản thuộc chiến lược cách mạng mà chính cương vắn tắt

và sách lược vắn tắt đã nêu ra

So sánh Luận cương chính trị Tháng 10-1930 với Cương lĩnh chính trịđầu tiên của Đảng

- Điểm giống nhau:

+ Chiến lược phát triển CM: Độc lập dân tộc gắn liền CNXH

+ Nội dung CM về tư sản dân quyền: Đánh đổ đế quốc & phong kiến

+ Thống nhất vai trò của các lực lượng cơ bản của CM: vai trò lãnh đạocủa công nhân và vai trò động lực mạnh của CM của nông dân

+ Thống nhất phương pháp CM : vũ trang bạo động

+ Thống nhất mối quan hệ giữa CM Việt Nam & CM thế giới : CM ViệtNam là một bộ phận của CM thế giới

Trang 9

+ Thống nhất về vai trò lãnh đạo của Đảng trong tiến trình CM.

- Điểm khác nhau:

+ Luận cương tháng 10 -1930 không đưa nhiệm vụ chống đế quốc lênhàng đầu, không nêu ra mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc ViệtNam và đế quốc Pháp

+ Đánh giá không đúng vai trò CM của tầng lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặttích cực của tư sản dân tộc, chưa thấy được khả năng phân hóa, lôi kéo một

bộ phận địa chủ vừa và nhỏ tham gia CM, do đó Luận cương không đề rađược một liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống

đế quốc xâm lược và tay sai

- Nguyên nhân chủ yếu khác nhau:

+ Luận cương chưa phân tích những mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộcđịa nửa phong kiến của Việt Nam

+ Do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề giai cấp, dân tộc trong CMthuộc địa

+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp tử khuynh hướng “Tả” của Quốc tế Cộng sản

và một số Đảng Cộng sản trong thời gian đó

Luận cương tháng 10-1930 đã không chấp nhận những điểm mới, sáng tạotrong Chính cương của Nguyễn Ái Quốc

* Vấn đề dân tộc và dân chủ được chú trọng như thế nào trong giai đoạnnày:

Trang 10

Trong giai đoạn này, vấn đề dân tộc dân chủ được chú trọng, gắn liền vớinhau và có mối quan hệ biện chứng với nhau.

Sự xuất hiện Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu năm 1930 khác hẳn sự ra đờicủa các tổ chức chính trị đương thời, đã thu hút sự chú ý của đông đảo cácgiai tầng xã hội tuyên truyền chống cộng đã phản tác dụng, vô hình chunglại đề cao chủng nghĩa Cộng sản Đó cũng là lúc hình ảnh nhà nước công -nông ở Liên Xô đang có sức thuyết phục khá lớn, nhiều dân tộc bị áp bứcđang mơ ước chế độ Xô - Viết… Như thế một thời kỳ đấu tranh cách mạng

đi theo xu hướng mới nhất định sẽ bùng nổ Ở Việt Nam từ năm 1930 trở đi,con đường Cách mạng vô sản đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh bằng nhữngcao trào rộng lớn Mở đầu cho những bước phát triển mới là sự bùng nổ caotrào chống đế quốc phong kiến những năm 1930 - 1931, đỉnh cao là sự xuấthiện và tồn tại của các Xô - Viết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Đảng ta đãđánh giá: “Trực tiếp mà nói, không có những trận chiến đấu giai cấp rungtrời chuyển đất những năm 1930 - 1931 trong đó công - nông đã vung ranghị lực cách mạng phi thường của mình thì không thể có cao trào nhữngnăm 1936 - 1939” Cao trào đấu tranh cách mạng 1930 -1 931 đỉnh cao là

Xô Viết Nghệ Tĩnh, là “Bước thắng lợi đấu tiên có ý nghĩa quyết định đốivới toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng.” Cùng với nhu cầudân chủ ngày càng tăng lên trong xã hội, các hội quần chúng công khai rađời như hội Tương Tế, hội Cấy, hội Gặt, hội Thể Thao; các nghiệp đoàncũng hình thành Đấu tranh công khai, hợp pháp đòi dân sinh, dân chủ trongcác tầng lớp nhân dân từ đó cũng dần dần phát triển Khi hệ thống ĐảngCộng Sản Đông Dương được phục hồi thì phong trào đấu tranh cách mạngcủa quần chúng công nông cũng được dấy lên mạnh mẽ dưới những hình

Trang 11

thức ôn hòa như mít - tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị Đến năm

1935, bằng sự phục hồi của Đảng Cộng Sản Đông Dương và các lực lượngyêu nước, phong trào dân tộc lại sẵn sàng bước vào một thời kỳ đấu tranhmới

Có thể nói những năm đầu tiên trên con đường Cách mạng vô sản, phongtrào dân tộc sau hơn nửa thế kỷ tồn tại, phát triển đã có những yếu tố cănbản được kiểm nghiệm trong thực tế để khẳng định có thể đảm bảo đưaphong trào đến thắng lợi cuối cùng

 Nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong giai đoạn này: Nắm vững ngọn

cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kì cả nước tiếnhành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ đế quốc,giành chính quyền về tay công nông

 Ưu, nhược điểm của luận cương

Ưu điểm :

- Từ việc khẳng định tính chất XH Đông Dương là một xã hội thuộc địa nửa :phong kiến thì luận cương khẳng định hướng tiến lên của cách mạng Đông Dương là làm CMDTDC và tiến lên CNXH không qua phát triển TBCN Chỉ ra được điều kiện khách quan và chủ quan của bước bỏ qua TBCN đó là CNXH Liên Xô giành thắng lợi (khách quan) và ĐCSĐD ra đời (chủ quan)

- Chỉ rõ bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân là khởi nghĩa

vũ trang, muốn thắng lợi thì phải xây dựng lực lượng cách mạng mà lực lượng chính trị là chủ yếu, đồng thời phải tuân thủ những quy luật của chiến tranh và nổ ra khi có thời cơ cách mạng

Trang 12

- Khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSĐD, để xây dựng một Đ vững mạnh thì:

+ Phải có đường lối chính trị đúng đắn

+ Có kỷ luật tập trung liên hệ mật thiết với quần chúng, trải qua quá trình đấu tranh để hình thành

+ Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động

Những điểm hạn chế của luận cương:

- Không vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu trong XHĐD lúc bấy giờ nên không khẳng định được nhiệm vụ chống ĐQ là hàng đầu

- Không thấy được tính cách mạng của giai cấp tiểu tư sản VN

- Không thấy được mặt tích cực của giai cấp TSVN

- Không có chính sách phân hoá để nôi kéo một bộ phận thuộc về địachủ PKVN về phía cách mạng

- Do đó không có chính sách liên minh dân tộc và giai cấp một cách rộng rãi

Nguyên nhân của những hạn chế:

-Nhận thức giáo điều và máy móc mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong cách mạng của một nước thuộc địa

- Hiểu không đầy đủ về đặc điểm tình hình các nước Đông Dương

- Chịu ảnh hưởng trực tiếp của khuynh hướng tả khuynh từ quốc tế cộng sản

1.2 Chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng từ

1931 – 1935

Trang 13

Mới ra đời chưa lâu, Đảng đã phát động được phong trào cách mạng rộng lớn mà đỉnh cao là Xô Viết – Nghệ Tĩnh Giữa lúc phong trào lên cao, cuối

năm 1931, Pháp đã thi hành chính sách Khủng bố trắng làm cho lực lượng

Toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương bị bắt

Do đó phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống

Trong giai đoạn này bọn Pháp cũng thi hành các thủ đoạn trong các mặt chính trị, kinh tế cũng như văn hóa xã hội Ví dụ như tăng số đại diện người Việt vào cơ quan lập pháp Cho người bản xứ tham gia đấu thầu một số côngtrình công cộng tổ chức một số trường Cao đẳng, lợi dụng tôn giáo để chia

rẽ khối đoàn kết

Tuy bị quân địch khủng bố ác liệt nhưng nhờ tinh thần và nghị lực phi

thường được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng trong những năm

1930 -1931, Đảng và quần chúng đã vượt qua khó khăn thử thách, từng bướckhôi phục tổ chức đảng và phong trào cách mạng

Các đảng viên trong tù tìm cách lien lạc với nhau và bắt lien lạc với bên ngoài để hoạt động

Số đảng viên còn lại bên ngoài bí mật tìm cách gây dựng lại các tổ chức cơ

sở Đảng

Đầu năm 1932 Quốc tế cộng sản chỉ thị Lê Hồng Phong cùng một số đồng chí chủ chốt ở trong và ngoài nước tổ chức ra Ban lãnh đạo Trung ương của

Trang 14

Đảng tháng 6 – 1932, Ban lãnh đạo Trung ương đã công bố Chương trình hành động của Đảng cộng sản Đông Dương

Đảng chuẩn bị cho cuộc võ trang bạo động thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến và tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành những quyền lợi hàng ngày, rồi đưa quần chúng tiến lên đấu tranh cho những mục tiêu chính trịn cao hơn

Chương trình hành động còn đề ra nhưng yêu cầu cụ thể cho từng giai cấp

và tầng lớp nhân dân, vạch rõ phải ra sức tuyên truyền mở rộng ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng

Nhũng yêu cầu chính trị trước mắt cùng với những biện pháp tổ chức và đấu tranh do Đảng vạch ra trong Chương trình hành động năm 1932 phù hợp vớiđiều kiện lịch sử lúc bấy giờ Nhờ vậy, phong trào cách mạng của quàn chúng và hệ thống tổ chức Đảng nhanh chóng được phục hồi

Tháng 3 – 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao – Trung Quốc đã khẳng định thắng lợi của cuộc đấu tranh khôi phục phong trào cách mạng và hệ thống tổ chức Đảng Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ trước mắt đó là : củng cố và phát triển Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng, mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh, ủng hộLiên Xô, ủng hộ cách mạng Trung Quốc…

Trang 15

- Chủ nghĩa Phát xít đã xuất hiện và thắng thế ở một số nơi: phát xít Hitle

ở Đức, phát xít Phrangco ở Tây Ban Nha, phát xít Mutxolini ở Italia và phái

Sĩ quan trẻ ở Nhật Chế độ độc tài phát xít là nền chuyên chính của những thế lực phản động nhất, tàn bạo nhất, dã man nhất Chúng tiến hành chiến tranh xâm lược, bành trướng và nô dịch các nước khác.Nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế

- Ở Pháp, mặt trân bình dân lên nắm chính quyền do Đảng Xã Hội và Đảng Cộng sản thành lập đã có những chính sách thân thiện hơn với giai cấpcông nhân và nông dân

- Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Matxcova vào tháng 7- 1935 do Dimitorop chủ trì đã diễn ra Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do

Lê Hồng Phong dẫn đầu đã tham dự đại hội Nội dung đại hội :

Ngày đăng: 06/02/2017, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w