MỞ ĐẦU Phần này bao gồm những rối loạn tâm thần có chung căn nguyên rõ rệt làbệnh ở não, chấn thương, hoặc thương tổn khác dẫn tới rối loạn chức năng não.Rối loạn chức năng có thể là ngu
Trang 1PHÂN LOẠI BỆNH QUỐC TẾ LẦN THỨ 10 VỀ CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI
PHÂN LOẠI BỆNH QUỐC TẾ LẦN THỨ 10
VỀ CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI
(Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán)The ICD-10 Classification of Mental and Behavioural Disorders
Clinical descriptions and diagnostic guidelines
Người dịch: GS NGUYỄN VIỆT
LỜI NÓI ĐẦU
Phần “Các rối loạn tâm thần và các rối loạn hành vi” (phần F) của tập phânloại bệnh quốc tế, biên soạn lần thứ 10 (PLBQT10 (F)) là kết quả rực rỡ của mộtquá trình không ngừng hoàn chỉnh cách phân loại và các tiêu chuẩn chẩn đoáncủa Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) từ hơn 30 năm qua, bắt đầu từ năm 1960
Hai sự kiện đáng ghi nhớ trong quá trình này là sự ra đời của tập phân loạibệnh quốc tế 9 năm 1978, phần các rối loạn tâm thần, hay phần V (PLBQT9(V))
và tiếp theo sau, sự ra đời và thành công của tập “chẩn đoán và thống kê các rốiloạn tâm thần”, biên soạn lần thứ 3 (DSM3) của Hội tâm thần học Mỹ (1980) Tậpnày đã nêu lên những tiêu chuẩn cụ thể, cần và đủ để chẩn đoán các mục trongPLBQT9 (V) Cho đến nay, PLBQT9 (V) và DSM3 đã thực sự trở thành cẩmnang chẩn đoán của số đông các nhà tâm thần học trên thế giới
Trên cơ sở những thành tựu của PLBQT9 (V) và DSM3, TCYTTG chuẩn bịcho việc biên soạn tập PLBQT10 (F) theo một chương trình hợp tác quốc tế rộngrãi và dài hạn Ngay từ 1980 đã bắt đầu xuất hiện những hội nghị quốc tế có liênquan đến việc biên soạn này Nhiều bản dự thảo thay nhau ra đời, bản sau hoànchỉnh hơn bản trước Bản (dự thảo năm 1987 được dùng để nghiên cứu lâmsàng thí điểm (thử nghiệm thực địa) ở hơn 100 Trung tâm nghiên cứu lâm sàng
Trang 2trong 40 nước trên thế giới Do điều kiện riêng, năm 1988 ngành tâm thần chúng
ta chỉ tham gia nghiên cứu một phần và đã gửi bản nhận xét tổng quát và đềnghị sửa đổi của mình cho TCYTTG (GENEVA) Chính trong quá trình tham gianghiên cứu này, chúng ta đã dịch bản 1987 ra tiếng Việt và đã tổ chức hai cuộctập huấn về PLBQT10 (F) ở Đồ Sơn và Biên Hòa Bản dịch này là bản dịch thứ 2của PLBQT10 (F) dịch theo nguyên bản tiếng Anh năm 1992 của TCYTTG
Tập PLBQT10 (F) này là kết tinh của những cố gắng liên tục trong nhiềunăm của 915 nhà tâm thần học có uy tín ở 52 nước Do vậy nó phản ánh đượcnhững trường phái và truyền thống chủ yếu về tâm thần học trên thế giới, và từ
đó chắc chắn sẽ được số đông các nhà tâm thần học trên hành tinh chúng tanhiệt liệt hoan nghênh
Tập này được xuất bản trước tiên (1992) nhằm phục vụ chủ yếu cho côngtác chẩn đoán và giảng dạy lâm sàng Sắp đến sẽ ra đời một tập khác, chi tiếthơn, dùng riêng cho các nhà nghiên cứu và một tập nữa, giản đơn hơn, dùngcho các nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu
Giữa PLBQT 9 (V) và PLBQT10 (F) có một số điểm khác nhau cần đặcbiệt lưu ý:
Tính theo mục ba chữ số thì PLBQT 9 (V) có 30 mục, còn PLBQT10 (F) cónhiều hơn đến 100 mục, bao gồm hơn 300 rối loạn tâm thần và hành vi
PLBQT9 (V) phân loại trên cơ sở phân biệt giữa các bệnh tâm căn(neurosis) và bệnh loạn thần (psychosis) còn PLBQT10 (F) thì phân loại theotừng nhóm rối loạn có chung một chủ đề lớn hoặc có những nét mô tả lâm sànggần nhau Thí dụ các rối loạn tâm thần căn nguyên thực tổn đều xếp vào cácmục từ F00 đến F09; các rối loạn tâm thần do sử dụng các chất tác động tâmthần được đưa vào các mục từ F10 đến F19 Trong mỗi chương của PLBQT10(F) đều có bổ sung các mục mới Thí dụ trong chương F2 (F20 - F29) có đưa
Trang 3thêm những mục mới như: Tâm thần phân liệt không biệt định, trầm cảm sauphân liệt, rối loạn loại phân liệt, các rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, vân vân.
Về mặt thuật ngữ, PLBQT10 (F) dùng từ “rối loạn” chứ không dùng từ
“bệnh” để tránh sự gán ghép vấn đề trầm trọng và phức tạp vào trong từ “bệnh”.PLBQT10 (F) cũng không dùng các từ tâm sinh, (psychogenic) và tâm thể(psychosomatic) vì chúng có ý nghĩa khác nhau tùy theo ngôn ngữ mỗi dân tộc
và truyền thống tâm thần học mỗi nước Các thuật ngữ tật chứng (impairment),rối loạn chức năng hoạt động (disability) và tổn thiệt (handicap) được dùng theođịnh nghĩa của TCYTTG năm 1980 (đã được trình bày trong tập PLBQT10 (F)này, hơn 10 năm qua, các chuyên viên tâm thần học (tham gia biên soạn) đãthảo luận sôi nổi và kiên trì về khá nhiều mục, chẳng hạn như Các hội chứngtiền triệu trong bệnh tâm thần phân liệt (TTPL), tách các rối loạn loạn thần kinhcấp và nhất thời ra khỏi bệnh TTPL, các rối loạn phân liệt cảm xúc, các trạng tháihỗn hợp lo âu và trầm cảm, các rối loạn phân ly và dạng cơ thể, bệnh suy nhượcthần kinh, các rối loạn tâm thần hậu sản, các rối loạn tâm thần khởi phát ở tuổitrẻ em và thanh thiếu niên
Như vậy, tập PLBQT10 (F) tuy là một thành công xuất sắc nhưng vẫn cóthể còn chứa đựng một số vấn đề cần thử nghiệm và trao đổi thêm, trong phạm
vi toàn thế giới, để thập kỷ sau, lập PLBQT11 (F) sẽ ra đời với nội dung hoànchỉnh hơn
Trong hoàn cảnh nước ta, dịch và xuất bản kịp thời tập PLBQT10 (F) đãphục vụ cho các công tác chẩn đoán, điều trị và giảng dạy cũng như cho Hộithảo quốc gia (12-1992), về chương F4) cũng là một thành tựu đáng kể Trướchết đó là công sức của những người dịch, những người biên tập ấn loát đã kiêntrì đóng góp vào việc xuất bản, bản dịch thứ nhất (1988) và bản dịch thứ 2(1992) này
Trang 4Chúng ta không quên công sức của giáo sư N Sartorius, người đại diệncủa TCYTTG và chủ biên tập PLBQT10 (F) này đã tạo điều kiện thuận lợi chochúng ta tham gia thử nghiệm thực địa năm 1986.
Chúng ta cũng nhớ đến BS N Shinfuku người đã tán thành, động viên vàgiúp đỡ chúng ta tổ chức các cuộc hội thảo và tập huấn về PLBQT10 (F) năm
1988 và 1992
Một nhân tố hết sức quan trọng đã thúc đẩy sự hình thành và ra đời tậpPLBQT10 (F) là sự nhiệt liệt hưởng ứng, liên tục động viên và tích cực ủng hộcủa Viện sức khỏe tâm thần và Bệnh viện tâm thần Trung Ương cũng như củacác bạn đồng nghiệp trong toàn ngành tâm thần, từ Bắc chí Nam
Tuy nhiên, dù nhận được sự giúp đỡ to lớn đến đâu, bản dịch lần này vẫnkhông thể tránh được những sai sót trong hoàn cảnh phải dịch nhiều thuật ngữmới lạ, nhiều mục chuyên sâu phức tạp trong một thời gian tương đối ngắn đểphục vụ được kịp thời
Rất mong nhận được nhiều nhận xét phê bình của các bạn đọc và các bạnđồng nghiệp để lần tái bản tập PLBQT10 (F) sẽ được sửa chữa hoàn hảo hơn
THAY MẶT NHỮNG NGƯỜI DỊCH
Giáo sư Nguyễn Việt Nguyên Viện trưởng Viện sức khỏe tâm thần
Phần 1 F00-F09 CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THỰC TỔN BAO GỒM
CẢ RỐI LOẠN TÂM THẦN TRIỆU CHỨNG
Trang 5F04 Hội chứng quên thực tổn, không do rượu và các chất tác động tâmthần khác.
F05 Sảng không do rượu và các chất tác động tâm thần khác
F06 Các rối loạn tâm thần khác do tổn thương não và rối loạn chức năngnão và bệnh cơ thể
F07 Các rối loạn hành vi và nhân cách do bệnh lý não, tổn thương não vàrối loạn chức năng não
F08 Các rối loạn hành vi về nhân cách thực tổn khác do bệnh não, tổnthương não và rối loạn chức năng não
F09 Rối loạn tâm thần triệu chứng hoặc thực tổn, không biệt định
MỞ ĐẦU
Phần này bao gồm những rối loạn tâm thần có chung căn nguyên rõ rệt làbệnh ở não, chấn thương, hoặc thương tổn khác dẫn tới rối loạn chức năng não.Rối loạn chức năng có thể là nguyên phát như trong các bệnh lý não, các chấnthương hoặc các thương tổn tác động trực tiếp hoặc ưu thế trên não; hoặc thứphát như trong các bệnh lý hệ thống và các rối loạn tác động lên não do bệnh ởmột trong những cơ quan hoặc những hệ thống của cá thể có liên quan Cácbệnh lý não do rượu và ma túy, mặc dù về logic thì thuộc về nhóm này, nhưngđược xếp loại ở mục F10 - F19 vì đặt tất cả các rối loạn do các chất tác độngtâm thần vào một mục riêng là tiện lợi cho việc thực hành hơn
Mặc dù những biểu hiện tâm thần bệnh lý của những bệnh được nêu ởđây là rộng, những nét chủ yếu của các rối loạn này hình thành hai nhóm chính.Một mặt, có những hội chứng trong đó, nhưng nét biểu hiện bất biến và nổi bậtnhất hoặc là những rối loạn chức năng hiểu biết như trí nhớ, trí tuệ, học tập hoặc
là những rối loạn chức năng nhận biết như các rối loạn ý thức và sự chú ý Mặtkhác, có những hội chứng trong đó những biểu hiện rõ rệt nhất thuộc lĩnh vực trigiác (các ảo giác), nội dung của tư duy (các hoang tưởng) hoặc khí sắc và cảm
Trang 6xúc (trầm cảm, hưng phấn, lo âu), hoặc toàn bộ mẫu hành vi và nhân cách, trongkhi loạn chức năng nhận thức và giác quan nhẹ và khó xác định Những rối loạncủa nhóm sau ít gắn bó trong phần này so với nhóm trước bởi vì nhiều rối loạncủa nó về mặt triệu chứng học cũng tương tự như các trạng thái được xếp loại ởcác phần khác (F20 - F29, F30 - F39, F40 F49, F60 - F69) và được thấy xuấthiện không có các rối loạn chức năng hoặc bệnh lý não rõ rệt Tuy nhiên sự pháttriển tất yếu của một số bệnh não và bệnh hệ thống có mối quan hệ căn nguyênđối với sự xuất hiện các hội chứng đó đủ xác định cho việc định hướng lâm sàngxếp loại của chúng ở đây.
Đa số các rối loạn trong phần này, ít nhất về mặt lý thuyết, có thể khởi phát
ở bất kỳ lứa tuổi nào, có lẽ trừ lứa tuổi thơ ấu Về mặt thực hành, phần lớn cácrối loạn này có khuynh hướng bắt đầu ở tuổi thành niên hoặc tuổi muộn Trongkhi một số trong các bệnh này dường như có tính chất tiến triển và không hồiphục, một số khác lại tiến triển nhất thời hoặc đáp ứng với những trị liệu sẵn cóhiện hành
Việc sử dụng thuật ngữ “thực tổn” không có hàm ý là các trạng thái thuộccác nơi khác, trong bảng phân loại này là “không thực tổn” theo nghĩa không có
cơ sở ở não Theo ngôn ngữ hiện nay, thuật ngữ thực tổn có nghĩa giản đơn làhội chứng được phân loại phải được qui cho là do một bệnh, một rối loạn nãohoặc bệnh hệ thống được chẩn đoán độc lập Thuật ngữ “triệu chứng” được sửdụng cho những rối loạn tâm thần thực thể trong đó sự liên quan của não chỉ làthứ phát sau một bệnh, hay một rối loạn có hệ thống ngoài não
Như đã nêu ở trên, trong phần lớn các trường hợp việc ghi chẩn đoán chobất kỳ một rối loạn nào trong phần này cũng đòi hỏi phải sử dụng hai mã: mộtcho hội chứng tâm thần bệnh lý và một mã khác cho bệnh lý cơ sở Mà cănnguyên phải được chọn từ chương thích hợp khác của toàn bộ bảng phân loạiICD -10
MẤT TRÍ (Dementia)
Trang 7Ở đây chỉ mô tả một cách khái quát bệnh cảnh mất trí nhằm nêu ra nhữngđòi hỏi tối thiểu để chẩn đoán một thể mất trí bất kỳ nào đó và tiếp sau là tiêuchuẩn chỉ đạo chẩn đoán các thể chuyên biệt hơn.
Mất trí là một hội chứng do bệnh lý não, thường có bản chất mạn tínhhoặc tiến triển, trong đó có sự suy giảm nhiều chức năng cao cấp của vỏ nãobao gồm trí nhớ, tư duy, định hướng, hiểu biết, tính toán, năng lực học tập, ngônngữ và phán đoán Ý thức không bị lu mờ Suy thoái tính kiềm chế cảm xúc,hành vi xã hội hoặc động cơ thúc đẩy thường đi kèm và đôi khi đi trước suy giảmchức năng nhận thức Hội chứng này xuất hiện trong bệnh Alzheimer, bệnh lýmạch máu não, và trong nhiều trạng thái khác tác động nguyên phát hoặc thứphát lên não
Trong việc đánh giá có hay không có hội chứng mất trí cần phải tiến hànhđặc biệt thận trọng nhằm tránh chẩn đoán dương tính sai lầm: các nhân tố động
cơ hoặc cảm xúc, đặc biệt là trầm cảm, cùng với sự chậm chạp vận động và sựmệt mỏi chung của cơ thể giải thích sự thất bại trong năng lực thực hiện hơn là
do mất năng lực trí tuệ gây nên
Mất trí là một suy sụp đáng kể chức năng trí tuệ và thường gây trở ngạicho các hoạt động sinh sống hàng ngày của cá thể như tắm rửa, mặc quần áo,
ăn, vệ sinh cá nhân, bài tiết và các hoạt động trang điểm Sự suy giảm ở mứcnào, biểu hiện của nó tùy thuộc rất nhiều vào khung cảnh văn hóa xã hội màbệnh nhân đang sống Những thay đổi trong việc thực hiện vai trò như sự giảmsút khả năng duy trì hay tlm kiếm một nghề nghiệp, không được sử dụng nhưmột tiêu chuẩn của mất trí bởi vì có sự khác biệt rộng lớn xuyên văn hóa khi xétcái gì đó là thích hợp, và bởi vì thường có thể có những sự thay đổi áp đặt từbên ngoài khi tìm công việc sẵn có trong một nền văn hóa riêng biệt
Nếu có triệu chứng trầm cảm song chưa có đủ tiêu chuẩn của một giaiđoạn trầm cảm V(F32.0 - F32.3) chúng có thể được ghi mã bởi con số thứ 5 Sự
có mặt của các ảo giác hoặc hoang tưởng cũng có thể được xử lý tương tự
Trang 8.X0 Không có các triệu chứng thêm vào
.X1 Có các triệu chứng khác, ưu thế hoang tưởng
.X2 Có các triệu chứng khác, ưu thế ảo giác
.X3 Có các triệu chứng khác, ưu thế trầm cảm
.X4 Có các triệu chứng hỗn hợp khác
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Đòi hỏi đầu tiên cho chẩn đoán là bằng chứng về sự suy giảm của cả trínhớ lẫn tư duy đủ để gây trở ngại cho hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của
cá nhân, đã mô tả ở trên Sự suy giảm trí nhớ là điển hình trong ghi nhận, bảotồn và tái hiện thông tin mới, nhưng những tư liệu quen thuộc thu nhận trước kiacũng có thể mất đi, đặc biệt ở những giai đoạn sau Mất trí nhiều hơn loạn nhớ:cũng có sự suy yếu về tư duy và năng lực suy luận và giảm sút dòng tư duy.Quá trình tiếp thu những tin bị suy yếu, người bệnh cảm thấy khó khăn hơn khiphải tiếp thu nhiều kích thích cùng một lúc, khi phải trò chuyện với nhiều người,
và khi chuyển sự tập trung chú ý từ chủ đề này sang chủ đề khác Nếu mất trí làmột chẩn đoán độc nhất, phải có bằng chứng là ý thức còn rõ ràng Tuy nhiênmột chẩn đoán mê sảng gối lên mất trí là phổ biến (F05 1) Các triệu chứng vàtật chứng trên phải rõ ràng trong ít nhất 6 tháng để có một chẩn đoán lâm sàngtin cậy về mất trí
Chẩn đoán phân biệt Cần xem xét: Rối loạn trầm cảm (F30 - F39) có thểbiểu hiện nhiều nét của mất trí sớm, đặc biệt sự suy giảm về trí nhớ, tư duychậm chạp và mất tính hồn nhiên; mê sảng (F05); chậm phát triển tâm thần nhẹhoặc vừa (F70 - F71); các trạng thái hoạt động nhận thức dưới bình thường domôi trường xã hội nghèo nàn trầm trọng cùng với nền giáo dục hạn chế; nhữngrối loạn tâm thần y sinh do điều trị thuốc (F06-).
Trang 9Mất trí có thể tiếp theo sau bất cứ một rối loạn tâm thần thực tổn nào đượcxếp trong phần này, hoặc cùng tồn tại với một số rối loạn đó, đặc biệt là sảng(xem F05 1).
F00 MẤT TRÍ TRONG BỆNH ALZHEIMER
Bệnh Alzheimer là một bệnh não thoái hóa nguyên phát, chưa rõ cănnguyên, với những nét đặc trưng về hóa thần kinh và thần kinh bệnh lý Khởiphát thường âm ỉ và tiến triển chậm chạp nhưng vững chắc qua giai đoạn nhiềunăm, có thể ngắn trong vòng 2 - 3 năm nhưng đôi khi có thể lâu hơn nhiều Khởiphát có thể ở giữa lứa tuổi thành niên hoặc thậm chí sớm hơn (bệnh Alzheimerkhởi đầu tiền lão), nhưng tần xuất cao hơn ở tuổi già (bệnh Alzheimer khởi đầu ởtuổi già) Những trường hợp khởi đầu trước tuổi 65 - 70, có khả năng trong tiền
sử gia đình có người bị mất trí tương tự, quá trình phát triển bệnh nhanh hơn và
có những nét ưu thế tổn thương thùy đỉnh và thái dương, bao gồm rối loạn vongngôn hoặc rối loạn vong hành Trong những trường hợp khởi phát muộn hơn,tiến triển có khuynh hướng chậm hơn và đặc trưng bởi tật chứng lan tỏa nhiềuhơn trong toàn bộ các chức năng vỏ não cao cấp Bệnh nhân với hội chứngDown có nhiều nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer
Có những biến đổi đặc trưng trong não: sự giảm sút đáng kể trong quầnthể nơron, đặc biệt ở các hồi hải mã; chất vô danh; nhân đỏ; vùng vỏ não trán vàthái dương đỉnh; xuất hiện các mảng tơ thần kinh cấu tạo bãi các sợi xoắn kép;các màng thần kinh (ái bạc) bao gồm nhiều chất amyloid và chứng tỏ sự tiếntriển nhất định trong quá trình phát triển (song cũng có những mảng không chứađựng Amyloid); và những thể hốc hạt Những biến đổi hóa thần kinh cũng đượcphát hiện, bao gồm sự giảm sút rõ rệt trong enzyme choline - acetyl -transferaza, trong bản thân acetylcholine và trong các chất dẫn truyền thần kinhkhác và những chất điều chỉnh thần kinh
Trang 10Như đã mô tả từ đầu, các nét lâm sàng phải kèm theo các biến đổi não đãnói ở trên Tuy nhiên, ngày nay không phải 2 điều kiện ấy nhất thiết phải tiếntriển song song: điều kiện này có thể hiện diện một cách rõ rệt trong khi điều kiệnkia chỉ xuất hiện tối thiểu Tuy vậy, với các biểu hiện lâm sàng của bệnhAlzheimer đôi khi cũng có thể có được chẩn đoán đáng tin cậy chỉ căn cứ duynhất trên nền tảng lâm sàng.
Mất trí trong bệnh Alzheimer là không hồi phục được
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Những nét sau đây là những yêu cầu cốt yếu để chẩn đoán xác định:(a) Có biểu hiện mất trí như đã mô tả ở trên
(b) Khởi phát âm ỉ với sự suy thoái chậm Trong khi, khởi phát dường nhưthường khó xác định kịp thời, thì toàn phát có thể xuất hiện một cách đột ngột.Đỉnh cao của bệnh có thể xảy ra trong quá trình tiến triển
(c) Không có bằng chứng lâm sàng, hoặc các phát hiện qua các nghiêncứu đặc biệt, cho thấy rằng trạng thái tâm thần này là do một bệnh não, hoặcmột bệnh lý hệ thống khác có thể gây mất trí (ví dụ, suy tuyến giáp, tăng canxihuyết, thiếu vitamin B12, thiếu niacin, giang mai thần kinh, thủy thũng não áp lựcbình thường, hoặc tụ máu dưới màng cứng)
(đ) Không bắt đầu đột ngột, đột quỵ hoặc không có dấu hiệu thần kinh tổnthương khu trú như liệt nhẹ nửa người, mất cảm giác, thu hẹp thị trường và mấtđiều vận xuất hiện sớm trong quá trình bệnh lý (nhưng những hiện tượng ấy cóthể được thêm vào về sau)
Trong một số trường hợp nhất định, những nét của bệnh Alzheimer và mấttrí do mạch máu có thể đồng thời xuất hiện Trong những trường hợp đó, cả haichẩn đoán (và ghi mã) đều được tiến hành Khi mất trí mạch máu xảy ra trướcbệnh Alzheimer thì không thể chẩn đoán bệnh sau theo bệnh cảnh lâm sàng
Trang 11Bao gồm: Mất trí thoái hóa nguyên phát dạng Alzheimer.
Chẩn đoán phân biệt: Cần xem xét: rối loạn trầm cảm (F30 - F39); sảng(F05); hội chứng quên thực tổn (F04); mất trí nguyên phát khác như trong cácbệnh Pick, bệnh Creuzfeldt-Jacob hoặc bệnh Huntington (F02-); mất trí thứ phátkết hợp với một số bệnh cơ thể, các trạng thái nhiễm độc v.v (F02.8); chậmphát triển tâm thần nhẹ, vừa hoặc nặng (F70-F72)
Mất trí trong bệnh Alzheimer có thể cùng tổn tại với mất trí mạch máu(được mã hóa F00.2), như khi các giai đoạn mạch máu não (hiện tượng nhồimáu rải rác) được bổ sung vào bệnh cảnh lâm sàng và bệnh sử gợi ý bệnhAlzheimer Các giai đoạn như vậy có thể gây hậu quả tăng đột ngột các biểuhiện mất trí Theo các khám nghiệm sau tử vong, cả hai loại mất trí có thể cùngtồn tại khoảng 10-15% các trường hợp mất trí
F00.0 Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm.
Mất trí trong bệnh Alzheimer bắt đầu trước tuổi 65 Có các biểu hiện quátrình suy thoái tương đối nhanh với các rối loạn các chức năng vỏ não cao cấp
rõ rệt Vong ngôn, vong ký, vong độc và vong hành xuất hiện tương đối sớmtrong quá trình mất trí ở hầu hết các trường hợp
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Như với mất trí đã mô tả ở trên với sự khởi phát trước tuổi 65, và thườngcác triệu chứng tiến triển nhanh Bệnh sử gia đình của bệnh Alzheimer là mộtnhân tố đóng góp song không nhất thiết phải có để chẩn đoán, như có hội chứngDown hoặc bệnh tăng sinh mô limphô trong lịch sử gia đình
Bao gồm: bệnh Alzheimer, kiểu 2 mất trí trước tuổi già, kiểu Alzheimer
F00.1 Mất trí trong bệnh Alzheimer khởi phát muộn.
Trang 12Mất trí trong bệnh Alzheimer với khới phát lâm sàng ở sau tuổi 65 vàthường là vào những năm cuối của tuổi 70 hoặc sau nửa, với một sự tiến triểnchậm và thường có tật chứng trí nhớ là nét chính yếu.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:
Như đối với mất trí đã mô tả ở trên, song cần lưu ý có hoặc không cónhững nét phân biệt bệnh này với thể khởi phát sớm (F00.0).
Bao gồm: bệnh Alzheiper, kiểu 1 mất trí tuổi già kiểu Alzhimer
F00.2 Mất trí trong bệnh Alzheimer thể không điển hình hoăc thể hỗn hợp.
Mất trí không phù hợp với sự mô tả và các nguyên tắc chẩn đoán cho cảF00.0 hoặc F00.1 được xếp loại ở đây; mất trí hỗn hợp Alzheimer và mạch máucũng được xếp vào đây
F00.9 Mất trí trong bệnh Alzheimer, không biệt định.
F01 MẤT TRÍ TRONG BỆNH MẠCH MÁU.
Mất trí mạch máu (trước gọi là xơ động mạch) bao gồm mất trí do nhồimáu rải rác, được phân biệt với mất trí trong bệnh Alzheimer bởi bệnh sử khởiphát bệnh, những nét lâm sàng và quá trình tiếp theo Điển hình, có trong tiền sửnhững đợt thiếu máu cục bộ nhất thời với rối loạn ý thức ngắn, liệt nhẹ thoángqua hoặc mất thị giác Mất trí cũng có thể tiếp sau các tai biến mạch máu nãocấp diễn, hoặc ít phổ biến hơn, một cơn đột quỵ nặng duy nhất Một số tật chứng
về trí nhớ và tư duy sau đó trở nên rõ rêt Khởi phát, thường ở lứa tuổi muộnhơn, có thể đột ngột sau một cơn thiếu máu cục bộ đặc biệt, hoặc biểu lộ mất trí
có thể xuất hiện từ từ hơn Mất trí thường là hậu quả của sự nhồi máu não docác bệnh lý mạch máu, bao gồm bệnh tăng áp lực mạch máu não Các cục máunhồi thường nhỏ nhưng sau đó tích tụ lại gây hậu quả
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Trang 13Chẩn đoán được giả định là cả một sự mất trí như đã mô tả ở trên Nóichung, tật chứng của chức năng nhận thức thì thất thường, có thể mất nhớ, suygiảm trí tuệ và những dấu hiệu thần kinh khu trú Sự thấu hiểu và phán đoán còntương đối duy trì Sự khởi phát đột ngột hoặc một sự suy thoái từng bước cũngnhư sự hiện diện của các dấu hiệu thần kinh khu trú làm tăng thêm khả năngchẩn đoán; trong một số trường hợp, chẩn đoán khẳng định chỉ có thể thực hiệnđược nhờ chụp não cắt lớp có máy tính hoặc chủ yếu nhờ khám xét thần kinhbệnh lý.
Những nét kết hợp là: tăng huyết áp, tiếng thổi động mạch cảnh, giaođộng cảm xúc với khí sắc trầm nhất thời; khóc lóc hoặc cười phá và những đợt ýthức u ám nhất thời hoặc sảng, thường do nhồi máu thêm về sau Nhân cáchcòn tương đối được duy trì, song trong một số trường hợp nhất định, những biếnđổi nhân cách có thể rõ rệt với vô cảm, giải ức chế hoặc làm tăng đậm nhữngnét nhân cách trước kia như tính vị kỷ, thái độ paranoid hoặc tính cáu bẳn
Bao gồm: mất trí do xơ động mạch
Chẩn đoán phân biệt Cần xem xét: Sảng (F05-); mất trí khác, đặc biệttrong bệnh Alzheimer (F00-); các rối loạn khí sắc (cảm xúc) (F30-F39); chậmphát triển tâm thần mức độ nhẹ hoặc trung bình (F70-F71); tụ máu dưới màngcứng do sang chấn (S06.5), không do sang chấn (162.0)
Mất trí mạch máu có thể cùng tồn tại với mất trí trong bệnh Alzheimer(được ghi mã F00.2) như khi có bằng chứng về một giai đoạn mạch máu thêmvào bệnh cảnh lâm sàng và bệnh sử gợi ý bệnh Alzheimer
F01.0 Mất trí mạch máu khởi phát cấp.
Thường phát triển nhanh tiếp sau các cơn đột quị liên tiếp do nghẽn, lấpmạch máu não hoặc do xuất huyết Nguyên nhân chỉ là nhồi máu não lớn duynhất thì hiếm thấy hơn
F01.1 Mất trí do nhồi máu rải rác.
Trang 14Khởi phát từ từ hơn thể cấp, tiếp sau những đợt thiếu máu cục bộ nhẹ,gây tích tụ các đám nhồi máu ở nhu mô não.
Bao gồm: mất trí ưu thế vỏ não
F01.2 Mất trí mạch máu dưới vỏ.
Có thể có bệnh sử cao huyết áp và ổ hủy hoại do thiếu máu cục bộ ở vùngsâu chất trắng của bán cầu đại não, chẩn đoán lâm sàng có thể nghi ngờ, chẩnđoán khẳng định nhờ chụp não cắt lớp có máy tính Vỏ não vẫn thường đượcduy trì và điều này ngược với bệnh cảnh lâm sàng có thể rất giống với bệnhcảnh mất trí Alzheimer (khi sự tiêu hủy myelin lan tỏa trong chất trắng đượcchứng minh, có thể sử dụng thuật ngữ “bệnh não Binswanger”)
F01.3 Mất trí mạch máu vỏ và dưới vỏ não hỗn hợp.
Thành phần vỏ não và dưới vỏ hỗn hợp của mất trí do mạch máu có thểnghi ngờ từ các biểu hiện lâm sàng, các kết quả khám nghiệm (bao gồm cả mổ
tử thi) hoặc cả hai
F01.8 Mất trí mạch máu khác.
F01.9 Mất trí mạch máu, không biệt định.
F02 MẤT TRÍ TRONG CÁC BỆNH KHÁC ĐƯỢC XẾP LOẠI Ở CHỖ
KHÁC.
Những trường hợp mất trí do hoặc coi như là do những nguyên nhân kháckhông phải bệnh Alzheimer hoặc bệnh lý mạch máu não Khởi phát có thể ở bất
kỳ lứa tuổi nào, song ít khi ở tuổi già
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Có biểu hiện mất trí như đã mô tả ở trên; có các nét đặc trưng của mộttrong các hội chứng biệt định như mô tả trong các mục dưới đây
F02.0 Mất trí trong bệnh Pick.
Trang 15Có mất trí tiến triển, bắt đâu ở tuổi trung niên (thường giữa tuổi 50 và 60)đặc trưng bởi những biến đổi tính cách tiến triển chậm và sự giảm sút các quan
hệ xã hội, dẫn tới tật chứng các chức năng trí tuệ, trí nhớ và ngôn ngữ, với vôcảm, khoái cảm, và (đôi khi) hiện tượng ngoại tháp Bệnh cảnh bệnh lý thần kinh
là teo não có chọn lọc ở thùy trán và thùy thái dương, nhưng không có tăng cácmảng thần kinh và đám rối tơ thần kinh như vẫn gặp trong não suy thôngthường Những trường hợp khởi phát sớm có khuynh hướng biểu hiện một quátrình tiến triển ác tính hơn, các biểu hiện xã hội và hành vi thường đi trước tậtchứng trí nhớ thực sự
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Các nét sau đây cần thiết phải có để chẩn đoán xác định
(a) Mất trí tiến triển
(b) Những nét ưu thế của thùy trán như khoái cảm, cùn mòn cảm xúc, tácphong xã hội thô lỗ, giải ức chế và/hoặc vò cảm hay bồn chồn
(c) Các biểu hiện tác phong thường đi trước tật chứng trí nhổ rõ rệt
Các biểu hiện thùy trán rõ rệt hơn thùy thái dương và thùy đỉnh, khônggiống như bệnh Alzheimer
Chẩn đoán phân biệt Cần xem xét: Mất trí trong bệnh Alzheimer (F00-);mất trí do mạch máu (F01); mất trí thứ phát do các bệnh khác như giang maithần kinh (F02.8); thủy nhũng não áp lực bình thường (đặc trưng bởi sự pháttriển cực kỳ chậm về tâm thần vận động, dáng đi và rối loạn cơ tròn (G91.2);những rối loạn chuyển hóa và thần kinh khác
F02.1 Mất trí trong bệnh Creutzfeldt-Jacob.
Mất trí tiến triển với những dấu hiệu thần kinh lan tỏa do những biến đổibệnh lý thần kinh đặc hiệu (bệnh não mềm bán cấp) coi như gây nên bởi các tác
Trang 16nhân lây truyền, Khởi đầu thường xảy ra ở lứa tuổi trung niên hoặc muộn hơn.Điển hình vào lứa tuổi 50.
Nhưng có thể gặp ở bất kỳ tuổi thành niên nào Quá trình tiến triển bốncấp, dẫn đến tử vong trong vòng 1-2 năm
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Nên nghĩ tới bệnh Creutzfeldt-Jacob tất cả những trường hợp mất trí tiếntriển tương đối nhanh từ nhiều tháng đến một hoặc hai năm và kèm theo hoặctiếp theo có những triệu chứng thần kinh phong phú Trong một số trường hợp,như thể gọi là teo cơ, các dấu hiệu thần kinh có thể xuất hiện trước khi mất tríkhởi đầu
Thường có liệt cứng tiến triển của các chi, kèm theo các dấu hiệu ngoạitháp như run, co cứng và các vận động kiểu múa giật, múa vờn; các dạng khác
có thể gặp: thất điều, mất thị giác, hoặc rung sợi cơ và teo nơron vận động trên
Bộ 3 triệu chứng bao gồm:
- Mất trí nặng và tiến triển nhanh
- Rối loạn tháp và ngoại tháp với rung giật cơ và
- Điện não đồ đặc hiệu (3 pha) có giá trị cao cho gợi ý chẩn đoán bệnhnày,
Chẩn đoán phân biệt: Cân xem xét: Bệnh Alzheimer (F00-hoặc bệnh Pick(F02.0); Bệnh Parkinson (F02.3); Hội chứng Parkinson sau viêm não (G21.3)
Sự tiến triển nhanh và rối loạn vận động sớm nên nghĩ tới bệnhCreutzfeldt-Jacob
F02.2 Mất trí trong bệnh Huntington.
Mất trí xuất hiện như một phần của sự thoái hóa lan tỏa của não BệnhHuntington được truyền bởi một gen trội tự thân duy nhất Các triệu chứng xuấthiện điển hình trong khoảng tuổi 30 đến 40 tuổi và tần xuất mắc bệnh ở cả hai
Trang 17giới có vẻ ngang nhau Trong một tỷ lệ nhất định các trường hợp, các triệuchứng sớm nhất có thể là trầm cảm, lo âu hoặc paranoid rõ rệt, kèm theo biếnđổi nhân cách Tiến triển chậm, đưa đến tử vong thường trong khoảng 10 đến 15năm.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Sự kết hợp các rối loạn vận động kiểu múa giật, mất trí và tiền sử gia đình
có bệnh Huntington là gợi ý nhiều cho chẩn đoán, dù rằng chắc chắn vẫn cónhững trường hợp tản phát
Những động tác dạng múa giật không tự chủ, điển hình ở mặt, tay và vaihoặc trong dáng đi là những biểu hiện sớm Chúng thường xảy ra trước mất trí
và hiếm khi thiếu trừ khi mất trí đã quá rõ rệt Hiện tượng vận động khác có thểchiếm ưu thế khi sự khởi phát bất thường ở tuổi trẻ (cứng kiểu thể vân) hoặc ởtuổi già (run khi vận động hứu ý).!
Mất trí được đặc trưng bởi rối loạn ưu thế chức năng thùy trán trong giaiđoạn sớm, với sự duy trì tương đối trí nhớ về sau
Bao gồm: Mất trí trong múa giật Huntington
Chẩn đoán phân biệt Cần xem xét: Những trường hợp múa giật khác;bệnh Alzheimer, Pick, hoặc Creuzfldt-Jaoob (F00-; F02.0, F02.1)
F02.3 Mất trí trong bệnh Parkinson.
Mất trí phát triển trong quá trình hình thành bệnh Parkinson (đặc biệt ởnhững thể nặng) Chưa chứng minh được những nét lâm sàng phân biệt đặchiệu Mất trí (trong bệnh Parkinson) có thể khác với bệnh Alzheimer hoặc mất trímạch máu Tuy nhiên, cũng có thể những biểu hiện của một trong những bệnhnày cũng xảy ra đồng thời với bệnh Parkinson Điều này chứng minh cho sự xácđịnh các trường hợp bậnh Parkinson có mất mất trí cần nghiên cứu cho đến khivấn đề được giải quyết
Trang 18Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Mất trí phát triển ở người mắc bệnh Parkinson rõ rệt, thường là trầm trọng.Bao gồm: Mất trí trong liệt run
Mất trí trong hội chứng Parkinson
Chẩn đoán phân biệt: Cần xem xét: Các mất trí thứ phát khác (F02.8); mấttrí do nhồi máu rải rác (F01.1) kết hợp với bệnh tăng huyết áp, hoặc bệnh mạchmáu do đái đường; u não (C70-C72); thủy thũng não áp lực bình thường (G91-2)
F02.4 Mất trí trong bệnh suy giảm miễn dịch do vi rút ở người (HTV).
Một rối loạn được đặc trưng bởi sự thiếu hụt nhận thức đáp ứng các tiêuchuẩn chẩn đoán lâm sàng của mất trí, trong khi không có bệnh lý hoặc rối loạnkhác đi kèm ngoài nhiễm HTV có thể giải thích được
Mất trí do nhiễm HIV biểu hiện điển hình với phàn nàn là hay quên, kémlanh lợi, khả năng tập trung kém và khó khăn trong việc đọc và giải quyết cácvấn đề Thường thấy vô cảm, tính sáng ý suy giảm, cô lập khỏi xã hội, ở một sốrất ít bệnh nhân bị nhiễm bệnh, bệnh lý có thể biểu hiện không điển hình nhưmột rối loạn xúc, một bệnh loạn thần hoặc các co giật Khám cơ thể thường thấyrun, các động tác lặp đi lặp lại nhanh bị suy giảm, mất thăng bằng, mất điều hòa,tăng trương lực, tăng phản xạ lan tỏa, các dấu hiệu giải phóng thùy trán dươngtính và suy giảm động tác theo dõi và rung giật của mắt
Ở trẻ em còn biểu hiện một rối loạn sự phát triển thần kinh kết hợp vớinhiễm HIV được đặc trưng bởi sự chậm phát triển, tăng trương lực, đầu bé và
sự vôi hóa hạch cơ bản Rối loạn thần kinh thường xuất hiện khi không có cácnhiễm trùng và khối u, điều này không thấy ở người lớn
Trang 19Mất trí do nhiễm HTV nhìn chung tiến triển nhanh (nhiều tuần hay nhiềutháng) đến mất trí toàn bộ nặng, không nói và chết, nhưng không phải luôn luônnhư thế.
Bao gồm: Phức hợp SIDA-mất trí,
Bệnh não hoặc viêm não bán cấp do HIV
F02.8 Mất trí trong các trạng thái biệt định khác được phân loại ở chỗ khác.
Mất trí có thể xảy ra như là một biểu hiện hay hậu quả của nhiều bệnh cơthể hoặc bệnh não khác nhau
Để biệt định theo căn nguyên, mã ICD-10 cho các trạng thái dưới đây cầnđược bổ sung thêm
Phức hợp Parkinson-mất trí Guam cũng phải được mã hóa ở đây (có thểxác định bằng con số thứ 5, nếu cần) Đó là mất trí tiến triển nhanh tiếp theo cóloạn chức năng ngoại tháp và, trong một số trường hợp, xơ cứng cột bên teo cơ.Bệnh này được mô tả lần đầu tiên ở đảo Guam, nơi xảy ra với tần số cao ởngười bản xứ, nam mắc bệnh nhiều gấp 2 lần nữ; hiện nay được biết nó cũngxảy ra ở Papua New Guinea và ở Nhật-bản
Bao gồm: Mất trí trong:
Ngộ độc carbon monoxide (T58)Nhiễm mỡ não (E75-)
Động kinh (G40-)Chứng liệt toàn thể của người loạn thần (A52-1)Thoái hóa gan đậu (bệnh Wilson) (£83.0)
Tăng canxi huyết (F83.5)Thiểu năng giáp mắc phải (E00; E02)
Trang 20Nhiễm độc (T36 - T65)
Xơ cứng rải rác (G35)Giang mai thần kinh (A52.1)Thiếu niacin (pellagra)(E52)Viêm tắc thành cục nhiều động mạch (M30.0)Luput ban đỏ hệ thống (M32-)
Bệnh ngủ do trypanosom (Châu Phi B56 - Mỹ B57)(trypanosomiasis)
Thiếu vitamine B12 (E53.8)
F03 MẤT TRÍ KHÔNG BIỆT ĐỊNH.
Mục này được sử dụng khi các tiêu chuẩn chung cho chẩn đoán mất trí làthỏa đáng, song không thể xếp vào một trong các thể đặc biệt nào (F00.0 -F02.9)
Bao gồm:
- Mất trí tuổi già hoặc trước tuổi già không biệt định cách khác (NOS)
- Loạn thần tuổi già hoặc trước tuổi già không biệt định cách khác (NOS)
- Mất trí thoái hóa nguyên phát không biệt định cách khác (NOS)
F04 HỘI CHỨNG QUÊN THỰC TỔN KHÔNG DO RƯỢU VÀ CÁC CHẤT
TÁC ĐỘNG TÂM THẦN KHÁC.
Hội chứng với tật chứng trí nhớ gần và xa nổi bật Trong khi hồi ức tứcthời còn duy trì, khả năng học tập các kiến thức mới giảm rõ rệt gây hậu quảquên thuận chiều và mất định hướng thời gian Quên ngược chiều với cường độkhác nhau vẫn có thể biểu hiện nhưng phạm vi của nó có thể thu hẹp theo thờigian nếu tổn thương hoặc quá trình bệnh lý nằm bên dưới có khuynh hướng hồiphục Bịa chuyện có thể có những nét rõ rệt nhưng không phải là nhân tố nhất
Trang 21thiết phải có Tri giác và các chức năng nhận thức khác kể cả trí tuệ thường vẫnđược duy trì và làm nền tảng cho rối loạn trí nhớ xuất hiện nổi bật lên Tiênlượng của bệnh tùy thuộc vào tiến triển của tổn thương nằm bên dưới (điển hình
là tổn thương của hệ thống dưới đồi - gian não hoặc vùng hải mã); theo nguyêntắc, có thể phục hồi gần như hoàn toàn
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán,
Để chuẩn đoán xác định cần tìm thấy:
(a) Có tật chứng trí nhớ rõ rệt biểu hiện bằng suy giảm trí nhớ gần (kémtiếp thu kiến thức mới) quên thuận và ngược chiều và giảm khả năng hồi ứcnhững kinh nghiệm cũ ngược theo thời gian chúng xuất hiện
(b) Có bệnh sử hay bằng chứng khách quan của một cơn đột quị hoặc mộtbệnh ở não (đặc biệt có xâm phạm đến cấu trúc gian não và thái dương giữa cảhai bên)
(c) Không mất khả năng tái hiện tức thời (chẳng hạn qua trắc nghiệm lặplại đây con số); không có rối loạn chú ý, ý thức và không suy giảm trí tuệ toànthể
Bịa chuyện, thiếu sự thấu hiểu và thay đổi cảm xúc (vô cảm, thiếu sángkiến) là những nét bổ sung, mặc dù không nhất thiết phải có trong mọi trườnghợp để định hướng chẩn đoán
Bao gồm: Hội chứng hay loạn thần Korsakov, không do rượu
Chẩn đoán phân biệt: Rối loạn này cần phân biệt với các hội chứng thựctổn khác có suy giảm trí nhớ nổi bật (Ví dụ mất trí hoặc sảng); phân biệt vớiquên phân ly (F44.0); với suy giảm chức năng trí nhớ trong rối loạn trầm cảm(F30 - F39) và với giả bệnh có phàn nàn mất nhớ (Z76.5)
Hội chứng Korsakov do rượu và ma túy không nên ghi mã ở đây mà nên
để ở khu vực thích hợp (F1x.6)
Trang 22F05 SẢNG KHÔNG DO RƯỢU VÀ CÁC CHẤT TÁC ĐỘNG TÂM THẦN
KHÁC.
Một hội chứng căn nguyên không đặc hiệu đặc trưng bởi rối loạn đồng thời
ý thức, chú ý, tri giác, tư duy, trí nhớ, tâm thần vận động, cảm xúc và chu kỳ thứcngủ Có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng phổ biến nhất là lứa tuổi 60.Trạng thái sảng là nhất thời và với cường độ giao động; Phần lớn các trườnghợp hồi phục trong vòng 4 tuần hoặc ít hơn
Tuy nhiên, sảng kéo dài, với sự giao động tới 6 tháng không phải là hiếm,đặc biệt xuất hiện trong quá trình của bệnh gan mạn tính, bệnh ung thư, hoặcviêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp Đôi khi sự phân biệt giữa sảng cấp vàbán cấp về lâm sàng là ít thỏa đáng; chỉ nên xem là một hội chứng nhất nguyên
có độ kéo dài biến đổi, và có mức độ trầm trọng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng.Một trạng thái sảng có thể bị thêm chứng mất trí hoặc tiến triển tới mất trí
Không nên chẩn đoán loại này cho các trạng thái sảng liên quan đến việc
sử dụng các thuốc tác động tâm thần được biệt định ở mục F10 - F19
Các trạng thái sảng do dùng thuốc (như trạng thái lú lẫn cấp ở người già
do thuốc chống trầm cảm) nên được ghi mã ở đây Trong các trường hợp nhưvậy các thuốc có liến quan nền được ghi bởi mã T thêm vào trong chương XIXcủa ICD-10
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:
Để chẩn đoán xác định, các triệu chứng, nhẹ hoặc nặng, phải có ở mỗimột lĩnh vực trong các lĩnh vực sau:
(a) Tật chứng về ý thức và sự chú ý (đi từ mù mờ đến hôn mê; giảm khảnăng định hướng tập trung, duy trì và thay đổi sự chú ý)
(b) Rối loạn toàn bộ nhận thức (lệch lạc tri giác, ảo tưởng và ảo giác phần lớn là thị giác; suy giảm tư duy trừu tượng và thông hiểu; có hoặc khôngkèm theo hoang tưởng nhất thời; nhưng điển hình là tư duy không liên quan ở
Trang 23-mức độ nhất định; suy giảm trí nhớ tái hiện gần và tức thời nhưng trí nhớ xa vẫntương đối còn duy trì; mất định hướng về thời gian, và cả về không gian và nhânvật trong những trường hợp trầm trọng hơn.
(c) Rối loạn tâm thần vận động (giảm hoặc tăng hoạt dộng và nhữngchuyển đổi bất ngờ từ cái này sang cái kia; thời gian phản ứng tăng; tăng hoặcgiảm dòng ngôn ngữ; phản ứng giật mình tăng lên);
(d) Rối loạn chu kỳ thức - ngủ (mất ngủ, hoặc trong những trường hợptrâm trạng, mất toàn bộ giấc ngủ hoặc chu kỳ thức ngủ đảo ngược; buồn ngủban ngày; triệu chứng xấu hơn về ban đêm, các giấc mơ hoặc ác mộng quấy rầy
có thể tiếp tục như những ảo giác sau thức giấc);
(e) Rối loạn cảm xúc như trầm cảm, lo âu, lo sợ, cáu kỉnh, khoái cảm, vôcảm hoặc bàng hoàng ngơ ngác
Khởi phát thường nhanh, tiến triển dao động trong ngày và toàn bộ thờigian mắc bệnh dưới 6 tháng Bệnh cảnh lâm sàng trên đặc trưng tới mức có thểlàm chẩn đoán về sàng khá tin cậy mặc dù nguyên nhân nằm bên dưới khôngđược xác định rõ ràng Thêm vào một bệnh sử của bệnh não hoặc bệnh cơ thểnằm bên dưới, bằng chứng vẻ rối loạn chức năng não cần phải có nếu chẩnđoán còn nghi ngờ (ví dụ, điện não đồ không bình thường, thường cho thấy hoạtđộng sóng cơ bản bị chậm, nhưng không phải lúc nào cũng vậỵ)
Bao gồm: Hội chứng não cấp
Trạng thái lú lẫn cấp (không do rượu)Loạn thần nhiễm trùng cấp
Phản ứng thực tổn cấpHội chứng tâm thần thực thể cấp
Chẩn đoán phân biệt Sảng cần được phân biệt với các hội chứng thựctổn khác đặc biệt với mất trí (FCDO - F03); với các trạng thái loạn thần cấp diễn
Trang 24nhất thời (F23-); với các trạng thái cấp của tâm thần phân liệt (F20-) hoặc rốiloạn khí sắc (cảm xúc) (F30 - F39) trong đó những nét lú lẫn có thể xuất hiên.Sảng do rượu và các chất tác động tâm thần khác nên được xếp loại ở mụcthích hợp hơn (F1x.4).
F05.0 Sảng, không gối lên mất tri, như đã mô tả.
Mục này để ghi mã cho trạng thái sảng không gối lên mất trí đã có trước
F06 CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN KHÁC DO TỔN THƯƠNG VÀ RỐI
LOẠN CHỨC NĂNG NÃO VÀ BỆNH LÝ CƠ THỂ.
Mục này bao gồm những trạng thái bệnh hỗn tạp có liên quan về nguyênnhân với loạn chức năng não do bệnh não nguyên phát, do bệnh hệ thống tácđộng thứ phát đến não, do các rối loạn nội tiết như trong hội chứng Cushinghoặc các bệnh cơ thể khác, và do một số chất độc ngoại lai (loại trừ rượu và matúy đã được xếp loại ở mục F10 - F19) hoặc các chất nội tiết Những trạng tháinày có các nét lâm sàng chung là tự chúng không cho phép làm một chẩn đoán
có căn cứ về một rối loạn tâm thần thực tổn, như là sảng hoặc mất trí Hơn nữa,các biểu hiện lâm sàng lại giống hoặc đồng nhất với những rối loạn của nhữngbệnh không xem như “thực tổn” theo nghĩa đặc thù hẹp của phần này trong bảngphân loại Sơ dĩ chúng được xếp ở đây là căn cứ trên giả thuyết rằng chúng trựctiếp gây ra do một bệnh não hoặc rối loạn chức năng não hơn là do sự kết hợp
Trang 25tình cờ với bệnh hoặc rối loạn này, hoặc do phản ứng tâm lý đối với các triệuchứng của nó, giống như các rối loạn giống phân liệt kết hợp với động kinh lâunăm.
Quyết định phân loại một hội chứng lâm sàng ở đây phải căn cứ vàonhững điểm sau:
(a) Bằng chứng có bệnh não, thương tổn hoặc loạn chức năng não hoặcbằng chứng có bệnh cơ thể hệ thống kết hợp với một trong những hội chứng đãđược liệt kê;
(b) Mối quan hệ về thời gian (nhiều tuần hoặc một vài tháng) giữa sự pháttriển của bệnh nằm bên dưới với sự khởi phát của hội chứng tâm thần
(c) Sự hồi phục của rối loạn tâm thần tiếp theo sự mất đi hoặc thuyên giảmcủa nguyên nhân xem như nằm bên dưới
(đ) Không có một bằng chứng gợi ý về một nguyên nhân xen kẽ của hộichứng tâm thần (chẳng hạn bệnh sử gia đình nặng nề hoặc stress thúc đẩy)
Các trạng thái (a) và (b) cho phép chẩn đoán tạm thời, nếu có cả 4 điểmthì độ chắc chắn phân loại chẩn đoán tăng lên đáng kể
Các trạng thái sau đây được xem như tăng cường nguy cơ gây ra các hộichứng đã xếp loại ở đây: động kinh; viêm não thể viên; bệnh Huntington; chấnthương đầu; ung thư não; ung thư ngoài sọ với ảnh hưỏng xa lên hệ thống thầnkinh trung ương (đặc biệt là ung thư tụy tạng); bệnh mạch máu, tổn thương hoặc
dị dạng não; luput ban đỏ, và các bệnh collagen khác; bệnh nội tiết (nhất là bệnhsuy và cường giáp trạng; bệnh Cushing); các bệnh chuyển hóa (hạ đường huyết,đái porphyrin, giảm oxy); các bệnh nhiễm trùng nhiệt đới và ký sinh trùng (ví dụtrypanosomiasis); tác động độc tính của các thuốc không hướng thần(propranolon, levodopa, methyldopa, steroid, thuốc chống tăng huyết áp, thuốcchống sốt rét)
Loại trừ: Các rối loạn tâm thần kết hợp với sảng (F05-)
Trang 26Các rối loạn tâm thần kết hợp với mất trí như đã phân loại ở mục F00 F03.
-F06.0 Các ảo giác thực tổn.
Trạng thái ảo giác dai dẳng hoặc tái diễn, thường là ảo thanh hoặc ảo thị,xảy ra trong trạng thái ý thức sáng sủa mà bệnh nhân có thể hay không thừanhận Hoang tưởng có thể hình thành từ các ảo giác, nhưng thường sự thấuhiểu vốn được duy trì
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Thêm vào những tiêu chuẩn chung trong phần giới thiệu về F06 ở trên làbằng chứng có những ảo giác dai dẳng hoặc tái diễn ở bất kỳ thể thức nào.Không có mù mờ ý thức; không có suy giảm trí tuệ đáng kể, không có rối loạnkhí sắc chiếm ưu thế; và không có hoang tưởng chiếm ưu thế
Bao gồm: Dermatozoenwahn
Trạng thái ảo giác thực tổn (không do rượu)
Loại trừ: Ảo giác do rượu (F10.52)
Bệnh tâm thần phân liệt (F20.-)
F06.1 Rối loạn căng trương lực thực tổn.
Trạng thái giảm (sững sờ) hoặc tăng (kích động) hoạt động tâm thần - vậnđộng kết hợp với các triệu chứng căng trương lực, các cực của rối loạn tâm thầnvận động có thể xen kẽ nhau Người ta không rõ là toàn bộ các rối loạn căngtrương lực được mô tả trong tâm thần phân liệt có xuất hiện trong các trạng tháithực tổn này không Cũng như vậy, người ta không thể khẳng định có hay khôngtrạng thái căng trương lực thực tổn có thể xảy ra trong trạng thái ý thức sáng sủahoặc bao giờ cũng biểu hiện mê sảng với hậu quả mất nhớ một phần hay toàn
bộ Điều này đòi hỏi phải thận trọng khi làm chẩn đoán và phải phân biệt cẩnthận ranh giới giữa trạng thái này mê sảng Viêm não và ngộ độc carbon
Trang 27monoxide thường được coi là kết hợp với hội chứng này nhiều hơn các nguyênnhân thực tổn khác.
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Phải thỏa mãn những tiêu chuẩn chung xác nhận căn nguyên thực tổnnhư đã ghi trong phần giới thiệu F06 Thêm vào đó phải có một trong các tiêuchuẩn sau đây:
(a) Sững sờ (giảm hoặc mất hoàn toàn vận động tự phát với không nóimột phần hoặc hoàn toàn, phủ định, và tư thế cứng rắn);
(b) Kích động (tăng vận động rõ rệt, có hoặc không có khuynh hướng tấncông);
(c) Cả hai (chuyển nhanh chóng và bất ngờ từ giảm sang tăng hoạt động).Các hiện tượng trương lực khác tăng thêm độ tin cậy của chẩn đoán là:định hình, uốn sáp và hành vi xung động
Loại trừ Tâm thần phân liệt càng trương lực (F20.2)
Sững sờ phân ly (F44.2)
Sững sờ không biệt định cách khác (R40.1)
F06.2 Rối loạn hoang tưởng thực tổn (giống tâm thần phân liệt).
Một rối loạn trong đó các hoang tưởng dai dẳng hoặc tái diễn chiếm ưuthế trên bệnh cảnh lâm sàng Các hoang tưởng có thể kèm theo các ảo giácnhưng không hạn chế vào nội dung của ảo giác Những nét gợi ý bệnh tâm thầnphân liệt như ảo giác kỳ lạ, hoang tưởng kỳ quái hoặc rối loạn tư duy cũng cóthể có
Các nguyên tắc chẩn đoán
Phải đáp ứng tiêu chuẩn chung cho việc xác định căn nguyên thực tổnnhư đã nêu trong lời giới thiệu F06 Ngoài ra phải có các hoang tưởng (bị truy
Trang 28hại; biến hình bản thân, ghen tuông, hoang tưởng bị bệnh, bản thân hoặc ngườikhác bị chết) Các ảo giác, các rối loạn tư duy hoặc hiện tượng căng trương lực
lẻ tẻ có thể suất hiện Ý thức và trí nhớ phải không được rối loạn Không nên xáclập chẩn đoán này nếu dữ kiện về căn nguyên thực tổn là không đặc hiệu hoặccòn giới hạn vào những điều phát hiện như là não thất giãn rộng (được nhậnthấy bằng chụp não cắt lớp có máy tính), hoặc các dấu hiệu thần kinh “nhẹ”
Bao gồm: Các trạng thái thực tổn paranoid và ảo giác paranoid
Loạn thần giống tâm thần phân liệt trong động kinh
Loại trừ: Các rối loạn thần cấp và nhất thời (F23-)
Các rối loạn thần do ma túy (Fix.5)
Rối loạn hoang tưởng dai dẳng (F22-)
Tâm thần phân liệt (F20-)
F06.3 Các rối loạn khí sắc (cảm xúc) thực tổn.
Các rối loạn được đặc trưng bởi sự thay đổi khí sắc hay cảm xúc, thườngkèm theo sự thay đổi mức hoạt động toàn bộ, Tiêu chuẩn duy nhất để xếp trạngthái trên vào phần này là nguyên nhân được coi là trực tiếp của nó gây nên bởimột bệnh não hoặc rối loạn cơ thể khác, và sự tồn tại của bệnh và rối loạn đóphải được chứng minh một cách độc lập (chẳng hạn bằng khám xét cơ thể thíchhợp và xét nghiệm labô) hoặc xác định trên cơ sở các thông tin bệnh sử thíchhợp Rối loạn cảm xúc phải tiếp sau nhân tố được xem là thực tổn và phải đượcnhận định không phải là một đáp ứng cảm xúc của một bệnh nhân biết mình bịbệnh, hoặc có những triệu chứng của một bệnh não trùng hợp
Trầm cảm sau nhiễm khuẩn (chẳng hạn sau cúm) là một ví dụ phổ biến vànên được ghi mã ở đây Hiện tượng khoái cảm nhẹ kéo dài, không đạt đến mứchưng cảm nhẹ (đôi khi được thấy do điều trị steroid hoặc thuốc chống trầm cảmchẳng hạn) thì không nên ghi mã ở đây mà nên để ở mục F06.8
Trang 29Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Thêm vào các tiêu chuẩn chung xác định căn nguyên thực tổn ghi trongphần giới thiệu F06, trạng thái bệnh phải đáp ứng những yêu cầu cho chẩn đoánmột trong các rối loạn được ghi ở mục dưới F30 - F33
Loại trừ:- Các rối loạn khí sắc (cảm xúc) không thực tổn hoặc không biệtđịnh (F30-39)
- Rối loạn cảm xúc thuộc bán cầu phải (F07.8)
Những mã 5 chữ số sau đây có thể sử dụng để biệt định các rối loạn lâmsàng:
F06.30 Rối loạn hưng cảm thực tổnF06.31 Rối loạn lưỡng cực thực tổnF06.32 Rối loạn trầm cảm thực tổnF06.33 Rối loạn cảm xúc hỗn hợp thực tổn
F06.4 Rối loạn lo âu thực tổn.
Một trạng thái được đặc trưng bởi những nét mô tả chủ yếu của một rốiloạn lo âu lan tỏa (F41.1), rối loạn hoảng sợ (F41.0) hoặc kết hợp cả hai nhưngnổi lên là hậu quả của một bệnh thực tổn có khả năng gây loạn chức năng não(ví dụ: động kinh thái dương, nhiễm độc giáp, hoặc u tế bào nhuộm màu)
Loại trừ các rối loạn lo âu không thực tổn hoặc không biệt định (F41)
F06.5 Rối loạn phân ly thực tổn.
Một trạng thái đáp ứng các đòi hỏi của một trong các rối loạn mã F44 (rốiloạn (chuyển di) phân ly) mà cũng thỏa mãn tiêu chí chung của một bệnh cănthực tổn (như đã mô tả trong Phần giới thiệu của phần này)
Loại trừ: Các rối loạn (chuyển di) phân li không thực tổn hoặc không biệtđịnh (F44)
Trang 30F06.6 Rối loạn cảm xúc không ổn định (suy nhược) thực tổn.
Rối loạn được đặc trưng bởi cảm xúc không kiềm chế hoặc cảm xúckhông ổn định rõ rệt và dai dẳng, sự mệt mỏi và một số cảm giác cơ thể khó chịu(ví dụ: chóng mặt) và các chứng đau được coi là do có bệnh lý thực tổn Rối loạnnày thường được cho là xuất hiện có liên quan với bệnh lý mạch máu não hoặccao huyết áp hơn là do các nguyên nhân khác
Loại trừ: Các rối loạn dạng cơ thể không thực tổn hoặc không biệt định(F45-)
F06.7 Rối loạn nhận thức nhẹ.
Rối loạn này có thể xảy ra trước, đồng thời hoặc tiếp theo nhiều bệnh lýnhiễm trùng và bệnh cơ thể, cả bệnh não lẫn bệnh hệ thống (bao gồm cả nhiễmHIV) Biểu hiện thần kinh trực tiếp của rối loạn não không nhất thiết phải có, tuynhiên có thể gây đau buồn và gây trở ngại cho các hoạt động thông thường.Ranh giới của loại rối loạn này còn phải xác định một cách chặt chẽ Khi bệnh cơthể kết hợp đã hồi phục, rối loạn nhận thức nhẹ không kéo dài thêm hơn vàituần; không xác định chẩn đoán loại này nếu trạng thái bệnh rõ ràng có thể quicho một rối loạn tâm thần hay tác phong được phân loại ở bất cứ phần nào kháccủa bảng phân loại này
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Nét chính là sự suy giảm hoạt động nhận thức Nó có thể bao gồm suygiảm trí nhớ, khó khăn học tập hoặc tập trung suy nghĩ Các trắc nghiệm kháchquan thường không bình thường Không chuẩn đoán loại này nếu có các triệuchứng của các chẩn đoán mất trí (F00-F03), hội chứng quên thực tổn (F04) hoặcsảng (F05-)
Chẩn đoán phân biệt Rối loạn này có thể phân biệt với hội chứng sauviêm não (F07.1) và hội chứng sau chấn động não (F07.2) bởi bệnh căn khác
Trang 31nhau, bởi phạm vi hẹp hơn của các triệu chứng nói chung nhẹ nhàng hơn vàthường tồn tại ngắn hơn.
F06.8 Các rối loạn tâm thần biệt định khác do tổn thương và rối loạn chức năng não và do bệnh cơ thể
Thí dụ như những trạng thái khí sắc không bình thường xuất hiện trongquá trình điều trị bằng Steroid hoặc các thuốc chống trầm cảm
Bao gồm: Loạn thần động kinh không biệt định cách khác (NOS)
F06.9 Rối loạn tâm thần không biệt định do tổn thương não và rối loạn chức năng não và bệnh cơ thể.
F07 CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH VÀ HÀNH VI DO BỆNH NÃO, TỔN
THƯƠNG VÀ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG NÃO.
Biến đổi nhân cách và hành vi có thể là một rối loạn di chứng hoặc đồngthời xảy ra với bệnh não, tổn thương hoặc rối loạn chức năng não Trong một sốtrường hợp, sự khác nhau trong biểu hiện của các hội chứng nhân cách và hành
vi di chứng hoặc đồng thời ấy có thể gợi ý về một thể loại và/hoặc khu trú củabệnh lý trong não nhưng độ tin cậy của loại chẩn đoán này không được đánh giáquá cao Vì vậy, căn nguyên nằm bên dưới thường phải được tìm kiếm quanhững phương tiện độc lập và nếu có thì ghi lại
F07.0 Rối loạn nhân cách thực tổn.
Rối loạn này được đặc trưng bởi các biển đổi đáng kể các mô hình hành viquen thuộc đối với bệnh nhân trước khi bị bệnh Sự thể hiện của cảm xúc, nhucầu và xung động đặc biệt bị tổn thương
Các chức năng nhận thức có thể bị thiếu sót phần lớn hoặc chỉ riêng tronglĩnh vực xây dựng kế hoạch cho các hoạt động của mình và không tiên đoánđược những hậu quả cho cá nhân và xã hội, như trong hội chứng gọi là thùy
Trang 32trán Tuy nhiên ngày nay người ta biết rằng hội chứng này xuất hiện không chỉvới thùy trán mà còn với tổn thương các khu vực giới hạn khác của não
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Ngoài một bệnh sử đã được thiết lập hoặc những bằng chứng khác củabệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não, việc chẩn đoán xác địnhđòi hỏi phải có hai hoặc nhiều hơn nữa các nét sau đây:
(a) Giảm chắc chắn khả năng duy trì các hoạt động có mục đích, đặc biệt
là các hoạt động dài ngày mà khen thưởng bị trì hoãn;
(b) Rối loạn ứng xử cảm xúc, có đặc tính là cảm xúc không ổn định, niềmvui nông cạn và không xác đáng (Khoái cảm, bông đùa không thích hợp) và dễchuyển sang cáu kỉnh hoặc những cơn ngắn giận dữ và xâm phạm bùng nổ;trong một số trường hợp vô cảm có thể là nét nổi bật hơn;
(c) Thể hiện nhu cầu và xung động không xét đến hậu quả hoặc qui ước
xã hội (bệnh nhân có thể tiến hành những hành vi gây rối xã hội như trộm cắp,khêu gợi tình dục không thích hợp, hoặc tham ăn hoặc có thể biểu hiện xemthường vệ sinh cá nhân)
(d) Các rối loạn nhận thức, dưới dạng đa nghi hoặc ý tưởng paranoidvà/hoặc bận tâm quá đáng đến một chủ đề đơn độc thường là trừu tượng (ví dụ:tôn giáo, “đúng” và “sai")
(e) Suy giảm rõ rệt về tốc độ và dòng ngôn ngữ với những nét như tính chi
ly, tính quá đại khái, tính lai nhai và hay ghi chép
(f) Rối loạn hành vi tình dục (thiểu năng tình dục hoặc biến đổi trong ưachuộng tình dục)
Bao gồm: Hội chứng thùy trán
Hội chứng nhân cách động kinh thể viền
Hội chứng phẫu thuật mở thùy (lobotomy)
Trang 33Nhân cách giả nhân cách bệnh thực tổn.
Nhân cách giả chậm phát triển thực tổn
Hội chứng sau thủ thuật cắt chất trắng
Loại trừ: Biến đổi nhân cách lâu dài sau khi trải qua thảm họa (F62.0) Biến đổi nhân cách lâu dài sau bệnh tâm thần (F62.1)
Hội chứng sau chấn động não (F07.2),
Hội chứng sau viêm não (F07.1)
Rối loạn nhân cách đặc hiệu (F60-)
F07.1 Hội chứng sau viêm não.
Hội chứng bao gồm sự biến đổi hành vi di chứng sau hồi phục khỏi bệnhviêm não do vi rút hoặc do vi khuẩn Các triệu chứng đều không đặc hiệu và thayđổi tùy theo từng người, tùy tác nhân nhiễm khuẩn và nhất là tùy độ tuổi củangười bệnh ở thời điểm nhiễm khuẩn Sự khác biệt chính giữa rối loạn này vớirối loạn nhân cách thực tổn là nó thường có khả năng hồi phục
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Những biểu hiện có thể bao gồm khó ở toàn thân, vô cảm hoặc cáu kỉnh,giảm sút phần nào chức năng nhận thức (khó khăn trong học tập) ngủ kém, ănkém, thay đổi trong hoạt động tình dục và năng lực phán đoán xã hội Có thể cónhiều rối loạn chức năng thần kinh di chứng, như liệt, điếc, vong ngôn, vonghành cấu trúc và mất khả năng tính toán
Loại trừ: Rối loạn nhân cách thực tổn F07.0
F07.2 Hội chứng sau chấn động não.
Hội chứng xảy ra sau chấn thương ở đầu (mức độ trầm trọng đủ gây trạngthái mất ý thức) và một số triệu chứng tản mạn như đau đầu, choáng váng(thường chưa có những nét của chóng mặt thực sự), mệt mỏi, dễ cáu kỉnh, khó
Trang 34tập trung tư tưởng và khó thực hiện hoạt động trí não, suy giảm trí nhớ, mất ngủ
và giảm sự chịu đựng đối với stress, kích thích cảm xúc hoặc rượu Những triệuchứng này có thể kèm thêm các cảm xúc trầm cảm hoặc lo âu hậu quả của sựmất tự tin, và sợ tổn thương não vĩnh viễn
Những cảm xúc như vậy làm tăng thêm các triệu chứng nguyên thủy vàtạo nên vòng luẩn quẩn bệnh lý Một số người trở nên nghi bệnh, luôn tìm kiếmchẩn đoán và chữa bệnh và có thể đóng vai trò bị bệnh vĩnh viễn Căn nguyêncủa các triệu chứng này không phải bao giờ cũng rõ ràng và cả hai nhân tố tâm
lý và thực tổn đều được đề cập đến để giải thích chúng Vì vậy, vấn đề phân loạibệnh cho trạng thái này phần nào không được chắc chắn Tuy nhiên, người ta ítnghi ngờ về tính phổ biến và gây đau buồn cho người bệnh của hội chứng này
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Ít nhất phải có ba trong các nét đã mô tả ở trên để chẩn đoán xác định.Đánh giá thận trọng với những kỹ thuật xét nghiệm (ghi điện não, điện thế kíchthích thân não, hình ảnh não, ghi rung giật nhãn cầu) có thể đưa ra những bằngchứng khách quan chứng minh cho các triệu chứng nhưng những kết quả nàythường là âm tính Những lời than phiền của bệnh nhân không nhất thiết phải kếthợp với đòi hỏi được bồi thường
Bao gồm: Hội chứng sau đụng dập não (bệnh não)
Hội chứng não sau chấn thương, không loạn thần
F07.8 Các rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn khác do bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não.
Bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não có thể gây ra mộtloạt các rối loạn về nhận thức, cảm xúc, nhân cách và hành vi nhưng không phảitất cả các bệnh lý ấy đều có thể xắp xếp theo các mục trên Tuy nhiên, vì các quiước về đặc điểm bệnh học của các hội chứng có thể xếp trong phần này là
Trang 35không chắc chắn, chúng phải được ghi mã “khác” Con số thứ năm có thể chothêm vào nếu cần thiết, để xác định những đơn thể bệnh riêng - dự kiến là:
- Rối loạn cảm xúc thực tổn bán cầu não phải (biển đổi khả năng hiểu biếthoặc bày tỏ cảm xúc ở những người có rối loạn bán cầu não phải) Dù bệnhnhân có thể bề ngoài tỏ ra bị trầm cảm, nhưng thường không có trầm cảm: đó làbiểu hiện của cảm xúc bị hạn chế
Cũng được ghi mã ở đây:
(a) Bất cứ hội chứng nào khác biệt định nhưng đoán chừng là biến đổinhân cách hay hành vi do bị bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức nàngnão khác với nhửng hội chứng được ghi ở F07.0-F07.2; và
(b) Các trạng thái bệnh có tật chứng về nhận thức nhẹ nhưng còn chưa tớimức mất trí trong các rối loạn tâm thần tiến triển như bệnh Alzheimer, bệnhParkinson v.v Chẩn đoán phải được thay đổi khi có đầy đủ tiêu chuẩn của mấttrí
Loại trừ: Sảng (F05.-)
F07.9 Rối loạn hành vi và nhân cách thực tổn không biệt định do bệnh não, tổn thương não, hoặc rối loạn chức năng não.
Bao gồm: Hội chứng tâm thần thực tổn
F09 RỐI LOẠN TÂM THẦN THỰC TỔN HOẶC TRIỆU CHỨNG KHÔNG
BIỆT ĐỊNH.
Bao gồm: Loạn thần thực tổn không biệt định cách khác
Loạn thần triệu chứng không biệt định cách khác
Loại trừ: Loạn thần không biệt định cách khác (F29)
Trang 36Phần 2 F10 - F19 CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG CÁC CHẤT TÁC ĐỘNG TÂM THẦN
Nhìn tổng quát phần này
F10 Các rối loạn, tâm thần và hành vi do sử dụng rượu
F11 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất có thuốc phiệnF12 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cần sa
F13 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dung các thuốc an dịu hoặccác thuốc ngủ
F14 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cocaine
F15 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dung các chất kích thích khácbao gồm cafein
F16 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác.F17 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng thuốc lá
F18 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các dung môi bay hơi.F19 Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và sửdụng các chất tác động tâm thần khác
Ghi mã bằng chữ số thứ 4 và thứ 5 được sử dụng để biệt định các trạng thái lâm sàng như sau:
F1x.0 Nhiễm độc cấp
F1x.1 Sử dụng gây hại
F1x.2 Hội chứng nghiện
F1x.3 Trạng thái cai
F1x.4 Trạng thái cai với mê sảng
F1x.5 Rối loạn loạn thần
Trang 37F1x.6 Hội chứng quên.
F1x.7 Rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn
F1x.8 Các rối loạn tâm thần và hành vi khác
F1x.9 Rối loạn tâm thần và hành vi không biệt định
MỞ ĐẦU
Phần này bao gồm nhiều rối loạn đa dạng có mức độ trầm trọng khácnhau (đi từ nhiễm độc không biến chứng và sử dụng gây hại đến các rối loạnloạn thần và mất trí rõ rệt), nhưng tất cả đều được cho là sử dụng một hay nhiềuchất tác động tâm thần (các chất đó có thể được hoặc không được ngành y tếcấp đơn)
Chất dùng được chỉ bằng con số thứ 2 và thứ 3 (nghĩa là hai con số đầutiên sau chữ F) và con số thứ 4, thứ 5 của mã định rõ các trạng thái lâm sàng
Để tiết kiệm chỗ, tất cả các chất tác động tâm thần đều được ghi trước, tiếp theo
có mã 4 chữ số; các chữ số này phải được dùng, như đã qui định, cho mỗi mộtchất biệt định, nhưng nên lưu ý rằng không phải là cả 4 chữ số đều được ápdụng cho tất cả các chất
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Có thể nhận dạng chất tác động tâm thần được sử dụng căn cứ vào tàiliệu mà đối tượng tự kể, sự phân tích khách quan các mẫu nước tiểu, mẫumáu hoặc các bằng chứng khác (mẫu ma túy mà bệnh nhân có, các dấu hiệu
và triệu chứng lâm sàng hoặc lời kể của những nhân chứng) Người ta khuyênnên luôn luôn tìm thông tin từ nhiều nguồn bằng chứng có liên quan đến chấtlượng sử dụng
Các xét nghiệm phân tích khách quan là bằng chứng bắt buộc phải có đểchứng minh là hiện có hoặc gần đây có sử dụng ma túy, tuy rằng chúng chỉ cógiá trị hạn chế xét về mức độ dùng ma túy hiện nay và trong quá khứ
Trang 38Nhiều người sử dụng nhiều loại ma túy, tuy nhiên khi có thể được, chuẩnđoán rối loạn phải được xếp loại theo một chất quan trọng duy nhất (hoặc theonhóm chất) đã sử dụng Thông thường chẩn đoán được làm theo chất ma tuyđặc biệt hoặc loại ma túy gây ra rối loạn hiện nay Khi có nghi ngờ, ghi mã chất
ma túy hoặc loại ma túy thường bị lạm dụng nhiều hơn cả, đặc biệt trong cáctrường hợp sử dụng liên tục hoặc hàng ngày
Chỉ trong trường hợp mà phương thức sử dụng ma túy hỗn độn, bừa bãi,hoặc trong trường hợp có nhiều loại ma túy hỗn hợp rắc rối thì mới dùng mã F19(rối loạn do sử dụng nhiều loại ma túy)
Sự lạm dụng các chất tác động tâm thần khác như các thuốc nhuận trànghoặc aspirin cần được ghi mã theo mục F55- (lạm dụng các chất không nghiện)dùng con số thứ 4 để định rõ loại chất sử dụng
Những trường hợp các rối loạn tâm thần (đặc biệt mê sảng ở người caotuổi) do các chất tác động tâm thần, nhưng không thấy một rối loạn nào trongcác rối loạn được ghi ở phần này (thí dụ sử dụng gây hại hoặc hội chứngnghiện) thì phải ghi mã theo mục F00-09 Khi trạng thái mê sảng gối lên một rốiloạn trong phần này, phải ghi mã theo mục F1x.3 hoặc F1x.4
Mức độ sử dụng rượu có thể được ghi theo mã phụ trong chương XX củaICD-10: Y90 (bằng chứng có sử dụng rượu được xác định bởi nồng độ rượutrong máu) hoặc mục Y91- (bằng chứng cá sử dụng rượu được xác định bằngmức độ nhiễm độc)
F1x.0 Nhiễm độc cấp.
Một trạng thái bệnh nhất thời tiếp theo sau việc sử dụng rượu hoặc chấttác động tâm thần khác, dẫn đến các rối loạn ý thức, nhận thức tri giác, cảm xúchay hành vi hoặc các chức năng và đáp ứng tâm sinh lý khác
Chẩn đoán này được xem là chuẩn đoán chính chỉ trong các trường hợpnhiễm độc không đồng thời xuất hiện các vấn đề có liên quan đến việc dùng
Trang 39rượu hoặc ma túy kéo dài Nếu có vấn đề như vậy thì phải ưu tiên đặt chuẩnđoán sử dụng gây hại (F1x1), hội chứng nghiện (F1x2) hoặc rối loạn loạn thần(F1x5).
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Nhiễm độc cấp thường liên quan chặt chẽ với liều lượng sử dụng (xemICD-10 chương XX) Trường hợp ngoại lệ có thể xảy ra ở những người bị bệnhthực tổn nào đó (ví dụ: suy thận hoặc suy gan) mà liều thấp có thể gây nhiễmđộc nặng không tương xứng với liều dùng Giải ức chế do hoàn cảnh xã hộicũng cần được lưu tâm tới (ví dụ: giải ức chế về tác phong trong các bữa tiệchoặc lễ hội) Nhiễm độc cấp là một hiện tượng nhất thời Cường độ của nhiễmđộc giảm dần theo thời gian và hậu quả cuối cùng sẽ biến mất nếu không sửdụng ma túy thêm nữa Do đó có thể bình phục hoàn toàn, trừ khi có tổn thương
về tổ chức hoặc có biến chứng khác, phát sinh
Các triệu chứng nhiễm độc không phải lúc nào cũng phản ánh các tácđộng đầu tiên của chất dùng: ví dụ các chất chống trầm cảm có thể gây ranhững triệu chứng kích động hoặc tăng hoạt động và các chất kích thích có thểdẫn đến hành vi tách rời xã hội và thu mình vào trong Tác động của các chấtnhư cần sa và các chất gây ảo giác có thể đặc biệt không lường trước được.Hơn nữa các chất tác động tâm thần có khả năng gây ra nhiều triệu chứng khácnhau với liều lượng khác nhau Ví dụ, rượu với liều lượng thấp có thể rõ rànggây hưng phấn hành vi, với liều lượng tăng lên dẫn đến kích động xâm phạm,còn ở liều rất cao gây ra an dịu rõ rệt
Bao gbn:- Say rượu cấp trong nghiện rượu
Những cuộc hành trình trắc trở(Do các chất gây ảo giác)Say rượu không biệt định cách khác
Trang 40Chẩn đoán phân biệt Lưu ý tổn thương cấp ở đâu, hạ đường huyết Cũngcần phải xem xét đến khả năng nhiễm độc như là hậu quả của việc sử dụngnhiều chất hỗn hợp.
Có thể dùng chữ số thứ 5 của mã để chỉ rõ là sự nhiễm độc cấp phối hợpvới biến chứng não:
F1x.00 Không biến chứng
Các triệu chứng ở mức độ trầm trọng khác nhau, thường phụ thuộc vàoliều, đặc biệt liều cao
F1x.01 Với chấn thương và các thương tổn khác của cơ thể
F1x.02 Với các biến chứng nội khoa khác
Các biến chứng như nôn ra máu, hít chất nôn
F1x.03 Với mê sàng
F1x.04 Với các rối loạn tri giác
F1x.05 Với hôn mê
F1x.06 Với co giật
F1x.07 Nhiễm độc bệnh lý
Chỉ áp dụng cho rượu Bắt đầu đột ngột với hành vi tấn công và thườnghung bạo, không điển hình cho cá nhân lúc tỉnh rượu, xảy ra rất sớm sau khiuống một lượng rượu không đủ gây nhiễm độc cho đa số người
F1x.1 Sử dụng gây hại.
Phương thức sử dụng chất tác dụng tâm thần gây tổn hại cho sức khỏe
Có thể tổn hại về mặt cơ thể (như các trường hợp viêm gan do tự tiêm chích cácchất ma túy) hoặc về mặt tâm thần (ví dụ các giai đoạn rối loạn trầm cảm thứphát sau khi uống nhiều rượu)
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán