1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tự chọn tân viện xây dựng đảng rèn luyện nhân cách cho sinh viên

19 242 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 45,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở đây những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của chương trình giáo dục đại học là xây dựng một đội ngũ trí thức có nhân cách đạo đức trong sáng, làm chủ về chuyên môn nghiệp vụ, khỏe mạnh về

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Đảng ta khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu

tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [6, tr 108-109] ở đây những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của chương trình giáo dục đại học là xây dựng một đội ngũ trí thức có nhân cách đạo đức trong sáng, làm chủ về chuyên môn nghiệp vụ, khỏe mạnh về thể chất đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Điều đó sẽ tạo ra

hệ điều chỉnh bên trong, tự giác, tự nguyện; làm cho sự quan tâm của con người đối với người khác cũng như đối với lợi ích của xã hội trở thành nhu cầu và sự thôi thúc từ nội tâm Đây là yếu

tố kích thích tính tích cực trong mỗi con người, hướng họ biết giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, góp phần khắc phục sự mất cân đối trong quá trình phát triển con người

-xã hội dưới những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và cơ chế thị trường hiện nay

Việt Nam, sau hơn 15 năm đổi mới, chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu đáng tự hào Bên cạnh đó, kinh tế thị trường lại là mảnh đất màu mỡ nảy sinh nhiều yếu tố tiêu cực Các tác động của kinh tế thị trường đã can thiệp, phá

vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống, chà đạp lên những khuôn mẫu đạo đức, những giá trị đạo đức đích thực Mặt khác, các thế lực thù địch đang tiến công chúng ta trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống, nhất là đối với thanh niên, sinh viên Và thực tế ngày nay, đáng lo ngại là một

bộ phận học sinh, sinh viên suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai bản thân và tiền đồ đất nước Như vậy, đổi mới, mở cửa, thuận lợi, khó khăn, thời cơ, nguy cơ đan xen nhau Trong đó, nhân tố đạo đức, giá trị của đời sống tinh thần của sinh viên đang trở thành điểm nóng trong sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì thế, việc nghiên cứu vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là một yêu cầu cơ bản và cấp thiết

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Nhân cách

Tư tưởng về nhân cách xuất hiện từ Arixtôt (384 - 322 TCN) - nhà Triết học cổ đại Hy Lạp - khi ông cho rằng, con người là "sinh vật chính trị" (Joon poltikon) ở đây, bước đầu Arixtôt đã thấy được vai trò của tác động xã hội, của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển con người như là một nhân cách Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên, hai nhà tâm lý học người Đức Dilthey và Spranger mới đưa ra khái niệm nhân cách Theo hai ông, nhân cách là cái

"mặt nạ" có tính chất xã hội của cái tôi bên trong; khi nào cái "mặt nạ" đó trùng với cái tôi thì nhân cách phát triển chín muồi [4, tr 42]

Đến nay, nhân cách được nghiên cứu, định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, những đại biểu nổi tiếng như: S.Freud với thuyết "Phân tâm học" coi bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay sinh vật hóa bản chất nhân cách, coi nó là bản năng tình dục; J.H.eysenck coi nhân cách là một dạng nào đó của ý thức trí tuệ và ý thức đạo đức thực hiện sự tự chủ trong bối cảnh tương tác; A.A.dler với thuyết "Siêu đẳng bù trừ", G.Allport với thuyết "đặc trưng" và năm 1949 ông

đã đưa ra trên 50 định nghĩa khác nhau về nhân cách Đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa Nhân bản triết học tư sản thế kỷ XX là M.Sêlơ - một nhà triết học Đức - cho rằng: "Bản chất vốn

có của con người không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật và xã hội mà nằm trong tinh thần của nó, trong khả năng của con người trở thành nhân cách" [8, tr 23] Theo quan niệm của ông con người không tồn tại thực mà con người chỉ là một bộ phận của thực tại tinh thần Nhìn chung, các học thuyết trên hoặc xem nhân cách như là sự đáp ứng nhu cầu sinh học thuần túy, hoặc xem nhân cách chỉ có tính chất thuần túy của cá nhân con người mà không thấy được tính quyết định của vai trò xã hội trong sự hình thành và phát triểnnhân cách con người

Triết học Mác ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Theo đánh giá của V.I Lênin, triết học Mác đã khắc phục được những thiếu sót lớn nhất của lịch sử triết học: Chủ nghĩa duy tâm "không thấy được" điểm xuất phát là từ hiện thực khách quan, chủ nghĩa duy vật siêu hình "không thấy được" vai trò tích cực của chủ thể con người Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, con người là thực thể sinh học xã hội Mặt sinh học và mặt xã hội có mối

Trang 4

quan hệ bao chứa lẫn nhau, chế ước lẫn nhau Mặt sinh học không thuần túy là sinh học mà là sinh học - xã hội Mặt xã hội không trừu tượng, trống rỗng, hư vô mà nó là sự phản ánh hiện thực của tồn tại sinh học - xã hội

Có thể nhận thấy rằng, các quan điểm tập hợp thành hai khuynh hướng cơ bản:

- Một là: Coi nhân cách như là đặc trưng, chức năng, vai trò, vị trí của con người trong xã hội.

- Hai là: Coi nhân cách là đặc trưng bản chất của con người [4, tr 11].

Chúng tôi thống nhất với khuynh hướng thứ hai coi nhân cách là đặc trưng bản chất của con người

Triết học Mác - Lênin xem nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân, có tính lịch sử - cụ thể Nó tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò chủ thể của nhận thức và của sự phát triển xã hội

[8, tr 33]

Nói đến nhân cách, trước hết là nói tới nhân cách của con người hiện thực, gắn liền với bản chất

xã hội của nó, là sản phẩm của những hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể Nó là kết quả của hoạt động người trong quá trình họ tiếp nhận sự giáo dục của xã hội và quá trình tự giáo dục của bản thân Quá trình này không chỉ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nhân cách mà còn là phương diện chủ yếu để tạo ra diện mạo nhân cách đạo đức con người ở đây, các nhân tố sinh vật di truyền, tâm sinh lý và xã hội xoắn xuýt với nhau Đối với sự phát triển nhân cách, cải tạo sinh vật di truyền và tâm sinh lý là cơ sở sinh vật, là những điều kiện tự nhiên, mà trên cơ sở đó hình thành nên những đặc điểm lịch sử - xã hội của con người

Mặt khác, nhân cách là nhân cách của từng cá nhân riêng biệt, cụ thể có mối quan hệ mật thiết

với điều kiện tự nhiên, xã hội xung quanh Mỗi cá nhân mang nhân cách này vừa có khả năng tự đánh giá những hành vi của bản thân mình, vừa có khả năng đánh giá hành vi của cá nhân mang nhân cách khác Quá trình tự đánh giá và được đánh giá đó là quá trình cá nhân thực hiện những hành vi cho mình và cho người khác

theo yêu cầu chung của nhân cách xã hội Nói cách khác, nhân cách là những phẩm chất bên trong của mỗi cá nhân trước những đòi hỏi của xã hội và của bản thân cá nhân để cá nhân đó tồn tại và làm tròn trách nhiệm của mình với bản thân, với xã hội Do đó, nhân cách cá nhân bị chi phối bởi nhân cách xã hội, phản ánh nhân cách xã hội, đồng thời nhân cách xã hội tìm thấy mình qua những hình ảnh, diện mạo riêng rất đa dạng của mỗi nhân cách cá nhân

Trang 5

1.2 Nhân cách đạo đức, nhân cách đạo đức của sinh viên

Nhân cách đạo đức: Là tổng thể những phẩm chất đạo đức của nhân cách (nhu cầu, tình cảm,

niềm tin, tri thức, lý tưởng, năng lực đạo đức ) được hình thành một cách lịch sử - cụ thể, được thể hiện, thực hiện trong toàn bộ hoạt động sống của mình như một cá nhân.

Tuy nhiên, sự tham gia của nhân cách đạo đức trong cấu trúc của nhân cách không chỉ được hiểu đơn giản chỉ là yếu tố cấu thành lên nhân cách, dù là yếu tố nền tảng Sự tham gia đó biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa nhân cách và nhân cách đạo đức, nhân cách đạo đức phát triển sẽ là

"chất men" kích thích sự phát triển của trí tuệ, của tư duy sáng tạo và năng lực thực tiễn của nhân cách Nói đến nhân cách đạo đức là có ý thức nhấn mạnh phẩm chất đạo đức là phẩm chất tiêu biểu nhất, là "cái gốc" làm nên nhân cách con người

Nhân cách đạo đức của sinh viên: Là tổng thể những phẩm chất đạo đức (nhu cầu, tình cảm, niềm tin, tri thức, lý tưởng, năng lực đạo đức ) của người sinh viên.

Nhân cách đạo đức sinh viên được thể hiện, thực hiện trong hoạt động học tập, trong hoạt động ứng xử thông qua các quan hệ chủ đạo: quan hệ thày - trò, bạn bè, tình yêu , trong hoạt động

xã hội mà tập trung trong các hoạt động văn thể của cá nhân mỗi sinh viên.

Ví dụ: Lý tưởng đạo đức cao cả của sinh viên Việt Nam hiện nay vẫn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là lý tưởng đạo đức cộng sản ở tầm cao nhất, lý tưởng đạo đức cộng sản là sự thống nhất giữa quan niệm và biểu tượng về các chuẩn mực, các quan hệ đạo đức và các nhân cách đạo đức xã hội chủ nghĩa Họ hiểu rằng sống có lý tưởng, lý tưởng đạo đức là phải thiết tha với độc lập của Tổ quốc, bởi đó là thành quả được đổi bằng biết bao xương máu của các thế hệ cha ông đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng và ngày nay đang thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vững bước tiến vào thế kỷ XXI Họ hiểu rằng muốn củng cố và bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc thì chỉ có con đường duy nhất là đưa đất nước

đi lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, lý tưởng, lý tưởng đạo đức của sinh viên còn được biểu hiện trong khát vọng học tập, nghiên cứu; biểu hiện ở ý thức trách nhiệm trong học tập, ở sự nỗ lực, chuyên cần, sáng tạo trong học tập nắm vững những tri thức được học tập trong trường, vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học - công nghệ, nhanh chóng hội nhập với xu thế phát triển của nền văn minh nhân loại Bởi trong nền kinh tế tri thức, dân tộc nào vươn lên đến đỉnh cao trí tuệ, dân tộc đó sẽ chiến thắng

Trang 6

1.3 Những nhân tố cơ bản qui định sự hình thành nhân cách đạo đức của sinh viên

Sự hình thành và phát triển của nhân cách đạo đức bị qui định trước hết bởi điều kiện kinh tế

-xã hội Con người trong hoạt động sản xuất, hoạt động chính trị -xã hội

đều thể hiện mục đích, lợi ích của mình trong quan hệ với những người xung quanh, với xã hội Mác khẳng định lịch sử không phải là cái gì khác mà là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của mình, nhưng mục đích của con người bao giờ cũng xuất phát và gắn liền với tính chế định của các điều kiện lịch sử - xã hội, các quan hệ kinh tế trong một thời đại nhất định Tính qui định khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội là tạo ra một giới hạn chung, một xu thế chung cho mọi hoạt động của con người Sự phát triển của nhân cách đạo đức, với tư cách là đạo đức của một cá nhân trong cộng đồng xã hội cũng không nằm ngoài những qui định đó Vì "con người ta, dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút những quan niệm đạo đức của mình ra từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi" [3, tr 136]

Ngoài những nhân tố chung qui định sự hình thành và phát triển của nhân cách đạo đức, sự hình thành nhân cách đạo đức của sinh viên còn chịu sự qui định của những nhân tố sau:

Thứ nhất, về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.

Sinh viên là một bộ phận thanh niên đã được tuyển chọn qua các kỳ thi quốc gia và được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, là tầng lớp người đang trưởng thành, đang chuẩn bị những hành trang nghề nghiệp cần thiết, chín muồi về nhân cách, nhân cách đạo đức Tuy ngành học và học vấn có thể khác nhau, nhưng họ là bộ phận dân cư còn rất trẻ, đại đa số từ 18 đến 23 tuổi, được xã hội đào tạo theo hệ thống, cơ bản để trở thành những nhà quản lý xã hội, thành lực lượng sản xuất quan trọng trong tương lai ở lứa tuổi này, con người đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách đạo đức Sự phát triển, hoàn thiện đó được biểu hiện cả trên hai mặt: mặt sinh học và mặt xã hội Mặt sinh học, cơ thể chưa có sự phát triển hoàn toàn đầy đủ, đòi hỏi nhu cầu cao về chất dinh dưỡng và đi liền với nhu cầu vật chất ấy là nhu cầu hoạt động như một nhu cầu tất yếu cần thiết cho quá trình lượng hóa vật chất đã tiếp nhận Vì vậy dễ dàng thấy, sinh viên tham gia vào tất cả các hoạt động tập thể rất nhiệt tình, thậm chí cả những hoạt động không phù hợp với bản thân họ Điều này dẫn đến tình trạng có một số ít sinh

Trang 7

viên hoạt động thiếu ý thức, hoạt động quậy phá không rõ nguyên nhân, có những biểu hiện lệch lạc trong định hướng cuộc sống Chúng ta, dù hiểu đặc điểm, nguồn gốc của những hành động

vô thức đó, nhưng không thể mặc nhiên phủ nhận hoặc coi nhẹ tác hại của những hiện tượng chưa tốt, chưa văn hóa ấy của một bộ phận sinh viên Rõ ràng đó là những biểu hiện chưa hoàn chỉnh trong nhân cách đạo đức sinh viên Chúng ta cần hiểu đúng nguyên nhân chủ quan và khách quan của những biểu hiện lệch lạc đó trong sinh viên Điều đáng bàn là trong những nguyên nhân chủ quan từ sinh viên có nguyên nhân do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của họ.Với đặc điểm trẻ trung, nhiệt tình, nhạy cảm nhưng còn chưa chín chắn trong nhận thức, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên sinh viên chưa ý thức được đầy đủ trước khi hành động

Với cơ thể đang phát triển, tâm sinh lý chưa ổn định, sinh viên cũng dễ hành động sai, dẫn đến những kết quả mà chính họ cũng không mong muốn Do nhu cầu hoạt động thường xuyên và tâm

lý không ổn định nên sinh viên dễ bị những cảm xúc nhất thời chi phối Khi có tác nhân đạo đức tích cực, đặc biệt là những tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách đạo đức của sinh viên sẽ phát triển theo hướng thuận lợi, ngược lại họ dễ bị suy thoái, lôi kéo trước những tác nhân tiêu cực.Trong điều kiện kinh tế thị trường hiệnnay ở nước ta, sinh viên dễ bị những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội tác động làm mất định hướng giá trị, làm giảm lòng tin vào chế độ xã hội, vào vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, vào con đường phát triển đất nước Mặt trái của kinh tế thị trường đã làm một bộ phận không nhỏ sinh viên suy thoái về nhân cách đạo đức, chạy theo thị hiếu tầm thường, lối sống buông thả, thực dụng của phương Tây, quay lưng lại với những giá trị đạo đức truyền thống mà dân tộc ta trân trọng và dày công vun đắp Hơn lúc nào hết, chúng ta (gia đình - nhà trường - xã hội) cần tạo một điều kiện thuận lợi để giáo dục, định hướng cho sự phát triển nhân cách đạo đức sinh viên theo những giá trị, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của

xã hội Nếu có sự quan tâm thường xuyên, đầy đủ đối với họ, kịp thời phát hiện và giải quyết những nhu cầu chính đáng của họ một cách thỏa đáng, đồng thời phát hiện kịp thời những nhân

tố xấu đã và đang tác động đến sinh viên, từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu thì chúng ta hoàn toàn có thể giúp họ tránh được những ảnh hưởng xấu của những điều kiện khách quan Đây cũng là biện pháp quan trọng có vai trò định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách đạo đức của sinh viên

Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi có vị trí, vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách, nhân cách đạo đức sinh viên Trên cơ sở những tố chất đạo đức đã hình thành ở

Trang 8

tuổi vị thành niên, nhân cách đạo đức sinh viên phát triển nên những nét mới, những tố chất đạo đức mới khác biệt so với trước, thậm chí khác biệt dẫn đến sự trái ngược giữa yếu tố cũ và yếu tố mới Đây chính là quá trình phủ định biện chứng, cái mới ra đời trên cơ sở của cái cũ và cái mới

ấy cũng là kết quả tác độngcủa hoàn cảnh mới, phủ định cái cũ

Nhân cách đạo đức của sinh viên đang trong quá trình hình thành, biến đổi và phát triển có thể có những biến đổi lớn theo xu hướng tích cực, hoặc biến đổi lớn theo xu hướng tiêu cực Sự định hướng giá trị trong mỗi sinh viên không phải là một hằng số bất biến, mà nó biến đổi theo từng thời gian khi những điều kiện sống, điều kiện môi trường xã hội thay đổi Căn cứ vào đặc điểm này, chúng ta hoàn toàn có thể thông qua giáo dục và bằng giáo dục đạo đức để xây dựng lên một nhân cách đạo đức tốt đẹp trong mỗi sinh viên Đó chính là quá trình chuyển văn hóa đạo đức xã hội thành văn hóa đạo đức cá nhân

Thứ hai, hệ thống nhu cầu, lợi ích của sinh viên trong hoạt động học tập, nghiên cứu và hoạt động xã hội là nhân tố tác động tích cực trong việc hình thành và phát triển nhân cách đạo đức ở sinh viên.

Nhu cầu là những đòi hỏi của con người muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển Nhu cầu nảy sinh do tác động của điều kiện, hoàn cảnh khách quan và những trạng thái riêng của chủ thế Lợi ích là cái thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu

Nói cách khác, nhu cầu chính là sự đòi hỏi những yếu tố cần thiết bên trong của cá nhân về một cái gì tồn tại ngoài nó Nó có thể là một sự vật hiện tượng, một vấn đề Cá nhân nhận thức được tính cần thiết của tất cả những cái đó (vấn đề, sự vật hiện tượng ) đối với sự tồn tại và phát triển của mình Đạt đến điểm này, nhu cầu trở thành động lực to lớn thúc đẩy cá nhân hoạt động đạt tới lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu

ở sinh viên hệ thống nhu cầu, lợi ích rất đa dạng Nó mang tính kém ổn định, sự di chuyển năng động hơn so với hệ thống nhu cầu, lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác Sinh viên đặc biệt đề cao nhu cầu, lợi ích tinh thần, nhu cầu ham hiểu biết, tiếp thu những kiến thức mới, nhu cầu về tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình thường chiếm ưu thế cao và cấp bách hơn những tầng lớp xã hội khác Chính vì vậy, sinh viên tham gia nhiệt tình, sôi nổi những hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội dù kinh phí cho những hoạt động này rất khiêm tốn, không nói

là rất ít Có thể nói, ở sinh viên nhu cầu về lợi ích tinh thần chiếm ưu thế nổi trội hơn so với những nhu cầu về vật chất

Trang 9

Trong thế giới tinh thần, nhu cầu về tình bạn đối với sinh viên là rất quan trọng Tình bạn giúp bản thân mỗi sinh viên luôn hướng tới tập thể, quan tâm, giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau, hình thành một tình cảm đạo đức tốt đẹp trong cá nhân sinh viên Khi gặp những điều khó khăn trong cuộc sống, bạn bè là người đầu tiên họ cần để tâm sự, để sẻ chia những vướng mắc đó

Trang 10

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHÂN CÁCH ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY

Việc đánh giá đúng thực trạng nhân cách đạo đức sinh viên hiện nay là một vấn đề quan trọng để tìm ra những giải pháp đúng cho việc xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên Rõ ràng tình hình nhân cách đạo đức sinh viên đang có vấn đề Song, nếu chúng ta không khách quan trong đánh giá, chỉ nhìn vào những hiện tượng, những biểu hiện bề ngoài thì dễ rơi vào cách nhìn phiến diện, đưa đến những kết luận bi quan.Có thể khẳng định nhìn chung đội ngũ sinh viên Việt Nam trong sáng về đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao Tuy nhiên, trong sinh viên còn không ít những yếu kém tồn tại, truyền thống tôn sư trọng đạo bị xói mòn chỉ đòi hưởng thụ không nghĩ đến nghĩa vụ và trách nhiệm cống hiến, không tích cực rèn luyện, học tập, ý thức chuẩn bị để ngày mai lập nghiệp chưa cao Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ: "Đặc biệt đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt

lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp và tương lai của bản thân

và đất nước" [1, tr 24]

Từ những số liệu khảo sát thực tiễn, chúng tôi phân tích thực trạng nhân cách đạo đức sinh viên trên các mặt cơ bản của nhân cách đạo đức sinh viên:

- Lý tưởng, niềm tin và tri thức đạo đức;

- Nhận thức và hành vi trong học tập;

- Tính tích cực xã hội của sinh viên

2.1 Lý tưởng, niềm tin và tri thức đạo đức

Lý tưởng, niềm tin và tri thức là những yếu tố cấu thành cơ bản nên thế giới quan của mỗi người

và toàn xã hội Thế giới quan là hạt nhân của nhân cách, nó giúp con người nhận thức đúng đắn

về mình, về những mối quan hệ với người khác và xã hội Vì vậy, có một thế giới quan đúng đắn

là nền tảng để xây dựng một nhân cách toàn diện và ngược lại không thể nảy sinh một nhân cách tốt đẹp trên cơ sở một thế giới quan sai lầm, mù quáng Để xác định đúng thực trạng nhân cách đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay cần đánh giá đúng thế giới quan của họ được thể hiện qua

lý tưởng, niềm tin và tri thức mà họ được trang bị

Lý tưởng và niềm tin đạo đức:

Ngày đăng: 05/02/2017, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w