1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam duy tiên hà nam

72 937 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 8,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chăn nuôi gà ISA Brown và Ai Cập đẻ trứng thương phẩm ở xã Yên Nam huyện Duy Tiên đã phát triển từ nhiều năm nay nhưng chưa có nghiên cứu nào cụ thể để đánh giá sinh trưởng và khả năng s

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM THỊ HIÊN

ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT SINH SẢN

GÀ ISA BROWN VÀ AI CẬP NUÔI TẠI

XÃ YÊN NAM - DUY TIÊN - HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM THỊ HIÊN

ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT SINH SẢN

GÀ ISA BROWN VÀ AI CẬP NUÔI TẠI

XÃ YÊN NAM - DUY TIÊN - HÀ NAM

Chuyên ngành : Chăn nuôi

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Phan Xuân Hảo

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực

và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hiên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của thầy hướng dẫn Phó giáo sư – Tiến sĩ Phan Xuân Hảo trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phó giáo sư – Tiến sĩ Phan Xuân Hảo và các thầy cô giáo ở bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ông Bùi Công Sơn, xóm 3, Đệp Sơn - Yên Nam - Duy Tiên – Hà Nam đã giúp

đỡ tôi trong suôt thời gian thực tập

Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành các thầy cô đã giúp chúng tôi nâng cao trình độ trong quá trình học tập

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hiên

Trang 5

2.1 Một số hiểu biết về gà ISA Brown và Ai Cập 3 2.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà Ai Cập 3 2.1.2 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà ISA Brown 3 2.2 Cơ sở khoa học về sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng 4

2.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn, môi trường và điều kiện nuôi dưỡng đến sinh

2.3 Cơ sở khoa học về sinh lý sinh sản ở gia cầm mái 10

2.3.4 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng 12 2.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản 16 2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 3.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 22

Trang 6

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.2.1 Khả năng sinh trưởng và nuôi sống giai đoạn từ 1 ngày tuổi – 18 tuần tuổi 22 3.2.2 Khả năng sinh sản giai đoạn từ 19 – 52 tuần tuổi 22 3.2.3 Quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng tại nông hộ 22

3.3.1 Đối với gà giai đoạn từ 1 ngày tuổi – 18 tuần tuổi 27 3.3.2 Đối với gà đẻ trứng thương phẩm từ 19 – 52 tuần tuổi 28

4.1 Sinh trưởng và nuôi sống gà hậu bị giai đoạn từ 1 – 18 tuần tuổi 32

4.2.7 Hạch toán kinh tế sơ bộ chăn nuôi gà mái đẻ trứng 53

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

HQCN Hiệu quả chăn nuôi

HQSDTĂ Hiệu quả sử dụng thức ăn TTL Trứng tích lũy

TTTĂ Tiêu tốn thức ăn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối gà mái hậu bị (g/con/ngày) 35 Bảng 4.3 Sinh trưởng tương đối gà mái hậu bị (%) 37 Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống và loại thải gà mái hậu bị từ 1-18 tuần tuổi 39

Bảng 4.7 Khối lượng cơ thể gà tại các thời điểm sinh sản (g) 44

Bảng 4.9 Chất lượng trứng gà ISA Brown và gà Ai Cập 49 Bảng 4.10 Hiệu quả và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng 52 Bảng 4.11 Hạch toán sơ bộ chi phí nuôi 1 gà hậu bị 54 Bảng 4.12 Hạch toán sơ bộ chăn nuôi gà mái đẻ trứng 55

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.4 Tỷ lệ nuôi sống gà mái hậu bị từ 1 – 18 tuần tuổi 40 Hình 4.5 Tỷ lệ nuôi sống gà mái đẻ từ 19 – 52 tuần tuổi 42 Hình 4.6 Khối lượng cơ thể gà mái ứng với từng tỷ lệ đẻ 45

Hình 4.8 Năng suất trứng tích lũy qua các tuần tuổi 48

Hình 4.11 Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng qua các tuần đẻ 53

Trang 10

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi gia cầm ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong việc cung cấp thịt, trứng cho con người Theo Tổng cục Thống kê đến năm 2012 số lượng gia cầm có 308,5 triệu con và đến tháng 4/2014 tổng số gia cầm là 314,4 triệu con, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2013 Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước tính bằng 442,8 nghìn tấn, sản lượng trứng gia cầm đạt 4,543 triệu quả tăng 0,6% và 5,5% so với cùng kỳ năm trước Số lượng gia cầm ngày càng tăng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của cả nước, vì vậy yêu cầu đặt ra cho ngành chăn nuôi gia cầm rất lớn

Chăn nuôi gia cầm là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Mục tiêu là tổng đàn gà tăng bình quân từ 2008 đến 2020 đạt 5%/năm, đến năm 2020 đàn gà đạt 300 triệu con, trong đó gà công nghiệp chiếm 33%; sản lượng thịt gà đạt 1,760 tấn, chiếm 32% tổng sản lượng thịt xẻ các loại; sản lượng trứng đạt 14 tỷ quả Đây là những chỉ tiêu vô cùng to lớn, đòi hỏi từ nay đến năm 2020 ngành chăn nuôi phải thực hiện đồng bộ, có hiệu quả một loạt các giải pháp quan trọng như trong công tác quy hoạch và bố trí đất đai, khoa học công nghệ, chất lượng thức ăn, phòng chống dịch bệnh, tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển

Trên thực tế chăn nuôi gia cầm đã trở thành một nghề không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của mọi quốc gia (Nguyễn Duy Hoan, 1999)

Ở nước ta chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế nông hộ, chiếm 19% tổng thu nhập nông hộ, xếp thứ hai sau chăn nuôi lợn (Cục chăn nuôi, 2006) Do nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển nên nhu cầu đời sống nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là yêu cầu ngày càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng các sản phẩm thịt và trứng gia cầm Vì vậy, nghề chăn nuôi gia cầm đang ngày càng được mở rộng từ những trang trại lớn được đầu tư trang thiết bị hiện đại đến các nông hộ chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ đã và đang góp phần vào sự phát triển chung của xã hội cũng như của mỗi cá nhân Các sản phẩm từ gia cầm hiện nay không chỉ để thoả mãn nhu cầu về thực phẩm mà đã đáp ứng một phần nào nhu cầu về chất lượng

Trang 11

Chính vì vậy mà trong những năm gần đây Nhà nước ta đã cho nhập một

số giống gia cầm có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt như: gà Ai Cập, ISA Brown, Goldline, Lương Phượng… nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân Chăn nuôi gà ISA Brown và Ai Cập đẻ trứng thương phẩm ở xã Yên Nam huyện Duy Tiên đã phát triển từ nhiều năm nay nhưng chưa có nghiên cứu nào cụ thể để đánh giá sinh trưởng và khả năng sinh sản của 2 giống gà trên trong điều kiện nuôi dưỡng ở nông hộ Để góp phần đánh giá đầy đủ sinh trưởng, khả năng sản xuất trứng của gà ISA Brown và Ai Cập trong chăn nuôi nông hộ,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh

sản gà ISA Brown và Ai Cập nuôi tại xã Yên Nam – Duy Tiên – Hà Nam”

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá sinh trưởng, khả năng sản xuất trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà ISA Brown và Ai Cập để xác định hiệu quả chăn nuôi gà ISA Brown và Ai Cập trong điều kiện nuôi dưỡng ở nông hộ tại xã Yên Nam – Duy Tiên – Hà Nam

1.2.2 Ý nghĩa

- Nghiên cứu đánh giá có hệ thống về một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển

và khả năng sản xuất trứng của gà ISA Brown và Ai Cập nuôi trong điều kiện nuôi dưỡng ở nông hộ tại xã Yên Nam – Duy Tiên – Hà Nam

- Cung cấp thêm thông tin về các đặc điểm sinh trưởng cũng như khả năng sinh sản của 2 giống gà cho cán bộ, người chăn nuôi có cơ sở lựa chọn con giống

và phương án quản lý thích hợp

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ GÀ ISA BROWN VÀ AI CẬP

2.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà Ai Cập

Gà Ai Cập có nguồn gốc từ một giống gà cổ đại tại thành phố Fayoumi (Ai Cập) được tạo ra để sản xuất trứng; chúng có khả năng thích ứng rộng rãi và khả năng sản xuất ổn định trong khí hậu nhiệt đới và nuôi thả ở các nước đang phát triển Gà Ai Cập đã được đưa vào Việt Nam từ tháng 4/1997 Gà có mào đơn dựng đứng, lông màu đen đốm trắng, thân hình nhỏ, da trắng, chân cao, màu chì Nhìn chung, gà Ai Cập có khối lượng cơ thể lớn hơn gà Ri, khi nuôi đến ba tháng rưỡi, gà trống nặng 1,3 – 1,5kg, gà mái nặng 1,0 – 1,1kg, đến bốn tháng rưỡi gà trống nặng 1,7 – 1,8kg, gà mái nặng 1,3 – 1,4kg

Đây là giống gà thả vườn, có năng suất trứng tương đối cao, chất lượng trứng thơm ngon Nuôi đẻ từ 22 – 64 tuần, gà mái cho 158 quả và tỉ lệ đẻ đạt 52,8% (Phùng Đức Tiến, 1996) Tỉ lệ nuôi sống đàn mái đạt 91% Gà mái bắt đầu

đẻ trứng khoảng 140 ngày tuổi Sau khoảng ba tuần, gà mái đã đạt tỉ lệ đẻ tới 50% trong đàn, Trứng có màu hồng nhạt và nhỏ Khối lượng trứng khoảng 35 – 45g, tương đương với trứng gà Ri của ta và được khách hàng ưa chuộng

Trứng giống cho tỉ lệ có phôi bình quân 95% và tỉ lệ nở 80 – 90%/số trứng

có phôi

Kết quả nuôi tại hộ gia đình cho thấy ở các giai đoạn nuôi có tỉ lệ nuôi sống cao: gà con 94%, gà dò 96% và gà sinh sản 91% Khối lượng cơ thể gà con 650g, gà dò 1350g, gà sinh sản 142g Năng suất trứng của mỗi mái trong một năm đẻ bình quân là 181 quả Nếu nuôi con mái đến 61 tuần tuổi thì năng suất trứng từ 146 – 163 quả Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng từ 2,07 – 2,27kg

2.1.2 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của gà ISA Brown

Gà ISA Brown là giống gà chuyên trứng cao sản của Pháp được nhập về nước ta từ sau năm 1998, gà có khả năng thích nghi tốt, phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nhiều vùng nước ta Gà mái thương phẩm có thân hình nhỏ nhẹ, lông màu nâu nhạt Gà con mới nở con mái lông màu nâu, con trống lông màu trắng nên dễ dàng phân biệt

Trang 13

Gà mái lúc bắt đầu đẻ có khối lượng khoảng 1,6 – 1,7kg/con, tỷ lệ đẻ cao 93,9 %, khoảng 144 ngày đạt tỷ lệ đẻ 50%, đến 76 tuần tuổi sản lượng trứng đạt

329 quả/mái, khối lượng trứng trung bình 62,7g/ quả, vỏ trứng màu nâu Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1,5 – 1,6kg Chu kỳ đẻ kéo dài có thể trên 12 tháng, giai đoạn đẻ cao cũng kéo dài từ 32 - 45 tuần tuổi với tỷ lệ đẻ 85 - 90%, là đặc điểm hơn hẳn các giống gà trứng khác Tỷ lệ nuôi sống từ 1 ngày đến 20 tuần tuổi là 98% và từ 20 tuần tuổi đến 78 tuần tuổi là 93,3% Sản lượng trứng thay đổi qua các tuần tuổi từ 20-72 tuần tuổi là 303 quả/ năm và từ 20-76 tuần tuổi là 320,6 quả/ năm

Khối lượng trứng cũng thay đổi qua các tuần tuổi, vào tuần tuổi thứ 24 là 56g/quả, tuần tuổi thứ 35 là 62g/quả và 72 tuần tuổi là 65g/quả

Gà bắt đầu đẻ bói vào tuần tuổi thứ 19, đẻ 50% vào tuần thứ 21, tỷ lệ đạt đỉnh cao (93%) tuần thứ 26 -33 và tuần 76 còn lại 73% (Võ Bá Thọ, 1996)

2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SINH TRƯỞNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG

2.2.1 Khái niệm về sinh trưởng

Sinh trưởng là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ thể do kết quả của sự phân chia các tế bào dinh dưỡng Sự sinh trưởng, trước hết là kết quả của

sự phân chia tế bào, tăng thể tích, tăng các chất ở mô tế bào để tạo nên sự sống, trong đó tăng số lượng và tăng thể tích tế bào là quá trình quan trọng nhất

Sinh trưởng là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương,

da Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Khái quát hơn, Trần Đình Miên (1995) đã định nghĩa đầy đủ như sau “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ

do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước” Về mặt sinh học, sinh trưởng của gia cầm là quá trình tổng hợp protein thu nhận từ bên ngoài chuyển hoá thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của từng giống, dòng làm cho cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước

Khi nghiên cứu về sinh trưởng, không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là sự tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Các thí nghiệm cổ điển của Hammond (1959) đã chứng minh sự sinh trưởng của các mô cơ được diễn biến

Trang 14

đã giảm bớt tốc độ phát triển Càng ngày con vật càng già và chất dinh dưỡng chuyển sang tích luỹ mỡ Trong tất cả các tổ chức ở cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm tỷ lệ nhiều nhất so với khối lượng cơ thể, ở gà từ 42 - 45%; vịt từ

40 - 43%; ngỗng từ 48 - 50%; gà tây 52 - 54% (Ngô Giản Luyện, 1994)

Sự sinh trưởng ở động vật tuân theo những quy luật nhất định Sinh trưởng ở gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó phần tăng khối lượng giảm dần theo tuổi Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có

sự khác nhau Sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận cơ quan (mô, xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm

Quá trình sinh trưởng của gà con trong hai tháng đầu được chia thành 3 giai đoạn, đó là:

+ Giai đoạn 10 ngày tuổi đầu: Gà con chưa hoàn thiện cơ quan điều chỉnh nhiệt cơ thể, có tốc độ sinh trưởng nhanh do được sử dụng chất dinh dưỡng dự trữ ở lòng đỏ lộn vào xoang bụng, chưa có sự khác nhau về sinh trưởng giữa con trống và con mái Gà con giai đoạn này ít vận động, buồn ngủ, đòi hỏi nhiệt độ môi trường cao, có phản xạ yếu với điều kiện ngoại cảnh Giai đoạn này gà cần được chăm sóc, nuôi dưỡng cẩn thận

+ Giai đoạn từ 11 đến 30 ngày tuổi, gà con sinh trưởng rất nhanh, cơ quan chức năng điều khiển thân nhiệt đã hoàn thiện, có sự khác biệt rõ về sự sinh trưởng giữa con trống và con mái, màu lông và những đặc điểm sinh dục thứ cấp

Trang 15

như mào, tích, tai Gà con sử dụng và chuyển hoá thức ăn tốt

+ Giai đoạn từ 31 đến 60 ngày: Khối lượng cơ thể gà con tăng lên gấp nhiều lần Gà con có tốc độ sinh trưởng nhanh, hiệu suất sử dụng thức ăn tốt Gà con kết thúc quá trình thay lông tơ bằng lông vũ Các phản xạ về thức ăn, nước uống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng được củng cố bền vững

2.2.2 Đánh giá tốc độ sinh trưởng

- Sinh trưởng tích luỹ: Là sự tăng khối lượng cơ thể, kích thước các chiều

đo trong một đơn vị thời gian nhất định Khối lượng cơ thể ở tại một thời điểm nào đó là chỉ tiêu được sử dụng quen thuộc nhất để chỉ khả năng sinh trưởng Xác định được khối lượng cơ thể sau các khoảng thời gian khác nhau như: 1 tuần tuổi, 2 tuần tuổi sẽ cho ta những số liệu về sinh trưởng tích luỹ Đối với gà thịt sinh trưởng tích luỹ là chỉ số năng suất quan trọng nhất làm căn cứ để so sánh các

cá thể, các dòng hoặc giống với nhau

Đối với gà đẻ trứng sinh trưởng tích luỹ (đặc biệt giai đoạn hậu bị) liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh sản của gà ở giai đoạn đẻ trứng Nếu khối lượng

cơ thể nhỏ thì khả năng sinh sản thấp, nếu khối lượng cơ thể lớn thì tiêu tốn thức

ăn tăng Như vậy khối lượng cơ thể gà mái đẻ trứng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế

Trần Long (1994) đã nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các dòng gà V1, V3, V5 thuộc sống gà Hybro (HV 85), đường cong sinh trưởng của 3 dòng

gà có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và mái cũng có sự khác nhau: Tốc độ sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi đối với gà trống và 6 - 7 tuần đối với gà mái

- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích

cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parabon

- Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypebon

2.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn, môi trường và điều kiện nuôi dưỡng đến sinh trưởng và phát triển

Các tính trạng số lượng, trong đó tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể

gà, chịu ảnh rất lớn các tác động của môi trường E (Environment) Theo Nguyễn

Trang 16

Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) quan hệ giữa kiểu hình P (Phenotype) kiểu gen G (Genotype) và môi trường E (Environment) được biểu thị bằng công thức P = G + E; căn cứ vào mức độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia súc, gia cầm, môi trường E được chia làm hai loại

- Môi trường chung Eg (Genral environment) tác động thường xuyên liên tục đến tất cả các cá thể trong quần thể

- Môi trường đặc biệt ES (Special environment) tác động đến một số cá thể riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn

Các giống gia súc, gia cầm đều nhận được từ tổ tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng, trong đó có các tính trạng số lượng Đó chính là những đặc điểm di truyền của giống hoặc dòng, nhưng những khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống của chúng như thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và khí hậu

a) Ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng

Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của gia cầm Đặc biệt đối với gia cầm non, do không được bú mẹ như ở động vật có vú nên thức ăn của chúng ở giai đoạn đầu có tác dụng quyết định đến khả năng sinh trưởng và khối lượng cơ thể của chúng sau này Theo Trần Đình Miên (1975) thì việc nuôi dưỡng mà chủ yếu là thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự sinh trưởng của gia súc, gia cầm Theo Bùi Đức Lũng (1992) để phát huy khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tốt được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein với các axit amin và năng lượng Ngoài ra trong thức ăn cần được bổ sung các chế phẩm hoá sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng và làm tăng chất lượng thịt

Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả như Nguyễn Thị Mai, Vũ Duy Giảng (1994), Trần Công Xuân và cs (1999) đều đã khẳng định ảnh hưởng rất lớn của thức ăn và dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

b) Ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ đến sinh trưởng và phát triển

Yếu tố thời tiết, mùa vụ cũng là một tác nhân quan trọng của môi trường ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, phát triển của gia cầm, đặc biệt là nhiệt độ, độ

ẩm và ánh sáng,

+ Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ

Trang 17

Gà con ở giai đoạn còn nhỏ (30 ngày tuổi đầu) cơ quan điều khiển nhiệt chưa hoàn chỉnh, cho nên yêu cầu về nhiệt độ tương đối cao Nó rất nhạy cảm với tác động của điều kiện khí hậu thay đổi Những ngày đầu tiên thân nhiệt của

gà con mới nở không ổn định và phụ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi

Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ là những tác động của nó liên quan đến việc tiêu thụ thức ăn, ngoài ra còn làm tăng hoạt động sinh lý của hệ tuần hoàn, hô hấp gây stress mạnh Nhiệt độ thích hợp nhất cho gà là 150C đến

250C Những thay đổi nhiệt độ trên và dưới ngưỡng này đều có thể gây stress

và ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của gà

Scott et al (1976) cho biết trong khoảng 260C đến 320C khi nuôi gà broiler, tiêu thụ thức ăn giảm 1,5g/10C/ 1 gà và trong khoảng 320C - 360C tiêu thụ thức ăn giảm 4,2g/10C/1gà Reddy (1999) đã nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa nhiệt

độ môi trường với sinh trưởng và hệ số chuyển hoá thức ăn và đã rút ra kết luận:

Gà broiler nuôi trong môi trường mát mẻ và ôn hoà cho năng suất cao hơn trong môi trường nóng

+ Ảnh hưởng của độ ẩm không khí

Ẩm độ cũng là một tác nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gia cầm Trong mọi điều kiện của thời tiết, nếu ẩm độ không khí cao đều bất lợi cho gia súc, gia cầm, bởi vì nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gà con dễ mất nhiệt gây cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ cao, ẩm độ cao làm

cơ thể gia cầm thải nhiệt khó khăn và dẫn đến cảm nóng Nhiệt độ và ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ, cho nên ảnh hưởng của thời tiết mùa vụ đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm là điều tất yếu

Vai trò của ẩm độ không khí, cùng với nhiệt độ môi trường luôn luôn là những tác nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sống hàng ngày của cơ thể gia cầm, chúng không những chịu ảnh hưởng khi gia cầm đã lớn mà còn tác động khi chúng ở giai đoạn nhỏ, thậm chí còn ở cả giai đoạn phôi thai Gà con nở vào mùa xuân và mùa

hè, thời gian đầu sinh trưởng kém, ngược lại nở vào mùa thu thì gà sinh trưởng tốt ngay trong những ngày tuổi đầu Như vậy trong điều kiện khí hậu tối ưu, ẩm độ thấp, thời tiết mát mẻ sẽ ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng của gia cầm

+ Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng

Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai

Trang 18

đoạn gà đẻ Thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho gà ăn, uống, vận động ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) gà broiler cần được chiếu sáng 23 giờ/ngày khi

nuôi trong nhà kín

c) Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc

Trong quá trình chăn nuôi, rất nhiều tác nhân khí hậu đã có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt độ, ẩm độ không khí, ánh sáng cho nên ở nước ta, nhất là ở miền Bắc phải có những biện pháp bảo vệ chuồng nuôi chu đáo Những biện pháp như che gió, thông thoáng, sưởi ấm nhằm tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu, cũng như nuôi ở mật độ hợp lý, vận dụng một cách linh hoạt tuỳ thuộc vào sự biến động của thời tiết là một việc làm cần thiết để triệt tiêu hoặc làm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, sẽ giúp chăn nuôi đạt kết quả cao

Thành phần của tiểu khí hậu chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố: hướng chuồng, trang thiết bị kỹ thuật, quy trình kỹ thuật chăn nuôi và đặc biệt là mật độ chuồng nuôi Trước hết là vị trí chuồng, hướng chuồng, trần nhà (trần có thể được cách nhiệt và phun mưa trên mái hoặc làm chuồng kín kiểu đường hầm làm mát bằng hơi nước có quạt hút) Ngoài ra kết hợp thêm các biện pháp bổ trợ như làm lạnh nước uống (bình thường tỷ lệ nước so với thức ăn là 2/1 ở nhiệt độ

210C, nhưng sẽ tăng lên thành tỷ lệ 8/1 ở nhiệt độ 380C) Theo Teeter và Smith (1996) qua những thí nghiệm đã kết luận rằng việc cung cấp nước lạnh và việc

bổ sung 0,25% muối vào nước uống có hiệu quả tốt trong việc chống nóng Thay đổi khẩu phần ăn, cũng như bổ sung thêm vitamin C, khoáng vào nước uống đều

có lợi cho chống nóng Cụ thể trong thời gian stress nhiệt, nên thay thế năng lượng của khẩu phần bằng năng lượng của chất béo, đó là cách hạn chế sản sinh nhiệt trong quá trình stress nhiệt, cơ sở khoa học cho vấn đề này bắt nguồn từ thực tế là “sự tích tụ nhiệt” gắn liền với sự trao đổi chất béo thấp hơn tinh bột Sự giải phóng nhiệt từ tiêu hoá và trao đổi chất của tinh bột cao hơn chất béo xấp xỉ 30% hoặc là phải giảm thấp tỷ lệ protein trong khẩu phần thay bằng cân đối tỷ lệ axit amin hơn là nâng cao tỷ lệ protein Việc thừa nitơ dẫn đến giải phóng quá nhiều nhiệt, ảnh hưởng không tốt đến năng suất của gà trong thời gian có khí hậu nóng Việc bổ xung vitamin C và bicarbonat cũng có tác dụng tốt khi nuôi gà trong thời tiết nóng

Trang 19

2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SINH LÝ SINH SẢN Ở GIA CẦM MÁI

2.3.1 Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái

Gia cầm là loài đẻ trứng, con mái thoái hóa buồng trứng bên phải, chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển Âm hộ gắn liền với tử cung và cùng nằm chung lỗ huyệt đảm bảo 3 chức năng chứa phân, nước tiểu và cơ quan sinh dục Khi giao phối gai giao cấu của con trống áp sát vào lỗ huyệt của con mái và phóng tinh vào âm hộ

Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào loại gia cầm, sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kì đầu của phát triển phôi; chức năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng Quá trình phát triển của tế bào trứng trải qua 3 thời kỳ tăng sinh, sinh trưởng và chín; trong giai đoạn phát triển lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, tầng tế bào này phát triển thành nhiều tầng và tiến dần tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicum, bên trong follicum có một khoang hở chứa đầy dịch, bên ngoài Follicum trống rỗng như một cái túi; trong thời kì đẻ trứng, nhiều Follicum chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như hình chùm nho Sau thời kỳ để trứng, buồng trứng trở lại hình dạng ban đầu, các Follicum trứng vỡ ra quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch của Follicum và rơi vào phễu ống dẫn trứng, sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục

Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, các ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ và lớp keo mỡ bao ngoài và

vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 – 24h, tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ

Lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ 9 – 10 ngày, trong 3 – 14 ngày lòng

đỏ chiếm 90 – 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm phôt pho lipit, mỡ trung hòa, các chất khoáng và vitamin; tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan đến cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp do sự điều khiển của hocmon, thời gian từ khi đẻ trứng đến khi rụng trứng tiếp theo kéo dài từ 15 – 75 phút

2.3.2 Tuổi thành thục sinh dục

- Tuổi thành thục sinh dục (tuổi đẻ quả trứng đầu) là một yếu tố cấu thành năng suất Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi gà nở đến lúc đẻ quả trứng đầu tiên (với con mái) và khả năng thụ tinh với con trống

Trang 20

Trong một đàn gà mái chỉ tiêu này được xác định bằng tuổi đẻ 5% số cá thể trong đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm

Theo Siegel (1962) khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục ở gà màu

Kết quả nghiên cứu của Vũ Quang Ninh (2002) cho biết tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Ác Thái Hòa 152- 158 ngày; đạt tỷ lệ 50% lúc 195 – 198 ngày Phùng Đức Tiến (2004) chỉ ra rằng tuổi đẻ đạt tỷ lệ 5% của gà Ai Cập 145 – 160 ngày Nguyễn Thị Khanh và cs (2001), tuổi thành thục sinh dục của gà Tam Hoàng dòng 882 và Jaangcun lúc 154 và 157 ngày

Khối lượng gà mái thành thục và khối lượng trứng gà tăng dần qua từng thời điểm đẻ 5% và đẻ đỉnh cao

2.3.3 Sản lượng trứng

Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng đời, phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ và thời gian đẻ kéo dài Theo Bandsch and Bilchel (1978), sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn, có liên quan chặt với sức đẻ trứng trong cả năm của gia cầm Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định, cường độ này được xác định trong khoảng thời gian 30 ngày, 60 ngày, 100 ngày trong giai đoạn đẻ; đối với các giống

gà chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ cao nhất vào tháng đẻ thứ hai và ba, sau đó thì giảm dần; khi cường độ đẻ giảm nhiều gà thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp (ấp bóng), bản năng khác nhau ở các giống gà khác nhau Theo Hutt (1978) thì hệ số tương quan giữa sản lượng 3 tháng đầu với sản lượng trứng cả năm rất chặt chẽ (từ 0,7 – 0,9) Levie và Tailer (1943) do thời gian kéo dài đẻ trứng là yếu tố quyết định sản lượng trứng Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền, thể hiện ở các giống khác nhau với những mức độ khác nhau Sự khác nhau đó thể hiện ở thời điểm ấp

và thời gian ấp kéo dài Phần lớn các dòng gà ham ấp đều có sức đẻ trứng kém Năng suất trứng là số trứng một gia cầm mái sinh ra trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng, đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc

Trang 21

nhiều vào giống, đặc điểm của cá thể, hướng sản xuất, mùa vụ và dinh dưỡng Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao động lớn h2 = 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) Theo Hutt (1978), hệ số di truyền năng suất trứng của gà Leghorn là 0,09 - 0,22, gà Plymouth là 0,25 - 0,41

Năng suất trứng của gà Đông Tảo/36 tuần đẻ đạt 67,71 quả/ mái (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999), Gà Tam Hoàng dòng 882 có năng suất trứng 130,62 - 146,4 quả/ mái/ năm (Trần Công Xuân và cs, 1999) Phùng Đức Tiến (2004) nghiên cứu trên gà Ai Cập, công bố năng suất trứng từ 22 - 64 tuần đạt 158,4 quả/ mái

Gà hướng trứng thường có năng suất trứng rất cao, Nguyễn Huy Đạt

và cs (1996) cho biết gà Moravia và gà Goldline - 54 thương phẩm cho năng suất trứng/ mái/ năm đạt tương ứng 242 và 259 - 265 quả

Giữa các dòng trong một giống, dòng trống có năng suất trứng cao hơn dòng mái, Bùi Quang Tiến và cs (1999), nghiên cứu trên gà Ross - 208 cho biết năng suất trứng/ 9 tháng đẻ của dòng trống đạt 106,39 quả dòng mái đạt 151,08 quả

Bandsch and Bilchel (1978) cho biết sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên Theo Marco (1982), gà Plymouth Rock tại

Cu Ba sản lượng trứng được tính từ tuần 23 đến tuần 74; các hãng gia cầm công nghiệp tính sản lượng trứng đến 70 – 80 tuần tuổi

Thời gian nghỉ đẻ của gia cầm giữa các chu kỳ đẻ trứng ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng trứng Yếu tố này bị ảnh hưởng bởi tính mùa vụ, sự thay đổi thức ăn, di chuyển Thời gian đẻ kéo dài được tính theo thời gian đẻ trứng năm đầu, bắt đầu từ khi đẻ quả trứng đầu tiên tới khi thay lông hoàn toàn Giữa thời gian đẻ trứng kéo dài với sự thành thục có tương quan nghịch rõ rệt, với sức đẻ trứng có tương quan dương rất cao (Brandsch and Bilchel, 1978) Tương quan giữa sản lượng trứng 3 tháng đẻ đầu với sản lượng trứng cả năm rất chặt, r = 0,7 - 0,9 (Hutt, 1946)

2.3.4 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng

2.3.4.1 Khối lượng trứng

Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng, khối lượng trứng của các loài khác nhau thì khác nhau, trứng gà 55 – 56g, trứng vịt 90 – 110g, trứng gà tây 110g, trứng ngỗng 110 – 180g Khối lượng trứng

Trang 22

cũng là một chỉ tiêu để đánh giá về hiệu quả trong chăn nuôi gà lấy trứng, đồng thời khối lượng trứng cũng phản ánh sinh lực, sức sống của gia cầm non Ngoài yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào các yếu tố như khối lượng

cơ thể mái khi thành thục sinh dục, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, hệ số di truyền

về khối lượng trứng khá cao h2 = 52%

Theo Wyatt (1953) h2 = 45 – 75; theo Brandsch and Bilchel (1978) cho biết khối lượng trứng có hệ số di truyền cao hơn sức đẻ trứng, h2 = 0,52 nên dễ chọn giống Kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận và cs (1989) cho biết khối lượng trứng

có tương quan âm với sản lượng trứng (r = 0,36), tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục (r = 0,31) Do đó, khối lượng trứng phụ thuộc vào mức chọn lọc; ở những dòng đã chọn lọc kĩ khối lượng trứng trung bình cao hơn dòng chưa chọn lọc

10 – 15% Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa khối lượng trứng và kết quả ấp nở

đã xác định những trứng nằm trong khoảng trung bình của giống cho kết quả ấp nở cao; những trứng quá nhỏ, quá to luôn luôn cho kết quả thấp hơn với khối lượng trứng trung bình Theo Schuberth and Ruhland (1978) cho dẫn chứng về điều này và đánh giá nguyên nhân sinh lý của nó là do sự mất cân đối giữa các thành phần của trứng; trứng to quá hoặc quá nhỏ đã phá hoại sự phát triển bình thường của phôi, thường trứng nhỏ có tỷ lệ % lòng trắng ít hơn trứng to Ngoài ra, trứng nhỏ còn có tỷ

lệ diện tích bề mặt lớn hơn so với khối lượng của nó Khối lượng trứng là đại diện cho chỉ tiêu phẩm chất giống nhưng sự chênh lệch so với giá trị trung bình của giống

là do những ảnh hưởng của điều kiện môi trường, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và tuổi đẻ trong giai đoạn sinh sản

Khối lượng trứng theo tuổi đẻ của gia cầm và sự thay đổi khối lượng ứng với sự thay đổi khối lượng của cơ thể Bùi Quang Tiến và cs (1995) nghiên cứu

về gà Ross – 208 cho biết, khối lượng trứng ở các tuần tuổi 27, 32, 38, và 42 lần lượt là 53,96; 54,85; 56,76 và 57,10g/quả đối với dòng trống và 52,41; 54,20; 56,38; 56,89g/quả đối với dòng mái

2.3.4.2 Hình dạng trứng

Trứng gia cầm có hình dạng phổ biến là hình ovan và được thể hiện qua tỷ

số giữa chiều dài và chiều rộng của trứng hay ngược lại Chỉ số này không biến đổi theo mùa (Brandsch và Bilchel, 1978) Theo nghiên cứu của Bạch Thị Thanh Dân và cs (1998) cho biết trứng ngan có chỉ số hình dạng 1,35 – 1,42, Theo Lê Hồng Mận và cs (1989) cho biết trứng gà Leghorn có chỉ số hình dạng 1,38;

Trang 23

trứng gà Rhode-Island-Red và Leghor là 1,4 Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) cho biết khi nghiên cứu xác định tính năng sản xuất của gà Goldline 54 cho thấy chỉ

số hình dạng là 1,32 – 1,36

2.3.4.3 Độ dày vỏ trứng

Vỏ trứng là lớp bảo vệ cho trứng tránh các tác động cơ học, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn; vỏ trứng được hình thành khi trứng nằm trong tử cung từ chất dịch nhầy cacbonatcanxi và cacboprotein Thời gian tạo vỏ nhầy 9 – 12 giờ trong khi đó tạo lòng trắng chỉ mất 3 giờ đó là kết quả công bố của Nguyễn Mạnh Hùng (1993)

Theo Perdrix (1969), Card and Nesheim (1970), khi so với tổng khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 – 11,6%, lòng trắng chiếm 57 – 60 % và lòng đỏ chiếm 30 – 32%

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) trong vỏ theo tỷ lệ so với toàn bộ

vỏ thì hơn 98% là vật chất khô, trong đó 95% là chất vô cơ, trong các chất vô cơ

có khoảng 98% là canxi và 1% là photpho

Theo Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa

ở 38 tuần tuổi có độ dày vỏ trung bình 0,35mm và độ chịu lực 4,46kg/cm2 Nguyễn Quý Khiêm (1996) cho biết trứng gà Tam Hoàng có độ dày vỏ trứng trung bình 0,34 – 0,37mm, độ chịu lực đạt 3,47kg/cm2

2.3.4.4 Chất lượng lòng trắng trứng

Lòng trắng trứng được tiết ra từ ống dẫn trứng, chứa nhiều chất dinh dưỡng và nước để cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi và bảo vệ phôi khỏi những tác động cơ học Lòng trắng trứng cấu tạo gồm hai lớp lòng trắng đặc và lòng trắng loãng, chất lượng lòng trắng được thể hiện qua chỉ số lòng trắng Chỉ

số này được tính dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa tỷ số chiều cao lòng trắng đặc

và đường kính của chúng Ngô Giản Luyện (1994) cho biết kết quả nghiên cứu của Toscovasev (1968) đã tính được hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng là 0,22 – 0,27; tỷ lệ lòng trắng đặc/lòng trắng chiếm 62 – 64,5% Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cho biết chất lượng lòng trắng cũng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng Orlov (1974) cho rằng chỉ số lòng trắng càng lớn thì tỷ lệ nở càng cao và trên cơ sở nghiên cứu được cho biết trứng mùa đông có chất lượng lòng trắng cao hơn mùa hè… Tác giả còn cho biết chỉ số lòng trắng cao quá 0,1 cũng không phải là tốt, trứng của gà mái tơ và gà mái già có chỉ số lòng trắng

Trang 24

thấp hơn trứng của gà mái đang độ tuổi sinh sản, trứng để lâu chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng mới đẻ

Trứng có chất lượng tốt khi đổ ra một mặt phẳng nhẵn thì lớp lòng trắng đặc gọn và còn giữ nguyên hình ovan bao quanh lòng đỏ Lớp này có màu hơi phớt xanh hoặc màu vàng cam, lớp lòng trắng loãng ở ngoài có giới hạn rõ ràng và cũng giữ hình ovan, tuy loãng nhưng vẫn có độ dày và không chảy thành dòng Dây chằng ở

vị trí giữa theo chiều dọc trục lớn của quả trứng

Trứng có chất lượng kém quan sát thấy lòng trẵng loãng không màu hoặc màu đục, lòng trắng không giữ được hình dạng, chảy loang rộng ra và dây chằng nằm ở vị trí khác nhau Theo Marco (1982), hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng h2 = 0,22 – 0,78 Orlov (1974) cho biết chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa đông cao hơn mùa xuân và mùa hè, ở giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống kiêm dụng khoảng 0,08 Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa có chỉ số lòng trắng và lòng đỏ ở 38 tuần tuổi tương ứng là 0,14 và 0,53; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49

Chất lượng lòng trắng còn được đánh giá bằng đơn vị Haugh là mối quan

hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Đơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao hơn trước thay lông) và giống Ngô Giản Luyện (1994) cho biết trứng ấp có chất lượng lòng trắng tốt cần

có đơn vị Haugh từ 75 – 90

Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa có chỉ

số Haugh ở 38 tuần tuổi đạt 94,4 và 60 tuần tuổi đạt 91,1

2.3.4.5 Chất lượng lòng đỏ

Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm có dạng hình cầu, đường kính khoảng

35 – 40 mm và được bao bọc lớp màng lòng đỏ rất mỏng Màng có tính đàn hồi vừa giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu, vừa có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng trứng và lòng đỏ; chất lượng lòng đỏ được xác định thông qua chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng đỏ là tỷ số chiều cao lòng đỏ và đường kính của nó; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ số lòng đỏ biến đổi còn phụ thuộc vào mùa vụ, tuổi gia cầm, sức sản xuất và điều kiện nuôi dưỡng Theo Ngô Giản Luyện (1994), chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi

Trang 25

là 0,40 – 0,42 Theo Nguyễn Quý khiêm (2003) – trích dẫn theo Ngô Thị Nga (2005) chỉ số lòng đỏ giảm còn 0,33 chứng tỏ lòng đỏ đã bị biến dạng

Theo Card and Nesheim (1970), chỉ số lòng đỏ của trứng gà khoảng 0,4 – 0,42 Theo Trần Thế Dị (1984), chỉ số lòng đỏ của trứng vịt là 0,410 – 0,414

Hệ số di truyền chất lượng lòng đỏ là 0,43 (Marco, 1982), vì vậy nếu được chọn lọc nó sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ số lòng đỏ ít biến đổi hơn lòng trắng,

nó bị giảm còn 0,25 – 0,29 nếu tăng nhiệt độ môi trường và bảo quản lâu

Chất lượng lòng đỏ còn có một chỉ tiêu cần xác định đó là tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ, chỉ tiêu này càng hẹp chất lượng trứng càng tốt Tỷ lệ lý tưởng giữa lòng trắng và lòng đỏ từ 1,8 – 2,0 Orlov (1974) cũng cho biết trứng có tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ nhỏ hơn 2 cho kết quả ấp nở tốt Trần Thế Dị (1984) cho biết

tỷ lệ lòng trắng/ lòng đỏ của vịt Đồng Đăng là 1,45 và vịt lai là 1,314 – 1,370 Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào lượng sắc tốt trong máu, lượng caroten trong thức ăn Nói chung, màu lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ nếu thay đổi thành phần và khẩu phần ăn, đặc biệt là khẩu phần nhiều caroten thì màu lòng đỏ cũng thay đổi đậm hơn Tuy nhiên màu sắc không biểu hiện đầy đủ thành phần dinh dưỡng của lòng đỏ mà chỉ là đặc điểm hấp dẫn người tiêu dùng

2.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu là yếu tố

di truyền và ngoại cảnh

* Yếu tố di truyền về khả năng sinh sản cũng phức tạp Theo các công trình của các tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền đó là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, bản năng đòi ấp, thời gian kéo dài của chu kì đẻ

- Tuổi thành thục sinh dục: Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến năng suất trứng của gia cầm, thành thục sớm là một tính trạng mong muốn tuy nhiên cần chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch, chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trướng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà và tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục xác định qua tuổi đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi thành thục sinh dục của một nhóm hoặc một đàn gia cầm được xác định theo tuổi đạt tỷ lệ đẻ là 5% Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của gia cầm loài, giống, dòng, hướng sản xuất, mùa vụ nở, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc quản lý,

Trang 26

- Cường độ đẻ: Do 2 cặp gen R – r và R’ –r’ phối hợp cộng lại để điều hành, cường độ đẻ trứng càng cao thì sản lượng trứng càng cao và ngược lại

- Bản năng đòi ấp: Do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau Nếu phản xạ đòi ấp mạnh thì năng suất trứng ít do thời gian đẻ trứng ngắn Theo Trần Đình Miên (1981) hệ số di truyền của bản năng đòi ấp là 31% Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc yếu tố ngoại cảnh như thức ăn, nhiệt độ cao, bóng tối, sự có mặt của gia cầm con… đều tạo điều kiện kích thích sự ham ấp và nghỉ đẻ

- Thời gian kéo dài của chu kì đẻ:

Chu kì đẻ trứng sinh học liên quan tới thời vụ nở của gia cầm con Tùy thuộc vào thời gian nở mà bắt đầu và kết thúc của chu kì đẻ trứng sinh học có thể xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Ở gà, chu kì này thường kéo dài một năm; gà tây, vịt và ngỗng chu kì thường ngắn hơn và theo mùa Chu kì đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kì đẻ trứng Giữa sự thành thục và thời gian kéo dài chu kì

đẻ trứng sinh học có tương quan nghịch rõ rệt Các cá thể có sự khác nhau về bản chất di truyền của thời điểm kết thúc năm sinh học, điều này cho phép tiến hành chọn lọc theo sự đẻ trứng ổn định và do đó nâng cao năng suất trứng của cả năm, giữa thời gian kéo dài đẻ trứng và sức sản xuất trứng có hệ số tương quan dương rất cao Lerner and Taylor (1943) cho rằng thời gian kéo dài chu kì đẻ trứng là yếu tố quyết định năng suất trứng

Sau mỗi chu kì đẻ trứng sinh học gia cầm thường nghỉ đẻ và thay lông, Trong điều kiện bình thường thay lông lần đầu tiên là đặc điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu, những gia cầm thay lông sớm thường đẻ kém và thời gian thay lông kéo dài 4 tháng Ngược lại nhiều gia cầm thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng

* Yếu tố ngoại cảnh như chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, không khí của chuồng nuôi; nếu dinh dưỡng và chế độ chăm sóc không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến sản lượng trứng, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, đến sức khỏe đàn bố mẹ, yếu

tố dinh dưỡng quan trọng ở đây là protein, vitamin sau đó đến muối khoáng, một

số chất có hoạt tính sinh học… Theo Nguyễn Đức Hưng (1981) hàm lượng protein trong khẩu phần chứa 12% đã ảnh hưởng xấu đến kết quả ấp nở

Gia cầm rất mẫn cảm với nhiệt độ và ẩm độ Khi nhiệt độ thấp thì nhu cầu tiêu thụ thức ăn cao để dùng cho việc sưởi ấm, khi nhiệt độ cao thì giảm mức tiêu

Trang 27

thụ thức ăn thì không đáp ứng được nhu cầu gia cầm Theo các nghiên cứu khi nhiệt độ môi trường thay đổi thì nhu cầu năng lượng thay đổi 1,4%, độ ẩm quá cao (>80%) làm không thoát được khí độc trong chuồng nuôi dẫn đến chuồng nuôi ngột ngạt nếu kéo dài tình trạng này thì gia cầm sẽ bị ảnh hưởng đường hô hấp Độ ẩm quá thấp (<30%) làm cho gia cầm mổ lông, cắn đuôi nhau gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sản xuất của gia cầm Chế độ chiếu sáng là yếu

tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến sản lượng trứng với gà đẻ chế độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính, cường độ đẻ trứng Vì chế độ chiếu sáng ảnh hưởng đến hypothalamus

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những năm 70 trở về trước, nước ta chủ yếu sử dụng các giống địa phương như gà Ri, gà Mía, gà Đông Tảo, gà Hồ…; các giống gà này có khả năng sinh sản, cho năng suất thịt thấp Theo Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) cho biết khả năng sản xuất của gà Ri khối lượng lúc 18 tuần tuổi gà trống đạt 1675g, gà mái là 1247g; sản lượng trứng 100 quả/mái/năm

Do nhu cầu thị trường về sản lượng và chất lượng thịt – trứng gà ngày càng tăng; từ năm 1980 đến nay các giống gà hướng thịt, hướng trứng cao sản đã được đưa vào nuôi ở nước ta như Hybro (nhập nội 1985), BE (nhập nội 1993),

Từ năm 1994 – 1999 một số giống gà thả vườn kiêm dụng thịt trứng mới cũng đã được nhập vào nước ta đó là gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Ai Cập… đã đưa ngành chăn nuôi gà thịt – trứng của nước ta phát triển mạnh

Đoàn Xuân Trúc (1994) nghiên cứu về các tổ hợp lai 3 dòng của bộ giống

gà Hybro HV85 đã chỉ rõ khối lượng lúc 56 ngày của con lai AV35, AV53, C135, V153 đạt từ 1,983 – 2,038kg và có mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng khối lượng là 2,346 – 2,434kg Phùng Đức Tiến (2004) cho biết kết quả nghiên cứu chọn lọc một số tính trạng sản xuất của gà Ai Cập qua các thế hệ như sau gà Ai Cập ổn định về ngoại hình, màu sắc lông qua các thế hệ, gà có sức sống tôt, tỷ lệ nuôi sống cao, giai đoạn gà con 0 – 9 tuần tuổi trung bình đạt 98,06%; giai đoạn dò, hậu bị 10 – 21 tuần tuổi đạt 97,03%; giai đoạn sinh sản (40 tuần đẻ) đạt 90 – 91% Quá trình thích nghi, chọn lọc nâng cao năng suất đã đưa năng suất trứng từ 149,9 quả/40 tuần

đẻ ở thế hệ V; têu tốn thức ăn/10 quả trứng giống giảm từ 2,27kg xuống còn 1,92kg Trước năm 2000 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đã nghiên

Trang 28

cứu lai giữa gà Ai Cập với gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà RhodeRi với mục đích cải tạo màu lông và chân chì tuy nhiên kết quả không được như mong muốn Một số nhà khoa học Đức cho biết gen chân chì, chân đen ở gia cầm trội

so với màu xanh và màu vàng Do vậy, không dễ gì cải thiện được chân chì ở con lai Từ năm 2000 trở lại đây do nhiều ưu điểm của gà Ai Cập như dễ nuôi, có khả năng thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau, tỷ lệ nuôi sống cao, trứng đặc biệt thơm ngon, giá bán gấp rưỡi trứng gà công nghiệp, sản lượng trứng khá cao đạt 200 quả/mái/năm, cao gấp hơn 1,5 lần so với gà Ri Việt Nam và quan niệm

về gà “gà đen chân chì” đã mờ dần đi, do đó mục đích nghiên cứu lai chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng của con lai Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu lai giữa gà Ai Cập với các giống gà khác như gà Goldline, gà Ri Việt Nam,

gà H’ Mông, con lai được phát triển nuôi rộng rãi ngoài sản xuất cho kết quả tốt

Lương Thị Hồng (2005) nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa

gà H’ Mông x gà Ai Cập Tác giả cho biết gà lai F1 (trống H’ Mông x mái Ai Cập) mang đặc điểm di truyền về tính trạng da đen, thịt đen của gà H’ Mông là 62,19% và cải thiện được các tính trạng năng suất trứng, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, tỷ lệ hao hụt đàn và tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng so với gà H’ Mông Ưu thế lai năng suất trứng là +5,17%, tỷ lệ phôi +2,8%, tỷ lệ nở +5,72%, tỷ lệ hao hụt đàn +10%; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng 2,48kg (thấp hơn gà H’ Mông 27,91%)

Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) lai gà Đông Tảo với gà Tam Hoàng IC cho biết ở gà F1 ở 12 tuần tuổi đạt 1689,9g cao hơn bố Đông Tảo (1428,1g) thấp hơn mẹ Tam Hoàng IC (1721g), so với trung bình bố mẹ thì cao hơn 4,96% - 6,07%, TTTĂ đạt ở mức trung bình của bố mẹ

Nguyễn Huy Hoàng (1998) đã miêu tả chi tiết đặc điểm ngoại hình, kỹ thuật chăn nuôi, ấp trứng, thú y và phòng bệnh của giống gà Ác lông trắng trong cuốn “Nuôi gà Ri và 27 toa thuốc”; gà có bộ lông tơ trắng, mào cờ, chân có 5 ngón, da đen, thịt đen, mỏ nhọn;tác giả còn nêu lên một số giá trị y học của gà

Ác, cách sử dụng thịt, trứng gà Ác với các loại dược thảo tạo thành một số loại thuốc bổ

Trần Thị Mai Phương (2004) khi nghiên cứu trên giống gà Ác Việt Nam cho kết quả tuổi thành thục sinh dục từ 113 – 125 ngày, sản lượng trứng từ 90,4 – 105,6 quả/mái/năm, khối lượng trứng 31g, tỷ lệ phôi 93,49%

Trần Công Xuân và cs (1997) cho biết, mức protein thích hợp đạt tỷ lệ đẻ

Trang 29

cao nhất với ngan Pháp sinh sản là 16,5% và mức năng lượng 2,623kcal/kg thức ăn; với ngan Pháp R51 mức lấy thịt thì khẩu phần thích hợp là 18 – 21% protein

và năng lượng từ 2,850 – 2,900kcal/kg thức ăn

Đào Lệ Hằng (2001) nghiên cứu trên giống gà H’Mông tại Viện Chăn nuôi cho biết gà H’Mông có ngoại hình cao to, mào cờ, chân có nhiều lông, màu sắc lông đa dạng, tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi 94,64 – 98,31% Khối lượng sơ sinh 31,96g, lúc trưởng thành (16 tuần tuổi) gà trống nặng 1232,55g và gà mái nặng 1071,90g; tuổi thành thục sinh dục lúc 21 tuần; năng suất trứng đạt 74,6 quả/36 tuần đẻ; tỷ lệ trứng có phôi 81,23%, tỷ lệ nở 44,37%; năng suất trứng đạt 66,2 – 74,6 quả/mái/năm

Vũ Ngọc Sơn và cs (1999) cho biết năng suất trứng gà Lương Phượng Hoa/48 tuần đẻ đạt trung bình 158,63quả/mái

2.4.2 Tình hình nghiên cứu thế giới

Trong thời gian qua ngành chăn nuôi gà của thế giới đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh nhờ có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chọn tạo giống, thức ăn, thú y và kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

Trong lĩnh vực tạo giống, dòng, các tiến bộ về di truyền đã được khai thác

và áp dụng một cách triệt để, đã tạo ra được nhiều giống, dòng cao sản, nhiều tổ hợp lai gà broiler có năng suất hơn hẳn bố mẹ về mọi mặt Ở Pháp, công ty Saco

đã tiến hành nhân giống, chọn lọc, lai tạo và đã tạo ra giống gà Saco có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi ở các điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon

Ở Israel, công ty Kabir đã tạo ra giống gà Kabir từ con lai của giống gà địa phương Sinai có sức chịu nóng cao với gà White Leghorn-plymourh; hiện nay Công ty Kabir tạo ra 28 dòng gà chuyên thịt lông trắng và lông màu

Ở Trung Quốc Công ty Gia cầm Bạch Vân đã sử dụng gà trống Thạch Kỳ gốc Quảng Đông cho phối với mái Kabir tạo ra giống gà Thạch Kỳ tạp, từ thạch

Kỳ tạp tiếp tục cho lai với gà Giang Thôn tạo thành gà Tam Hoàng có sức sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao, chất lượng thịt thơm ngon, gà Tam Hoàng có 2 dòng nổi tiếng là Jangcun và dòng 882 Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa có xuất xứ từ ven sông Lương Phượng do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo ra sau 20 năm nghiên cứu Ngoài ra còn có các giống như gà Lô Hoa, gà Long Phượng, gà Ma

Trang 30

Hoàng; các giống gà này hiện được nuôi phổ biến ở các trang trại và các vùng nông thôn Trung Quốc

Rahman et al (2003) cho biết năng sản xuất trứng của gà lai (Rhode -

Islandred) x Fayoumi trong điều kiện chăn nuôi chuyên sâu ở Bangladesh Tác giả cho biết năng suất trứng của gà lai trống Fayoumi x mái RIR được cải thiện đáng kể so với công thức lai ngược nhưng tuổi bắt đầu vào đẻ, tỷ lệ chết và tiêu thụ thức ăn không có sự sai khác

Mehner (1967) cho biết gà da đen, thịt đen, xương đen là giống gà có từ lâu đời do Marco Polo phát hiện từ thế kỷ 13 ở Trung Quốc, giống gà này có sự đột biến ngẫu nhiên giữa các giống gà hoặc có thể từ gà hoang; các nghiên cứu chủ yếu tập trung giới thiệu công dụng của thịt gà đen, xương đen Theo ông giới hạn gen của giống gà này có thể trên cơ sở biểu hiện bên ngoài ở sự suy thoái đồng hợp tử và từ đó chúng tiếp tục được ghép phối cận huyết, dựa trên cơ sở nguồn gen của chúng là đồng hợp tử lặn Theo ông các giống gà Opinhtons, Wyand; Minorkas gà da đen, thịt đen, xương đen đều mang gen lặn màu lông trắng kiểu hình biểu hiện bên ngoài của lông gà trưởng thành không có sự khác nhau giữa màu lông trắng trội hay lặn; việc xác định chỉ có thể dựa trên cơ sở lai phân tích Ở gà con nếu mang gen trắng trội có biểu hiện màu lông hơi vàng hơn

gà mang gen trắng trội

Triệu Xương Đình và Vương Tuyền (2001) cho biết có một số giống gà

da đen, thịt đen, xương đen được gọi tên theo vị trí địa lý như gà Thái Hòa; gà Hắc Phượng (lông đen); gà Dư Can (lông đen); gà Giang Sơn (lông trắng); gà Kim Dương (lông tơ trắng); gà Tuyết Phong (có cả lông đen tuyền, lông trắng

và màu lông tạp) Khối lượng cơ thể của các giống gà này có khác nhau đôi chút nhưng nhìn chung đều có khối lượng cơ thể nhỏ (khối lượng lúc trưởng thành gà mái từ 1 – 1,2kg; gà trống từ 1,3 – 1,5kg) Tuổi đẻ quả trứng đầu từ

160 – 180 ngày, năng suất trứng đạt từ 100 – 130 quả/mái/năm, khối lượngj trứng nhỏ chỉ đạt 35 – 45g, tỷ lệ trứng có phôi tương đối cao 90 – 95% và tỷ lệ

nở đạt khoảng 80 – 85%

Trang 31

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà ISA Brown: Số lượng 1000 con gà mái từ 1 ngày tuổi – 52 tuần tuổi

- Gà Ai Cập: Số lượng 1000 con gà mái từ 1 ngày tuổi – 52 tuần tuổi

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Trại của ông Bùi Công Sơn, xóm 3, Đệp Sơn – Yên Nam – Duy Tiên –

Hà Nam

- Phòng nghiên cứu Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi

3.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 9/2014 đến tháng 6/2015

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Khả năng sinh trưởng và nuôi sống giai đoạn từ 1 ngày tuổi – 18 tuần tuổi

- Sinh trưởng của 2 đàn gà

- Tỷ lệ nuôi sống và loại thải qua các tuần tuổi

3.2.2 Khả năng sinh sản giai đoạn từ 19 – 52 tuần tuổi

- Tỷ lệ nuôi sống và loại thải qua các tuần tuổi

- Sự thành thục

- Tỷ lệ đẻ

- Năng suất trứng

- Khối lượng gà ứng với tỷ lệ đẻ 5%, 50% và đỉnh cao

- Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng

- Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng

- Hiệu quả chăn nuôi gà mái đẻ trứng

3.2.3 Quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng tại nông hộ

3.2.3.1 Chuồng trại

- Chuồng nuôi gà hậu bị: Là chuồng thông thoáng tự nhiên, diện tích 120m2,

Trang 32

chuồng có tường bao quanh cao 70cm, phía trên quây bằng lưới B40, cao trên 2,2m, có bạt quây bên ngoài phần lưới kéo lên hạ xuống dễ dàng, nền chuồng bằng

bê tông được lót trấu, mùn cưa có bổ sung men giúp giảm mùi hôi Trong mỗi chuồng có quây úm, đèn sưởi hồng ngoại, khay ăn, máng ăn, máng uống Hệ thống quạt công nghiệp được đặt ở cuối dãy, xung quanh chuồng trồng cây xanh tạo bóng mát, mỗi cửa chuồng đều có hố sát trùng bằng vôi bột Chuồng hậu bị được

vệ sinh, sát trùng sau mỗi đợt nuôi ít nhất 15 ngày trước khi nuôi lứa kế tiếp

- Chuồng nuôi gà mái đẻ là chuồng thông thoáng tự nhiên Gà mái đẻ Ai Cập nuôi trên nền có đệm lót sinh học là chuồng nuôi gà hậu bị, có hệ thống làm mát là quạt công nghiệp bố trí ở đầu dãy chuồng Máng ăn hình tròn treo thành 2 hàng với số lượng 10 gà/máng, máng nước là máng tự động được lắp thành 2 hàng dọc theo dãy chuồng Gà ISA Brown nuôi trên 4 dãy lồng, bố trí quạt công nghiệp ở đầu mỗi dãy Hệ thống máng ăn, máng uống chạy dọc theo dãy lồng Chuồng gà mái đẻ ISA Brown có diện tích 140m2, trần cao 2,2m, mỗi dãy lồng

có 3 tầng lồng

3.2.3.2 Nhiệt độ chuồng nuôi

- Giai đoạn úm gà con

Ngày tuổi Nhiệt độ dưới chụp

- Đối với gà hậu bị:

Gà 1 ngày tuổi được quây úm có đường kính 3m, với số lượng 500 – 600 con/1 quây úm, sau đó nới rộng vòng quây úm dần đến hết 3 tuần úm

Gà hậu bị nuôi với mật độ không quá 7,5 con/ m2 lúc trước khi đưa lên chuồng đẻ

Trang 33

- Đối với gà đẻ: Đảm bảo 12 con/ m2 nền chuồng, mỗi lồng nhốt 4 con

đẻ đạt 50% thì sử dụng hoàn toàn thøc ¨n 524

Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn ở trại

- Thức ăn cho gà hậu bị

TT Thành phần dinh dưỡng Loại thøc ¨n

510 521 522

2 Proten thô (tối thiểu) % 21 19 16

4 Năng lượng trao đổi (tối thiểu) Kcal/ kg 3.000 2.900 2.750

5 Sali mamycin (tối đa) mg/kg 600 60 60

4 Năng lượng trao đổi (tối thiểu) Kcal/ kg 2.675

Trang 34

- Định mức thức ăn cho đàn gà mái hậu bị ISA Brown và Ai Cập:

Bảng 3.1 Lượng thức ăn sử dụng cho gà hậu bị ISA Brown và Ai Cập

Tuần tuổi

Lượng thức ăn sử dụng cho gà ISA Brown(g/con/ngày)

Lượng thức ăn sử dụng cho gà Ai Cập (g/con/ngày)

Lượng thức ăn theo khuyến cáo của hãng TĂ (g/con/ngày)

Trang 35

Bảng 3.2 Lượng thức ăn sử dụng cho gà mái đẻ ISA Brown và Ai Cập

Tuần

tuổi

Lượng thức ăn sử

dụng cho gà ISA Brown (g/con/ngày)

Lượng thức ăn sử dụng cho gà Ai Cập (g/con/ngày)

Lượng thức ăn theo khuyến cáo của hãng

Trang 36

3.2.3.5 Quy trình phòng bệnh

+ Lịch tiêm phòng vắc xin phòng bệnh cho đàn gà:

TT Ngày tuổi Loại vắc xin Phòng bệnh Cách dùng

1 5-7 MAC5-CLONE30 NEWCATLES Nhỏ mắt

3 19 MAC5-CLONE30 NEWCATLES Nhỏ mắt

4 35 H5N1 CÚM GIA CẦM Tiêm da cổ

5 50 NEWCATLES H1 NEWCATLES Tiêm da cổ

7 84 MAC5 – CLONE30 NEWCATLES Nhỏ mắt

8 110 H5N1 CÚM GIA CẦM Tiêm da cổ

+ Lịch bổ sung thuốc phòng bệnh cho đàn gà:

1 2,3,4 Ampi - coli Tiêu chảy

2 14,15,16 Ampi - coli Tiêu chảy

3 22,23,24 Cầu trùng Cầu trùng

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Gà sinh sản được nuôi trên nền có đệm lót bằng phương thức công nghiệp

với hình thức nuôi trong chuồng thông thoáng tự nhiên Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng dựa theo quy trình kỹ thuật chăn nuôi của nông hộ

3.3.1 Đối với gà giai đoạn từ 1 ngày tuổi – 18 tuần tuổi

* Khả năng sinh trưởng của gà

- Khối lượng cơ thể gà

Cân ngẫu nhiên 30 con gà mỗi đàn đã được đánh dấu bằng cách gắn vòng có đánh số ở cánh, cân từng con một

Ngày đăng: 04/02/2017, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bandsch and Bilchel (1978). Cơ sở khoa học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm (Nguyễn Chí Bảo dịch). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2008). Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
3. Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2006). Báo cáo tổng kết chăn nuôi thuỷ cầm đến năm 2020. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Bạch Thị Thanh Dân, Nguyễn Quý Khiêm, Trần Thị Khương, Lê Quang Bắc và Vũ Thị Hương (1998). Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm và động vật mới nhập 1989 – 1999. Nhà xuất bản Nông nghiệp. tr. 444 - 456 Khác
5. Nguyễn Huy Đạt, Trần Long, Vũ Đài, Nguyễn Thanh Đài, Lưu Thị Xuân, Nguyễn Thành Đồng và Nguyễn Thị San (1996). Nghiên cứu xác định tính năng sản xuất của gà giống trứng Goldlin. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm 1986 – 1996. Liên hiệp Xí nghiệp gia cầm Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Khác
6. Triệu Xương Đình và Vương Tuyền (2001). Làm thế nào để nuôi tốt gà xương đen. Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp Trung Quốc, tháng 3 Khác
7. Đào Lệ Hằng (2001). Bước đầu nghiên cứu một số tính trạng của gà H'Mông nuôi bán công nghiệp tại Đồng bằng Miền bắc Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ Khoa học sinh học. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
8. Phạm Thị Hòa (2004). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học khả năng sinh sản và bảo tồn quỹ gen giống gà Đông Tảo. Luận văn Thạc sĩ Khoa học sinh học.Trưòng Đại học Sư Phạm Hà Nội Khác
9. Nguyễn Huy Hoàng (1998). Nuôi gà Ri và 27 toa thuốc. Nhà xuất bản tổng hợp Đồng Tháp Khác
10. Đặng Thị Hoè (2002). Nghiên cứu khả năng sản xuất của đàn gà ông bà giống Kabir nhập ngoại nuôi tại xí nghiệp gà giống Châu Thành, Nam Định. Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp Hà Nội Khác
11. Nguyễn Mạnh Hùng (1993). Bài giảng sinh học phát triển. Nhà xuất bản Khoa học Khác
12. Nguyễn Đức Hưng (1981). Nghiên cứu các tổ hợp lai giữa gà nhập nội với gà Ri. Luận văn khoa học cấp I - Đại học Nông nghiệp II Khác
13. Hutt F.B (1978). Di truyền học động vật. Phan Cự Nhân dịch. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Khác
14. Đào Văn Khanh (2002). Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng gà lông màu Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau tại Thái Nguyên. Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp. Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. tr. 147 - 149 Khác
15. Nguyễn Quý Khiêm (1996). Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng và Goldline tại Trung tâm Nghiên cứu gia cầmThuỵ Phương. Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp. Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Khác
16. Lã Văn Kính (2000). Kỹ thuật nuôi gà đẻ thương phẩm ở vùng khí hậu nóng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 142 – 159 Khác
17. Khavecman (1972). Sự di truyền năng suất ở gia cầm. Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật (Jonhanson chủ biên, Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng dịch). Tập 2. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.tr.31, 34-37,49,51 Khác
18. Trần Long (1994). Xác định một số đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích hợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85. Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp. Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam. tr.90 - 114 Khác
19. Bùi Đức Lũng (1992). Nuôi gà thịt Broiler năng suất cao. Báo cáo chuyên đề Hội nghị Quản lý kỹ thuật ngành gia cầm - Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 1 Khác
20. Ngô Giản Luyện (1994). Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam.Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp. Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam. tr. 33 - 35, 114 - 124 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Lượng thức ăn sử dụng cho gà hậu bị ISA Brown và Ai Cập - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Bảng 3.1. Lượng thức ăn sử dụng cho gà hậu bị ISA Brown và Ai Cập (Trang 34)
Hình 4.1. Khối lượng gà từ 1 – 18 tuần tuổi - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Hình 4.1. Khối lượng gà từ 1 – 18 tuần tuổi (Trang 42)
Bảng 4.2. Sinh trưởng tuyệt đối gà mái hậu bị (g/con/ngày) - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Bảng 4.2. Sinh trưởng tuyệt đối gà mái hậu bị (g/con/ngày) (Trang 44)
Hình 4.2. Sinh trưởng tuyệt đối gà mái hậu bị - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Hình 4.2. Sinh trưởng tuyệt đối gà mái hậu bị (Trang 45)
Bảng 4.3. Sinh trưởng tương đối gà mái hậu bị (%) - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Bảng 4.3. Sinh trưởng tương đối gà mái hậu bị (%) (Trang 46)
Hình 4.3. Sinh trưởng tương đối gà mái hậu bị - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Hình 4.3. Sinh trưởng tương đối gà mái hậu bị (Trang 47)
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống và loại thải gà mái hậu bị từ 1-18 tuần tuổi - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống và loại thải gà mái hậu bị từ 1-18 tuần tuổi (Trang 48)
Hình 4.4. Tỷ lệ nuôi sống gà mái hậu bị từ 1 – 18 tuần tuổi - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Hình 4.4. Tỷ lệ nuôi sống gà mái hậu bị từ 1 – 18 tuần tuổi (Trang 49)
Bảng 4.5. Tỷ lệ sống và loại thải gà mái đẻ - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Bảng 4.5. Tỷ lệ sống và loại thải gà mái đẻ (Trang 50)
Hình 4.5. Tỷ lệ nuôi sống gà mái đẻ từ 19 – 52 tuần tuổi - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Hình 4.5. Tỷ lệ nuôi sống gà mái đẻ từ 19 – 52 tuần tuổi (Trang 51)
Bảng 4.8. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng tích lũy - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Bảng 4.8. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng tích lũy (Trang 55)
Bảng 4.9. Chất lượng trứng gà ISA Brown và gà Ai Cập - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Bảng 4.9. Chất lượng trứng gà ISA Brown và gà Ai Cập (Trang 58)
Hình 4.9. Tỷ lệ lòng đỏ - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Hình 4.9. Tỷ lệ lòng đỏ (Trang 59)
Hình 4.11. Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng qua các tuần đẻ - đánh giá sinh trưởng, năng suất sinh sản gà isa brown và ai cập nuôi tại xã yên nam   duy tiên   hà nam
Hình 4.11. Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng qua các tuần đẻ (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w