1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh

63 512 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 8,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã lấy bệnh phẩm là 2 cơ quan này để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào Amoeba meleagridis, từ đó bệnh đã được đặt tên là bệnh viêm hoại tử

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN VĂN KHỎE

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA BỆNH DO HISTOMONAS SPP GÂY RA TRÊN GÀ THẢ VƯỜN VÀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN VĂN KHỎE

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA BỆNH DO HISTOMONAS SPP GÂY RA TRÊN GÀ THẢ VƯỜN VÀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Khỏe

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Cho đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các thầy, cô giáo Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Nguyễn Hữu Nam, Bộ môn Bệnh lý - Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt

nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn bệnh lý,

Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những người luôn động viên, giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Văn Khỏe

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 0

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh do Histomonas 2

1.1.1 Giới thiệu bệnh 2

1.1.2 Lịch sử bệnh 2

1.1.3 Đặc tính sinh học của Histomonas 5

1.2 Đặc tính sinh học của Heterakis gallinarum 7

1.3 Đặc điểm dịch tễ của bệnh do Histomonas gây ra 9

1.3.1 Đường truyền lây 9

1.3.2 Sự phát sinh và phát dịch bệnh 11

1.3.3 Đặc điểm dịch tễ 12

1.4 Đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas gây ra 14

1.4.1 Cơ chế sinh bệnh 14

1.4.2 Triệu chứng lâm sàng 14

1.4.3 Bệnh tích 15

1.4.4 Chỉ tiêu huyết học 16

1.4.5 Sự miễn dịch 17

1.4.6 Mô bệnh học 17

1.4.7 Chẩn đoán bệnh và chẩn đoán phân biệt 18

1.4.8 Phòng và trị bệnh 20

1.5 Phản ứng PCR 21

1.5.1 Nguyên lý của phản ứng PCR 21

1.5.2 Các bước tiến hành phản ứng PCR 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

Trang 6

2.1 Nội dung nghiên cứu 24

2.2 Đối tượng 24

2.2.1 Động vật thí nghiệm 24

2.2.2 Mẫu bệnh phẩm 24

2.2.3 Địa điểm 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Phương pháp mổ khám (tài liệu tiêu chuẩn ngành - Cục thú y, 2006) 24

2.3.2 Phương pháp làm tiêu bản bệnh lý 26

2.3.3 Phương pháp xét nghiệm một số chỉ tiêu huyết học của gà nhiễm Histomonas 28

2.3.4 Phương pháp PCR 29

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Kết quả xác định triệu chứng lâm sàng của bệnh do Histomonas gây ra 33

3.2 Kết quả nghiên cứu biến đổi đại thể của gà nghiễm Histomonas 37

3.3 Kết quả nghiên cứu biến đổi vi thể của gà nhiễm Histomonas 41

3.4 Kết quả xác định một số chỉ tiêu huyết học của gà nhiễm Histomonas 46

3.4.1 Chỉ tiêu hệ hồng cầu của gà nhiễm Histomonas 46

3.4.2 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu 49

3.5 Kết quả chẩn đoán gà nhiễm Histomonas bằng kỹ thuật PCR 50

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

Kết luận 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

PCR Polymereasa Chain Reaction

USD United State Dola

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Một số triệu chứng lâm sàng của gà nhiễm Histomonas 34

Bảng 3.2: Tần số biến đổi đại thể các cơ quan của gà nhiễm Histomonas 37

Bảng 3.3 Tần số biến đổi của gan và manh tràng 37

Bảng 3.4 Biến đổi bệnh lý đại thể của gà nhiễm Histomonas theo từng nhóm tuổi 39

Bảng 3.5 Tần số biến đổi vi thể các cơ quan gà nhiễm Histomonas 42

Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của gà nhiễm Histomonas 47

Bảng 3.7 Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu bạch cầu của gà 49

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Gà bệnh mào thâm tím 36

Hình 3.2 Gà bệnh ủ rũ, cánh xõa 36

Hình 3.3 Phân màu vàng xanh 36

Hình 3.4 Phân nhầy, lẫn máu 36

Hình 3.5 Phân nhầy, đục như nước vo gạo 36

Hình 3.6 Xác gà bệnh gầy 36

Hình 3.7 Xác gà gầy, gan nát, trên gan có các ổ hoại tử lớn 40

Hình 3.8 Gan sưng to, có các ổ hoại tử màu trắng nhỏ 40

Hình 3.9 Các ổ hoại tử trên gan tạo thành các u, cục 40

Hình 3.10 Phổi tụ máu, đỏ sẫm 40

Hình 3.11 Gan có các ổ hoại tử lớn hình hoa cúc do vỡ mật nên gan có màu xanh 40

Hình 3.12 Bệnh tích có cả trên gan và manh tràng của gà bệnh 40

Hình 3.13 Ruột xuất huyết 41

Hình 3.14 Lách sưng, xuất huyết 41

Hình 3.15 Niêm mạc manh tràng bị viêm loét 41

Hình 3.16 Chất hoại tử bã đậu bên trong manh tràng 41

Hình 3.17 Khối chất chứa hoại tử trong ruột bắt màu đỏ rõ (HE 10X) 44

Hình 3.18 Noãn nang ở lớp hạ niêm mạc của manh tràng, xung quanh thâm nhiễm bạch cầu ái toan (HE 20X) 44

Hình 3.19 Noãn nang tràn ngập trongống ruột (HE 10X) 44

Hình 3.20 Noãn nang tràn ngập trongống ruột (HE 20X) 44

Hình 3.21 Noãn nang trong chất chứacủa manh tràng sưng to (HE 20X) 44

Hình 3.22 Noãn nang trong chất chứacủa manh tràng bị sưng to (HE 20X) 44

Hình 3.23 Thâm nhiễm bạch cầu ái toanở ruột (HE 10X) 45

Hình 3.24 Thâm nhiễm bạch cầu ái toanở ruột (HE 20X) 45

Hình 3.25 Lẫn trong đám hoại tử bã đậu màu hồng là các noãn nang của Histomonas (HE 10X) 45

Hình 3.26 Noãn nang ở lớp hạ niêm mạc của manh tràng, xung quanh thâm nhiễm bạch cầu ái toan (HE 40X) 45

Hình 3.27 Noãn nang của Histomonasở gan (HE 40X) 45

Hình 3.28 Noãn nang của Histomonasở gan (HE 40X) 45

Hình 3.29 Kết quả phản ứng PCR 51

Trang 10

MỞ ĐẦU Đặt vấn đề

Trong nền kinh tế thị trường, những năm gần đây, chăn nuôi gà ngày càng phát triển Theo Tổng cục thống kê tính tới tháng 10/2010 đàn gia cầm nước ta

đã đạt tới 287 triệu con Tuy nhiên trong giai đoạn này cũng là thời kỳ nhiều bệnh đã xảy ra trên diện rộng và gây thiệt hại nghiêm trọng Tại một số tỉnh ở miền Bắc do địa hình thuận lợi, yêu cầu về chất lượng thịt gà ngày càng cao nên hình thức chăn nuôi gà thả vườn ngày càng phát triển và phương thức chăn nuôi này đã làm xuất hiện bệnh Histomonas Bệnh đã xảy ra ở một số tỉnh như Bắc Giang (Lê Thị Hòa, 2011) bệnh làm gà chết không ồ ạt nhưng tỷ lệ gà chết trên tổng đàn qua các kỳ nuôi tới 30- 50%, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Bệnh Histomonosis là bệnh mới nên khi bệnh xảy ra làm cho các cán bộ kỹ thuật

và người chăn nuôi gà lúng túng trong chẩn đoán và phòng chống bệnh

Bệnh do Histomonas ký sinh ở gan, dạ dày, manh tràng… ở gà có tính lây

lan nhanh, tỷ lệ chết cao Tuy nhiên các thông tin, tài liệu về bệnh, các phương pháp phát hiện chẩn đoán, điều trị bệnh vẫn còn hạn chế dẫn đến công tác phòng, phát hiện và điều trị bệnh gặp nhiều khó khăn

Xuất phát từ những thực tế trên, được sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn

Hữu Nam chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm

bệnh lý của bệnh do Histomonas spp gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật PCR trong chẩn đoán bệnh”

Mục tiêu của đề tài

Làm rõ đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas gây ra trên gà

Ứng dụng được kỹ thuật PCR trong chẩn đoán bệnh

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Cung cấp, hoàn thiện thêm các thông tin về bệnh do Histomonas gây ra trên

gà thả vườn

Ứng dụng phản ứng PCR để phát hiện sớm, chính xác những gà bị nhiễm Histomonas spp Từ đó, đưa ra những biện pháp phòng, trị bệnh kịp thời và hiệu quả, giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh do Histomonas

1.1.1 Giới thiệu bệnh

Bệnh do Histomonas là một bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm nguy hiểm ở

gà và gà tây do một loại đơn bào Histomonas meleagridis gây ra (Histomoniasis)

Bệnh có những bệnh tích đặc trưng: Viêm hoại tử tạo mủ ở manh tràng và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen nên từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Blackhead) Cũng vì các biến đổi đặc trưng tập trung song hành ở gan

và ruột và bệnh lại có tính lây lan nhanh, nên bệnh còn có tên là bệnh viêm hoại

tử Ruột – Gan (Infectious Enterohepatitis)

Ở Việt Nam do các biến đổi đặc trưng ở giai đoạn cuối của bệnh tạo kén ở manh tràng nên người chăn nuôi thường gọi là bệnh kén ruột

Theo nghiên cứu của tạp chí ELSEVER và tạp chí Avian Disease, sự thiệt hại về kinh tế của bệnh này rất khó để xác định Tỷ lệ gà tây chết hàng năm được

dự đoán là vượt quá 2 triệu USD Việc sản xuất giảm do chi phí tử vong và trị liệu đã làm tăng chi phí giá thành Bệnh này ít nguy hiểm ở gà nhưng thiệt hại do chết dự đoán là cao hơn ở gà tây do tần số xảy ra và số lượng các loài chim liên quan đến bệnh Sự bùng nổ căn bệnh này ở gà Lơgo tại bang Geogia tỷ lệ chết lên đến 20% Các chuồng gà bị nhiễm mầm bệnh nghiêm trọng do trứng giun Heterakis gây ra làm lây truyền bệnh từ đàn này sang đàn khác

1.1.2 Lịch sử bệnh

Bệnh do Histomonas là một căn bệnh trên toàn thế giới của các loài chim

thuộc về loài gà, gây ra bởi một ký sinh trùng đơn bào gọi là Histomonas

meleagridis Bệnh lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1895 ở Rhode Island, căn bệnh ở thể nhẹ xảy ra trên gà nên dẫn đến các vấn đề về quản lý Các nhà chăn nuôi gia cầm có được bài học là gà Tây không nên nuôi cùng gà khác hay là nuôi

ở những nơi mà gà đã được nuôi từ mấy năm trước Vai trò của các giun kim (Heterakis) và trứng của nó cũng như trứng của giun đất được xem như vật mang

ký sinh trong thời gian lây nhiễm lâu dài hay trong nơi không có người Bệnh này

Trang 12

đã được báo cáo trên khắp lục địa và sớm tìm thấy ở nhiều nước khác Bệnh này gọi là bệnh đầu đen do nó gây ra một mảng hình tối hoặc hơi đen của da đầu ở một số loài chim do nồng độ Hemoglobin trong máu giảm Bệnh nghiêm trọng nhất đối với gà tây, tỷ lệ tử vong cao gần 100% cả đàn

Histomonosis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island (Cushman, 1894) Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và

da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen nên gọi tên bệnh là bệnh “đầu đen” (Anonymous (1894), Cushman (1894))

Theo Smith (1895), khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm là 2 cơ quan này để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào

(Amoeba meleagridis), từ đó bệnh đã được đặt tên là bệnh viêm hoại tử truyền

nhiễm gan ruột

Năm 1920, Tyzzer lần đầu tiên mô tả về một hiện tượng bệnh ở gà tây do một loại đơn bào gây ra với những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu có màu xanh tím sau đó nhanh chóng trở nên thâm đen và ông đã đặt tên là Bệnh đầu đen (Black Head) Bệnh nhanh chóng được các tác giả khác quan sát thấy ở Bắc Mỹ, Tây Âu và hàng loạt nước khác ở Nam Mỹ, Nhật Bản

Sau những phát hiện đầu tiên ở Rhode Island, Histomonosis nhanh chóng lây lan trên đàn gà tây khắp nước Mỹ và gây thiệt hại nhiều nhất trong số các bệnh gặp trên gà tây Ở Châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở Áo (Hess và cs, 2006), Hà Lan (Van der Heijen và cs, 2009), Bỉ (Bleyen và cs, 2007), Ireland (Anonymous, 1894) và Anh (Burch và cs, 2007) Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới (McDougald, 2005)

Ổ dịch Histomonosis mới trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75% đã được báo cáo ở California vào năm 2001 (Shivaprasad et al, 2002)

Ở Đông Âu Mincheva đã thông báo bệnh có mặt ở Bungari vào năm 1950 Ngày nay bệnh có mặt trên khắp các châu lục, nhất là ở các nước có ngành chăn

Trang 13

nuôi gà tây và gà ta theo lối tập trung chăn thả

Ở Đức, theo Moorgut Kartzfehn von Kameke GmbH & Co KG (2011): Histomoniasis là một căn bệnh nghiêm trọng gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào

Histomonas meleagridis, có thể dẫn đến tổn thất cao ở gà tây Báo cáo này mô tả

sự tái diễn của Histomoniasis trong một trang trại chăn nuôi gà tây Các ổ dịch đầu tiên xảy ở gà ra vào năm 2005 khi gà đạt 17 tuần tuổi Ổ dịch thứ 2 xảy ra năm 2009 khi gà 8 tuần tuổi Tỷ lệ tử vong tăng đến 26 – 65 % trong vòng vài ngày mặc dù điều trị với các hợp chất khác nhau.Trong cả hai trường hợp H meleagridis thuộc kiểu gen A đã được phát hiện nhưng chưa phát hiện được nguồn lây nhiễm rõ ràng

Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó 15 ổ dịch là các trang trại gà giống (Callait và

cs, 2007) Năm 2009 có sự bùng nổ của dịch Histomonsis ở gà tây 9 đến 11 tuần tuổi với tỷ lệ tử vong 24 - 68% (AbdulRahman Lotfi, 2011)

Theo Saif Y M (2008), gia cầm mắc bệnh tỷ lệ tử vong cao chủ yếu là

do tổn thương ở gan Tỷ lệ tử vong cao từ ngày thứ 14 sau khi thể hiện triệu chứng lâm sàng

Trong trường hợp không được điều trị, hơn 90% số gia cầm bị bệnh có thể chết, số sống sót sẽ còi cọc, chậm lớn (Muriel Mazet, 2007)

Cũng giống như gà tây, gà nhà dễ nhiễm bệnh, nhưng khả năng gây bệnh cho gà thấp hơn so cho gà tây Tỷ lệ tử vong ở gà là 10% trong khi con số này ở

Trang 14

trang trại chăn nuôi cả gà ta và gà tây

Năm 2011, bệnh Histomonosis xuất hiện ở đàn gà nuôi thả vườn ở một số tỉnh trung du đặc biệt là huyện Yên Thế - Bắc Giang Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hòa, 2011, gà thả vườn mắc bệnh Histomonosis với tỷ lệ mắc bệnh tại các gia trại dao động từ 54,66% - 61,17%, tỷ lệ gà chết dao động từ 48,94% - 56,75% Các giống gà ri, gà Lương Phượng, gà Mía đều mắc bệnh Gà mắc bệnh thường biểu hiện: gà sốt cao 43 – 440C, nhưng lại cảm thấy rét nên đứng im, rụt

cổ, dạng rộng chân, mắt nhắm nghiền, xù lông và run rẩy Nhiều gà dấu đầu vào nách cánh, tìm chỗ đứng có ánh sáng mặt trời hoặc dưới bóng điện để sưởi, giảm

ăn, uống nước nhiều, tiêu chảy phân loãng vàng trắng hoặc vàng xanh Mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám thậm chí xanh đen Bệnh kéo dài 10 -25 ngày nên gà rất gày Trước khi chết thân nhiệt gà giảm xuống tới 38 -390C Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng sự chết kéo dài lê thê, gây cho người chăn nuôi cảm giác lúc đầu bệnh không nguy hiểm lắm Thực chất cuối cùng gà chết đến 45 – 50% Bệnh tích đại thể tập trung

ở gan và manh tràng và một số cơ quan khác Giai đoạn đầu có nhiều điểm xuất huyết tạo nên hình rất giống hoa cúc, về sau gan có nhiều u cục màu trắng xám

U cục nổi rõ trên mặt gan rất giống bệnh tích của lao ở gia cầm và giống bệnh Leucosis hoặc Marek Các u cục chính là các ổ apse ở gà bệnh Gan sưng to, các

ở bệnh chìm sâu trong tổ chức gan hoặc gan đổi màu, có các ở bệnh to nhỏ màu trắng xám, mang tràng bị viêm sưng, thành ruột bị dày lên gấp nhiều lần Trong chất chứa có lẫn máu nhớt như máu cá hoặc màu nâu đỏ hoặc tạo thành kén rắn màu trắng Với bệnh tích vi thể, quan sát được dưới kính hiển vi các tế bào gan thoái hóa, hoại tử, thấy các noãn nang của Histomonas ở gan Noãn nang tràn ngập ở hạ niêm mạc sát với cơ niêm, noãn nang tràn ngập trong chất chứa của manh tràng

1.1.3 Đặc tính sinh học của Histomonas

Nhân tố gây bệnh Histononas meleagridis lần đầu tiên được mô tả dưới cái tên Amoeba meleagridis, tuy nhiên sự phát hiện các đặc tính trùng roi hướng cho Tyzzer đặt tên lại là động vật nguyên sinh Histononas meleagridis, các

Trang 15

nguyên nhân gây bệnh lớn hơn 17µm, trùng roi được tìm thấy được đặt tên như

một loài riêng rẽ Histononas wenrichi

Histomonas meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: Hình trùng roi

(4 roi), hình Amip và hình lưới Histomonas với hình Amip có kích thước 8

-30µm, thể hình roi thì Histomonas có kích thước từ 20 -30 µm, bé nhất khi Histomonas ở hình lưới 5 -10 µm Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ) từ nhân to mọc ra 4 cái roi và tồn tại ở các giai đoạn khác biệt: 1, Các loại ký sinh trong giai đoạn “nắm giữ’’ tại các khu vực ngoại biên các thương tổn kích cỡ 8 –

17 µm, di động kiểu amíp và xuất hiện hình thành các cuống giả; 2, Rộng hơn (12 – 21 µm), giai đoạn “sinh dưỡng’’ được bó vào các cụm không bào để tạo thành mô; 3, giai đoạn thứ 3 thể hiện trong các thương tổn tăng bạch cầu và nhỏ hơn hoặc trong các hình thức tái tạo lại Histomonas chuyển động theo hai phương thức xoắn vặn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls)

Chu trình sinh học phát triển của Histomonas meleagridis như sau: Trong

mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), Histomonas sinh sản theo phương thức

tự nhân đôi trong tế bào gan, ruột thừa và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới

(Incistio) Tuy nhiên làm thế nào để Histomonas meleagridis thâm nhập ký sinh

vào trong trứng giun kim và tiếp tục phát triển trong đó thì chưa được nghiên cứu

kỹ và chưa có giải pháp thoả đáng về cơ chế này

Khi ra khỏi ký chủ thể hình roi và thể Amip chúng chỉ sống được 24h, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm trong các trứng của giun

kim Heterakis gallinae theo phân gà thải ra ngoài Điều kiện khô ráo và nhiệt độ

thấp giúp cho Histomonas tồn tại lâu trong môi trường tự nhiên ngoài cơ thể Histomonas có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo, yếm khí

Vòng đời của Histononas meleagridis:

Sự tồn tại của sinh vật này cùng với giun kim Heterakis gallinarum và

một số loại giun đất thường thấy ở đất nuôi gia súc gia cầm Các nỗ lực sớm hơn

để tìm thấy Histomonas trong các trứng giun sán đã không đi đến kết luận nào cho đến khi Gibbs (1962) trình bày một cơ thể nhỏ hơn được tìm thấy trong kính

Trang 16

hiển vi Lee (1969) đã quan sát các loại hình nhỏ 3µm bằng vi sao chép và Histomonas được phát triển từ trứng Heterakis trong vitro

Histomonas được phát hiện ở các tế bào biểu mô trong ruột các cá thể còn rất bé hoặc những con giun mới nở Cơ chế lây nhiễm Histomonas khi còn trong trứng vẫn chưa được xác định Springer và cộng sự đã phát hiện ra rằng những con giun đực nhỏ được lấy ra từ gà đều chứa Histomonas còn sống Giun cái ít có khả năng truyền Histomonas hơn cho tới khi trứng Heterakis trưởng thành thì mới có khả năng truyền được Những con giun cái có thể bị nhiễm Histomonas trong khi giao hợp và làm cho các sinh vật đơn bào vào trong trứng trước khi hình thành lớp vỏ

Những con giun đất đóng vai trò vận chuyển trứng Heterakis khi nở ra ở

đó, những con giun nhỏ tồn tại ở các mô của giun đất Do đó, giun đất là một thực thể để thu gom và tập trung trứng Heterakis từ môi trường sân chơi hoặc nuôi gà Ở vùng mà kiểu khí hậu và loại đất tạo điều kiện cho sự sinh trưởng Heterakis và giun đất, cần chú trọng đến những con giun đất nhằm kiểm soát bệnh Histomoniasis tái diễn đều đặn theo chu kỳ

Việc truyền Histomonas meleagridis từ giun đất sang loài chim trĩ có

khoang ở cổ đã được chứng minh là nguyên nhân chính trong đợt bùng nổ

Histomoniasis ở gà Gô, chim trĩ ở trại chăn nuôi gia cầm tại miền trung Iowa –

Hoa Kỳ

Mặc dù gà tây có thể bị nhiễm trực tiếp do ăn phải Histomonas sống trong phân thú, nhưng do Histomonas khó tồn tại ngoài môi trường nên trường hợp này khó xảy ra Histomonas không thể tồn tại bên ngoài cơ thể vật chủ quá một vài phút nếu không được trứng Heterakis hoặc giun đất bảo vệ

1.2 Đặc tính sinh học của Heterakis gallinarum

* Hình thái

Thường do 2 loài Hetarakis gallinae và Heterakis beramporia thuộc họ

Heterakiadae ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột non ở gà, gà Tây, rất phổ biến ở loài chim và còn thấy ở các loài thủy cầm Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng hình ống Phần sau thực quản phình to

Trang 17

thành hình cầu giống hình củ hành, chiều dài 0,27 – 0,33 mm, rộng 0,15 – 0,24mm Giun đực dài 5,841 – 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 – 0,398 mm Đuôi nhọn hình chiếc kim Phía trước cách hậu môn 0,148 – 0,156 mm có một giác hút hơi tròn, đường kính 0,07 – 0,082 mm Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút Có 2 gai giao hợp Gai phải dài gấp 3 lần gai trái; phía cuối gai phải rất nhọn; dài độ 2 mm; gai trái thì to, dài 0,65 – 0,7 mm Lỗ bài tiết ở gần đầu về mặt bụng, cách đầu độ 0,245 mm

Giun cái dài 7,982 – 11,439 mm, chỗ rộng nhất 0,27 – 0,453 mm, chiều dài thực quản bằng 1/9 cơ thể Chỗ phình to của thực quản thành hình củ hành dài 0,273 – 0,33; rộng 0,187 – 0,234 mm Hậu môn ở gần đuôi, cách đuôi 0,9 – 1,24 mm Âm đạo uốn khúc cong, bắt đầu từ âm hộ rồi vòng về phía sau, sau đó chuyển về phía trước cuối cùng lại vòng về phía sau Lỗ bài tiết cách đầu 0,47mm

Trứng hình bầu dục, có 2 lớp vỏ, một đầu trong suốt, tế bào trứng có hạt lấm tấm, màu xám, dài 0,05 – 0,07 mm, rộng 0,03 – 0,039 mm

*Vòng đời

Giun cái đẻ trứng theo phân ra ngoài, chưa có sức gây bệnh, gặp điều kiện thích hợp: Nhiệt độ 18 – 260C, độ ẩm thích hợp sau 7 – 12 ngày thì thành thục và thành ấu trùng gây nhiễm Gà nuốt phải trứng này, sau 1 – 2h ấu trùng chui ra khỏi vỏ trứng, sau 24h tới manh tràng và phát triển thành giun trưởng thành Có tác giả cho rằng, ở ruột non ấu trùng chui ra khỏi vỏ trứng, trước hết chui vào thành manh tràng, ở đó khoảng 5 ngày rồi lại trở về xoang manh tràng, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành mất 24 ngày Tuổi thọ của giun khoảng 1 năm (Phạm Văn Khuê – Phan Lục, 1996)

Theo Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002), viết về

vòng đời của Heterakis gallinarum như sau:

Trứng Heterakis gallinarum bài xuất cùng với phân ra ngoài, trứng phát

triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bên ngoài trong thời gian từ 6 – 17 ngày, hoặc hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm Sự phát triển của trứng

Heterakis gallinarum đến giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt độ 30 – 370C trong vòng

Trang 18

6 – 7 ngày, ở nhiệt độ 20 – 270C từ 10 – 15 ngày và 10 – 150C là 72 ngày (Springer W.T J Johnson ans W M Reid, 1969)

Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu trùng này trở nên có khả năng truyền lây bệnh Mùa đông trứng không phát triển Nhưng vẫn duy trì khả năng sống Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, trứng sống được qua mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn gây bệnh

Gà, gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng giun kim có chứa ấu trùng

gây bệnh cảm nhiễm Heterakis gallinarum Sau 1 – 2 giờ xâm nhập vào đường

tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng Ở manh tràng, ấu trùng chui vào thành ruột, nhưng sau từ 5 – 7 ngày sau khi vào máu chúng lại trở lại ruột Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể từ

25 – 34 ngày, nhưng thời gian sống thì không quá 1 năm (Springer W.T J Johnson and W M Reid, 1969)

Bệnh do Heterakis gallinarum xảy ra ở gà nhà, gà tây, gà lôi đỏ, gà

lôi trắng, đôi khi thấy cả ở vịt (Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Lê, Nguyễn Thị

Kỳ, 1977)

1.3 Đặc điểm dịch tễ của bệnh do Histomonas gây ra

1.3.1 Đường truyền lây

Bệnh lây qua thức ăn, nước uống đã bị nhiễm trứng giun trong có chứa Histomonas

Khi gia cầm ăn phải trứng giun có chứa Histomonas, ở trong đường tiêu hoá, đặc biệt ở ruột non (môi trường kiềm tính), Histomonas chui ra khỏi trứng bám vào tế bào ruột manh tràng rồi tiếp tục di hành theo đường máu, sau đó quay lại ký sinh ở ruột tăng sinh bằng cách phân đôi tập trung gây bệnh ở manh tràng Mặt khác chúng tiếp tục xâm nhập vào những trứng giun cư trú ở manh tràng và

đi ra ngoài theo phân Những con gia cầm khác ăn phải sẽ tiếp tục phát bệnh Lây nhiễm qua giun đất: Khi trứng giun kim ở trong cơ thể gà đã nhiễm Histomonas thải ra ngoài môi trường nền chuồng ở, đất Giun đất ăn phải, rồi gà lại

ăn giun đất thì mầm bệnh cũng được phát ra (trường hợp gà thả rong bị nhiễm cao)

Ở một số ổ dịch khác xảy ra trên gà thì người ta không tìm thấy trứng giun

Trang 19

ở ruột cùng (manh tràng), có lẽ còn có một cách truyền bệnh khác mà ta chưa phát hiện ra được

Trong một số ổ dịch, bệnh phát gia tăng nếu như kèm những nguyên nhân tiếp sau:

- Nhiệt độ và độ ẩm cao trong mùa mưa

- Vệ sinh chuồng trại kém hoặc thiếu chất độn chuồng (như trấu lót dưới),

gà mổ đất ăn

- Gà ăn chất lót chuồng do thiếu thức ăn, nên bị nhiễm trứng giun từ chất lót chuồng

- Có bệnh khác kết hợp như nhiễm một số vi khuẩn gây bệnh đường tiêu

hoá như E Coli, Clostridium perfringens…

Theo Jinghui Hu và L.R.McDougad (2003): Việc truyền bệnh bên trong

của Histomonas meleagridis ở gà Tây đã được nghiên cứu mà không có sự hiện diện của Heterakis gallinarum 120 dãy chuồng nuôi gà được chuyển lên sàn bê

tông lúc 2 tuần tuổi và bắt đầu thí nghiệm Một nhóm không nhận được sự tiếp

xúc của H meleagridis Một nhóm khác được tiêm Histomonas meleagridis và

được nhốt ở khu vực riêng biệt Ngày thứ 10-18 khi xét nghiệm những gà bị nhiễm cho thấy tổn thương gan và manh tràng là điển hình với Histomoniasis Gia cầm ở nhóm tiếp xúc cao chết vì Histomoniasis vào ngày thứ 16 và tử vong 100% vào ngày thứ 23 Gà ở nhóm tiếp xúc thấp chết vào ngày thứ 19 và tiếp tục chết vào ngày thứ 31 Tất cả những gà sống đến ngày thứ 31 thì gan và manh tràng đã bị tổn thương nặng với Histomoniasis Không có bằng chứng của

Histomoniasis trong các loài gà chưa bị phơi nhiễm Không tìm thấy Heterakis

gallinarum khi xét nghiệm những đàn gà đã chết Mặc dù Heterakis gallinarum được biết đến như là nguồn cho Histomonas meleagridis nhưng kết quả này cho

thấy rằng việc truyền bên trong của Histomoniasis có thể do tiếp xúc một đàn gia cầm nhiễm bệnh với một đàn gia cầm không nhiễm bệnh và phân của chúng hoàn toàn không có trứng của giun sán

Sau khi vào đường tiêu hoá Histomonas meleagridis tấn công vào manh

tràng và các mô của manh tràng Khi bệnh tiến triển manh tràng có mùi hôi và

Trang 20

xuất hiện màu vàng Trong lòng của manh tràng chứa một hợp chất lỏng do các tế bào chết và máu Sau đó các vi sinh vật đơn bào theo máu đi vào gan và phá huỷ

gan tạo nên các vùng hoại tử (tế bào chết) Đôi khi Histomonas meleagridis tấn

công vào các cơ quan khác như thận, phổi, tim và não Histomoniasis giết chết gà

và bệnh này thường bị bội nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như E Coli, Clostridium

perfringens… gây ra bệnh nhiễm trùng thứ cấp và gây chết nhiều gà hơn (Jinghui

Hu và L.R.McDougad, 2003)

1.3.2 Sự phát sinh và phát dịch bệnh

- Các vật chủ thí nghiệm và tự nhiên

Một số lượng lớn chim thuộc bộ gà được phát hiện là vật chủ chứa

Histomonas meleagridis Gà tây, gà rừng và gà Gô cổ khoang có thể bị bệnh Histomoniasis nặng nhất; gà dò, công, gà Nhật, chim cút trắng, và chim trĩ mắc bệnh dạng nhẹ hơn Qua thực nghiệm, chim cút Coturnix có thể bị nhiễm bệnh nhưng loài này là vật chủ rất yếu đối với động vật ký sinh

Histomonas meleagridis bị giảm xuống Gà chọi, chim trĩ và chim cút trắng trong

tự nhiên cũng có thể là sinh vật truyền bệnh Ngoài ra, giun đất, các động vật chân đốt bao gồm bướm, châu chấu, mọt gỗ và dế có thể là các tác nhân cơ học gây bệnh

Trang 21

ngày và thường xảy ra 11 ngày sau khi nhiễm bệnh (PI) Thời gian ủ bệnh tương

tự theo các cách nhiễm bệnh tự nhiên, tức là truyền qua trứng Heterakis chứa Histomonas Trên thực nghiệm, các thương tổn phát hiện sau khi gà tây được gây nhiễm qua lỗ huyệt bằng cách cấy Histomonas trước khoảng 3 ngày so với nhiễm bệnh qua trứng Heterakis

1.3.3 Đặc điểm dịch tễ

- Mầm bệnh

Về mặt dịch tễ học, Histomonas ở thể nguyên vẹn không có vai trò truyền bệnh vì sức đề kháng của chúng rất kém, khi ra khỏi cơ thể vật chủ một thời gian ngắn đã bị chết

Mặc dù nhiễm bệnh tự nhiên xaỷ ra ở một số loài gia cầm, nhưng gà tây được coi là vật chủ dễ nhiễm bệnh nhất Gà con dễ bị nhiễm bệnh, nhưng ở một dạng bệnh nhẹ hơn Một số biến thể dễ lây nhiễm được phát hiện ở các giống gà khác nhau Gà con từ 4-6 tuần tuổi và gà tây từ 3-12 tuần tuổi có nguy cơ nhiễm bệnh cao

Hệ vi khuẩn cũng đóng vai trò trong sự phát triển của bệnh Các thương

tổn do Histomonosis gây ra ở gà tây đã tạo điều kiện cho Clostridium perfringens

và E Coli phát triển và gây bệnh

Heterakis gallinarum và các loại giun đất khác nhau

- Một yếu tố quan trọng để Histomonas tồn tại và phát tán mạnh ra môi trường thiên nhiên là do chúng thường ký sinh trong trứng của giun kim Heterakis, mà khi nuôi gà thương phẩm hoặc làm giống thì hầu như 100% gà bị nhiễm loại giun này Bởi thế gà ta và gà tây bị nhiễm Histomonas chủ yếu qua

đường ăn uống trong đó có trứng giun kim Heterakis gallinae Nói cách khác

Trang 22

trứng giun kim là vật ký chủ trung gian và là nguồn bệnh chủ yếu của bệnh

- Bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2-3 tháng tuổi, nhưng ở gà ta thì chậm hơn một chút: Từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi

- Bệnh bùng phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: Cuối xuân, hè và hè thu Trong khi đó ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh thường xảy ra cuối thu và mùa đông

- Bệnh rất ít thấy ở thuỷ cầm và gà hoang dã, tuy nhiên chúng lại là vật mang trùng phổ biến lây bệnh cho gà ta và gà tây

- Điều kiện vệ sinh kém, giun đất và côn trùng đều là các yếu tố truyền lây bệnh

- Bệnh đầu đen xảy ra từ phía Đông đến miền Trung Tây Hoa Kỳ Theo

Bộ Tài nguyên và Môi trường Michigan, dịch nghiêm trọng xảy ra trong mùa mưa, đặc biệt là vào mùa xuân và mùa thu Tại Queensland, Austrailia, bệnh này xảy ra phổ biến hơn ở các loài gà 3 – 4 tuần tuổi vào mùa hè

- Tính chất lưu hành và thời kỳ ủ bệnh

Bệnh do Histomonas thường do dịch lưu hành địa phương Bệnh phát thành dịch còn phải tùy thuộc vào sự tương quan giữa vật chủ và tác nhân gây bệnh Trong điều kiện nhất định phụ thuộc vào vùng địa lý có vật chủ trung gian

là giun kim và các loại giun đất khác thì Histomonas mới có thể tấn công và gây bệnh Vì vậy thời gian ủ bệnh sẽ khác nhau từ 7 – 12 ngày hoặc có thể kéo dài vài tháng

Trang 23

1.4 Đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas gây ra

1.4.1 Cơ chế sinh bệnh

- Qua đường miệng Histomonas nhanh chóng bám vào thành dạ dày và ruột, nhất là đoạn ruột mù (manh tràng) và tại đây chúng bắt đầu sinh sản theo phương thức tự nhân đôi, chỉ trong một thời gian rất ngắn có hàng triệu tế bào niêm mạc dạ dày và manh tràng bị phá huỷ gây ra các ổ viêm loét hoại tử, rồi ngay sau đó là viêm phúc mạc cấp Tuy nhiên trong thực tế rất ít các trường hợp quan sát được các biến đổi ở dạ dày tuyến và dạ dày cơ

- Từ các ổ loét của thành manh tràng Histomonas theo máu đến ký sinh trong các tế bào gan, tại đây chúng gây ra các ổ viêm hoại tử và phá huỷ cấu trúc cũng như chức năng gan làm cho thể trạng gà nhanh chóng sa sút

- Các ổ viêm loét của manh tràng và của gan đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng thứ phát khác, khiến cho

gà kiệt sức và chết rất nhanh

1.4.2 Triệu chứng lâm sàng

Theo Lê Văn Năm (2010) cho biết:

- Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào nhiễm trùng thứ phát

- Bệnh thể hiện ở 2 thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra ở thể quá cấp

- Da mép, da vùng đầu, mào, tích nhanh chóng có màu xám xanh rồi chuyển sang xanh đen, nhìn thấy rõ nhất là ở gà tây, từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Black Head)

- Gần cuối giai đoạn ốm thân nhiệt gà giảm mạnh xuống dưới mức bình

Trang 24

thường (39 – 38 °C) Vì vậy cho dù bệnh xảy ra trong các tháng mùa nóng nhưng những gà ốm vẫn tìm những nơi có ánh nắng mặt trời hoặc lò sưởi để sưởi ấm, mắt nhắm nghiền, đứng im không cử động

- Bệnh kéo dài 10 -20 ngày nên gà rất gầy, chúng liên tục run rẩy hoặc co giật rồi chết do suy nhược cơ thể Tỷ lệ chết rất cao 80-95% nếu không được điều trị kịp thời

- Gà có thể nhiễm trùng ở thể nhẹ hoặc nghiêm trọng gây ra tỷ lệ tử vong cao Phân gà màu lưu huỳnh kết hợp với máu thải ra ngoài nên bệnh trở lên nghiêm trọng Đôi khi bệnh lý của gà gần giống bệnh cầu trùng

Thể mạn tính

Thể mãn tính thường thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi với sự xuất hiện các triệu chứng đặc trưng như đã mô tả ở phần thể cấp tính, nhưng cường độ biểu hiện yếu vì thế chúng ta có thể quan sát thấy thể trạng đàn gà lúc tốt, lúc xấu Các giai đoạn phát triển giống như cầu trùng: Lúc đầu gà ỉa chảy loãng, phân sống sau chuyển sang sệt màu cafe hoặc vàng xanh lẫn máu, sau 5 – 7 ngày mắc bệnh phân nhầy lẫn nhiều máu hơn, thậm chí máu tươi khó đông giống như máu

cá chết, sau đó phân đóng thành thỏi rắn có màu gạch non, xung quanh bãi phân

là toàn nước, lúc sắp chết phân trở về loãng nhầy lờ lờ trắng đục như nước sữa loãng Bệnh dài 2-3 tuần và kết thúc gà bị chết vì suy nhược và nhiễm độc

1.4.3 Bệnh tích

Bệnh tích bệnh do Histomonas tập trung chủ yếu ở manh tràng và gan

Các biến đổi ở manh tràng

- Có thể chỉ 1 trong 2 bên hoặc cùng một lúc cả 2 manh tràng xuất hiện các biến đổi: Lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày lên và rắn chắc hơn Màu sắc, độ đàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi Bề mặt bên trong manh tràng trở nên sần sùi, có màu vàng xám, thành manh tràng tăng sinh dầy lên và rắn chắc Khi bổ đôi manh tràng ta thấy chất chứa có màu trắng vàng xanh hoặc trắng nâu do thẩm xuất chứa Fibrin đóng quánh cùng các tế bào khác nhau bị cazein hoá, vì thế người chăn nuôi gọi là bệnh kén ruột

- Niêm mạc manh tràng bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng và chảy chất

Trang 25

chứa vào xoang bụng gây viêm phúc mạc nặng khi đó gà chết đột tử

- Rất nhiều trường hợp 2 manh tràng dính chặt với nhau hoặc 1 trong 2 manh tràng dính vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc bụng

- Vết loét nhỏ hoặc lớn, có thể vỡ ra tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng gây viêm dính xoang bụng với ruột

- Trong thành ruột khi cắt ngang có những đám bã đậu trắng, thành ruột dầy lên nhiều lần làm lỗ ruột bé hẹp lại

Các biến đổi ở gan

- Gan sưng to gấp 2-3 lần bình thường, mềm nhũn và nhìn thấy rất nhiều ổ viêm xuất huyết hoại tử có hình hoa cúc trên bề mặt gan

- Về sau các ổ viêm loét hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắng xám

đỏ, đặc nhưng lõm ở giữa Chúng có hình tròn, rìa mép ổ viêm có hình răng cưa với độ lớn rất khác nhau, nhưng chủ yếu to từ 1 -2 cm, khi cắt đôi ổ loét ta thấy chúng có hình nón chứa đầy chất chứa đặc quánh

Nếu lấy chất chứa xung quanh ổ loét để xét nghiệm ta sẽ thấy chúng gồm các

tế bào bạch cầu, đại thực bào, đơn bào Histomonas còn sống

Mức độ huyết tương của glutamic oxaloaxetic tranxaminaza (GOT) và lactic dehydrogenase (LDH) tăng lên khi các tổn thương phát triển ở gan gà, tuy nhiên glutamic pyruvic tranxaminaza (GPT) vẫn không thay đổi gì đáng kể GPT rất ít hoạt động trong gan hoặc các mô khác ở loài chim, chứng tỏ đây không phải là một chất xúc tác có vai trò quan trọng trong các loài chim Sự xuất hiện

Trang 26

sắc tố vàng ở nước tiểu đồng nghĩa với chức năng gan bị suy nhược và enzim tăng lên do tổn thương các mô Đối với gà dò bị tổn thương ở manh tràng nhưng gan không bị tổn thương, mức độ huyết tương của GOT, LDH, malic dehydrogenase và các enzim khác giảm thực sự, chứng tỏ chức năng gan bị suy yếu Cholinexteraza cũng giảm đi, cũng chứng tỏ chức năng gan suy giảm mặc

dù các tổn thương lớn về gan không rõ ràng Ở gà tây nhiễm bệnh cấp tính, tỷ lệ methemoglobin trong máu tăng lên, làm xuất hiện triệu chứng xanh tím và đầu đen thường gặp

1.4.5 Sự miễn dịch

Miễn dịch chủ động: Sự miễn dịch phát sinh ở gà tây theo tự nhiên hoặc

do được tiêm phòng với các mô thật sự không đủ để bảo vệ chống lại các nhiễm khuẩn Từ khi gà tây bị chết do các bệnh tật, tất cả các công tác liên quan đến miễn dịch ở gà tây đều dựa vào thuốc tiêm phòng dịch

Các nỗ lực để tạo miễn dịch ở gà và gà tây bằng các u mô không thuộc tế bào hay các tế bào chỉ thành công được đôi chút Một số cách bảo vệ trình bày để chống lại việc tiêm chủng các u mô tế bào hay các kích thích giảm nhưng rất ít các u mô bao gồm các trứng Mặc dù các bài báo cáo không đồng tình song một số cách miễn dịch bảo vệ vẫn được giữ lại trong khi liệu pháp dùng thuốc bị quản lý

Miễn dịch bị động: Các nỗ lực để chuyển chất miễn dịch từ các chất đề kháng sang các loại gà dễ nhiễm bệnh bằng cách tiêm vào bụng ruột của các con

gà miễn dịch là không thành công

1.4.6 Mô bệnh học

Sự xâm chiếm và cư trú đầu tiên của Histomonas vào thành ruột dẫn đến chứng xung huyết và tăng bạch cầu dị ái, cùng với đó là sự kết nối phản ứng giũa

vi khuẩn, Histomonas và Heterakis: trong vòng 5-6 ngày, số lượng Histomonas

có thể nhìn thấy như một rào chắn nằm sâu trong các lớp biểu bì niêm mạc ruột Một số lượng lớn các tế bào bạch huyết và các đại thực bào xâm nhập qua các

mô trong khoảng thời gian này và số lượng tế bào Heterophile tăng lên Điều cốt lõi là mạch máu ruột bao gồm các biểu mô đã lột xác, tơ huyết, hồng cầu và bạch cầu dọc theo các chất vào cơ thể Lõi ban đầu không có hình dạng nhất định và

Trang 27

màu đỏ nhẹ nhưng khoảng sau 12 ngày nó xuất hiện khô, hơi vàng ở lớp vỏ của phần tiết dịch Khoảng 12 – 16 ngày các tế bào khổng lồ xuất hiện trong mô ruột Các chất hoại tử đông lại và xâm chiếm các u mô mở rộng Khoảng từ 17 ngày –

21 ngày u mô hết dần trong mô, hầu hết tập trung gần lớp vỏ thành dịch Số lượng lớn các tế bào khổng lồ có thể xuất hiện các u hạt phồng lên ở phần thành dịch ruột Các thương tổn cũ sau khi phục hồi mang đặc tính của các lympho nằm rải rác qua các mô ruột Có thể xảy ra sự phóng lõi và sự phát triển các biểu mô, tuy nhiên ruột thường không mỏng và các tiểu hang thường tối

Các chấn thương vi sao chép sớm nhất nhìn thấy ở gan khoảng 6-7 ngày sau khi nhiễm và bao gồm các cụm dị ái, lympho và các bạch cầu đơn nhân gần các mạch máu Rất khó để xếp đặt các mô khu vực này, sau khoảng 10-14 ngày các chấn thương lan rộng, chúng có thể gặp nhau ở một số chỗ Các lympho mở rộng kèm theo sự xâm nhập đại thực bào và các dị ái hiện có với số lượng vừa phải Từ 14-21 ngày tỷ lệ chết hoại tử tăng đáng kể, dẫn đến một khu vực lớn bao gồm ít mô lưới và các mảnh tế bào U mô trong giai đoạn này giống như một cơ thể nhỏ trong đại thực bào Nếu diễn ra các phục hồi, tế bào lympho vẫn giữ lại trong khu vực xơ hoá và các tế bào gan đang phát triển

1.4.7 Chẩn đoán bệnh và chẩn đoán phân biệt

- Triệu chứng: Gà xù lông, xã cánh, phân có màu vàng và mùi khó chịu,

mỏ chúi xuống đất Mào tích thâm tím sau chuyển sang màu đen

- Bệnh tích:

+ Manh tràng: Bệnh tích có thể thấy ở 1 hoặc 2 bên với biểu hiên: Vết loét nhỏ hoặc lớn Vết loét có thể vỡ ra tràn phân và dịch viêm và xoang bụng gây

Trang 28

viêm dính xoang bụng với ruột Trong thành ruột khi cắt ngang có những đám bã đậu trắng

+ Gan: Có những đám hoại tử trắng do Histomonas xâm nhập vào tổ chức gan qua động mạch chủ Những vùng hoại tử này có đặc điểm vàng, tròn, lõm ở giữa và kích thước tới 1cm

Khi gà có những bệnh tích và triệu chứng điển hình như trên lấy bệnh phẩm gan và manh tràng làm tiêu bản soi kính tìm Histomonas: Lấy phân của gà

ốm nghi bị bệnh đang còn sống hoặc chất chứa của ổ viêm loét của gan làm dung dịch để soi kính hiển vi theo tỉ lệ 1:1, nhỏ dung dịch lên phiến kính (có thể phủ vật kính) rồi hơ nóng 400C dưới đèn cồn và soi dưới kính hiển vi, ta sẽ thấy rõ Histononas hình roi còn sống

* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác

Chẩn đoán phân biệt với gà bị Newcastle

Gà bị Newcastle sốt cao 43-43,50C, uống nước nhiều, rối loạn tiêu hoá trầm trọng, thức ăn ở diều không tiêu, nhão ra do lên men Khi cầm chân gà dốc ngược từ mỏ chảy ra một thứ nước chua khắm Bệnh kéo dài vài ngày gà ỉa chảy, phân lúc đầu xanh, có bọt sau chuyển sang loãng, trắng xám do có nhiều urat Gà khó thở trầm trọng, mũi thường chảy nhớt màu trắng xám hoặc đỏ nhạt làm cho

gà hay vẩy mỏ Bệnh nặng gà không thở bằng mũi mà phải há mồm, vươn cổ ra

để thở làm mào yếm ứ máu, tím bầm

Cuối ổ dịch gà xuất hiện các triệu chứng thần kinh Đi vòng tròn, đi giật lùi hoặc đi xiêu vẹo đầu, cổ co giật hoặc bị ngoẹo, mổ không trúng thức ăn Bệnh tích: Niêm mạc đường tiêu hoá phủ lớp chất nhờn màu trắng xám hoặc vàng nhạt có xuất huyết điểm Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết rõ, các nốt xuất huyết lấm tấm tròn bằng đầu đinh ghim và trùng với lỗ đổ ra của đường tiêu hoá Niêm mạc ruột non, ruột già, van hồi manh tràng và hậu môn xuất huyết nặng

Bệnh cầu trùng

Ruột thừa bị cầu trùng Eimeria tenella trong một số trường hợp cũng có

các biến đổi giống như các biến đổi bệnh do Histononas gây ra Nhìn từ ngoài vào qua thành ruột ở bệnh cầu trùng ta thấy rõ các nốt đỏ xen lẫn các điểm trắng

Trang 29

khi bổ đôi ruột thì thấy chất chứa bị lẫn máu hoặc toàn máu đông, thậm chí máu tươi, trong khi đó chất chứa do Histononas gây ra lúc đầu chứa nhiều hơi sau đó cũng lẫn máu khó đông giống như ở cầu trùng, nhưng về giai đoạn cuối tạo thành kén đông đặc, gạt lớp phủ niêm mạc ta thấy niêm mạc ruột bị viêm hoại tử rất nặng, thành ruột thừa dầy và rắn chắc

Với bệnh do Trichomonas

Các triệu chứng và các biến đôỉ bệnh lý do Trichomonas gây ra trong một

số trường hợp cũng rất giống với bệnh đầu đen Điểm khác là bệnh do Trichomonas gây ra ta thấy ngoài các biến đổi ở ruột thừa, luôn kèm theo các biến đổi ở 1/3 cuối ruột non Các biến đổi ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thước nhỏ hơn và lồi lên khỏi bề mặt gan giống như các ổ lao gà, trong khi đó các ổ viêm loét hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm trũng ở giữa (tâm của ổ viêm loét do bệnh đầu đen bị lõm xuống)

Vì bệnh xảy ra thông qua môi trường bị ô nhiễm bởi trứng Heterakis

gallinae, các biện pháp thành công được triển khai trên một phần lớn theo hướng giảm hoặc loại trừ các trứng đó

Không nuôi gà ta chung với gà tây là rất quan trọng, vì gà ta có thể thường

ủ một số lượng lớn các giun kim và trứng giun kim

Chăn nuôi gà Tây trong nhà có thể làm giảm được tỷ lệ mắc bệnh đầu đen,

có thể loại bỏ việc cho ăn giun đất, tuy nhiên cách này không có hiệu quả nhiều đối với gà nhà Gà mái tơ Lơgo thường dễ bị nhiễm các bệnh của gà nhà khi trứng giun đã hình thành được một số lượng trong nhiều năm Ở Úc, Histomoniasis nhiều năm nay là một vấn đề nan giải đối với gà dò Trong một số

Trang 30

trường hợp, việc khử trùng tẩy uế có thể có tác dụng tiêu diệt các trứng giun, nhưng hiện chưa có nhiều số liệu liên quan đến biện pháp này

Công tác quản lý sẽ khó có thể đủ mạnh để kìm chế bệnh ở mức thấp trong các đàn gà tây nuôi thịt Vì vậy hóa trị liệu phòng ngừa thường được tiến hành trong qúa trình có nguy cơ cao khi gà đang phát triển Hóa trị liệu phòng ngừa không thường xuyên được tiến hành với gà nhà trừ khi các trang trại có vấn đề hoặc ở các địa phương mà tại đó có nguy cơ bùng phát bệnh cao Ngoài ra nên dùng thuốc tím hoặc sunfat đồng để tiêu diệt trứng giun kim và dùng vôi bột để tiêu diệt giun kim và giun đất trong môi trường

Trị bệnh

Trước kia có 5 loại thuốc và hoá dược đã được đăng ký sử dụng tại Mỹ, bao gồm hai chất chứa arsen, hai loại thuộc nhóm nitroimidazole và một nitrofuran, tuy nhiên quy định gần đây đã loại bỏ các loại thuốc này (nitroimidazole) khỏi thị trường Đối với việc sử dụng các loại thuốc để phòng ngừa, nitrasone có thể có tác dụng, tuy nhiên các chất arsen nói chung không đủ mạnh để điều trị bệnh đầu đen xảy ra cùng lúc với các vi khuẩn như đã nêu ở trên Các nitroimidazole (Ronidazol, ipronidazole hoặc romidazole) có hiệu qủa cao đối với phòng ngừa hoặc điều trị cả ở gà nhà và gà tây Các loại thuốc quan trọng này hiện vẫn được sử dụng tại nhiều nước Furazolidone cũng đã được sử dụng để điều trị bệnh đầu đen Hiện chưa có thông báo về dấu hiệu hay kháng thuốc ở các Histomonas Gần đây một số tác giả cho rằng dùng Doxycillin hoặc sunfamonothiazin có tác dụng rất tốt đối với Histomonas

Hiện nay trên địa bàn huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, việc sử dụng Sunfamonothiazin với các chế phẩm của chất này trong điều trị bệnh do Histomonas rất rộng rãi

1.5 Phản ứng PCR

1.5.1 Nguyên lý của phản ứng PCR

Đây là phương pháp In vitro sử dụng cặp mồi để tổng hợp một số lượng lớn các bản sao từ một trình tự DNA đặc biệt dựa trên hoạt động của enzym polymerase

Trang 31

Phương pháp PCR dựa trên hoạt động của DNA polymerase trong quá trình tổng hợp DNA từ khuôn mẫu Tất cả các DNA polymerase đều cần những mồi là những đoạn ngắn có khả năng bắt cặp với một đầu của mạch khuôn Đoạn mồi này sau đó được kéo dài ra là nhờ hoạt động của enzym DNA polymerase để hoàn thành một mạch mới hoàn chỉnh

Dấu hiệu xác định bệnh là sản phẩm nhân bản một đoạn gene đặc hiệu của yếu tố gây bệnh Sự hiện diện của sản phẩm được nhận biết qua điện di trên gel agarose

Mô hình nguyên lý của phản ứng PCR

Phản ứng PCR là một chuỗi nhiều chu kỳ được lặp đi lặp lại mỗi chu kỳ gồm 3 bước:

Bước 1: Phân tử DNA được biến tính (Denaturation) ở 94 - 95 0C trong khoảng thời gian từ 30 giây đến 1 phút (thời gian cho bước này dài hay ngắn phụ thuộc vào cấu trúc và chiều dài đoạn DNA khuôn, máy chu kỳ nhiệt ống tube sử dụng và thể tích cuối cùng của phản ứng, trong quá trình biến tính DNA sợi kép được tháo xoắn thành 2 đoạn DNA mạch đơn

Ngày đăng: 04/02/2017, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. L ê Thị Hòa (2011), “ Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas gây ra trên gà nuôi thả vườn tại Yên Thế - Bắc Giang và đề xuất một số biện pháp phòng trị”, Luận văn hạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do Histomonas gây ra trên gà nuôi thả vườn tại Yên Thế - Bắc Giang và đề xuất một số biện pháp phòng trị
Tác giả: L ê Thị Hòa
Năm: 2011
1. AbdulRahman Lotfi (2011), Untersuchungen zur Pathogenese und Prophylaxe der Histomonose beim Geflügel, Aus dem Institut für Geflügelkrankheiten des Fachbereiches Veterinọrmedizin der Freien Universitọt Berlin, pp. 12 – 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Untersuchungen zur Pathogenese und Prophylaxe der "Histomonose beim Geflügel
Tác giả: AbdulRahman Lotfi
Năm: 2011
2. Anonymous (1894), Work in the poultry division, Ninth Annual Report of the State Board of Agriculture, pp. 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Work in the poultry division
3. Barriga O. O. (1981), The immunology of parasitic infections, University Park Press, Baltimore, pp. 60 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The immunology of parasitic infections
Tác giả: Barriga O. O
Năm: 1981
4. Bleyen N., De Gussem K., De Gussem J. and Goddeeris B. M. (2007), Specific detection of Histomonas meleagridis in turkeys by a PCR assay with an internal amplification control, Vet. Parasitol, 143, 3 – 4, 206 – 213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Specific "detection of Histomonas meleagridis in turkeys by a PCR assay with an internal "amplification control
Tác giả: Bleyen N., De Gussem K., De Gussem J. and Goddeeris B. M
Năm: 2007
5. Burch D., Young S., Watson E. (2007), Treatment of histomonosis in turkeys with tiamulin, Vet. Rec,161 – 864 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment of histomonosis in turkeys with "tiamulin
Tác giả: Burch D., Young S., Watson E
Năm: 2007
7. Cushman S. (1894), A study of the diseases of turkeys, In Sixth Annual Report of the Rhode Island Agricultural Experiment Station 1893, pp. 286-288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study of the diseases of turkeys
8. Gibbs, B. J. 1962. The occurrence of the protozoan parasite Histomonas meleagridis in the adults and eggs of the cecal worm Heterakis gallinae. J. Protozool 9:288–293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histomonas meleagridis" in the adults and eggs of the cecal worm "Heterakis gallinae
9. Hess M., Kolbe T., Grabensteiner E., Prosl H., (2006), Clonal cultures of Histomonas meleagridis, Tetratrichomonas gallinarum and a Blasctocystis sp. established through micromanipulation, Parasitology 133, 547 - 554 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clonal cultures of Histomonas "meleagridis, Tetratrichomonas gallinarum and a Blasctocystis sp. established "through micromanipulation
Tác giả: Hess M., Kolbe T., Grabensteiner E., Prosl H
Năm: 2006
11. Lee D.L.1969. The structure and development of the protozoon Histomonas meleagridis in the male reproductive tract of its intermediate host, Heterakis gallinarum (Nematoda). Parasitology,Volume 59,Issue 04, pp 877-884 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histomonas "meleagridis" in the male reproductive tract of its intermediate host, "Heterakis "gallinarum
12. McDougald L. R. (2005), Blackhead Disease (Histomoniasis) in Poultry, Acritical review, Avian Dis, 49, 462 - 476 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blackhead Disease (Histomoniasis) in Poultry
Tác giả: McDougald L. R
Năm: 2005
14. Muriel Mazet (2007), Culture in vitro et caracterisation d’enzymes hydrogenosomales chez histomonas meleagridis, Protozoa ire flagelle parasite de gallinace S, Ecole Doctorale des sciences de la vie et de la Santé No Ordre : 464, pp. 5 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture in vitro et caracterisation d’enzymes "hydrogenosomales chez histomonas meleagridis
Tác giả: Muriel Mazet
Năm: 2007
17. Smith T. (1895), An infectious disease among turkeys caused by protozoa (infectious entero-hepatitis),Bulletin of the United States Department of Agriculture, 8, 7 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An infectious disease among turkeys caused by protozoa "(infectious entero-hepatitis)
18. Springer. W.T.. J. Johnson ans W. M. Reid. 1969. Transmission of Histomoniasis with male Heterakis gallinarum (Nematoda) Parasitology 59: 401 – 405.Tyzzer E.E. (1920a), The flagellate character and reclassification of the parasite producing“blackhead” in turkeys, J. Parasitol, 6, 124 - 131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The flagellate character and reclassification of the parasite "producing“blackhead” in turkeys
19. Van der Heijden H. (2009), Detection, typing and control of Histomonas meleagridis, Universiteit Utrecht, pp. 15 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection, typing and control of Histomonas "meleagridis
Tác giả: Van der Heijden H
Năm: 2009
1. Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân (1996), Sinh lý gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002), 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị, NXB nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5. Lê Văn Năm, Bệnh viêm gan- ruột truyền nhiễm, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 3 tập II năm 2010 Khác
6. Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê, 1977, Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Gà b ệnh mào thâm tím    Hình 3.2. Gà bệ nh ủ  rũ, cánh xõa - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.1. Gà b ệnh mào thâm tím Hình 3.2. Gà bệ nh ủ rũ, cánh xõa (Trang 45)
Bảng 3.3. Tần số biến đổi của gan và manh tràng - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.3. Tần số biến đổi của gan và manh tràng (Trang 46)
Bảng 3.4. Biến đổi bệnh lý đại thể của gà nhiễm Histomonas - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.4. Biến đổi bệnh lý đại thể của gà nhiễm Histomonas (Trang 48)
Hình 3.9. Các ổ hoại tử  trên gan tạo thành - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.9. Các ổ hoại tử trên gan tạo thành (Trang 49)
Hình 3.7.  Xác gà gầy, gan nát, trên gan có - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.7. Xác gà gầy, gan nát, trên gan có (Trang 49)
Hình 3.13. Ruột xuấ t huyết   Hình 3.14.  Lách sư ng, xuất huyết - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.13. Ruột xuấ t huyết Hình 3.14. Lách sư ng, xuất huyết (Trang 50)
Hình 3.15. Niêm m ạc manh tràng bị viêm - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.15. Niêm m ạc manh tràng bị viêm (Trang 50)
Bảng 3.5. Tần số biến đổi vi thể các cơ quan gà nhiễm Histomonas - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.5. Tần số biến đổi vi thể các cơ quan gà nhiễm Histomonas (Trang 51)
Hình 3.18.  Noãn nang ở  lớ p hạ niêm m ạc của  manh tràng, xung quanh thâm nhiễm bạch - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.18. Noãn nang ở lớ p hạ niêm m ạc của manh tràng, xung quanh thâm nhiễm bạch (Trang 53)
Hình 3.17. Kh ối chất chứa hoại tử  trong ruột - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.17. Kh ối chất chứa hoại tử trong ruột (Trang 53)
Hình 3.23. Thâm nhiễm bạch cầ u ái toan - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.23. Thâm nhiễm bạch cầ u ái toan (Trang 54)
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của  gà nhiễm Histomonas - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của gà nhiễm Histomonas (Trang 56)
Bảng 3.7. Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu bạch cầu của gà - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.7. Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu bạch cầu của gà (Trang 58)
Hình 3.29. Kết quả  phản  ứ ng PCR - nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh do histomonas spp  gây ra trên gà thả vườn và ứng dụng kỹ thuật pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.29. Kết quả phản ứ ng PCR (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w