1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time pcr trong chẩn đoán bệnh

73 660 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình chung Cúm gia cầm lần đầu được phát hiện ở Italia vào năm 1878 với tên gọi là dịch hạch gà Fowl plague Stubb et al., 1965 nhưng mãi tới năm 1901 mới xác định được yếu tố gây

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM -o0o -

NGUYỄN TRỌNG LƯU

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS CÚM A/H5N6 TRÊN ĐÀN GIA CẦM VÀ ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP REAL TIME - PCR TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y

MÃ SỐ: 60.64.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ LAN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: công trình khoa học này là của tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận án này đều được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận án đều chính xác và được nêu rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Trọng Lưu

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tạo động lực để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận này

Nhân dịp này tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Thú y, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi được theohọc chương trình đào tạo Thạc sĩ tại học viện

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Lan, Bộ môn Bệnh lý thú y, Khoa thú y – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập

và hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ đang công tác tại Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ, cung cấp số liệu và cho tôi những đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn giúp đỡ, động viên tôi để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Trọng Lưu

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm bệnh cúm gia cầm 3

1.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm trên thế giới 3

1.2.1 Tình hình chung 3

1.3 Tình hình cúm ở Việt Nam 6

1.3.1 Tình hình chung 6

1.3.2 Tình hình cúm H5N6 ở Việt Nam 11

1.4 Cúm gia cầm và đặc điểm của cúm gia cầm 13

1.4.1 Đặc điểm sinh học phân tử của virus cúm gia cầm 13

1.4.2 Kháng nguyên của virus cúm gia cầm 17

1.4.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm 22

1.4.4 Cơ chế xâm nhiễm gây bệnh của virus cúm A trong tế bào vật chủ 23

1.4.5 Độc lực và khả năng gây bệnh của virus cúm gia cầm 25

1.4.6 Triệu chứng lâm sàng của gia cầm mắc bệnh cúm 26

1.4.7 Bệnh tích của gia cầm mắc cúm gia cầm 27

1.5 Chẩn đoán bệnh 28

1.5.1 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học 28

1.5.2 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích 28

1.5.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 28

1.6 Vacxin phòng bệnh cúm gia cầm 29

1.6.1 Tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm trên thế giới 31

1.6.2 Tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm ở Việt Nam 32

Trang 5

1.7 Nguyên lí phản ứng Real time PCR 32

Chương 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.2 Địa điểm nghiên cứu 35

2.3 Nội dung nghiên cứu 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu 35

2.4.1 Nguyên liệu 35

2.4.2 Các bước tiến hành phản ứng Real time – PCR 36

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 39

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Kết quả điều tra vị trí địa lý và tình hình buôn bán gia cầm tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn 40

3.2 Tình hình tiêm vacxin cúm A/H5N1 tại một số huyện của tỉnh Lạng Sơn 44

3.3 Nghiên cứu, lựa chọn mẫu giám sát tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn 47

3.4 Kết quả xác định virus cúm type A trong các mẫu thu thập được 50

3.5 Kết quả xác định virus cúm H5 trong các mẫu thu thập được 56

3.6 Kết quả xác định virus cúm N6 trong các mẫu thu thập được 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61

KẾT LUẬN 61

ĐỀ NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

AI : Avian Influenza

CT : Cycle of threshold

DNA : Acid Deoxyribo Nucleic

GDP : Gross Domestic Product

PB2 : Polymerase basic protein 2

PBS : Phosphate Buffered Saline

PCR : Polymerase Chain Reaction

RNA : Ribonucleic Acid

RNP : Ribonucleoprotein

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

2.1 Master mix cho lượng phản ứng là 15µl với Invitrogen Superscript

III platinum one-step qRT-PCR kit (No.11732-020) 38

3.1 Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm 41

3.2 Nguồn gốc gia cầm được buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn 44

3.3 Kết quả tiêm vacxin cúm A/H5N1 tại một số huyện của tỉnh Lạng Sơn 45

3.4 Số lượng mẫu được thu thập tại các chợ tiến hành lấy mẫu lấy mẫu 48

3.5 Số lượng mẫu thu thập được theo 12 tháng tại 5 chợ nghiên cứu 49

3.6 Số lượng mẫu thu thập được theo loài gà, vịt và ngan 50

3.7 Kết quả xác định virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn theo 3 đối tượng là gà,vịt, ngan 51

3.8 Kết quả xác định virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn 52

3.9 Diễn biến sự lưu hành của virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn theo tháng 54

3.10 Kết quả xác định tỷ lệ giữa virus cúm H5 và virus cúm A 56

3.11 Kết quả xác định tỷ lệ giữa virus cúm N6 và virus cúm H5 57

3.12 Kết quả xác định sự lưu hành virus cúm A/H5N6 tại 5 chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 58

Trang 8

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH, SƠ ĐỒ VẢ ẢNH

Số bảng Tên hình, biểu đồ Trang

1.1 Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm 14

1.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A 17

1.3 Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A ở tế bào chủ

(Beard, 1998) 24

1.4 Cơ chế hoạt động của Taqman probe 33

3.1 Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm 42

3.2 Kết quả tiêm phòng vacxin cúm gia cầm cho đàn gia cầm tại 3

huyện/TP có các chợ tiến hành lấy mẫu trong năm 2014 47

3.3 Kết quả xác định virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn

theo 3 đối tượng là gà, vịt, ngan 51

3.4 Tỷ lệ dương tính với virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn 53

3.5 Diễn biến lưu hành virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn

theo các tháng trong năm 2014 55

3.6 Kết quả xác định tỷ lệ giữa virus cúm H5 và virus cúm A 56

Trang 9

MỞ ĐẦU ĐẶT VẤN ĐỀ

Cúm gia cầm đã xuất hiện ở nước ta trong hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là cúm A/H5N1, kể từ khi xuất hiện, nó ngày càng phát triển mạnh và có những diễn biến hết sức phức tạp Nó đã gây ra những thiệt hại không hề nhỏ tới nền kinh tế, môi trường sống, và nhất là ngành chăn nuôi ở nước ta

Cúm gia cầm cầm là bệnh truyền nhiễm cấp tính có tính lây lan nhanh do

một loài virus thuộc họ Othormyxoviridae gây ra Bệnh xuất hiện lần đầu tiên và

bùng phát thành dịch ở nước ta vào cuối tháng 12/2003 Đầu tiên, virus cúm

A/H5N1 xuất hiện ở Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Long An, Tiền Giang và lây lan

rất nhanh Chỉ trong vòng 2 tháng, từ lúc xuất hiện đến ngày 27/2/2004, dịch đã xuất hiện ở 57 tỉnh thành với 2574 xã phường của 381 huyện thị có dịch Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy lên tới 58,66 triệu con (chiếm 16,71% tổng đàn trên cả nước) Đặc biệt nghiêm trọng trong đợt dịch này lưu hành: có đến 50 người nhiễm cúm A/H5N1 và có trên 20 bệnh nhân tử vong, phần lớn là trẻ em Ngoài ra nhà nước còn chi hàng trăm tỷ đồng cho công tác chống dịch Một số vùng tuy không có dịch nhưng việc duy trì đàn gia cầm rất khó khăn, đặc biệt đối với cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô lớn do không tiêu thụ được gia cầm, sản phẩm gia cầm Dịch cúm đầu năm 2004 đã giảm 0,5% tăng trưởng GDP quốc gia, tương đương trên ba nghìn tỷ đồng

Năm 2014, virus cúm chủng H5N6 lần đầu tiên được phát hiện gây bệnh trên gia cầm và gây chết người tại tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc Tháng 8 năm

2014, Cục Thú y cũng lần đầu tiên phát hiện cúm A/H5N6 trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể là trên đàn gà tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và trên đàn vịt tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Sau khi phát hiện virus cúm A/H5N6 tại Lạng Sơn và Hà Tĩnh, Cục Thú y cho biết, virus cúm A/H5N6 tiếp tục được phát hiện

ở các tỉnh khu vực miền Trung như: Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi Nhận thấy, virus cúm A/H5N6 có độc lực cao, có khả năng lây lan nhanh và nguy hiểm khi có khả năng lây trực tiếp sang người, vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài:

Trang 10

“Nghiên cứu sự lưu hành virus cúm A/H5N6 trên đàn gia cầm và ứng dụng

phương pháp Real time - PCR trong chẩn đoán bệnh”

MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

- Góp phần xác định sự lưu hành của virus cúm type A/H5N6 tại Lạng Sơn

- Ứng dụng phương pháp Real time – PCR trong chẩn đoán bệnh

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Là một trong những cơ sở để biết thêm về dịch tễ học của bệnh đồng thời đánh giá công tác vệ sinh, kiểm dịch và phòng bệnh

- Đưa ra khuyến cáo hợp lý trong lấy mẫu xét nghiệm, hỗ trợ chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác về bệnh cúm gia cầm H5N6

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm bệnh cúm gia cầm

Cúm gia cầm có tên khoa học là Avian influanza, là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây ra bởi virus cúm type A thuộc họ Orthomyxovirideae gây ra với

nhiều subtype khác nhau (Alexander, 1993) Đây là tác nhân gây bệnh nguy hiểm

và nghiêm trọng trên gia cầm, dã cầm, động vật có vú khắp thế giới và có thể lây sang cho người gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi nói riêng và kinh tế mỗi quốc gia nói chung Bệnh cúm gà đặc trưng với tỷ lệ ốm và chết nhanh, cao có đàn tỷ lệ chết 100% với các triệu chứng sốt cao và những biểu hiện bệnh lý đặc

chưng ở các cơ quan

Trước đây, bệnh được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), nhưng từ Hội

nghị quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville (Mỹ) năm 1981 đã

thay thế tên này bằng tên Highly pathogenic avian influenza – HPAI Tên này

dùng để chỉ các virus cúm type A có độc lực mạnh, lây lan nhanh và có tỷ lệ tử vong cao Tổ chức Thú y (OIE, 2003) đã xếp HPAI thuộc danh mục A, là 1 trong

15 bệnh nguy hiểm ở động vật

1.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm trên thế giới

1.2.1 Tình hình chung

Cúm gia cầm lần đầu được phát hiện ở Italia vào năm 1878 với tên gọi là

dịch hạch gà (Fowl plague) (Stubb et al., 1965) nhưng mãi tới năm 1901 mới xác

định được yếu tố gây bệnh là căn nguyên siêu nhỏ có khả năng qua màng lọc và tới năm 1955 mới xác định được nguyên nhân chính xác nguyên nhân gây bệnh cúm gia cầm là virus cúm type A thông qua kháng thể bề mặt A/H7N1 và A/H7N7 gây

chết nhiều ở gà và gà tây và các loại động vật khác (Beard et al., 1998)

Đã xuất hiện 8 đại dịch cúm trong thế kỷ XVII, 5 đại dịch trong thế kỷ

XX Đại dịch cúm lần đầu tiên được xác nhận đã xảy ra vào những năm 1510 và

1580 Kể từ đó đến năm 2003, trên toàn thế giới có nhưng đợt dịch lớn như:

- Năm 1918 – 1919, một đại dịch cúm đã nổ ra với mức độ trầm trọng đã

Trang 12

có các phương pháp phòng thí nghiệm để giám định tác nhân gây bệnh Các số liệu có sức thuyết phục sau này cho thấy đại dịch này do virus cúm type A/H1N1

- Cúm Châu Á – Asian Flu do virus cúm type A/H2N2 gây nên, bắt đầu từ Hong Kong năm 1957

- Cúm Hong Kong – Hong Kong Flu do virus cúm type A/H3N2, xảy ra năm 1968

- Cúm Nga – Russia flu do virus cúm type A/H1N1 xảy ra năm 1977 Trong dó, đại dịch cúm Châu Á và Hong Kong, người ở mọi lứa tuổi đều mắc và tỷ lệ tử vong cao đặc biệt đối với người trên 65 tuổi và người có tiền sử mắc bệnh tim phổi (Kilbourne, 2006)

Chủng virus cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên

gà tại Scotland vào năm 1959 và có thể là biến thể H5N1 đầu tiên trên thế giới Năm 1997 ở Hong Kong, lần đầu tiên virus cúm gia cầm H5N1 đã gây

ra ổ dịch trên gia cầm và lây sang người làm 18 người nhiễm bệnh, 6 người chết và hàng triệu gia cầm đã bị tiêu hủy nhằm ngăn chặn dịch lây lan Đây là

lần đầu tiên virus cúm A/H5N1 gây bệnh trên người (Wu et al., 2008)

Từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2004, bệnh cúm gia cầm đã liên tiếp xảy ra với quy mô lớn ở 10 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á: Việt Nam, Thái Lan, Lào, Camphuchia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Pakistan, Trung Quốc, Đài Loan Các chủng virus gia cầm độc lực cao đã được phân lập và định type, chủ yếu là chủng H5N1 Riêng ở Đài Loan chủng virus phân lập được là H5N2 và ở Pakistan là H5N3 và H9N2 Theo thống kê có khoảng 120 triệu gia cầm bị nhiễm bệnh và nằm trong vùng dịch phải tiêu hủy, cũng có hàng trăm

người bị nhiễm bệnh trong đó 23 người bị chết trong đợt dịch này

Trong năm 2006, đã có hơn 36 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 Đến năm 2007, có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới báo cáo xuất hiện dịch cúm trên gia cầm do virus H5N1, đặc biệt là tại Indonesia, dịch cúm gia cầm dây dưa kéo dài Các nước khác trong khu vực như Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan cũng đã tái phát dịch

Trang 13

Các quốc gia có ngành chăn nuôi tiên tiến như Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia ở châu Âu như Nga, Hungari, Rumani, Anh cũng ghi nhận có các ổ dịch trên gia cầm

Năm 2008 có 16 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo phát hiện các ổ dịch cúm bao gồm : Ukraina, Anh, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Sĩ, Liên bang Nga, Isarel, Pakistan, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đặc khu kinh tế Hong kong, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam

Dịch cúm gia cầm ngày càng lan rộng với diễn biến phức tạp Năm 2009 dịch cúm gia cầm phát ra tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngoài thiệt hại về kinh tế tính đến năm 2009 đã có 423 người nhiễm và 258 người tử vong (Ivanlarrendelle, “ Cúm gia cầm”, bách khoa toàn thư Whikipedia)

Tám tháng đầu năm 2010, dịch cúm gia cầm phát ra trên 16 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam

Trước tình hình đó cả thế giới liên kết lại đề ra nhiều biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm, nhiều hội nghị tổ chức nhằm thảo luận và tìm ra biện pháp kiểm soát dịch bệnh không riêng mỗi quốc gia mà là khu vực và toàn cầu Đáng chú ý khu vực Đông Nam Á do mật độ chăn nuôi gia cầm cao nên đây vẫn

đã, đang và sẽ là một điểm nóng về cúm gia cầm, trong đó những nước như Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia là các quốc gia có nguy cơ tái bùng phát dịch cúm gia cầm cao

Chủng virus cúm type A/H5N6 đã từng được phát hiện ở vịt trời và chim hoang dã tại Thụy Điển, Đức, Mỹ và Đài Loan Chủng virus này lần đầu được phát hiện gây bệnh trên gia cầm vào tháng 4 năm 2014 tại Tứ Xuyên, Tây Nam, Trung Quốc, cơ quan chức năng đã phải tiêu hủy 1.338 con gia cầm Gà ở các khu vực gần đó được giám sát chặt chẽ, song lực lượng chức năng cũng không phát hiện thêm điều gì bất thường Cũng tại đây, lần đầu tiên một người đàn ông

49 tuổi tử vong do mắc chủng virus cúm A/H5N6

Vào tháng 7 năm 2014, tại tỉnh Luang Prabang, Lào cũng đã phát hiện các mẫu gia cầm dương tính với virus cúm A/H5N6 nhưng không gây bệnh lâm sàng

Trang 14

Tháng 9/2014, phòng thí nghiệm về cúm gia cầm của Trung Quốc tiếp tục phát hiện các ổ dịch cúm A/H5N6 tại thành phố Cáp Nhĩ Tân, thủ phủ tỉnh Hắc Long Giang, Đông Bắc Trung Quốc Theo giới chức Trung Quốc, hơn 23.000 con ngỗng tại 3 trang trại ở thành phố Cáp Nhĩ Tân đã chết trong vòng ít ngày gần Các mẫu xét nghiệm sau đó cho thấy nguyên nhân của tình trạng chết hàng loạt gia cầm này là do virus cúm A/H5N6 Khu vực có dịch đã được cách ly và khử trùng với gần 70.000 con gia cầm có nguy cơ mắc cúm đã bị tiêu hủy

Theo Tổ chức Thú y thế giới, virus cúm A/H5N6 là chủng virus có độ độc cao nhưng chưa có bằng chứng lây truyền từ người sang người

1.3 Tình hình cúm ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình chung

Bệnh cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 (Bùi Quang Anh, 2005) do virus cúm gia cầm H5N1 độc lực cao (HPAI) gây ra Sau đó liên tục tái phát và thường vào lúc chuyển mùa, nhất là vụ Đông – Xuân Theo Cục Thú y, tính đến năm 2010 thì có 6 đợt dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra:

- Đợt 1: từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2004: dịch bệnh đã xảy ra ở 2.574 xã, phường, 381 huyện, 57 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 43,9 triệu con (gà: 30,4 triệu; thủy cầm: 13,5 triệu) Trong năm 2003 có 3

ca tử vong ở người do virus cúm H5N1

- Đợt 2: từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004: dịch phát ra rải rác với quy

mô nhỏ ở các hộ gia đình chăn nuôi gia cầm, bệnh xuất hiện ở 46 xã, phường tại 32 huyện, quận, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành Thời gian cao điểm nhất là tháng 7, sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng

số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 84.078 con (gà: 55.999, vịt: 8.132)

Trong năm 2004, có 29 ca H5N1 ở người, có 20 ca tử vong

- Đợt 3: từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2004 đến tháng 5/2005: dịch đã xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố Số gia cầm tiêu hủy là 470.495, 825.689 vịt, ngan Trong năm 2005, có 61 ca bị nhiễm virus cúm

A/H5N1 ở người, trong đó có 19 ca tử vong

Trang 15

- Đợt 4: từ tháng 10/2005 đến 1/2006: dịch xảy ra ở cả 3 miền với 24 tỉnh, thành tái phát Tổng số gia cầm tiêu hủy là 3.972.763 con, trong đó gà:

1.338.523; thủy cầm và loài khác: 2.135.081

- Đợt 5: bắt đầu kéo dài trong suốt năm 2007 Dịch không tập chung mà rải

rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia nhiều đợt:

+ Từ 12/2006 đến thang 3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của 33 quận, huyện thuộc 11 tỉnh, thành Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 294.894 con (21.525 gà, 264.549 vịt và 8.775 ngan) Sau khi bị khống chế trong vòng 1 tháng, đến tháng 10/2007, dịch lại tái phát ở 15 xã, phường của 9 huyện,

- Năm 2009, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 68 xã, phường, thị trấn của 34 huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy trên 127.000 con Năm 2009 có 5 ca mắc H5N1 ở người bà tỷ lệ tử vong là 100%

- Năm 2010, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở ít nhất 63 xã, phường của 37 huyện, quận thuộc 24 tỉnh, thành phố, làm hơn 76.000 con gia cầm mắc bệnh, chết và buộc phải tiêu hủy, trong đó chủ yếu là vịt (chiếm hơn 70%) Trong năm

Trang 16

ra mạnh nhất với 14 xã/phường của 5 huyện/thị xã với tổng số gia cầm buộc tiêu hủy là 48.783 con (chiếm 30,92%), số gia cầm mắc bệnh là 44.432 con (chiếm 38,07%), sau đó đến các tỉnh Nghệ An, Quảng Trị (Nguyễn Ngọc Tiến, 2013)

- Bệnh cúm gia cầm năm 2012

Năm 2012 dịch bệnh cúm gia cầm diễn biến phức tạp hơn với những biến đổi nhiều về cấu trúc gen và độc lực Năm 2012 tăng mạnh về số tỉnh/thành phố có dịch xảy ra, với 32 tỉnh/thành phố Tổng số 296 xã/phường của 112 huyện/quận có dịch Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 616.109 con trong đó có 117.946 con gà (chiếm 19,14%), 479.859 vịt (chiếm 77,89%) và 18.304 ngan (chiếm 2,97%) Tỉnh Quảng Ngãi xảy ra dịch mạnh nhất với 34 xã/phường của 8 huyện/thị xã với 12.220 con gia cầm mắc bệnh (chiếm 4,21%), số gia cầm buộc phải tiêu hủy là 105.515 con (chiếm 17,50%), sau đó là các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An (Nguyễn Ngọc Tiến, 2013)

- Bệnh cúm gia cầm năm 2013

Tháng 1/2013 tại tỉnh Tây Ninh dịch cúm gia cầm xuất hiện tại hai hộ gia đình thôn Bàu Tép, xã Tiên Thuận, huyện Bên Cầu và ấp Cỏ Đỏ, xã Bình Minh, tỉnh Tây Ninh Tổng số gia cầm chết và tiêu hủy tại Tây Ninh là 3.438 con Tháng 2/2013, tại Khành Hòa có trên 10.000 gà vịt bị bệnh cúm phải tiêu hủy Tháng 3/2013, dịch cúm gia cầm xảy ra ở Bình Định, có trên 78.500 con vịt chết hoặc tiêu hủy Theo chi cục Thú y tỉnh Cà Mau, trong hai tháng đầu năm 2013 trên địa bàn tỉnh Cà Mau có ba ổ dịch cúm gia cầm tại xã Trần Hợi (huyện Trần Văn Thời), xã Tân Phú (huyện Thới Bình), xã An Xuyên (Tp Cà Mau)… Cũng trong tháng 3 năm 2013, mặc dù tại tỉnh Đồng Tháp chưa xảy ra dịch cúm A/H5N1, nhưng qua kiểm tra 72 mẫu xét nghiệm gia cầm tại các chợ

ở Đồng Tháp, nghành chức năng đã phát hiện 24 mẫu dương tính với virus cúm A/H5N1, chiếm tỷ lệ 33,3% Ngoài ra một trường hợp tử vong được xác định do nhiễm virus cúm này là một cháu bé 4 tuổi Tháng 4/2013, cơ quan thú y vùng 6 đã phối hợp với chi cục thú y Ninh Thuận lấy mẫu chim yến chết

để xét nghiệm, kết quả cho thấy trong một số mẫu chim chết tại Ninh Thuận

có dương tính với virus cúm A/H5N1

Trang 17

- Bệnh cúm gia cầm năm 2014

Đến ngày 4 tháng 3 năm 2014 cả nước còn 63 ổ dịch cúm gia cầm tại

22 tỉnh, toàn bộ số gia cầm trong đàn mắc bệnh đã được địa phương tiêu hủy Qua phân tích cho thấy trong năm 2014, virus cúm A/H5N1 nhánh 1.1 đã được phát hiện tại ổ dịch trên gà tại Long An, Kiên Giang và Cà Mau, hầu hết các ổ dịch trên gia cầm (gà, vịt, ngan) tại các tỉnh khác do virus cúm H5N1 nhánh 2.3.2.1C Từ 2/4 đến 15/4/2014, 5 tỉnh cuối cùng có ổ dịch bao gồm Khánh Hòa, Vĩnh Long, Hà Giang, Bình Thuận và Bến Tre các địa phương này đã công bố hết dịch

Các ổ dịch xảy ra chủ yếu trên đàn gia cầm nuôi tại các hộ gia đình và được chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn thú y phát hiện và xử lý kịp thời nên chưa có hiện tượng lây lan rộng Trung bình mỗi tỉnh có 3 ổ dịch xảy ra tại 2 huyện Riêng các tỉnh Khánh Hòa và Lào Cai có số lượng lớn gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy trên 10.000 con/tỉnh

Cuối tháng 4/2014 phát hiện ổ dịch H5N6 trên 1 đàn gà tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tháng 6/2014 xuất hiện ổ dịch H5N6 tại huyện

Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trên 1 đàn vịt 1.900 con Huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai có báo cáo ngày 15/8/2014 phát hiện 1 đàn chim trĩ 558 con, đã nuôi được hơn 2 năm, chết rải rác 498 con Chi cục thú y Lào Cai đã tiến hành tiêu hủy ngay số chim trĩ còn lại (60 con) Từ 15/8 đến 22/8/2014 tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị dịch cúm đã xảy ra trên đàn vịt của 2 hộ chăn nuôi gồm 1.550 con từ 12 – 14 ngày tuổi, chết khoảng 350 con Ngày 23/8/2014 tại huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện ổ dịch cúm H5N6 trên 1 đàn vịt 1.100 con, chết 200 con Ngày 13/9/2014 dịch cúm H5N6 xảy ra trên 1 đàn vịt của 1 hộ xã Tịnh Đông, Tp.Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi với số vịt măc bệnh

là 1000 con và số chết là 300 con Tỉnh Quảng Nam là nơi công bố ổ dịch cuối cùng ngày 14/9/2014 trên đàn vịt với số mắc bệnh là 2.000 con, số chết là 600 con Ngày 09/12/2014 hiện tại cả nước có 3 hộ thuộc 03 xã, 03 huyện của tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh xảy ra dịch bệnh Tổng số gia cầm mắc bệnh : 987 con

Trang 18

H5N6 tại thôn Lâm Lộc Bắc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi: Tổng đàn chim cút là 12.000 con, số chết là 2.965 con chim cút

- Bệnh cúm gia cầm 6 tháng đầu năm 2015

Theo báo cáo, Chi cục Thú y tỉnh Cà Mau đã phát hiện 01 hộ chăn nuôi gia cầm tại Ấp 3 của xã Khánh Hội thuộc huyện U Minh có gia cầm mắc bệnh cúm H5N1 Số gia cầm chết là 260 con trong tổng đàn 824 con gồm 675 con gà

và 149 con vịt

Chi cục Thú y tỉnh Sóc Trăng đã phát hiện và phối hợp với chính quyền địa phương tiêu hủy đàn gà trên 2 tháng tuổi, 1100 con, bị mắc bệnh cúm gia cầm H5N1 tại Ấp 1, xã Đại Hải, huyện Kế Sách Ngày 23/02/2015 địa phương đã tiêu hủy đàn gà

Theo báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh Vĩnh Long, địa phương đã phát hiện

ổ dịch cúm gia cầm trên đàn vịt 2 tháng tuổi, chưa tiêm phòng vắc xin, gồm 1600 con của 01 hộ chăn nuôi ở ấp Phước Trinh A, xã Bình Phước, huyện Mang Thít Ngày 13/3/2015 địa phương đã tiêu hủy đàn vịt

Ngày 12/3/2015, dịch Cúm gia cầm do chủng vi rút H5N6 đã xảy ra tại 02

hộ chăn nuôi thuộc thôn 2, xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia làm 353 con gia cầm mắc bệnh (250 con vịt, 103 con gà) Toàn bộ đàn gia cầm mắc bệnh tại 02 hộ chăn nuôi trên và gia cầm của 14 hộ xung quanh (670 con) đã được tiêu hủy Ngày 02/4/2015 đã phát hiện 01 ổ dịch cúm gia cầm H5N6 tại 01 hộ thuộc thôn Dinh, xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp Nghệ An Từ 02-04/4 toàn bộ đàn gia cầm mắc bệnh và một số đàn gia cầm có liên quan (tổng cộng 318 con) đã bị tiêu hủy

Ngày 05/4/2015 đã phát hiện 01 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 tại 01 hộ thuộc thôn Nhơn Phú, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Tổng đàn gồm 900 con gà, trong đó số gà mắc bệnh là 650 con, số chết là 399 con Ngày 08/4/2015 toàn bộ đàn gà mắc bệnh đã được tiêu hủy

Ngày 25/4/2015 đã phát hiện 01 ổ dịch cúm gia cầm H5N6 tại 01 hộ thuộc thôn Phù Đê, xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tổng đàn gia cầm 1.606 con, tổng số gia cầm chết và tiêu hủy từ ngày 15/4-25/4/2015 là 1.606 con

Trang 19

(bao gồm 1458 con vịt, 96 con gà và 25 con ngỗng) Đến nay chưa xuất hiện thêm ổ dịch mới nào

(http://www.cucthuy.gov.vn)

1.3.2 Tình hình cúm H5N6 ở Việt Nam

Cục Thú y Việt Nam đã chính thức báo cáo tới Tổ chức Thú y thế giới (OIE) về việc lần đầu tiên phát hiện chủng virus cúm gia cầm H5N6 tại 2 tỉnh Hà Tĩnh và Lạng Sơn Cụ thể, virus cúm A/H5N6 được phát hiện trên đàn gà 10 tháng tuổi ở thôn Kéo, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Virus này cũng được phát hiện trên đàn vịt 1.900 con tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Ðó

là lần đầu tiên Việt Nam tìm ra sự hiện diện của virus H5N6 trên lãnh thổ của mình Sau khi tiến hành xét nghiệm, giải trình tự gen các mẫu virus cúm ở đây cho thấy, có sự tương đồng tới 99% với chủng virus H5N6 lây sang người và làm một người tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc thiệt mạng hồi tháng 4 năm nay Ngày 15/8/2014, Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương báo cáo phát hiện virus cúm A/H5N6 trên đàn chim trĩ đỏ 558 con của 01 hộ chăn nuôi ở thôn Phú Cường II thuộc thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, (mẫu được lấy vào ngày 11/8/2014) Đến ngày 21/8/2014, kết quả giải trình tự gen đã khẳng định ổ dịch trên chim trĩ tại Lào Cai là do virus cúm A/H5N6 gây ra

Cùng khoảng thời gian đó, tại Quảng Trị, từ ngày 15-22/8/2014, dịch cúm gia cầm H5N6 đã xảy trên đàn vịt hơn 1.500 con (12-14 ngày tuổi) ở một hộ chăn nuôi tại thôn Xuân Mỵ, xã Trung Hải, huyện Gio Linh Số vịt mắc bệnh, chết khoảng 350 con

Trong khi đó, tại Quảng Ngãi, ngày 23/8/2014, phát hiện ổ dịch cúm trên đàn vịt 1.100 con (trong đó chết 200 con) tại hộ chăn nuôi ở thôn Đồng Nhơn Nam (xã Tịnh Đông, huyện Sơn Tịnh) Đàn vịt bị phát bệnh sau khi tiêm phòng vacxin cúm gia cầm Kết quả xét nghiệm dương tính với virus cúm H5N6 Chi cục Thú y đã tiến hành tiêu hủy đàn vịt mắc bệnh và áp dụng các biện pháp chống dịch Tuy nhiên, đàn gia cầm mắc dịch ở thôn Đồng Nhơn Nam được xác định có nguồn gốc từ chợ giống gia cầm Đại Xuyên (Phú Xuyên, Hà Nội)

Trang 20

Sau đó, vào ngày 13-9, dịch cúm gia cầm H5N6 tiếp tục gây bệnh tại đây Đây là lần thứ 2 trong năm nay, dịch cúm gia cầm H5N6 được phát hiện tại tỉnh Quảng Ngãi (lần thứ nhất, xảy ra vào ngày 23-8)

Ngày 14/9/2014, dịch cúm gia cầm H5N6 đã xảy ra tại 1 hộ nuôi vịt ở thôn Phú Qúy 3, xã Tam Mỹ Đông, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Số gia cầm mắc bệnh, trong đó số chết 600 con Chi cục Thú y tỉnh Quảng Nam đã phối hợp với chính quyền địa phương tiêu hủy toàn bộ số gia cầm mắc bệnh

Năm 2015, Chi cục Thú y (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh

Hà Nam), trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm H5N6 tại gia đình ông Nguyễn Văn Thản, thôn Phù Đê, xã Tượng Lĩnh huyện Kim Bảng

Từ ngày 12 đến ngày 15/4, bắt đầu có hiện tượng gia cầm chết rải rác, số lượng ngày một tăng lên Ngay sau khi nhận được tin báo từ phía gia đình ông Thản vào ngày 15/4, Chi cục Thú y cùng phòng Nông nghiệp huyện Kim Bảng đã

về kiểm tra tại gia đình ông Thản Tại thời điểm kiểm tra, đã có thêm 301 con gia cầm bị chết trong chuồng, tiêu hủy khoảng 1600 con Trước tình hình đó, Chi cục Thú y tỉnh Hà Nam đã lấy mẫu bệnh phẩm và hướng dẫn gia đình tiêu hủy số gia cầm chết, đồng thời phun khử trùng tiêu độc khu vực chuồng trại chăn nuôi tại gia đình ông Thản Tuy nhiên, các mẫu bệnh phẩm gửi đi xét nghiệm đều âm tính với virus H5N1 Nhưng hiện tượng gia cầm chết vẫn diễn

ra, trong các ngày 17 và 22/4, Chi cục Thú y đã mời Giám đốc thú y vùng, Giám đốc cơ quan chẩn đoán thú y Trung ương về khám và lấy mẫu bệnh phẩm tiếp tục xét nghiệm Ngày 25-4 kết quả xét nghiệm dương tính với virus cúm gia cầm H5N6

Ngày 12/3, Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa phát hiện ổ dịch cúm gia cầm tại hộ gia đình ông Lê Đăng Nhất (ở thôn 2, xã Hải Lĩnh) Chi cục Thú y đã lấy mẫu đi xét nghiệm tại Cơ quan Thú y vùng 3 Theo đó, mẫu bệnh phẩm trên dương tính với virus cúm A/H5N6 Hiện đã tiêu hủy 1.023 con gia cầm (gà, vịt) của 15 hộ xung quanh nơi phát hiện ổ dịch

Cuối tháng 3/2015, đã xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 ở gia đình

vợ chồng anh Trần Kim Chung và chị Lã Thị Thủy tại xã Nghĩa Xuân (huyện

Trang 21

miền núi Quỳ Hợp, Nghệ An) Chi cục Thú y tỉnh Nghệ An cùng lực lượng chức năng huyện Quỳ Hợp tiêu hủy hơn 300 con gà Ngày 28-3, anh Chung bị cảm, sốt cao Hai ngày sau, vợ của anh Chung là chị Thủy cũng bị ho, cảm, sốt cao Người thân anh Chung nghi ngờ vợ chồng anh bị nhiễm cúm gia cầm nên đã đưa hai vợ chồng ra Hà Nội cấp cứu, điều trị Tuy nhiên, Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương (Hà Nội) xét nghiệm cho thấy, vợ chồng anh Chung chỉ bị cúm thông thường, âm tính với cúm gia cầm A/H5N6

1.4 Cúm gia cầm và đặc điểm của cúm gia cầm

Cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính

của gia cầm, do nhóm virus cúm type A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Đây

là nhóm virus có biên độ vật chủ rộng, được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên 2 kháng nguyên bề mặt capsid của hạt virus là HA và NA (De Wit, 2008) Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 subtype NA (từ N1 đến N9) Sự tổ hợp (reassortment) giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàng đột biến gen/hệ gen (đặc biệt ở gen HA và NA), hoặc trao đổi các gen kháng nguyên với nhau, trong quá trình xâm nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ dẫn đến việc tạo nên nhiều subtype có độc tính và khả năng gây bệnh khác nhau

Họ Orthomyxoviridae đã được phát hiện bao gồm 4 nhóm virus, đó là: nhóm

virus cúm A (Influenza A), nhóm virus cúm B (Influenza B), nhóm virus cúm C (Influenza C), và nhóm Thogotovirrus Các nhóm virus khác nhau bởi các kháng nguyên bề mạt capsid, ơ virus cúm A và B là Hemagglutinin (HA), ở virus cúm

C là Hemagglutinin Esterase Fusion (HEF), và ở Thogotovirrus là Glycoprotein

(GP) (Ito et al., 1998; Murphy and Webster, 1996)

1.4.1 Đặc điểm sinh học phân tử của virus cúm gia cầm

Hình thái và cấu trúc của virus cúm gia cầm type A được Kawaoka và Murphy (1988) mô tả khá chi tiết Qua kính hiển vi điện tử, virion có dạng hình khối tròn, hình trứng hoặc dạng khối dài, đường kính khoảng 80 – 120 nm Nhiều

Trang 22

khi virus có dạng hình sợi dài tới vài µm Phân tử lượng của hạt virus vào khoảng

250 triệu Dalton

Hình 1.1 Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm

Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền RNA của virus, bản chất cấu tạo là màng lipit kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm được đặc hiệu hóa gắn vào các protein màng của virus Trên bề mặt có khoảng

500 “gai mấu” nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10 – 14 nm

có đường glycoprotein gồm: HA, NA, MA (matrix) và các dấu ấn khác của virus (Bender et al., 1999; Zhao et al., 2008) Có sự phân bố không đồng đều giữa các

phân tử NA và HA (tỷ lệ khoảng 1NA/4HA), đây là 2 loại protein kháng nguyên

có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của virus ở tế bào cảm nhiễm

(Murphy and Webster, 1996; Uiprasertkul et al., 2007)

Hệ gen của virus cúm A là RNA sợi đơn âm (viêt tắt là (-) ssRNA), gồm 8 phân đoạn riêng biệt (HA, NA, M, NS, NP, PA, PB1 và PB2) nối với nhau thành 1 sợi duy nhất bên trong vỏ capsid, mã hóa cho 11 protein tương ứng của virus, trong

đó phân đoạn M mã hóa cho 2 protein là M1 và M2; phân đoạn NS mã hóa cho 2 protein là NS và NEP; phân đoạn PB1 mã hóa cho 2 protein là PB1 và PB1-F2 (Ito

- Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein

enzyme PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzyme polymerasa của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính tán khoảng 84.103 Da (trên thực tế là 87,103 Da)

Trang 23

(Murphy and Webster, 1996) Tính thích nghi nhiệt độ cơ thể loài vật chủ được cho là có liên quan đến vị trí amino acid 627 ở protein PB2 (ở virus cúm gia cầm

vị trí này là Glu - thích ứng nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng 400C, còn ở virus thích nghi trên người là Lys - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng 370C)

(Subbarao et al., 1998; Wang et al., 2009)

- Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp

enzyme PB1- tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzyme promerase trong quá trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA (Murphy and Webster, 1996) Gần đay, đã có phát hiện thêm 1 protein (PB1-F2) được mã hóa bởi 1 khung đọc mở khác nhau của PB1, có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis (hiện

tượng tế bào chết theo chương trình) (Tumpey et al., 2002)

- Phân đoạn 3 (gen PA) kích thước 2233 bp, là phân đoạn gen bảo tồn cao,

mã hóa tổng hợp protein enzyme PA có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 83000 Da (trên thực tế là 96.103Da) PA là một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợp

RNA của virus (Luong and Palese, 1992)

Các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein (HAvà NA) bề mặt capsid

của virus, có tính kháng nguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A:

- Phân đoạn 4 (gen HA) có độ dài thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở

A/H1N1 là 1778 bp, ở H9N1 là 1714 bp, H5N1 là khoảng 1704 - 1707 bp) Đây

là gen chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợp protein HA, gồm hai tiểu phần là HA1

và HA2 Vùng nối giữa HA1 và HA2 gồm một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắt cắt của enzyme

protease, đây là vùng quyết định độc lực của virus (Bosch et al., 1981; Gambotto

được oxy hóa) và 77.103 Da (nếu được oxy hóa, trong đó HA1 là 48.103 Da và

HA2 là 29.103 Da) (Keawcharoen et al., 2005; Luong and Palese, 1992)

- Phân đoạn 6 (gen NA), là một gen kháng nguyên của virus, có chiều dài

thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi

Trang 24

protein NA - kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử khoảng 50.103 Da

Các phân đoạn gen M, NP, NS mã hóa tổng hợp các protein chức năng khác nhau của virus, có độ dài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A, bao gồm:

- Phân đoạn 5 (gen NP) kích thước khoảng 1556 bp, mã hóa tổng hợp

nucleoprotein (NP) - thành phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận

chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ

- Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước 1027 bp, mã hóa cho protein đệm

(matrix protein - M) của virus Có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt capsid của virus Protein M1 là protein nền, là thành phần chính của virus có chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia vào quá trình " nảy chồi" của virus (Luong and Palese, 1993; Murphy and Webster, 1996; Basler, 2007) Protein M2 là chuỗi polypeptide bé, có khối lượng phân tử theo tính toán là 11.103 Da, là protein chuyển màng – kênh ion (ion channel) cần thiết cho khả năng lây nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi áo” virus trình diện hệ gen ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ

(Scholtissek et al., 2002)

- Phân đoạn 8 (gen NS), là gen mã hóa protein không cấu trúc (non

structural protein), có độ dài ổn định nhất trong hệ gen mã của virus cúm A, kích thước khoảng 890 bp, mã hóa tổng hợp hai protein là NS1 và NS2, có vai trò bảo

vệ hệ gen của virus

Như vậy, virus cúm A có hệ gen được cấu trúc từ 8 phân đoạn riêng biệt và không có gen mã hóa enzyme sửa chữa RNA, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện các đột biến điểm trong các phân đoạn gen/hệ gen qua quá trình sao chép nhân lên của virus, hoặc trao đổi các phân đoạn gen giữa các chủng virus cúm đồng nhiễm trên cùng một tế bào, rất có thể dẫn đến thay đổi tính kháng nguyên tạo nên chủng virus cúm A mới (Suarez and Schultz-Cherry, 2000)

Trang 25

Hình 1.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A

1.4.2 Kháng nguyên của virus cúm gia cầm

Virus cúm type A được xác định subtype dựa trên cơ sở kháng nguyên (protein) bề mặt là HA (Hemagglutinin – viết tắt là H) và NA (Neuraminidase – viết tắt là N) có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ Hemagglutinin được coi là yếu tố vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus cúm A

Protein HA (Hemagglutinin)

Protein hemagglutinin là một glycoprotein thuộc protein màng type I (lectin), có khả năng gây ngưng kết hồng cầu gà trong ống nghiệm (in vitro), kháng thể đặc hiệu với HA có thế phong tỏa sự ngưng kết đó, được gọi là kháng thể ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI – Hemagglutinin Inhibitory antibody) Có

16 subtype HA đã được phát hiện (H1 – H6), subtype H16 mới được tìm thấy ở virus gây bệnh cho hải âu đầu đen – Thụy Điển, ba subtype (H1, H2 và H3) thích ứng lây nhiễm gây bệnh ở người liên quan đến các đại dịch cúm lịch sử (Murphy and Webster, 1996) Có khoảng 400 phân tử HA trên bề mặt capsid của một virus, có vai trò quan trọng trong quá trình nhận diện virus và khởi động quá

trình xâm nhiễm của virus vào tế bào chủ (Bender et al., 1999; Wagner et al.,

2002) Phân tử HA có dạng hình trụ, dài khoảng 130 angstron (Å), cấu tạo gồm 3 đơn phân (trimer), mỗi đơn phân (monomer) được tạo thành từ 2 tiểu đơn vị HA1

Trang 26

Các đơn phân sau khi tổng hợp đã được glycosyl hóa (glycosylation) và ngắn vào mặt ngoài capsid là tiểu đơn vị HA2, phần đầu tự do hình chỏm cầu được tạo bởi dưới đơn vị HA1 chứa đựng vị trí gắn với thụ thể thích hợp của HA trên bề mặt

màng tế bào đích (Bosch et al., 1981; Wagner et al., 2002)

Sự kết hợp của HA với thụ thể đặc hiệu (glycoprotein chứa sialic acid) trên bề mặt màng tế bào, khởi đầu quá trình xâm nhiễm của virus trên vật chủ giúp cho virus xâm nhập, hòa màng và giải phóng RNA hệ gen thực hiện quá trình nhân lên ở trong tế bào cảm nhiễm Quá trình kết hợp phụ thuộc vào sự phù hợp cấu hình không gian của thụ thể chứa acid sialic của tế bào điachs với vị trí gắn thụ thể này với trên phân tử HA của virus cúm, quyết định sự xâm nhiễm dễ

dàng của virus ở các loài vật chủ khác nhau (Wagner et al., 2002; Wasilenko et

al., 2008) Vị trí amino acid 226 (aa226) của HA1 được xác định là vị trí quyết định phù hợp gắn HA với thụ thể đặc hiệu của nó, hầu hết các chủng virus cúm A lưu hành trong tự nhiên vị trí này là Glycine, thích ứng với thụ thể Gal α-2,3 sialic acid (chứa sialic acid liên kết với nhóm hydroxyl (4-OH) của galactose ở góc quay α-2,3) của tế bào biểu mô đường hô haapscuar chim và gia cầm (vật chủ tự nhiên của virus cúm A) Ngoài ra một số vị trí amino acid khác: Glutamine 222, Glycine 224, hay cấu trúc SGVSS và NGQSGR cũng có sự liên quan chặt chẽ đến khả năng thích ứng với thụ thể chứa sialic acid bề mặt màng tế bào chủ (Luong and Palese, 1993) Đặc biệt, một số chủng virus cường độc A/H5Nx; A/H7Nx lưu hành hiện nay có thể xâm nhiễm trên người, khi chúng có tải lượng cao trong đường hô hấp (do tiếp xúc trực tiếp với chất thải hay gia cầm

nhiễm bệnh) (Bauer et al., 2006; Hui, 2008; Wasilenko et al., 2008)

Trình tự mã hóa mỗi chuỗi nối, và thành phần chuỗi nối trên protein HA cũng như các vị trí amino acid liên quan đến khả năng gắn với thụ thể thích ứng, được coi là các chỉ thị phân tử trong nghiên cứu phân tích gen kháng nguyên HA (Luong and Palese, 1993) Protein HA còn là kháng nguyên bề mặt quan trọng của virus cúm A, kích thích cở thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type HA, và tham gia vào phản ứng trung hòa virus, được coi là protein

Trang 27

vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus, là đích đến của bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể

nhiễm, cơ sở điều chế các vacxin phòng cúm hiện nay (Bosch et al., 1998; Horimoto and Kawaoka, 2001; Matrosovich et al., 1999)

Protein NA (Neuraminidase)

Protein Neurominidase còn gọi là sialidase (mã số quốc tế là E.C 3.2.1.18), là một protein enzyme có bản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt capsid của virus cúm A, mang tính kháng nguyên đặc trưng theo từng saubtype NA (Baigent and Mc Cauley, 2001; Uiprasertkul et al.,, 2007) Có 9 subtype (từ đến N9) được phát hiện chủ yếu ở virus cúm gia cầm, hai subtype N1

và N2 được tìm thấy ở virus cúm người liên quan đến các đại dịch cúm trong lịch

sử (Wasilenko et al., 2008) Có khoảng 100 phân tử NA xen giữa các phân tử HA

trên bề mặt capsid hạt virus Phân tử NA có dạng nút nồi hình nấm, đầu tự do (chứa vùng hoạt động) gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt phẳng, và phần kị nước gắn vào vỏ capsid (Castrucci and Kawaoka, 1993) Protein NA có vai trò là một enzyme cắt đứt liên kết giữa các gốc acid sialic của màng tế bào nhiễm với phân tử cacbonhydrate của protein HA, giải phóng hạt virus ra khỏi màng tế bào nhiễm, đẩy nhanh sự lây nhiễm của virus trong cơ thể vật chủ, và ngăn cản sự tập hợp của các hạt virus mới trên màng tế bào Mặt khác, NA tham gia vào phân cắt liên kết này trong giai đoạn “hòa màng”, đẩy nhanh quá trình cởi áo “uncoating” giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương tế bào nhiễm, giúp cho quá trình nhân lên của virus nhanh hơn

(Uiprasertkul et al., 2007) Ngoài ra, NA còn phân cắt các liên kết glycoside, giải

phóng neuraminic acid làm tan loãng màng nhầy bề mặt biểu mô đường hô hấp, tạo điều kiện cho virus nhanh chóng tiếp cận tế bào biểu mô và thoát khỏi các chất

ức chế không đặc hiệu Cùng với vai trò của kháng nguyên HA, cả 3 khâu tác động trên của NA đều tham gia làm tăng độc lực gây bệnh của virus cúm A ở cơ thể vật chủ Do đó, NA là đích tác động của các thuốc, hóa dược ức chế virrus không đặc hiệu hiện nay, đặc biệt là Oseltamivir (biệt dược là Tamiflu) phong tảo enzyme

Trang 28

này, ngăn cản sự giải phóng hạt virus mới khỏi các tế bào đích, bảo vệ cơ thể

(Aoki et al., 2007; Castrucci and Kawaoka, 1993)

Bên cạnh đó, NA còn là một kháng nguyên bề mặt virus, tham gia kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể chủ, sinh ra kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên NA của các chủng virus đương nhiễm có tác dụng phong tỏa protein NA

(Doherty et al., 2006) Như vậy, kháng nguyên NA cùng với kháng nguyên HA

của virus là các đích chủ yếu của cơ chế bảo hộ miễn dịch của cở thể với virus cúm A, và là cơ sở điều chế các vacxin phòng cúm hiện nay cho người và gia cầm, nhằm ngăn chặn dịch cúm ở gia cầm và hạn chế lây truyền sang người

(Suarez and Schultz-Cherry, 2000; Wu et al., 2008)

Các phương thức biến đổi kháng nguyên

Có ba phương thức chủ yếu làm biến đổi kháng nguyên ở virus cúm A

(Wu et al., 2008)

a Hiện tượng lệch kháng nguyên

Lệch kháng nguyên (antigenic drift) thực chất là các đột biến điểm xảy ra các phân đoạn gen/hệ gen của virus Do virus cúm A ký sinh nội bào bắt buộc, không có cơ chế “đọc và sửa bản sao – proof reading” trong quá trình phiên mã

và sao chép ở nhân tế bào đích Sự thiếu hụt enzyme sửa chữa RNA dẫn đến các enzyme sao chép phụ thuộc RNA sẽ có thế “gài” thêm (đột biến giãn nở), làm

mất đi hoặc thay thế (đột biến trượt-xóa) (Lê Thanh Hòa et al., 2006) một hay

nhiều nucleotide mà không được sửa chữa trong phân tử RNA chuỗi đơn mới của

virus (Conenello et al., 2007; Murphy and Webster, 1996) Tùy thuộc vị trí xảy

ra các đột biến trong bộ ba mã hóa, mà có thể trực tiếp làm thay đổi các amino acid trong trình tự của protein được mã hóa biểu hiện, dẫn đến thay đổi thuộc tính của protein, hoặc được tích lũy trong phân đoạn gen xảy ra đột biến (đột biến điểm) Tần xuất xảy ra đột biến điểm rất cao, cứ mỗi 10.000 nucleotide (tương ứng với độ dài của RNA hệ gen của virus cúm A) thì có 1 nucleotide sai khác

(Prel et al., 2008; Wagner et al., 2002) Như vậy, gần như mỗi hạt virus mới

được sinh ra đều chứa đựng một đột biến điểm trong hệ gen của nó, và các đột

Trang 29

biến này được tích lũy qua nhiều thế hệ virus sẽ làm xuất hiện một subtype virus mới có những đặc tính kháng nguyên mới có thể bị sai lệch

Hiện tượng này thường xảy ra ở các phân đoạn gen kháng nguyên NA và

HA, tạo ra các bộ mã tổng hợp các amino acid mới, hoặc làm thay đổi cấu trúc dẫn đến thay đổi đặc tính của protein đó, hoặc có khả năng glycosyl hóa rất cao trong cấu trúc chuỗi polypeptide kháng nguyên, tạo ra một biến thể virus mới

thay đổi độc lực gây bệnh hay đặc tính kháng nguyên mới (Wasilenko et al., 2008; Macken et al., 2006; Chen et al., 2008)

b Hiện tượng trộn kháng nguyên

Hiện tượng trộn kháng nguyên (còn gọi là trao đổi hay tái tổ hợp) các gen kháng nguyên (antigenic shift) chỉ có ở virus cúm, và rất ít ở một số virus RNA gây bệnh gia cầm khác, cho phép virus cúm A được 2 chủng virus cúm A khác nhau khi đồng nhiễm trong một tế bào trao đổi chéo nhau, để có thể xảy ra sự hòa trộn (reassort) hoặc trao đổi (swap) các phân đoạn gen của 2 chủng virus đó trong quá trình kết hợp lại RNA hệ gen, tạo ra các trạng thái khác nhau của RNA hệ gen của các hạt virus mới từ hai RNA hệ gen của những virus ban đầu Kết quả là

đã tạo ra thế hệ virus mới có các phân đoạn gen kết hợp, và đôi khi giúp cho chúng có khả năng lây nhiễm ở loài vật chủ mới hoặc gia tăng độc lực gây bệnh

(Hilleman, 2002; Macken et al., 2006; Chen et al., 2006)

c Hiện tượng glycosyl hóa

Glycosyl hóa (glycosiylation) là sự gắn kết của một chuỗi carbonhydrate (oligosaccharide) vào với amino acid Asparagine (N) ở một số vị trí nhất định trong chuỗi polypeptide HA và NA, hay một số polypeptide khác của virus cúm Thông thường chuỗi oligosaccharide được gắn tại vị trí N-X-S/T (N = Asparagine; X = amino acid bất kỳ, trừ Proline; S/T = Serine hoặc Threonine) (Baigent and McCauley, 2001) Đây là những vị trí được cho là gắn kết với các kháng thể được cơ thể sinh ra do kích thích cuat kháng nguyên, nhằm bảo vệ cơ thể nhiễm Hiện tượng lệch kháng nguyên sinh ra đột biến điểm hình thành bộ

mã của Asparagine, tạo tiền đề cho hiện tượng glycosyl hóa xảy ra khi tổng hợp

Trang 30

HA và NA, làm cho virus thoát khỏi tác động miễn dịch bảo hộ của cơ thể chủ và điều hòa sự nhân lên của virus (Baigent and Mc Cauley, 2001)

Hiện tượng lệch kháng nguyên vag glycosyl hóa xảy ra liên tục theo thời gian, còn hiện tượng trộn kháng nguyên có thể xảy ra với tất cả các chủng của virus cúm A, khi đồng nhiễm trong một tế bào ở tất cả các loài vật chủ khác nhau Đây cũng chính là vấn đề đáng lo ngại của virus cúm A/H5N1 hiện nay, mặc dù virus này chưa có sự thích nghi lây nhiễm dễ dàng ở người, nhưng nó có khả năng gây bệnh được cho người, và rất có thể A/H5N1 tái tổ hợp (vay mượn) gen HA hay NA, hoặc cả hai gen của các chủng virus cúm A đã thích nghi ở người, để tạo

ra một biến chủng virus mới thích ứng lây nhiễm dễ dàng ở người, gây ra nguy cơ của một đại dịch cúm mới và đặt ra một định hướng mới trong phòng chống

(Hillenman, 2002; Guan et al., 2002; Li et al., 2004; Kim et al., 2008)

1.4.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm

Vật chủ tự nhiên của tất cả các chủng virus cúm A là chim hoang dã (chủ yếu là vịt trời), đây là nguyên nhân lan truyền virus trong tự nhiên rất khó kiểm soát Virus cúm A có khả năng gia tăng biên độ vật chủ của chúng trong quá

trình lây truyền ở tự nhiên (Kash et al., 2006; De Wit, 2008) Nhờ đặc tính luôn

thay đổi kháng nguyên trong tự nhiên, virus cúm A có khả năng xâm nhiễm ở nhiều loài vật chủ trung gian khác nhau như gia cầm, một số loài động vật có vú (hải cẩu, cá voi, ngựa, lợn) và cả người, tạo lên tính thích ứng lan truyền “nội loài” như gà – gà, hay ngoại loài như gà – lợn, gà – lợn – người Vịt (vịt trời) và một số loài thủy cầm khác (ngỗng) luôn luôn là vật chủ tàng trữ nguồn virus gây

nhiễm (Webster, 1998; Webster et al., 2002; Chen et al., 2004; Hulse-Post et al.,

2005) Đặc điểm thích ứng vật chủ này là điều kiện thuận lợi để virus cúm A trao đổi, tái tổ hợp các phân đoạn gen, đặc biệt là các phân đoạn gen kháng nguyên (gen “độc” HA và NA) giữa các chủng, tạo ra các chủng virus cúm mới có khả năng thích ứng xâm nhiễm ở các loài vật chủ mới của chúng đặc biệt khi chúng vượt qua được “rào cản loài” dễ dàng thích ứng lây nhiễm gây bệnh từ gia cầm sang người và giữa người với người (Horimoto and Kawaoka, 1994; Hilleman,

2002; Chen et al., 2004) Trong lịch sử các đại dịch cúm ở người, lợn thường là

Trang 31

vật chủ trung gian chuyển tiếp giúp cho virus cúm A biến đổi dể dễ dàng lây

nhiễm sang người gây nên bệnh dịch (Ito et al., 1998; Zhu et al., 2008) Ví dụ,

cúm A/H3N2 là kết quả tái tổ hợp tự nhiên của virus cúm A/H2N2 của người và virus chứa gen H3 trong tự nhiên thông qua đồng nhiễm trên lợn, gây nên đại

dịch cúm Châu Á năm 1968 (Nicholson et al., 2003; Wanasawaeng et al., 2009;

Horimoto and Kawaoka, 1994)

1.4.4 Cơ chế xâm nhiễm gây bệnh của virus cúm A trong tế bào vật chủ

Virus cúm A/H5N1 kí sinh nội bào bắt buộc, quá trình xâm nhiễm và nhân lên của virus xảy ra chủ yếu ở các tế bào biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa

của cơ thể nhiễm (Murphy and Webster, 1996; Nicholson et al., 2003), có những

nét đặc trưng như sau:

- Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của

HA và thị thể thích ứng của nó trên bề mặt các tế bào này, và cuối cùng là giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm

- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzyme neuraminidae Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng và giờ (trung bình 6h) Sự tạo thành các hạt virus mời không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử, và rơi vào quá trình chết theo chương

trình (apopyosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ (Wanasawaeng et al., 2009; Tumpey et al., 2002)

- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA transcription) Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào (Beard, 1998)

Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp các sợi dương từ

Trang 32

hệ gen của virus mới nhờ RNA-poymerase Các sợi này không được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine – gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp với nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bao tường tế bào Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân đoạn gen của virus, và được enzyme PB2 gắn them 10 – 20 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vận chuyển ra bào tương và dich mã tại lưới nộ bào có hạt để tổng hợp nên các protein của virus (Hình 1.15)

Hình 1.3 Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A

ở tế bào chủ (Beard, 1998)

- Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn lên mặt ngoài của màng tế bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, goi là hiện tượng “ nảy chồi” của virus NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại nhân lên tế bào để kết hợp cới RNA thành RNP của virus Sau cùng các RNP của virus được hợp nhất với cùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên kết giữa HA với thụ thể chứa sialic acid Các NA phân cắt các liên

Trang 33

kết này và giải phòng các hạt virus trưởng thành tiếp tục xâm nhiễm các tế bào

khác (Murphy and Webster, 1996; Nayak et al., 2004)

1.4.5 Độc lực và khả năng gây bệnh của virus cúm gia cầm

Nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy, khả năng lây nhiễm virus phụ thuộc vào tác động của men protease của vật chủ đến sự phá vỡ các liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử liên kết Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của enzyme protease lại phụ thuộc vào số lượng các axit amin polybasic tại điểm bắt đầu phá vỡ liên kết Các enzyme giống như trypsin có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử arginine, trong khi đó các men protease khác lại cần nhiều axit amin polybasic, vì thế ở một số nước đánh giá độc lực của virus trên cơ sở gây nhiễm cho gia cầm và sau đó phân tích sự sắp xếp các axit amin của virus Cụ thể người ta quan tâm đến việc giải trình tự vùng

“cleavage site” (chuỗi tối) của gen HA mà sự có mặt của các aminoaxit đó có độc lực cao hay không Tuy nhiên người ta thường chỉ thực hiện điều này đối với các virus thuộc subtype H5 và H7

Trong thực tế người ta chia virus cúm ra làm 2 loại: Loại virus độc lực thấp – LPAI và loại có độc lực cao HPAI

- LPAI là loại virus khi phát triển trong cơ thể nhiễm, có thể gây bệnh cúm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ Đây là loại virus lây nhiễm rộng rãi và tạo nên các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trêm cùng một tế bào, và trở thành một lọai virus HPAL nguy hiểm

- HPAL là loại virus cúm A có khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể nhiễm, trên gia cầm chúng thường gây chết 100% số gia cầm bị nhiễm trong vòng 48-72h sau nhiễm Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà, tế bào thận chó (MDCK) không có trypsin Các vị dịch lớn đều do virus HPAI gây ra, thường là virus có kháng nguyên H5 và H7

Virus cúm A có tính thích ứng lây nhiễm cao với biểu mô đường hô hấp, gây bệnh chủ yếu ở đường hô hấp, và cũng có thể tác động gây tổn thương nhiều

cơ quan khác trong cơ thể của động vật cảm nhiễm, do đó còn được gọi là virus

Trang 34

gây bệnh của virus cúm A phụ thuộc vào độc lực vào độc lực và tính thích nghi vật chủ của từng chủng virus Thông thường chúng không gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh nhẹ giới hạn đường hô hấp của chim hoang dã và gia cầm nhiễm, nhưng một số chủng cường độc (H5, H7 và H1,H2 và H3) có thể gây nên bệnh nặng ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể, gây nên dịch cúm ở gia cầm và ở người có lẽ so

tính thích ứng thụ thể sialic của chúng (Subbarao and Joseph, 2007; Xu et al.,

1999) Hầu hết các chủng virus cúm A nhân lên rất tốt trong phôi gà sau lần cấy truyền thứ nhất, tuy nhiên các chủng cường độc subtype H5 và H7 gây chết phôi

gà ngay sau vài giờ, cả khi hàm lượng virus rất thấp chưa được nhân lên nhiều,

và có thể gây bệnh cúm thực nghiệm trên chuột lang, chuột hamster, chồn đất (Horimoto and Kawaoka, 1994, De Wit, 2008)

Sau khi bị nhiễm virus cúm A, cơ thể vật chủ sinh ra đáp ứng miễn dịch chống lại virus bảo vệ cơ thể, nhưng đáp ứng miễn dịch này có thể không tác dụng bảo vệ hoàn toàn cho những lần nhiễm sau, do virus cúm A luôn có sự biến đổi kháng nguyên của nó trong quá trình lưu hành tự nhiên, và không có đáp ứng

miễn dịch chéo giữa các chủng virus cúm A (Wanasawaeng et al., 2009) Do đó,

khi xuất hiện những biến chủng virus cúm A có đặc tính kháng nguyên khác với các chủng virus trước đó, cơ thể nhiễm sẽ không hoặc ít có đáp ứng miễn dịch bảo hộ thích ứng với chủng virus cúm mới Đây là nguyên nhân làm cho gia cầm

và con người thường bị mắc bệnh cúm nhiều lần trong năm, và các đợt dịch mới

(Doherty et al., 2006)

1.4.6.Triệu chứng lâm sàng của gia cầm mắc bệnh cúm

Virus cúm gia cầm độc lực cao thường gây bệnh rất trầm trọng cho gia cầm và thông thường tỷ lệ tử vong cao đặc biệt là với gia cầm cạn Các loài thủy cầm, dã cầm và một số loài lông vũ khác có thể có độ mẫn cảm thấp hơn, nhưng

có thể trở thành động vật mang trùng

Đặc điểm triệu chứng trên gà

- Chết đột ngột

- Ủ rũ, lông xơ xác, bỏ ăn

- Giảm năng xuất đẻ trứng

Trang 35

- Phù thũng đầu và cổ

- Mào và tích sưng to hoặc có màu tím tái

- Xuất huyết lấm chấm trên mặt các màng tương

- Khát nước nghiêm trọng

- Tiêu chảy ra nước loãng màu xanh ban đầu, sau đó chuyển sang trong hoặc màu trắng

- Màng kết mạc sưng hoặc tụ máu đôi khi có xuất huyết

- Xuất huyết da chân

- Triệu chứng hô hấp tùy thuộc và mức độ tổn thương khí quản

- Chảy nước mũi, miệng

- Con vật yếu sức

- Ho, hắt hơi

- Triệu chứng thần kinh, loạng choạng

- Ngừng đẻ, trứng dị hình trước khi ngừng đẻ

- Tỷ lệ chết có thể tới 100%, có thể chết trước khi có triệu chứng

Đặc điểm triệu chứng trên thủy cầm

- Ủ rủ

- Bỏ ăn, tiêu chảy

- Triệu chứng thần kinh, quay cuồng, co giật

Trang 36

đặc biệt thấy rõ ở manh tràng và dạ dày tuyến Túi Fabricius sung huyết và xuất huyết Nói chung, các bệnh tích của bệnh Newcastle (Lê Văn Năm, 2004; Alexander, 2007) Các biến đổi bệnh lý đại thể của bệnh cúm gia cầm trên ngan và vịt cơ bản cũng giống trên gà Tuy nhiên tàn xuất biến đổi tập trung chủ yếu ở phổi, túi khí, tim, buồng trứng, xương lồng ngực và đường ruột (Lê Văn Năm, 2004)

Bệnh tích vi thể

Bệnh tích vi thể chủ yếu là sung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm bạch cầu đơn nhân ở não và một số cơ quan khác Mạch quản của cơ quan như mào, tích, gan, lách, phổi, thận, cơ tìm, cơ vân, não và một số cơ quan khác bị giãn rộng và thâm nhiễm tế bào xung huyết mạch quản (Beard, 1998)

1.5 Chẩn đoán bệnh

1.5.1 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học

Căn cứ vào các yếu tố dịch tễ học như bệnh lây lan nhanh, gia cầm mọi lứa tuổi, nhiều loại gia cầm mắc bệnh, tỷ lệ chết cao lên tới 100% số gia cầm mắc bệnh, những vùng có ổ dịch cũ, những nơi gia cầm chưa được tiêm phòng vacxin cúm hoặc tiêm phòng chưa đủ thời gian đáp ứng miễn dịch, hoặc đã tiêm phòng nhưng qua khảo sát hiệu giá kháng thể bao hộ chỉ đạt mức thấp

1.5.2 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích

Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích để chẩn đoán Lưu ý các đặc điểm chính như gia cầm bệnh chảy nhiều nước mắt, viêm xoang mũi, mào tích tím tái, phù đầu và mí mắt, lông cổ dựng ngược, ỉa chảy và có triệu chứng thần kinh, da chân vùng không lông xuất huyết

Căn cứ những bệnh tích điển hình như phổi, gan, thận, lách sưng to Xuất huyết mỡ vành tim, ruột viêm cata, xuất huyết Xuất huyết dạ dày cơ, dạ dày tuyến giống bệnh Newcastle Túi fabricius xuất huyết điểm, lỗ huyệt xuất huyết … (Alexander, 2007; Baigent and Mc Cauley, 2001) Trong trường hợp gia cầm chết cấp tính thì biểu hiện bệnh tích thường không điển hình

1.5.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Chẩn đoán virus học: nuôi cấy, phân lập virus trên rứng gà có phôi ấp 9 – 10 ngày tuổi hoặc trên môi trường tế bào xơ phôi gà hoặc tế bào thận chó MDCK Giám định virus trong dịch nuôi cấy bằng các phản ứng HA, HI

Ngày đăng: 04/02/2017, 22:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 1.1. Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm (Trang 22)
Hình 1.2. Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 1.2. Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A (Trang 25)
Hình 1.3. Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 1.3. Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A (Trang 32)
Hình 1.4.  Cơ chế hoạt động của Taqman probe - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 1.4. Cơ chế hoạt động của Taqman probe (Trang 41)
Sơ đồ tách chiết RNA - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Sơ đồ t ách chiết RNA (Trang 45)
Bảng 3.1. Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.1. Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm (Trang 49)
Hình 3.1. Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.1. Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm (Trang 50)
Bảng 3.3. Kết quả tiêm vacxin cúm A/H5N1  tại một số huyện của tỉnh Lạng Sơn - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.3. Kết quả tiêm vacxin cúm A/H5N1 tại một số huyện của tỉnh Lạng Sơn (Trang 53)
Hình 3.2. Kết quả tiêm phòng vacxin cúm gia cầm cho đàn gia cầm   tại 3 huyện/TP có các chợ tiến hành lấy mẫu trong năm 2014 - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.2. Kết quả tiêm phòng vacxin cúm gia cầm cho đàn gia cầm tại 3 huyện/TP có các chợ tiến hành lấy mẫu trong năm 2014 (Trang 55)
Bảng 3.5. Số lượng mẫu thu thập được theo 12 tháng tại 5 chợ nghiên cứu - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.5. Số lượng mẫu thu thập được theo 12 tháng tại 5 chợ nghiên cứu (Trang 57)
Bảng 3.6. Số lượng mẫu thu thập được theo loài gà, vịt và ngan - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.6. Số lượng mẫu thu thập được theo loài gà, vịt và ngan (Trang 58)
Bảng 3.7. Kết quả xác định virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.7. Kết quả xác định virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn (Trang 59)
Hình 3.4. Tỷ lệ dương tính với virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.4. Tỷ lệ dương tính với virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn (Trang 61)
Hình 3.5. Diễn biến lưu hành virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Hình 3.5. Diễn biến lưu hành virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn (Trang 63)
Bảng 3.10. Kết quả xác định subtype H5 tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn - nghiên cứu sự lưu hành virus cúm ah5n6 trên đàn gia cầm và ứng dụng phương pháp real time   pcr trong chẩn đoán bệnh
Bảng 3.10. Kết quả xác định subtype H5 tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w