1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội

83 625 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 5,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

54 3.3.10 Nghiên cứu về thể bệnh, triệu chứng, bệnh tích 55 3.4 Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn sau tiêm phòng vắc xin tại các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ - Hà Nội b

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH DỊCH TẢ LỢN TẠI MỘT SỐ HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH DỊCH TẢ

LỢN TẠI MỘT SỐ HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc./

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

iii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn đối với sự quan tâm, giúp đỡ đặc biệt của thầy giáo hướng dẫn khoa học - PGS - TS Nguyễn Bá Hiên và các thầy, các cô bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm; các thầy, các cô trong khoa Chăn nuôi, khoa Thú y; khoa Sau đại học đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ công chức Cơ quan Chi cục Thú y Thành phố Hà Nội, Trạm Thú y các huyện, thị xã thuộc Thành phố Hà Nội và các bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin tỏ lòng biết ơn gia đình của tôi đã tạo mọi điều kiện và động viên tôi suốt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này./

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 5

MỤC LỤC

1.1 Lịch sử hình thành bệnh dịch tả lợn trên thế giới và trong nước 3

2.2.1 Điều tra tình hình bệnh dịch tả lợn trên địa bàn các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ - Thành Phố Hà Nội 24 2.2.2 Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn bằng phản ứng

2.3 Nguyên liệu, địa điểm, thiết bị, máy móc nghiên cứu 25

Trang 6

3.1 Một số đặc điểm tự nhiên, xã hội có liên quan đến bệnh dịch tả lợn tại

3.2 Công tác tiêm phòng bệnh dịch tả lợn của huyện Quốc Oai, Thanh

Oai, Chương Mỹ - Thành Phố Hà Nội năm 2012 - 2014 39 3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn tại một số

3.3.3 Xác định tỷ lệ mắc DTL so với các bệnh khác ở đàn lợn tại Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ từ năm 2012 - 2014 46 3.3.4 Tình hình bệnh DTL ở lợn các lứa tuổi năm 2012 - 2014 47 3.3.5 Tình hình bệnh DTL xảy ra ở các tháng trong năm từ 2012 -2014 49 3.3.6 Tình hình bệnh DTL ở các hình thức chăn nuôi khác nhau 51 3.3.7 Tình hình bệnh DTL ở các giống lợn nuôi tại Quốc Oai, Thanh

3.3.9 Một số nhân tố xã hội ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan bệnh DTL tại các huyện ngoại thành Hà Nội 54 3.3.10 Nghiên cứu về thể bệnh, triệu chứng, bệnh tích 55 3.4 Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn sau tiêm phòng vắc xin tại

các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ - Hà Nội bằng phản ứng

3.4.1 Kết quả khảo sát kháng thể kháng virus DTL trong huyết thanh lợn xét theo cơ cấu đàn tại các huyện ngoại thành Hà Nội 59

Trang 7

3.4.2 Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch kháng virus DTL sau tiêm phòng vắc xin ở các thời điểm 21, 90 và 180 ngày 61 3.5 Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh dịch tả lợn tại các huyện

Trang 8

vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT

BVD Border disease virus

BVDV Bovine viral diarrhea virus

Trang 9

3.3 Xác định tỷ lệ chết và tỷ lệ Tử vong do bệnh DTL gây ra ở Quốc Oai,

3.4 So sánh tỷ lệ bệnh DTL với các bệnh khác ở đàn lợn trong các năm

3.5 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở lợn các lứa tuổi tại Thanh Oai, Quốc Oai,

3.6 Tình hình bệnh DTL xảy ra ở các tháng trong năm, từ 2012 -2014 50 3.7 Tình hình bệnh DTL ở các hình thức chăn nuôi khác nhau năm 2014 52 3.8 Tình hình dịch tả lợn ở các giống lợn các huyện ngoại thành năm 2014 52 3.9 Kết quả điều tra về thời gian mắc bệnh – chết ở một số ổ dịch 56 3.10 Xác định tỷ lệ biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh DTL ở lợn

3.11 Bệnh tích đặc trưng ở lợn các lứa tuổi qua mổ khám 58 3.12 Kết quả khảo sát kháng thể kháng virus DTL trong huyết thanh của lợn xét theo cơ cấu đàn tại các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương

3.13 Kết quả kiểm tra khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn ở các thời điểm

Trang 10

3.3 So sánh tỷ lệ bệnh DTL với các bệnh khác xảy ra ở đàn lợn năm

3.4 So sánh tỷ lệ mắc bệnh dịch tả ở lợn các lứa tuổi nuôi tại các huyện

3.5 Tình hình bệnh dịch tả lợn xảy ra ở các tháng trong năm tại Quốc

3.6 So sánh tỷ lệ mắc bệnh DTL ở các giống lợn 53 3.7 So sánh kết quả kháng thể kháng virus DTL trong huyết thanh của lợn xét theo cơ cấu đàn tại các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ -

Trang 11

MỞ ĐẦU

Bệnh dịch tả lợn (Pestis suum) là bệnh đã và đang gây thiệt hại cho ngành

chăn nuôi lợn ở nhiều nước trên thế giới và ở cả Việt Nam Bệnh do một loại virus có tên là Hog cholerae gây ra, virus thuộc họ Flaviridae (Nguyễn Văn Ty., 1975) Bệnh dịch tả lợn (DTL) là bệnh truyền nhiễm của loài lợn, khi bệnh xảy ra

sẽ giết chết nhiều lợn, tỷ lệ chết từ 60 - 90 %; số còn lại không chết thì còi cọc, chậm lớn, làm giảm năng xuất chăn nuôi và ảnh hưởng đến chất lượng thịt

Ở nước ta, hiện nay bệnh DTL được xếp vào một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn Bệnh DTLlà một trong những bệnh mà Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn quy định phải tiêm phòng bắt buộc, khi dịch xảy ra phải công bố dịch và nằm trong danh mục các bệnh nguy hiểm của động vật, các bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc Mặc dù rất quyết liệt trong công tác phòng, chống dịch nhưng bệnh DTL vẫn xảy ra ở nhiều địa phương trong nước

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở các huyện ngoại thành - Thành Phố Hà Nội phát triển rất mạnh, đặc biệt chăn nuôi với quy mô trang trại

Do vậy các loại dịch bệnh gia súc thường xuyên xảy ra, lây lan làm thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi của Thành phố, trong đó bệnh dịch tả lợn là một trong những bệnh gây thiệt hại nhiều nhất

Xuất phát từ tình hình dịch bệnh nói trên, việc nắm bắt được các được các đặc điểm dịch tễ học, biết được các quy luật của bệnh dịch tả lợn tại các huyện ngoại thành – Thành Phố Hà Nội; khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn sau tiêm phòng sẽ giúp địa phương đề ra các biện pháp phòng chống bệnh dịch tả lợn một cách hiệu quả hơn Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành Hà Nội "

Trang 12

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định một số đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành Hà Nội

Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn sau khi tiêm phòng vắc xin dịch tả

Đề xuất các biện pháp phòng chống dịch phù hợp với điều kiện một số huyện ngoại thành Hà Nội nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do dịch bệnh gây ra

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử hình thành bệnh dịch tả lợn trên thế giới và trong nước

1.1.1 Trên thế giới

Bệnh dịch tả lợn là bệnh lây lan rất nhanh, tỷ lệ chết cao (có thể từ 60 - 90%) Bệnh thường ghép với phó thương hàn, tụ huyết trùng Lợn mắc bệnh thường có triệu chứng bại huyết, xuất huyết ở nhiều cơ quan, bộ phận, hoại tử, loét niêm mạc đường tiêu hoá Bệnh tiến triển ở nhiều thể khác nhau: Quá cấp, cấp tính, mạn tính và thể tiềm ẩn Cho đến nay nguồn gốc của bệnh dịch tả lợn chưa được xác minh chính xác, hiện vẫn còn hai quan điểm song song tồn tại: Năm 1810 bệnh dịch tả lợn được Hanson (1957) mô tả đầu tiên ở Tenessce Đến năm 1833, bệnh dịch tả lợn được thông báo đầu tiên ở Ohio (Bắc Mỹ), sau đó bệnh lan ra cả nước Mỹ nhất là vùng Cornbert, vì đây là vùng chăn nuôi lợn nhiều nhất) Theo Dahle và Liess (1992) dịch diễn ra ở Pháp năm 1862,

ở Đức 1893

Theo Fuchs (1968), bệnh xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1862, sau đó lây lan sang các nước châu Âu khác là Đan Mạch, Thụy Điển vào năm 1887 Các nhà khoa học Mỹ cho rằng bệnh xuất phát từ châu Âu và lan sang khắp các nước trên thế giới, ở Nam Mỹ năm 1899, Nam Phi năm 1900

Hiện nay bệnh DTL vẫn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, thiệt hại về kinh tế do dịch tả lợn gây ra vẫn rất lớn, năm 1997 các nước: Đức, Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ có hơn 10 triệu con lợn bị giết hủy (Rassow, 1997) ở Hà Lan tính đến 31/12/1997 có 424 ổ dịch trong một năm Cộng hòa liên bang Đức từ tháng 11/1982 - 9/1984 có 1.457 ổ dịch xảy ra ở 248 đàn lợn

giống, 777 đàn lợn thịt và 412 đàn hỗn hợp, với 395.000 lợn bị xử lý

Theo OIE (1998), năm 1984 ở Mêhyco có 179 ổ dịch, Malaysia có 5 ổ dịch, Hàn Quốc có 45 ổ dịch Năm 1997 dịch tả lợn xuất hiện ở Italia, Tây Ban

Nha và Bỉ đều có nguồn gốc từ Hà Lan (Mesplede et al., 1999)

Về địa dư bệnh lý, bệnh dịch tả lợn có tính chất phân bố toàn cầu Theo Edwards S, 1998, bệnh xảy ra ở tất cả các nước có chăn nuôi lợn Riêng các

Trang 14

1976 - 1978; năm 1976 có 17 ổ dịch, 1977 có 36 ổ dịch, năm 1978 có 18 ổ dịch (Báo cáo dịch tễ tháng 11/1978 của Cục Thú y)

Từ những năm 1980, do việc tiêm phòng đã triển khai đồng bộ nên các ổ dịch lớn không xảy ra, nhưng bệnh vẫn tồn tại và diễn biến ngày càng phức tạp, có nhiều thay đổi về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích cũng như về độ tuổi mẫn cảm

Nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng, Đào Trọng Đạt và Trần Tố Liên (1989) cho rằng, triệu chứng, bệnh tích của bệnh DTL ở lợn các lứa tuổi khác nhau và

Trang 15

những biến đổi phức tạp, bệnh diễn ra ở thể mạn tính, không điển hình do các chủng virus bị giảm độc lực thường xảy ra đối với lợn nái chưa tiêm phòng, lợn con theo mẹ và gây chết nhiều nhất là lợn con

Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984), Nguyễn Xuân Bình (1998) đều cho rằng bệnh DTL xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất vẫn là ở lợn con theo mẹ và lợn con mới cai sữa Nghiên cứu Nguyễn Tiến Dũng và cs (1997)

về khả năng thải virus cường độc ở lợn được tiêm vắc xin, cho thấy những lợn đã tiêm vắc xin DTL trước hoặc sau khi có khả năng miễn kháng chống sự xâm nhập của virus cường độc, phát bệnh hay không phát bệnh đều có hiện tượng thải virus cường độc sau khi bị nhiễm và gây bệnh qua tiếp xúc cho những lợn chưa

có miễn dịch cùng nhốt chung

Đào Trọng Đạt và cs (1988) nghiên cứu về miễn dịch thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng miễn dịch của lợn con chống virus DTL đã đi đến khuyến cáo nên tiêm phòng cho lợn con ở 40 - 50 ngày tuổi và lợn nái tiêm phòng trước khi phối giống

Theo Thông tư 04/2011/TT-BNNPTNT, 2011 có nêu: Bệnh DTL ở nước

ta xảy ra quanh năm, tuy nhiên do thời tiết thay đổi (thể hiện rõ ở miền Bắc) và

do biến động của đàn lợn trong năm nên bệnh có lúc tăng lúc giảm Ngoài ra, bệnh dịch tả lợn còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ tiêm phòng, lợn lớn đã có miễn dịch bị giết mổ, lợn con thay đàn bổ sung vào chưa kịp tiêm phòng làm cho tỷ lệ lợn mẫn cảm trong đàn tăng lên Việc tiêm phòng theo mùa vụ và tiêm phòng bổ sung thường xuyên góp phần ổn định và hạn chế dịch bệnh rất nhiều, nhưng trong sản xuất thực tế do nhiều lý do nên việc tiêm phòng chưa thực hiện đúng quy định, vì vậy dịch tả lợn vẫn xảy ra vào các tháng trong năm

1.2 Bệnh dịch tả lợn

1.2.1 Virus dịch tả lợn

1.2.1.1 Phân loại

Năm 1885 Salmon và Smith cho rằng bệnh gây ra bởi một loại vi khuẩn

mà hai ông đặt tên là Bacillus cholerae suis (tức Salmonellasuis) Nhưng đến

năm 1903, Schweinitz và Dorset đã xác định được tác nhân gây bệnh DTL là một

Trang 16

loại virus còn vi khuẩn Bacillus cholerae suis chỉ đóng vai phụ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) Năm 1947 Holmes đặt tên cho virus gây bệnh DTL là Tortor suis

Từ đó việc xếp loại virus này có nhiều ý kiến khác nhau Những nghiên cứu gần

đây đã xác định virus gây bệnh DTL là thành viên của họ Togavirideae, giống

Pestivirus cùng với virus gây bệnh tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus -

BVDV ) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus) Nhưng khi

nghiên cứu về cấu trúc phân tử của Pestivirus cho thấy bộ gen của chúng

(genome) tương ứng với virus thuộc họ Flaviridae(Nguyễn Văn Ty, 1975), nên giống Pestivirus được xếp vào họ Flaviridae

1.2.1.2 Hình thái cấu trúc của virus

Virus DTL thuộc loại ARN virus, một sợi đơn, có vỏ bọc là lipoprotein Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, virus có dạng cấu trúc hình cầu với nucleocapside đối xứng hình khối bao bọc bởi lớp màng ngoài Virion là đơn vị đặc hiệu của virus, có đường kính 40 - 50 nm (nanomet), đường kính của một khối nucleocapside là 29 nm, là lớp vỏ bao bọc sợi ARN của virus, có những gai lồi 6 - 8

nm tập trung trên bề mặt của virus Bộ gene của virus là một chuỗi đơn ARN, có độ dài 12 KB (Moormann và Hulot., 1998) Virus có 2 glycoprotein E155 và E146 KD

ở trên bề mặt và 1 nucleocapside protein 36 KD (Enzmann và Weiland., 1978) Hệ

số sa lắng là 140s - 180s Hạt virus gây nhiễm gồm 3 thành phần chính sau đây: Nhân (core): nhân là một sợi đơn ARN nằm ở giữa hạt virus, nên virus chủ yếu nhân lên trong bào tương của tế bào vật chủ Theo Moening V, 1988, nhân vừa là yếu tố di truyền, vừa là yếu tố sinh sản của virus Theo Moorrman R

J M và M M Hulot, 1998 bộ gene virus DTL là một chuỗi AND sợi đơn dài khoảng 12 kilobases (KB), có trình tự sắp xếp giống nhau giữa gene của virus DTL và virus gây tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus - BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus)

Vỏ protein (Nuleocapside): theo Van Oirchot (1992), vỏ protein mang những thành phần bên ngoài có độ dày 29 nm, trên bề mặt có những gai lồi 6 - 8

nm là thành phần có tính chất bảo vệ virus Theo P J Enzmann và F Weiland,

1978, lớp nucleocapside của virus bao gồm 2 glycoprotein có trọng lượng phân

Trang 17

tử là 55 KD (Kilodanton) và 46 KD cùng với một lớp 36 KD (Trần Đình Từ, 1990) Các protein này được đặt tên là Protein E1 (GP55), Protein E2 (GP46) và protein C (G36) Bằng phương pháp đánh dấu các phân tử, các tác giả đã nhận thấy E1 và E2 là những Glycoprotein nằm trên bề mặt của virus, E2 tạo nên các gai của virus Protein E1 chứa đựng các kháng nguyên chính của virus DTL Trong tế bào bị nhiễm, E1 luôn được liên kết với một lycopeptide khoảng 47 KD

(Mesplede et al., 1999) Những nghiên cứu gần đây cho thấy lớp vỏ protein gồm

4 thành phần: GP55, GP48, GP44 và GP33 cùng một số các protein nhân 36KD, 23KD và 14KD (Taylor, 1995) Bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ kết tủa, Stark

R, F T Rumenap, G.Mayers, H J Thiel 1990 đã nhận thấy GP48 và GP44 có chung một trục Protein thông thường Cả 3 dạng này đều nằm ở dạng nhị trùng

có cầu nối Disulfide trong virus ở tế bào bị nhiễm Theo Thiel H J., R Stark, F

T Rumenap, G Mayers- 1991, những sự tương tác đồng hóa trị phức tạp như vậy giữa những Glycoprotein cấu trúc đến nay chưa được mô tả ở bất kỳ một ARN virus nào

Thứ tự các Glycoprotein trên bộ gene của virus DTL được sắp xếp như sau: NH2 - GP44/GP48 - GP33 - GP55 - COOH

Màng ngoài (Envelop): theo Moenning.V, 1988 là một lớp lypoprotein

2.2.1.3 Phân loại

Năm 1939, Geiger đã kết luận rằng không có sự khác nhau cơ bản nào về tính kháng nguyên để sắp xếp các chủng virus DTL vào nhiều type virus khác nhau (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) Nhưng từ những năm 1950, một số tác giả đã phát hiện được hiện tượng biến chủng của virus DTL và cũng nhận thấy độc lực của virus biến chủng thường thấp hơn độc lực của virus ban đầu (Trần Đình Từ, 1990) Theo Van Oirchot (1998), các chủng virus DTL được phân chia làm 2 nhóm: Nhóm 1: gồm các chủng virus cường độc Alfort, chủng C, chủng Thiverval Nhóm 2: gồm các chủng 331 và nhiều chủng khác phân lập được từ những lợn bị bệnh thể mãn tính

Như vậy, trong tự nhiên đã tồn tại những chủng virus có độc lực khác nhau Những chủng có độc lực cao thường gây ra bệnh thể cấp tính và tỷ lệ chết

Trang 18

virus) gây nên bệnh Border ở cừu, dê và virus phân lập được từ hai loại này thường

được gọi là virus Border (Terpstra, 1991)

Độc lực của virus

Virus DTL phản ứng chéo với virus BVDV trong phản ứng miễn dịch khuếch tán và phản ứng miễn dịch huỳng quang, thậm chí virus DTL và BVDV ở một mức độ nhất định có thể hấp thụ kháng thể trung hòa của các loài virus pha tạp Các thí nghiệm giải độc chéo cho thấy rằng các chủng virus DTL có dạng là một nhóm pha tạp Trong khi đó các chủng virus BVD hình thành những nhóm đặc tính huyết thanh rõ ràng, khác hẳn với virus DTL

1.2.1.4 Đặc tính nuôi cấy, phân lập

Khi tiêm truyền qua cơ thể lợn, các chủng virus DTL vẫn giữ nguyên các đặc tính gây bệnh và miễn dịch (Moenning, 1988) Cũng theo Moenning (1988),

sự thích nghi của virus đối với các loài động vật khác nhau thường thay đổi tính gây bệnh của virus đối với lợn Trong các loài động vật thì chỉ có thỏ là được chú

ý nhất, đặc biệt là để chế tạo ra những chủng virus vắc xin nhược độc

Ngoài những tế bào có nguồn gốc từ lợn, virus DTL có thể nhân lên trong những tế bào động vật khác Dòng tế bào thận lợn PK - 15 và SK - 6 rất thích hợp cho việc nuôi cấy virus DTL Các chủng virus DTL cường độc thường không gây bệnh tích tế bào (CPE) khi chúng nhân lên trong môi trường tế bào nuôi Đối với những chủng được mô tả là có gây bệnh lý tế bào là do trong thực

tế chúng đã bị tạp nhiễm bởi một loại virus khác Terpstra C, 1991 cũng cho rằng tác động gây CPE chỉ xuất hiện khi có Adenovirus

1.2.1.5 Sự nhân lên của virus

Virus DTL nhân lên có giới hạn trong nguyên sinh chất của tế bào và

Trang 19

không gây bệnh tích tế bào Thế hệ đầu tiên của virus được giải phóng ra khỏi tế bào khoảng 5 - 6 giờ sau khi gây nhiễm Theo Saatkamp H.W, 1998, trong môi trường tế bào, virus lây lan qua tế bào bên cạnh và từ tế bào mẹ sang tế bào con qua cầu nối nguyên sinh chất, điều này dẫn đến không có khả năng phát hiện ra kháng nguyên virus trên bề mặt tế bào bị nhiễm

1.2.1.6 Nguồn bệnh và phương thức lây lan của virus

Bệnh DTL là một bệnh truyền nhiễm lây lan mạnh do virus gây ra chỉ ở loài lợn (bao gồm lợn nhà và lợn rừng) (Trần Đình Từ, 1990)

Theo tác giả Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), virus DTL tồn tại bất cứ ở đâu có chăn nuôi lợn

Cũng theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989) ở một vài vùng giống nguồn bệnh có ở chính ngay trong những lợn nái đã được tiêm phòng Nhận xét này phù hợp với ý kiến của tác giả

Theo Nguyễn Vĩnh Phước, 1970, Moenning V, 1988: Lợn là loài vật chủ duy nhất mang mầm bệnh và lây lan Sự tiếp xúc giữa lợn bị bệnh và lợn mẫn cảm là phương thức lây truyền chính của virus DTL

Virus truyền từ đàn này sang đàn khác có thể qua nhiều đường khác nhau, trong đó sự du nhập của những con có bề ngoài khỏe mạnh nhưng đã nhiễm bệnh vào trong một đàn là phổ biến nhất Bệnh có thể lan truyền từ các trại chăn nuôi, các phương tiện vận chuyển bị nhiễm virus,… virus có thể truyền đi rất xa theo thịt và các sản phẩm chế biến từ thịt hoặc truyền bởi người chăn nuôi, nhân viên thú y, các dụng cụ, trang thiết bị thú y; virus dường như ít có dấu hiệu lây lan từ đàn nọ sang đàn kia bằng con đường không khí (Moenning , 1988) Trong phòng

thí nghiệm có thể truyền virus qua thỏ, chuột lang (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970)

Virus DTL có thể sống vài tháng đến vài năm trong thịt đông lạnh Qua con đường thương mại, virus có trong các sản phẩm của lợn có thể du nhập vào các nước hoặc các vùng đang an toàn dịch Lợn mẫn cảm có thể nhiễm khi ăn phải thức ăn có chứa các thành phần phụ phẩm của quá trình giết mổ hoặc thức ăn thừa chất thải từ nhà bếp không qua xử lý (Trần Đình Từ, 1990)

Trang 20

10

Virus DTL có thể lây lan ở lợn rừng và những đàn lợn rừng nhiễm bệnh là nguy cơ tiềm tàng đối với lợn nuôi thông qua phương thức lây nhiễm qua thức ăn hoặc qua tiếp xúc trực tiếp Đặc biệt là phương thức lây nhiễm qua tiếp xúc trực tiếp thường xảy ra ở những nơi chăn nuôi với hình thức thả rông hoặc bán thả rông

1.2.1.7 Sức đề kháng của virus DTL

Virus DTL có sức đề kháng yếu và tùy thuộc vào trạng thái vật lý của chất chứa virus Trong dịch nuôi cấy tế bào, virus bị vô hoạt ở 600C trong 10 phút; ở máu đã khử fibrin lại không bị vô hoạt ở 680C trong vòng 30 phút Virus có khả năng bền vững ở pH từ 5 - 10, trên và dưới giá trị pH này thì virus bị phá hủy nhanh chóng vì vỏ virus có chứa lipid nên các dung môi của mỡ như ether, chloform, deoxychlolate và nonided P40, saponin làm bất hoạt virus rất nhanh Người ta thường dùng NaOH 2% để tiêu độc chuồng trại Virus có thể sống trong phân gia súc trong vài ngày, sống lâu trong các sản phẩm là thịt Thịt lợn đông lạnh và chính những sản phẩm này là nguồn gieo rắc mầm bệnh rất nguy hiểm Không phát hiện ra virus trong thịt đã được chế biến và đóng hộp từ thịt của những lợn bị bệnh (Terpstra, 1991)

Trong máu, ở nhiệt độ bình thường, virus có thể sống được 3 tháng Máu trộn với axit phenic, virus mất độc lực trong 60 phút ở 580C, trong 7 ngày ở

370C Nếu bảo quản máu ở âm 200C, virus tồn tại tới 9 tháng, ở âm 400C virus tồn tại trong 14 tháng; máu để khô trên phiến kính virus sống 5 - 6 ngày Trong thịt xông khói, virus sống được 37 ngày, thịt để trong tủ lạnh virus tồn tại tới 33 ngày, trong thịt ướp đông 95 ngày

Trong thịt, nước tiểu, xác động vật chết thối, virus bị chết trong vòng 2 - 3 ngày Trong phân, rác virus bị mất hoạt tính sau khoảng 24 giờ (Trần Đình Từ, 1990)

1.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh DTL

1.2.2.1 Động vật cảm nhiễm

Trong tự nhiên, chỉ có loài lợn (cả lợn rừng và lợn nhà) mọi lứa tuổi đều

mắc bệnh DTL (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) Những nghiên cứu gần đây cho

thấy lợn con theo mẹ và lợn cai sữa bị nhiễm nhiều nhất theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2013) ; Đào Trọng Đạt và cs (1988); Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố liên (1989) đáng chú ý là lợn nái nhiễm những chủng virus có độc lực

Trang 21

11

thấp gây bệnh cho thai và sơ sinh (Đào Trọng Đạt và cs., 1957)

Trong phòng thí nghiệm, khi tiêm truyền cho lợn mẫn cảm, bệnh phát ra với triệu chứng, bệnh tích giống như trong tự nhiên Tiêm virus cho thỏ, chuột lang thì bệnh thường ở thể ẩn tính, có thể tái phân lập virus sau vài ngày Tiêm truyền cho thỏ liên tục qua nhiều đời (khoảng 150 đời) sẽ tạo ra một chủng virus nhược độc, không độc với lợn nhưng vẫn giữ được đặc tính kháng nguyên, dùng để chế vắcxin nhược độc DTL (Nguyễn vĩnh Phước, 1970)

Những lợn khỏe mạnh mang trùng có vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh DTL , đặc biệt là ở những vùng virus có độc lực thấp Lợn ở những nơi này thường xuất hiện những thể bệnh không điển hình do những chủng virus có độc lực thấp gây ra Đây chính là nguồn tàng trữ mầm bệnh rất nguy hiểm Khi lợn nái mang thai bị nhiễm thường làm cho bào thai bị chết lưu, hoặc lợn con bị chết sau khi sinh hoặc lợn được sinh ra nhưng yếu ớt Những lợn con này có thể

bị chết sau khi sinh một thời gian ngắn Virus có thể có thể gieo rắc cho những lứa đẻ sau Những lợn con bị nhiễm bệnh bẩm sinh có thể mang virus suốt đời và gây ra sự truyền bệnh tiếp xúc, vì vậy gây khó khăn trong công tác phòng chống

bệnh (Van Oirchot, 1998)

1.2.2.2 Chất chứa và độc lực của virus

Trong cơ thể, virus hấp thu mạnh trên bạch cầu nên máu có độc lực sớm nhất; các chất bài xuất như nước dãi, nước mũi, nước mắt, nước tiểu, phân, các phủ tạng đều chứa virus; hạch lâm ba và lách chứa nhiều virus nhất (OIE, 1985)

Các chủng virus có độc lực cao thường gây bệnh thể cấp tính, các chủng có độc lực thấp thường gây ra thể á cấp tính hoặc thể không điển hình

(Mesplede et al., 1999) Các chủng virus có độc tính khác nhau thì có tốc độ

lây lan bệnh khác nhau; những chủng virus cường độc lây lan nhanh hơn và gây ra tỷ lệ chết cao hơn so với chủng độc lực thấp (Terpstra, 1991)

Những lợn bị nhiễm bệnh có thể thải virus trước khi phát bệnh và tiếp tục thải virus trong quá trình bệnh, sự thải virus chỉ dừng lại khi kháng thể được sinh

ra Vì vậy những lợn bị nhiễm virus có độc lực cao có thể thải virus với số lượng lớn trong thời gian 10 -20 ngày, những lợn bị bệnh thể mãn tính thải virus liên tục hoặc từng đợt cho đến khi chết

Trang 22

12

1.2.2.3 Lứa tuổi mắc bệnh

Các nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy bệnh DTL xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi (Trần Đình Từ, 1990), nhưng tập trung nhiều nhất ở lợn con theo mẹ và lợn mới cai sữa Theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), do đàn lợn đã được tiêm phòng vắc xin nhiều năm nên tuổi mắc bệnh phụ thuộc vào sức đề kháng và tình trạng miễn dịch của đàn lợn Điều này khác với tính chất lây lan mạnh và lợn ở mọi lứa tuổi bị bệnh, tỷ lệ chết tới 100% trong các ổ dịch của nhiều năm trước đây Tuy nhiên ở các huyện miền núi thuộc các tỉnh Bắc Trung bộ, do công tác tiêm phòng không được thực hiện triệt để nên bệnh DTL vẫn xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi (Báo cáo của Trung tâm thú y vùng III - 1998) Theo Nguyễn Xuân Bình (1998), mặc dù quy trình tiêm phòng đã khép kín nhưng bệnh DTL vẫn xảy ra với lợn con

và lợn thịt giai đoạn 30 - 90 ngày tuổi với tỷ lệ 1- 1,5% tổng đàn

Như vậy, tỷ lệ mắc bệnh DTL tùy thuộc vào tỷ lệ tiêm phòng của đàn lợn

và mức độ kháng thể trong cơ thể lợn đã được tiêm; phụ thuộc vào mức độ kháng thể của lợn mẹ truyền qua sữa đầu mà lợn con thu nhận được, ở những vùng có tỷ

lệ tiêm phòng thấp hoặc không được tiêm phòng thì tỷ lệ chết cao và xảy ra ở mọi lứa tuổi

Theo thống kê của Cục thú y, những năm gần đây dịch xảy ra hầu hết ở các tháng trong năm nhưng vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa các tháng của vụ Đông - Xuân và Hè - Thu Ngoài ra, tình hình dịch bệnh cũng còn bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tỷ lệ tiêm phòng, số lợn lớn đã bị giết thịt, số lợn con ra đời chưa được tiêm phòng làm cho số lượng cá thể mẫn cảm với bệnh DTL trong khu vực tăng lên

Trang 23

13

1.2.2.5 Sinh bệnh học

Trong điều kiện tự nhiên, virus vào cơ thể lợn qua đường tiêu hóa, niêm mạc mắt, mũi, sinh dục, virus cũng có thể xâm nhập vào cơ thể lợn qua đường hô hấp hoặc các vết thương trên da; một số ý kiến còn cho rằng virus có thể đi qua nhau thai Theo Nguyễn Lương (1997), mọi phương pháp tiêm truyền trong phòng thí nghiệm như tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm phúc mạc, cho ăn, hít thở đều có kết quả Các trường hợp lây nhiễm bệnh tự nhiên với các chủng có độc lực cao được đặc trưng bởi các pha: nhiễm virus ở hạch, máu và nhiễm virus ở phủ tạng Từ tế bào thượng bì trong các hạch lâm ba, hạch amidan, virus xâm nhập vào lớp mô lympho và từ đó virus được vận chuyển theo đường bạch huyết vào các hạch lympho vùng ở đó chúng được nhân lên nhanh chóng; một số lượng lớn virus được tạo ra ở mô bào đích thứ hai là lách, hạch lâm ba nội tạng, tủy xương và đường tiêu hóa,… Vì thế nồng độ virus trong máu cao, và chúng lại xâm nhập vào các cơ quan khác như hệ hô hấp, hệ thần kinh trung ương Tại cơ quan bị nhiễm virus có hiện tượng thực bào do các đại thực bào tiến hành Sự nhân lên của virus trong bạch cầu và các tế bào hệ thống lưới nội bì dẫn đến giảm bạch cầu làm cho lợn dễ nhiễm khuẩn thứ phát Theo Trần Đình Từ (1990), các chủng virus có độc lực cao thường lây nhiễm từ khi xâm nhập vào cơ thể, lan tỏa ra tất cả các cơ quan khác trong cơ thể từ 5 - 6 ngày

Các dạng xuất huyết trong bệnh DTL ở thể cấp tính là kết quả của sự thoái hóa tế bào nội bì và biểu bì thành mạch quản do bị virus phá hủy, gây giảm tiểu cầu và rối loạn tổng hợp sợi fibrin, hình thành các cục máu đông nhỏ làm tắc nghẽn tuần hoàn gây xuất huyết lấm tấm Virus tác động gây mụn loét ở niêm mạc ruột già, những mụn loét này dầy lên, hình cúc áo do những sợi huyết đông đặc lại và tạo ra những hình tròn đồng tâm

Cách lây nhiễm đối với các chủng virus có độc lực trung bình cũng giống với những chủng có độc lực cao nhưng tiến triển chậm hơn ở giai đoạn lâm sàng của bệnh, nồng độ virus trong huyết thanh thấp (hoặc không có), kháng nguyên virus thường giới hạn ở các biểu mô, hạch amidan, tuyến nước bọt, hồi tràng và thận Sự xuất hiện của kháng thể đặc hiệu được đánh giá bằng sự biến mất của

Trang 24

có đáp ứng miễn dịch cao hơn các bào thai bị nhiễm lúc 65 ngày hoặc muộn hơn Những bào thai lây nhiễm bởi những chủng virus có độc tính trung bình, lúc 45 ngày cuối của thời kỳ mang thai thường biểu hiện triệu chứng bệnh khi sinh hoặc một thời gian ngắn sau khi sinh hoặc thải virus trong trường hợp lây nhiễm với những chủng virus có độc lực thấp (Van Oirschot, 1998)

Sau khi virus xâm nhập, hệ thống nội bì của thành mạch quản có nhiều biến đổi Các tế bào bị sưng to do thủy thũng, các mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số bị tắc mạch dẫn đến các bệnh tích đặc trưng của bệnh DTL như xung huyết, xuất huyết, nhồi huyết và hoại tử, viêm não - màng não và thoái hóa các tế bào nội

bì, nghẽn mạch, thâm nhiễm lymphocyte qua mạch thường thấy ở 70 - 90% các trường hợp lợn bị chết (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970)

1.2.2.6 Thể bệnh

Thể bệnh của bệnh DTL ngày nay có nhiều thay đổi, tùy thuộc vào lứa tuổi lợn, phương thức chăn nuôi, chủng virus, thời điểm nhiễm bệnh…,nhưng các thể bệnh chủ yếu thường gặp là: thể quá cấp, thể cấp tính, thể mãn tính và thể tiềm ẩn (không điển hình)

* Thể quá cấp

Lợn không có triệu chứng ban đầu, bệnh xuất hiện đột ngột, sốt cao kết hợp với trạng thái thương hàn Lợn bệnh tử vong trong vòng 24 - 48 giờ, con vật chưa kịp xuất hiện triệu chứng ỉa chảy Thể này còn gọi là thể bệnh DTL khô

Trang 25

15

* Thể cấp tính

Thời gian nung bệnh từ 3 - 4 ngày ở thể này, lợn bệnh có triệu chứng điển hình là sốt cao từ 41 - 420C, kéo dài 3 - 5 ngày Con vật uể oải, mệt mỏi, ít vận động, kém ăn hoặc bỏ ăn Từ khi nhiễm bệnh đến 24 - 48 giờ thì mắt lợn sưng húp, viêm kết mạc, mắt chảy rỉ Xuất huyết ngoài da cũng có thể xuất hiện cùng lúc với giai đoạn nhiệt độ tăng cao Các triệu chứng ngoài da như điểm xuất huyết điển hình màu đỏ (bằng đầu đinh ghim) hoặc có khi tạo thành mảng đỏ lớn ở vùng da mỏng chân, bụng, bên trong đùi, da gốc tai,… thường ở giai đoạn cuối của bệnh Con vật

bị viêm dạ dày, ruột, có triệu chứng nôn mửa Lúc đầu lợn đi táo, có màng nhầy bao quanh cục phân Về sau ỉa chảy nặng, phân màu xám, mùi phân thối khắm rất đặc trưng Virus tấn công vào đường hô hấp thì con vật bị viêm niêm mạc mũi, tụ huyết, xuất huyết ở phổi, rối loạn nhịp thở, khó thở Virus xâm nhập vào hệ thống thần kinh, gây xuất huyết màng não, con vật co giật, đi loạng choạng, liệt hai chân sau Những con vật không bị chết trong vòng 4 tuần sau khi nhiễm bệnh thì có thể phục hồi nếu hàm lượng kháng thể trung hòa cao hoặc chuyển thành thể mãn tính Lợn nái chửa thường giảm khả năng sinh sản, sảy thai, đẻ non, thai khô,…

Mức độ nghiêm trọng của thể bệnh cấp tính tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi con vật, khả năng đáp ứng miễn dịch, liều gây nhiễm và độc lực của virus Mổ khám thấy bệnh tích đặc trưng là xuất huyết hạch lâm ba Huyết khối ở lách, rìa lách bị nhồi huyết có hình răng cưa Loét niêm mạc vùng van hồi manh tràng Trên bề mặt vết loét có phủ bựa, vẽ thành các vòng tròn đồng tâm, trông giống như hình cúc áo Xuất huyết thận, viêm cầu thận Các hạch lympho chứa đầy hồng cầu

* Thể mãn tính

Khi lợn bị bệnh mà sống đến quá 30 ngày thì được coi là thể mãn tính Đặc trưng của thể bệnh này là lợn ăn rất ít hay bỏ ăn, sốt, ỉa chảy kéo dài hoặc ngắt quãng, bạch cầu giảm Thể này kéo dài vài tháng và cuối cùng cũng chết (Trần Đình Từ, 1990) Các giai đoạn của thể mãn tính gồm:

- Giai đoạn đầu kéo dài 10 - 15 ngày, các triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn

Trang 26

16

- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thuyên giảm

- Giai đoạn ba: sẽ bị bội nhiễm các loại mầm bệnh khác; con vật gầy yếu,

Sự lây truyền virus qua nhau thai cũng đã được quan sát thấy ở lợn nái được tiêm phòng bằng một vắc xin nhược độc không đầy đủ; hiện tượng này cũng thấy ở lợn nái bị nhiễm tự nhiên chủng virus độc lực thấp

Hậu quả của lây nhiễm trong giai đoạn mang thai nhẹ hay nặng phụ thuộc vào giai đoạn mang thai bị nhiễm virrus, khả năng đáp ứng miễn dịch của bào thai

và độc lực của virus Nếu bào thai bị nhiễm ở giai đoạn đầu của quá trình mang thai, lúc mà bào thai chưa có khả năng sinh miễn dịch thì sau khi cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh, không có khả năng chống lại virus và trở thành vật mang trùng Lây nhiễm ở giai đoạn sau của quá trình mang thai thì bào thai sinh đáp ứng miễn dịch

và làm giảm nguy cơ mang trùng; chỉ những con lợn bị nhiễm trong giai đoạn đầu của bào thai mới trở thành thể bệnh tiềm ẩn

Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng phần lớn những lợn con của những nái đã bị nhiễm virus trong thời kỳ có thai đều dung nạp miễn dịch; chúng không hình thành được kháng thể mà mang virus thường xuyên; ngay cả sữa đầu cũng không xác định được ở những lợn con này mang trùng bởi vì kháng thể thường xuyên bị cố định bởi những virus lưu hành Van Oirchot (1998) cho thấy những lợn con sinh ra từ những lợn nái nhiễm virus lúc mang thai 90 ngày tuổi thì có thể sống được 2 - 3 tuần tuổi, nhưng cơ thể mang virus và không có kháng thể trung hòa

Trang 27

- Ở lợn con theo mẹ dưới 1 tháng tuổi: gầy yếu, run rẩy, sốt cao 41,50C phân trắng không tiêu, mắt có dử và chảy nước mắt, có con ỉa phân loãng màu vàng, co giật Lợn trong đàn chết dần trong vòng 10 - 15 ngày, con nào sống sót thì còi cọc chậm lớn Tình trạng này thường thấy ở những đàn lợn sau tiêm phòng 1 - 5 ngày

- Ở lợn từ 1 - 2 tháng tuổi: tai, mũi, cổ, chân bầm tím như bị thiếu ô xy, phân loãng, vàng hoặc trắng như vôi, bỏ ăn, về sau xuất hiện những nốt xuất huyết như muỗi đốt

- Ở lợn 2 - 3 tháng tuổi: ngoài các triệu chứng trên còn bị gầy yếu rất nhanh, lông xù lên rất rõ

- Ở Lợn thịt: sốt cao, phần lớn bị táo bón, một số ít bị ỉa chảy, mắt có dử, chảy nước mắt, bỏ ăn; do diễn biến cấp tính nên bề ngoài vẫn béo, ít giảm cân

- Ở lợn nái mang thai đã được tiêm phòng trong vùng có dịch: Bỏ ăn, sốt nhẹ

và sau đó trở lại bình thường, nhưng có khi bị sảy thai, thai gỗ, đẻ ra thì thai chết, con nào còn sống thì cũng chỉ được vài ngày, nhưng lợn mẹ vẫn sống khỏe mạnh

Ở những lợn nái nhiễm những chủng virus có độc lực trung bình hoặc độc

Trang 28

18

lực thấp có thể trở thành những con vật mang trùng (điều này gây rất nhiều khó khăn cho công tác phòng chống và thanh toán bệnh DTL) Đa số lợn con bị nhiễm bệnh từ trong bụng mẹ sẽ chết sau khi sinh hoặc chết lưu trong tử cung lợn

mẹ, nhưng đôi khi vẫn có con sinh ra khỏe mạnh nhưng đã mang trùng và gây bệnh DTL muộn

1.2.3.2 Bệnh tích đại thể

Theo Bùi Trần Anh Đào và Nguyễn Hữu Nam (2009), ở lợn mắc bệnh dịch tả, các tổn thương như xuất huyết ở hạch màng treo ruột và ở các hạch lympho, tích nước trong xoang ngực và xoang bao tim chiếm tỷ lệ 100% các ca

mổ khám Tỷ lệ sung huyết ở niêm mạc dạ dày – ruột chiếm 93,33%, xuất huyết điểm ở thận chiếm 80%, nhồi huyết ở lách và viêm phế quản phổi chiếm tỷ lệ 75%, tỷ lệ xuất huyết điểm ở bốn chân chiếm 71,67% Viêm phồi thùy có tỷ lệ thấp chỉ chiếm 8,3%, xuất huyết ở van hồi manh tràng chiếm tỷ lệ 48,33% Ngoài

ra, một số tổn thương khác cũng được quan sát thấy như: xuất huyết ở da (28,33%); loét ở miệng (16,77%); loét ở hạch amygdale (16,17%); loét ở ruột già (38,33%) Tổn thương xuất huyết thấy ở hầu hết các cơ quan: hạch lâm ba, thận,

dạ dày, ruột non, ruột già và trên da

Theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), bệnh DTL là bệnh dịch

tễ đàn, do vậy khi quan sát lâm sàng và bệnh tích phải quan sát từ 3 - 5 con trở lên; nhưng tìm ra đầy đủ các bệnh tích điển hình của bệnh DTL trong thời gian gần đây là rất khó

Thể cấp tính và mãn tính có thể quan sát thấy bệnh tích xuất huyết lấm tấm ở da, kích thước khác nhau do hoại tử thoái hoá tế bào nội bì và máu khó đông Xuất huyết xảy ra nhiều nhất ở hạch lâm ba, thận, ít hơn ở tim, màng thanh dịch, bóng đái, niêm mạc ruột, thanh quản, da và dưới da Hạch lâm ba thường sưng to và xuất huyết ở các xoang ngoại biên làm cho hạch lâm ba giống đá hóa vân Xuất huyết ở thận chủ yếu là lấm chấm và thường nằm dưới vỏ Lách có kích thước bình thường, thấy nhồi huyết dọc theo rìa, làm cho lách có hình răng cưa Virus tác động gây mụn loét ở niêm mạc ruột già sau khi gây hoại tử ở những nang lâm ba riêng biệt Những mụn loét xuất hiện dày, tròn hình cúc áo trên

Trang 29

19

bề mặt có những khối sợi huyết tạo những vòng tròn đồng tâm Những khối sợi huyết đông đặc lại từng đợt làm mụn loét dầy lên Ngoài ra có thể quan sát thấy

hiện tượng có nước nhầy, lắng đọng sợi fibrin, xuất huyết cục bộ màng nhày của

đường tiêu hóa, đường hô hấp, phổi, cuối cùng nhiễm bệnh kế phát xảy ra (Van Oirschot, 1998) Tùy theo từng ổ dịch, độc lực của virus, sức đề kháng của con vật, thời gian cảm nhiễm,… mà bệnh tích ở từng con ở từng ổ dịch có thể không giống nhau và không đầy đủ như đã nêu Theo quan sát trong thời gian gần đây thì việc tìm thấy đầy đủ các bệnh tích, triệu chứng của bệnh DTL là rất khó

Tuy nhiên, theo (Trần Thị Dân và cs., 2000), bệnh tích của lợn có triệu chứng lâm sàng DTL tại các lò giết mổ ở Bà Rịa - Vũng Tầu chủ yếu là: Thận sưng xuất huyết, bàng quang xuất huyết, lách nhồi huyết, phổi viêm xuất huyết, hạch ruột sưng, xuất huyết,…

Thể bệnh mãn tính và thể bệnh phát muộn (Late onset) thường thấy teo tuyến Thymus và sưng các khớp của xương sườn ở lợn con (Van Oirschot, 1998)

Trong trường hợp bệnh DTL xảy ra ở lợn con thường ghép với bệnh phó thương hàn, E.Coli, gây những nốt loét tràn lan ở ruột, viêm phổi, làm lu mờ bệnh tích của bệnh DTL (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989)

1.2.3.3 Bệnh tích vi thể

Đặc trưng nhất là ở hệ lưới nội bì của thành mạch quản, các tế bào nội bì sưng to, thoái hóa, thủy thũng; các mạch quản ngoại biên bị giãn rộng, một số bị tắc mạch dẫn tới bệnh tích đặc trưng của bệnh DTL là xung huyết, xuất xuyết, nhồi huyết (thường thấy ở lách, hạch lympho, thận và đường tiêu hóa), hoại tử, viêm não, viêm màng não đặc trưng bởi sưng và thoái hóa các tế bào nội bì, nghẽn mạch, thấm nhiễm lymphocyte quanh mạch Theo Van Oirschot J.T, 1998,

sự gia tăng về số lượng các đại thực bào và sự suy yếu của hệ đơn bào ở giữa hạch bạch huyết, lách, hạch amidan và những đám hạch ruột xảy ra trong trường hợp bệnh mãn tính

1.2.3.4 Bệnh DTL thể không điển hình

Đây là thể bệnh rất khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có triệu chứng đặc trưng Thể bệnh DTL không điển hình được nhiều tác giả đề cập đến như Đào

Trang 30

20

Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), Terpstra (1991) Thể không điển hình biểu hiện dưới các dạng khác nhau như rối loạn sinh sản hoặc bệnh lý sinh sản như sảy thai, thai gỗ, chết thai, thai dị hình, chết sau khi sinh,…Theo Nguyễn Lương (1997) đây là thể bệnh DTL khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có các thời kỳ

rõ rệt; virus lưu hành một cách không rõ ràng, nhất là lợn sinh sản với các trường

hợp ổ dịch nhỏ lẻ nổ ra khi có điều kiện thuận lợi (Mesplede et al., 1999) Nguyên

nhân của thể không điển hình có rất nhiều, như: Độc tố của virus, các nhiễm trùng thứ phát, sức đề kháng bẩm sinh, loại thức ăn, phương thức chăn nuôi

1.2.4 Các phương pháp chẩn đoán bệnh DTL

Chẩn đoán bệnh DTL là vấn đề khó khăn vì trước hết là bệnh do virus gây ra Lợn là động vật cảm thụ, phát bệnh duy nhất, việc tiêm truyền qua lợn thường phức tạp tốn kém hơn những động khác Các môi trường tế bào không biểu hiện CPE khi cấy virus DTl, các phương pháp huyết thanh học thường không chỉ dùng một phương pháp cho kết quả mong muốn

Trước đây việc chẩn đoán bệnh DTL thường dựa vào các biểu hiện về triệu chứng, bệnh tích (OIE, 1998) Tuy nhiên, hiện nay bệnh DTL đã diễn biến phức tạp, do vậy phương pháp này tỏ ra không hiệu quả Virus DTL chỉ gây bệnh cho loài lợn, lợn là loài động vật cảm thụ duy nhất nên việc tiêm truyền cho động vật để chẩn đoán bệnh tốn kém về kinh tế hơn các động vật khác Việc chẩn đoán, phát hiện virus trong cơ thể lợn là khó khăn vì số lượng virus trong cơ thể không nhiều Các phương pháp hiện nay đang được áp dụng là: phát hiện kháng nguyên hoặc phát hiện kháng thể trong các bệnh phẩm bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp; nuôi cấy phân lập virus trên môi trường tế bào hoặc tiêm truyền cho lợn; phản ứng trung hòa trên thỏ; phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu; công thức bạch cầu; phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch; kỹ thuật hóa mô miễn dịch (IHC) phản ứng miễn dịch đánh dấu enzym (ELISA), tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng, thí dụ phản ứng ngưng kết hồng cầu (cừu) ít chính xác, phản ứng kết tuản khuyếch tán trong thạch có độ nhạy kém, phản ứng miễn dịch huỳnh quang không cho biết chính xác kháng nguyên phát hiện được là virus DTL cường độc hay nhược độ ; dùng phản ứng

Trang 31

21

trung hòa chậm có thể phân biệt hai loại virus DTL và dịch tả trâu bò nhưng không phân biệt được kháng nguyên (hoặc kháng thể) là virus độc hay virus vắc xin So với phản ứng trung hòa, phản ứng ELISA tiết kiệm thời gian và đáp ứng với yêu cầu kiểm tra huyết thanh ở thang rộng hơn, Vẫn cần có một lượng kháng nguyên lớn để tiến hành làm phản ứng Ngoài những phản ứng huyết thanh học các phản ứng phân lập virus trên tế bào, tiêm truyền qua thỏ, kiểm tra virus, công thức bạch cầu, tiêu bản tế bào bệnh lý cho thêm những thông tin để quyết định trong chẩn đoán phân biệt Hiện nay người ta thường tiến hành chẩn đoán chựa

trên hướng dẫn đã ban hành của TCVN 5273:2010

Đối với những nước đã thanh toán được bệnh DTL, để ngăn chặn bệnh DTL nhập từ nước ngoài vào người ta áp dụng biện pháp cấm nhập lợn sống hoặc thịt lợn và các sản phẩm chưa xử lý nhiệt Những thức ăn thừa của hành khách nhập cảnh từ máy bay, tàu thủy, đều phải hủy bỏ để tránh mầm bệnh mang từ ngoài vào

Một số nước, khi có bệnh DTL xảy ra thì tất cả những lợn nghi nhiễm trong đàn sẽ bị giết hủy đồng thời với việc áp dụng các biện pháp vệ sinh để tiêu

Trang 32

22

diệt mầm bệnh

Theo quy định của EC, chỉ những lợn và sản phẩm của lợn từ những nước hoặc các vùng an toàn bệnh DTL mới được buôn bán tự do trong phạm vi cộng đồng Châu Âu (OIE, 1998)

Một số nước thanh toán bệnh DTL bằng các biện pháp sau đây:

Nghiên cứu và áp dụng các phương pháp chẩn đoán nhanh, nhạy tại hiện trường cũng như trong phòng thí nghiệm

Củng cố giám sát dịch bệnh và hệ thống thông tin để kịp phát hiện mức độ lây nhiễm

Loại trừ các tác nhân gây bệnh bằng phương pháp tiêu độc, sát trùng vật dụng nhiễm mầm bệnh và tiêu hủy những vật chủ nhiễm bệnh

Đề phòng virus xâm nhập vào lợn cảm nhiễm bằng cách kiểm soát chặt việc vận chuyển lợn bằng các biện pháp kiểm dịch động vật

Nghiên cứu tình trạng mang trùng của lợn và các chủng virus có độc lực thấp, phát hiện lợn mang trùng và thải loại kịp thời những lợn đó

Một số nước dùng biện pháp tiêm phòng vắc xin; kinh nghiệm ở châu Âu

là có thể thanh toán bệnh DTL bằng cách thực hiện chương trình tiêm phòng vắc xin một cách nghiêm ngặt trong khoảng thời gian nhất định Chương trình này phải kết hợp với việc vệ sinh gia súc chu đáo (Terpstra, 1991) Để có hiệu quả, chương trình tiêm phòng vắc xin phải bắt buộc, đồng thời quy định rõ thời gian,

độ tuổi phải tiêm phòng

1.2.5.2 Phòng chống bệnh ở Việt Nam

Bệnh DTL tại Việt Nam đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định phải tiêm phòng bắt buộc và khi dịch xảy ra thì phải công bố dịch Biện pháp phòng dịch hiện nay là:

- Tiêm phòng vắc xin DTL định kỳ hằng năm (mỗi năm 2 lần), tiêm bổ sung cho đàn lợn mới sinh ra và mới nhập về Chính việc tiêm phòng này đã hạn chế rất nhiều các ổ dịch trên địa bàn cả nước Tuy nhiên còn nhiều lý do khác nhau

mà bệnh DTL vẫn là mối đe dọa cho ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít

Trang 33

23

người Theo Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1984), việc áp dụng lịch tiêm phòng 2 hoặc 3 vụ/1 năm góp phần hạn chế rất nhiều dịch, nhưng vẫn còn những lợn đang chửa hoặc lợn con theo mẹ dưới 1 tháng tuổi không được tiêm phòng, đối tượng này là nguồn mẫn cảm; nhiều ổ dịch xảy ra do những loại lợn này

Việc xác định thời gian, tháng tuổi tiêm phòng vắc xin đối với lợn con là quan trọng, tránh ảnh hưởng của miễn dịch thụ động và đảm bảo cho lợn con có miễn dịch sớm nhất Đào Trọng Đạt và Nguyễn Tiến Dũng (1989) đã kết luận:

Ở lợn dưới 30 ngày tuổi, miễn dịch thụ động bảo hộ 100% Lợn con từ 35 ngày tuổi trở lên khả năng miễn dịch thụ động giảm và mất hết ở 45 ngày tuổi Miễn dịch thụ động ở lợn con không ngăn cản quá trình tạo miễn dịch, nhưng miễn dịch chủ động chống DTL ở lợn dưới 30 ngày tuổi không chắc chắn

và chỉ tồn tại trong vòng không đầy 1 tháng Lợn 45 ngày tuổi miễn dịch chủ động bằng vắc xin kéo dài được 6 tháng

Thời kỳ từ 30 - 45 ngày tuổi là thời kỳ chuyển tiếp từ bảo hộ do miễn dịch thụ động sang bảo hộ bằng miễn dịch chủ động Do vậy việc tiêm phòng vắc xin DTL chủng C phải được tiến hành trong thời gian này

Theo Trần Đình Từ (1990) thời gian tiêm phòng vắc xin như sau:

Đối với lợn nái: tiêm phòng trước khi phối giống 3 tuần hoặc trước khi đẻ

1 tháng để tạo kháng thể cao truyền sang con qua sữa đầu

Đối với lợn con: Nếu lợn mẹ chưa tiêm phòng thì nên tiêm vắc xin sớm vào 10 - 15 ngày tuổi, sau đó tiêm nhắc lại trước khi cai sữa Trường hợp lợn mẹ

đã được tiêm phòng thì tiêm phòng cho lợn con lúc 30 ngày và tiêm nhắc lại lúc

60 ngày tuổi

Lợn đực giống: tiêm phòng 1 - 2 lần/1 năm

Trang 34

24

CHƯƠNG 2NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đàn lợn tại các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ – Thành Phố Hà Nội năm 2012 - 2014

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều tra tình hình bệnh dịch tả lợn trên địa bàn các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ - Thành Phố Hà Nội

2.2.1.1 Tình hình dịch bệnh chung ở đàn lợn nuôi tại các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ – Thành Phố Hà Nội

2.2.1.2 Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn ở đàn lợn nuôi tại các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ – Thành Phố Hà Nội

2.2.1.3 Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn ở các lứa tuổi khác nhau:

- Lợn < 2 tháng tuổi (lợn con theo mẹ)

- Lợn 2-4 tháng tuổi

- Lợn > 4 tháng tuổi

- Lợn nái (> 6 tháng tuổi)

- Lợn đực giống (> 1 năm tuổi)

2.2.1.4 Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn ở các giống lợn nuôi tại các huyện QuốcOai, Thanh Oai, Chương Mỹ – Thành Phố Hà Nội

2.2.1.5 Tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn xét theo hình thức chăn nuôi (Hộ gia đình và trang trại)

2.2.2 Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn bằng phản ứng ELISA

Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch kháng vi rút dịch tả lợn ở thời điểm

21 ngày, 90 ngày và 180 ngày sau tiêm phòng

Khảo sát kháng thể kháng vi rút dịch tả lợn trong huyết thanh của lợn giết

mổ tại các điểm giết mổ trên địa bàn Thành phố

Khả năng đáp ứng miễn dịch kháng vi rút dịch tả lợn ở đàn lợn giống tại một số cơ sở giống trên địa bàn Thành phố

Trang 35

25

2.3 Nguyên liệu, địa điểm, thiết bị, máy móc nghiên cứu

Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội được thu thập qua Cục thống

kê – Thành Phố Hà Nội

Số liệu lưu trữ về tình hình bệnh dịch tả lợn, tình hình tiêm phòng của Chi cục thú y Hà Nội

Số liệu điều tra trực tiếp tại các địa bàn chăn nuôi

Mẫu xét nghiệm lấy tại các điểm giết mổ, các khu vực chăn nuôi của các huyện, thị

Máy móc thiết bị, dụng cụ, hoá chất của Bộ môn VST-TN – Khoa Thú Y – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Vắc xin tiêm phòng Swine fever living (II) của Trung Quốc do Chi cục Thú Y Hà Nội đấu thấu mua và cung cấp miễn phí cho các cơ sở chăn nuôi trên toàn Thành phố

Nơi xét nghiệm: Bộ môn VST-TN – Khoa Thú Y – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Kít chẩn đoán: dùng bộ kít Ceditest CSFV do hãng Cedi - Diagnotics (Mỹ) sản xuất

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học

Dùng phương pháp hồi cứu, dịch tễ học phân tích, điều tra dịch tễ, chọn mẫu ngẫu nhiên

2.4.2 Phương pháp tính

- Dùng phương pháp thống kê sinh vật học

- Số liệu phản ứng ELISA được xử lý trên chương trình AAHL và phần mềm Excel

là mẫu bảo hộ

Trang 36

Số ngày của tháng đó (28, 29, 30, 31 ngày)

C = Số chết của một năm (365 ngày)

Tháng nào có HSTD lớn hơn 1 được coi là tháng dịch Nhiều tháng có HSTD > 1 là mùa dịch

- Thời kỳ là 1 tháng, 1 năm, 5 năm tùy theo nội dung nghiên cứu là tỷ lệ mắc bệnh tổng đàn/tháng hoặc tỷ lệ mắc bệnh tổng đàn/năm hoặc 5 năm

- Tổng đàn: Là tổng số gia súc trong phạm vi xã hoặc huyện ở cùng thời

Trang 37

2.4.4.1 Phương pháp thu thập mẫu

- Lấy máu từ tĩnh mạch tai, vịnh tĩnh mạch cổ lợn

- Lượng máu cần cho mỗi mẫu là 5 ml

Sau khi lấy máu, để nghiêng ống nghiệm một góc 450 ở nhiệt độ phòng trong 2h, chắt huyết thanh sang ống nghiệm khác đã vô trùng; huyết thanh chưa

sử dụng ngay thì bảo quản ở 1 - 40C

2.4.4.2 Dùng phản ứng ELISA để xác định kháng thể có trong huyết thanh lợn

* Nguyên lý

Dùng bộ kit Ceditest CSFV để phát hiện kháng thể trong máu lợn Bộ kit Ceditest CSFV sử dụng hai kháng thể đơn dòng (MAbs), những kháng thể này

Trang 38

28

nhận biết (gắn lên) các epitop khác nhau của lipoprotein E2 (kháng nguyên E2) nằm trên lớp vỏ của virus Bộ kit này dùng để xác định kháng thể kháng virus DTL trong huyết thanh lợn Kháng thể đơn dòng thứ nhất (MAb3) được gắn lên đáy của lỗ đĩa 96 lỗ Kháng thể đơn dòng thứ hai được gắn men horseradish peroxidase và được dùng như là Conjugate

Mẫu huyết thanh, conjugate, kháng nguyên được cho vào lỗ đĩa và ủ ấm ở nhiệt độ phòng Sau đấy, đĩa được rửa để loại bỏ những chất không cần thiết bám vào đĩa Cơ chất (MTB) được bổ sung vào tất cả các lỗ đĩa Sau khi ủ ấm ở nhiệt

độ phòng, dung dịch dùng phản ứng được bổ sung vào tất cả các lỗ để dừng quá trình sinh màu Nếu cả hai kháng thể đơn dòng đều bám trên kháng nguyên chuẩn thì phản ứng sinh màu sẽ xảy ra, có nghĩa là trong mẫu huyết thanh không

có kháng thể kháng virus DTL Nếu kháng nguyên chuẩn gắn với kháng thể kháng virus DTL có trong mẫu huyết thanh thì conjugate sẽ không thể gắn được lên kháng nguyên chuẩn Do đó, phản ứng sinh màu sẽ không xảy ra (phản ứng

dương tính), nghĩa là trong mẫu huyết thanh có kháng thể kháng virus DTL

Có bốn huyết thanh đối chứng được dùng trong bộ kit Ceditest CSFV Huyết thanh đối chứng dương 1 (S1) là đối chứng dương mạnh với virus DTL Giá trị OD của S1 được dùng như là giá trị blank và được dùng để tính giá trị OD thực (correted OD) của tất cả các lỗ khác Đối chứng dương 2 (S2) là đối chứng dương yếu với virus DTL và luôn luôn thể hiện kết quả dương tính trong phản ứng (tỷ lệ ức chế PI > 50%) Tỷ lệ ức chế của đối chứng 3 (S3) phải < 50% giá trị OD của đối chứng 4 (S4) phải là giá trị lớn nhất trong mỗi lần xét nghiệm

* Thành phần của kit Ceditest CSFV gồm

- 5 đĩa 96 lỗ đã được gắn MAb3

- 1 lọ kháng nguyên chuẩn ở dạng đông khô

- 1 lọ Conjugate (cần pha loãng khi thực hiện phản ứng)

* Huyết thanh đối chứng:

- Đối chứng 1 (S1)

- Đối chứng 2 (S1)

- Đối chứng 3 (S2)

- Đối chứng 4 (S4)

Trang 39

29

- 1 lọ nước trao đổi ion

- 1 lọ dung dịch dùng để pha loãng một số thành phần của kit

- 1 lọ cơ chất (TMB)

- 1 lọ dung dịch dừng phản ứng (stop solusion)

- 1 lọ dung dịch rửa (washing fluid)

- 5 băng keo dính

Kit Ceditest CSFV phải bảo quản ở 40C

* Chuẩn bị một số dung dịch trong bộ kit

- Kháng nguyên chuẩn: Lọ kháng nguyên chuẩn ở dạng đông khô phải được hoàn nguyên bằng nước đã loại bỏ khoáng chất (dimineralized water, có sẵn trong bộ kit) trước khi tiến hành phản ứng Thể tích nước đã loại bỏ khoáng chất cần dùng để hoàn nguyên ghi trên nhãn của lọ kháng nguyên Kháng nguyên chuẩn sau khi được hoàn nguyên được bảo quản ở - 200C Khi thực hiện phản ứng, kháng nguyên (đã được hoàn nguyên) được pha loãng 1/30 với dung dịch pha loãng (dilution buffer)

- Conjugate: Khi thực hiện phản ứng phải được pha loãng1/30 với dung dịch pha loãng (dilution buffer)

- Dung dịch rửa: được pha loãng với nước trao đổi ion hoặc nước cất để được thể tích cuối cùng là 12 lit (khoảng 200 lần)

* Quy trình thực hiện phản ứng

Phản ứng được thực hiện qua các bước sau:

- Chuẩn bị phản ứng, lập sơ đồ mẫu

- Cho 50µl đối chứng 1 (S1) vào lỗ A1

- Cho 50µl đối chứng 2 (S2) vào lỗ B2

- Cho 50µl đối chứng 3 (S3) vào lỗ C1

- Cho 50µl đối chứng 4 (S4) vào lỗ D1

- Cho 50µl mẫu huyết thanh cần xét nghiệm (không pha loãng) vào các lỗ tiếp theo

- Cho 50µl conjugate đã được pha loãng 1/30 vào tất cả các lỗ

Trang 40

- Đo giá trị OD sau 15 và 60 phút ở bước sóng 450nm

* Phân tích, đánh giá kết quả

Tính các giá trị:

- Giá trị OD thực của S2: corrected ODS2 = ODS2 - ODS1

- Giá trị OD thực của S3: corrected ODS3 = ODS3 - ODS1

- Giá trị OD thực của S4: corrected ODS4 = ODS4 - ODS1

- Giá trị OD thực của mẫu huyết thanh:

Corrected OD mẫu = ODmẫu - ODS1

- Tỷ lệ ức chế virus dịch tả lợn của kháng thể có trong mẫu huyết thanh

PI = 100 - (corrected OD mẫu/ corrected ODS4) x 100

Ngày đăng: 04/02/2017, 22:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh (2001).Nghiên cứu dịch tễ học bệnh Dịch tả lợn cổ điển và các biện pháp phòng chống ở một số tỉnh vùng Bắc Trung bộ, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia Khác
2. Nguyễn Xuân Bình (1998). Một số kết quả xét nghiệm bệnh dịch tả lợn mãn tính ở Long An, Khoa học kỹ thuật Thú y, tập VI, số 1, tr 96 - 98 Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006). Tiêu chuẩn, quy trình ngành thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 259 - 170 Khác
4. Trần Văn Chương (2007). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Dịch tả lợn và đưa ra một số biện pháp phòng chống trên địa bàn tỉnh Kon Tum, Luận văn Thạc stx Nông nghiệp Khác
5. Lê Minh Chí (1998). Năm năm đổi mới ngành Thú y (1993 - 1997). định hướng phát triển đến năm 2000 và sau năm 2000, Khoa học kỹ thuật Thú y, tập V, số 2, tr.6 - 12 Khác
6. Lê Minh Chí, Hồ Đình Chúc, Bùi Quý Huy (1999). Kết quả điều tra dịch bệnh gia súc, gia cầm ở 5 tỉnh phía Bắc, Khoa học kỹ thuật Thú y, tập IV, số 3, tr. 75 - 78 Khác
7. Hồ Đình Chúc (1998). Điều tra dịch bệnh gia súc các năm 1997 - 1998 Hội nghị báo cáo Khoa học Thú y tháng 8/2000, Cục Thú y, Hà Nội Khác
8. Cục thú y (1990).Bệnh dịch tả lợn phương pháp xác định, TCVN 5273 - 90 Khác
10. Trần Thị Dân, Trần Thị Bích Liên, Nguyễn Thị Cẩm Tuyền, Hà Thị Thanh Lao (2000). Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của DTL trên lợn giết thịt ở lò mổ, Tạp chí khoa học và kỹ thuật thú y, số 2 - 2000, tr 6 - 10 Khác
11. Nguyễn Tiến Dũng (1995). Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học chế tạo kháng nguyên và kháng huyết thanh dùng chẩn đoán nhanh bệnh virus gia súc gia cầm,Hội nghị báo cáo đề tài khoa học số KN 02 - 1, Viện Thú y, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Quang, Hồ Thu Hương, Nguyễn Vân Anh (1997). Sơ bộ đánh giá miễn dịch thụ động chống virus dịch tả lợn ở đàn lợn con theo mẹ bằng phương pháp ELISA.Báo cáo Khoa học kỹ thuật Thú y 1996 - 1997, tr 92 - 95 Khác
13. Nguyễn Phương Duyên, Đỗ Văn Khiên, Thân Thị Hạnh, Dư Đình Quân (1998). Xác định vai trò của virus dịch tả lợn trong hội chứng sốt, bỏ ăn, táo bón ở lợn một số tỉnh miền Trung, Khoa học kỹ thuật Thú y, tập VI, số 2 - 1999, tr.6 - 12 Khác
14. Nguyễn Thị Phương Duyên (2000).Kết quả khảo sát bệnh dịch tả lợn bằng phương pháp ELISA ở các tỉnh Trung bộ, Khoa học và kỹ thuật Thú y, số 1, tr 6-10 Khác
15. Bùi Trần Anh Đào, Nguyễn Hữu Nam. 2009. Một số đặc điểm bệnh lý ở lợn mắc bệnh dịch tả. Tạp chí Khoa học và phát triển 7(2):166-171 Khác
16. Đào Trọng Đạt, Nguyễn Tiến Dũng (1984). Về tình hình dịch tễ của bệnh dịch tả lợn ở Việt Nam và vấn đề phòng chống. Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y 1979-1984, tr 5- 10 Khác
17. Đào Trọng Đạt, Nguyễn Tiến Dũng, Đặng Việt Tiến, Phạm Ngọc Tê (1988). Miễn dịch thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng của lợn con chống virus dịch tả lợn, Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Thú y 1985 - 1989, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 7 - 9 Khác
18. Đào Trọng Đạt, Phạm Văn Chức (1989). Bệnh virus ở gia súc Việt Nam, Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Thú y 1985 - 1989, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 15 - 19 Khác
19. Đào Trọng Đạt, Nguyễn Tiến Dũng (1989).Miễn dịch học thụ động và ảnh hưởng của nó đến phản ứng miễn dịch của lợn con chống virus dịch tả lợn, Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y 1985 - 1989, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 15 - 19 Khác
20. Đào Trọng Đạt, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Tố Liên, Nguyễn Đức Dụ, Nguyễn Khoa Bảng (1989).Tình hình dịch tễ của bệnh dịch tả lợn cổ điển ở Việt Nam và vấn đề phòng chống, Khoa học kỹ thuật Thú y, số 2 - 1989, tr.4 - 9 Khác
21. Đào Trọng Đạt, Trần Thị Tố Liên (1989). Một số nét đặc trưng về dịch tễ học và bệnh lý lâm sàng dịch tả lợn hiện nay, Kết quả nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật Thú y 1985 - 1989, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 9 - 15 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Kết quả tiêm phòng các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ - Thành Phố Hà Nội năm 2012 - 2014 - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.1 Kết quả tiêm phòng các huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ - Thành Phố Hà Nội năm 2012 - 2014 (Trang 50)
Hình 3.1. Tỷ lệ tiêm phòng DTL các năm 2012 - 2014 - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Hình 3.1. Tỷ lệ tiêm phòng DTL các năm 2012 - 2014 (Trang 51)
Bảng 3.2. Tình hình bệnh DTL ở Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ từ năm 2012 – 2014 - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.2. Tình hình bệnh DTL ở Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ từ năm 2012 – 2014 (Trang 52)
Bảng 3.3. Xác định tỷ lệ  chết và tỷ lệ Tử vong do bệnh DTL gây ra ở Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.3. Xác định tỷ lệ chết và tỷ lệ Tử vong do bệnh DTL gây ra ở Quốc Oai, Thanh Oai, Chương Mỹ (Trang 54)
Hình 3.2: So sánh t - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Hình 3.2 So sánh t (Trang 55)
Hình 3.3 So sánh tỷ l - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Hình 3.3 So sánh tỷ l (Trang 56)
Bảng 3.4:  So sánh t - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.4 So sánh t (Trang 56)
Bảng 3.5: Tình hình bệnh dịch tả lợn ở lợn các lứa tuổi tại Thanh Oai, Quốc Oai, Chương Mỹ - TP Hà Nội - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.5 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở lợn các lứa tuổi tại Thanh Oai, Quốc Oai, Chương Mỹ - TP Hà Nội (Trang 58)
Hình 3.4: So sánh t - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Hình 3.4 So sánh t (Trang 59)
Bảng 3.6 Tình hình bệnh DTL xảy ra ở các tháng trong năm, từ 2012 -2014  Tháng - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.6 Tình hình bệnh DTL xảy ra ở các tháng trong năm, từ 2012 -2014 Tháng (Trang 60)
Hình 3.5: Tình hình bệnh dịch tả lợn xảy ra ở các tháng trong năm   tại Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai thành phố Hà Nội - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Hình 3.5 Tình hình bệnh dịch tả lợn xảy ra ở các tháng trong năm tại Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai thành phố Hà Nội (Trang 61)
Bảng 3.7: Tình hình bệnh DTL ở các hình thức chăn nuôi khác nhaunăm 2014 - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.7 Tình hình bệnh DTL ở các hình thức chăn nuôi khác nhaunăm 2014 (Trang 62)
Hình 3.6 So sánh t - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Hình 3.6 So sánh t (Trang 63)
Bảng 3.10. Xác định tỷ lệ biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh DTL - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.10. Xác định tỷ lệ biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh DTL (Trang 67)
Bảng 3.13: Kết quả kiểm tra khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn ở các thời - nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh dịch tả lợn tại một số huyện ngoại thành hà nội
Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn ở các thời (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm