MỤC LỤC 1.2.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản 5 1.2.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự 1.2.3 Nghiên cứu về các biện pháp phò
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN ĐÌNH CHIẾN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng,
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Thanh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để đề tài được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Giáo viên hướng dẫn, của các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Đình Chiến – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi sự chỉ dẫn
và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Học viện Nông nghiêp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Trung tâm Giám định Kiểm dịch thực vật – Cục Bảo
vệ thực vật đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học
và thực hiện đề tài nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên cứu này
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thanh Hà
Trang 5MỤC LỤC
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản 5 1.2.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự
1.2.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản 9 1.2.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái và tính kháng thuốc
1.3.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản 16 1.3.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự
1.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản 19 1.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái và tính kháng của mọt
Trang 6CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.5.1 Điều tra thành phần côn trùng trong kho thóc bảo quản ở Hà Nội 25 2.5.2 Phương pháp làm mẫu tiêu bản và giám định 26 2.5.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài
3.1 Thành phần sâu mọt hại kho tại một số kho bảo quản ở Hà Nội năm 2015 38 3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của mọt gạo Sitophilus oryzae 43
3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae 48
3.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của loài mọt gạo Sitophilus
Trang 7DANH MỤC BẢNG
3.1 Thành phần sâu mọt trong kho thóc bảo quản ở Hà Nội năm 2015 38 3.2 Thành phần thiên địch trong kho thóc bảo quản ở Hà Nội năm 2015 42 3.3 Kích thước các pha phát dục của mọt gạo Sitophilus oryzae 44 3.4 Thời gian phát dục của mọt gạo Sitophilus oryzae ở hai mức nhiệt
3.9 Ảnh hưởng của vật liệu bảo quản đến khả năng gia tăng mật độ của
3.10 Ảnh hưởng của dụng cụ bảo quản đến tỷ lệ hao hụt trọng lượng thức
3.11 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến khả năng gia tăng mật độ của loài
3.12 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng do mọt gạo Sitophilus oryzae gây ra trên
3.13 Tập tính lựa chọn thức ăn của mọt gạo Sitophilus oryzae 62
3.14 Hiệu lực của thuốc Phosphine đối với mọt gạo Sitophilus oryzae 63
3.15 Mức độ chống chịu với Phosphine của mọt gạo Sitophilus oryzae 64
Trang 8DANH MỤC HÌNH
3.1 Tỷ lệ thành phần họ thuộc bộ Coleoptera trong kho bảo quản 39 3.2 Các loài côn trùng trong kho bảo quản tại Hà Nội năm 2015 42 3.3 Các loài thiên địch trong kho bảo quản tại Hà Nội năm 2015 43
3.6 Nhộng của mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus 46
3.8 Nhịp điệu sinh sản của mọt gạo Sitophilus oryzae 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực quan trọng nhất
trong nền nông nghiệp thế giới và Việt Nam Hiện nay trên thế giới có khoảng
100 nước trồng lúa Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số thế giới
Việt Nam là một nước nông nghiệp, điều kiện khí hậu nhiệt đới có nhiều thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, song cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài côn trùng phát sinh, phát triển và gây hại cây trồng trên đồng ruộng và gây hại sản phẩm nông nghiệp cất giữ trong kho Chúng gây tổn thất đáng kể không chỉ về khối lượng mà còn làm giảm chất lượng hàng hoá nông sản dự trữ
và bảo quản trong kho
Ở Việt Nam, mức tổn thất hàng năm từ 8 – 15%, riêng đồng bằng sông Cửu Long khoảng 18% (Tổng cục Lương thực Việt Nam, 2000) Tổn thất do côn trùng gây ra cho ngũ cốc bảo quản trong kho là 10% (Nguyễn Thị Giáng Vân và cộng sự, 1995) Thóc bảo quản hàng năm bị hao hụt khoảng 4 – 8%, một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra sự hao hụt này là sâu mọt hại kho Theo báo cáo tổng kết công tác điều tra kho năm 2003 của Cục Bảo vệ thực vật, hàng năm nước ta thiệt hại trung bình 15%, tính ra hàng vạn tấn lương thực bị mất đi,
có thể nuôi sống hàng triệu người
Hiện nay, trên thế giới tất cả các quốc gia đều coi trọng công tác bảo quản cất giữ nông sản phẩm, vì tác hại của sâu mọt trong kho là rất lớn Trong số các loài sâu mọt phổ biến và gây hại nghiêm trọng đối với nông sản trong kho đáng
chú ý là Sitophilus oryzae Linnaeus (mọt gạo) Chúng phân bố hầu như khắp thế
giới, gây hại mạnh ở các kho lương thực, đặc biệt là các kho chứa gạo, ngô, thức
ăn gia súc
Với mong muốn góp phần vào việc làm giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch
Trang 11và trong quá trình bảo quản, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác kiểm dịch thực vật, hạn chế tối đa sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu mọt hại thóc bảo quản, mang lại hiệu quả kinh tế đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, chúng
tôi thực hiện đề tài: “ Thành phần sâu mọt hại kho thóc bảo quản, đặc điểm
sinh học, sinh thái học và tính kháng thuốc của loài mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus tại Hà Nội năm 2015”
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Xác định thành phần sâu mọt hại kho thóc bảo quản tại khu vực Hà Nội, xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học và đánh giá tính kháng thuốc
hóa học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thành phần sâu mọt gây hại và thiên địch của chúng trong kho thóc bảo quản tại khu vực Hà Nội
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae
- Khảo sát biện pháp phòng trừ và tính kháng thuốc hóa học của loài mọt
gạo Sitophilus oryzae
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần sâu mọt trên thóc bảo quản trong kho sẽ góp phần bổ sung vào danh mục thành phần sâu mọt hại kho công bố ở nước ta
- Bổ sung một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái của
loài mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus
Ý nghĩa thực tiễn:
- Cung cấp các dẫn liệu về tình hình gây hại, biến động mật độ và một số
đặc tính sinh học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus làm căn cứ khoa
học quan trọng phục vụ công tác kiểm dịch thực vật đặc biệt là kiểm dịch thực vật nội địa, giúp quản lý sinh vật gây hại trong vùng
Trang 12- Cung cấp dẫn liệu về tính kháng thuốc Phosphine ở mọt gạo cũng như hiệu quả của việc xông hơi khử trùng mọt gạo bằng Phosphine làm cơ sở bổ sung biện pháp phòng trừ côn trùng trong kho dự trữ
- Góp phần xây dựng biện pháp phòng chống sâu mọt trong kho bảo quản,
có phương án sử dụng các loại thuốc khử trùng kho một cách hợp lý, an toàn với con người và môi trường
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Lúa gạo là một trong những nguồn lương thực chính của con người và cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi Kể từ cuối thập kỷ 80 đến nay, ngành lúa gạo của Việt Nam đã phát triển liên tục theo định hướng gia tăng sản lượng Sự gia tăng gần như liên tục này trong suốt hơn hai thập kỷ qua đã giúp Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn liên tục là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới
Do đó, để đảm bảo chương trình an ninh lương thực quốc gia cũng như xuất khẩu, lượng dự trữ thóc trong kho cũng như lượng thóc luân chuyển trên thị trường là rất lớn Những năm gần đây, sản lượng thóc xuất khẩu ngày càng tăng, tuy nhiên các nước phát triển nhập khẩu thóc luôn có những yêu cầu nghiêm ngặt
về Kiểm dịch thực vật, nhất là các đối tượng con trùng gây hại trên mặt hàng này Thành phần các loài sâu mọt hại thóc bảo quản trong kho khá đông đúc đã gây tổn hại không nhỏ tới số lượng và chất lượng của nguồn nguyên liệu Không những thế, việc xuất khẩu thóc từ quốc gia này đến quốc gia khác cũng mang đến một mối nguy cơ không nhỏ của việc lan truyền các sinh vật gây hại Trong số những loài côn trùng gây hại sơ cấp trên thóc không thể không kể đến loài mọt
gạo Sitophilus oryzae, đây là loài mọt rất phổ biến trên thóc đồng thời dễ dàng
phát sinh phát triển nhanh chóng, với mật độ cao gây khó khăn trong việc bảo quản và dự trữ thóc trong kho Trong những năm gần đây, tình hình bùng phát hiện tượng kháng thuốc hóa học ở côn trùng trong kho bảo quản nông sản đã xảy
ra ở một số địa phương càng làm cho việc phòng trừ côn trùng gây hại bằng thuốc hóa học gặp nhiều khó khăn
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về loài mọt gạo Sitophilus oryzae, ở
Việt Nam cũng đã có một số tác giả đã nghiên cứu về loài mọt này Tuy nhiên với mỗi vùng sinh thái khác nhau, điều kiện khí hậu, kho tàng khác nhau thì đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài mọt gạo này cũng lại biến đổi khác nhau
Trang 14Do đó, việc nghiên cứu nắm bắt được thành phần các loài sâu mọt gây hại trong kho thóc bảo quản, sự phân bố, mức độ gây hại của côn trùng kho nói chung và
của loài mọt gạo Sitophilus oryzae nói riêng là cần thiết cho ngành Kiểm dịch
thực vật, đồng thời từ những nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh học, sinh thái
học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae giúp chúng ta có cơ sở để đưa ra các biện
pháp phòng trừ loài mọt này một các hiệu quả và hợp lý, giảm thiểu tác hại đến môi trường và chất lượng nông phẩm
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản
Sự phá hại của côn trùng đối với sản phẩm bảo quản thật đa dạng Trước hết phải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá hủy vật chất, làm cho vật chất
dự trữ hay lưu trữ bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng Cotton and Wilbur (1974) đã thống kê được số lượng loài côn trùng gây hại hạt dự trữ trong kho trên thế giới gồm 43 loài; trong đó có 19 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại chủ yếu
và 24 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại thứ yếu (dẫn theo Snelson, 1987)
Các kết quả điều tra côn trùng và gặm nhấm gây hại trong kho ngũ cốc cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác ở Thái Lan đã xác định khoảng 70 loài gây hại
Trong đó, các loài gây hại chủ yếu trên thóc lưu trữ là Sitotroga cerealella, Rhyzopertha dominica và Sitophilus sp (Sukprakarn, 1985)
Tổng số côn trùng gây hại hạt dự trữ trong kho trên thế giới gồm 43 loài được chia làm 2 nhóm: nhóm côn trùng gây hại chủ yếu gồm 19 loài, nhóm gây hại thứ yếu nhưng thường xuyên phát hiện trên hạt gồm 24 loài (Snelson.,1987)
Donahaye and Calderon (1964) đã ghi nhận được 27 loài côn trùng gây hại trong kho sản phẩm lương thực dự trữ ở Israel Trong đó, một số loài có mức
độ phổ biến cao như Carpophilus hemipterus, Lasioderma serricorne, Oryzaephilus surinamensis và Tribolium castaneum
Tại bang Ohio, nhà côn trùng học người Mỹ, Arnold (1990) và các nhà khoa học của trường đại học Ohio (1999) đã tiến hành điều tra thu thập các loài côn trùng hại sản phẩm bảo quản trong kho ở Mỹ Kết quả điều tra thu thập được 69 loài côn trùng thuộc 20 họ, 2 bộ Trong đó có 6 loài côn trùng là đối tượng
Trang 15kiểm dịch thực vật của Việt Nam là: Prostephanus truncatus (Horn.); Caulophilus oryzae (Gyllenhal); Sitophilus granarius (L.); Trogoderma granarium Everts; Trogoderma inclusum Leconte; Acanthoscelides obtectus (Say)
Các loài gây hại chính trong kho bảo quản gạo ở Indonesia là nhóm
Curculionid Sitophilus sp và tenebrionid Tribolium castaneum và một số loài gây hại thứ yếu bao gồm Corcyra cephalonica, Ephestia kuehniella và Rhyzopertha dominica (Sidik et al., 1985)
Digvir et al (1995) cho biết có 17 loài côn trùng gây hại chủ yếu và 12
loài khác gây hại thứ yếu trong kho thóc dự trữ Sự đa dạng loài của dịch hại phụ thuộc vào hình thức, cách bảo quản, lưu trữ lúa gạo trong kho
Theo kết quả điều tra của Haines phối hợp với các nhà khoa học Indonesia thuộc Trung tâm sinh học nhiệt đới vùng Đông Nam Á (Seameo - Biotrop) và Viện Tài nguyên thiên nhiên (NRI) cũng như các tác giả Sukprakarn and Tauthong (1998); Nilpanit and Sukprakarn (1990); Nakakita (1994), thành phần côn trùng hại kho nông sản thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ Cánh vảy (Lepidoptera) ở Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines và một số nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á có 174 loài thuộc 38 họ, trong
ñó bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 153 loài thuộc 34 họ khác nhau, chiếm 87,93%; bộ Cánh vảy (Lepidoptera) có 21 loài thuộc 4 họ khác nhau, chiếm 12,07% Kết quả trên cho thấy, khu vực Đông Nam Á là vùng có thành phần côn trùng hại kho nông sản tương đối phong phú và đa dạng hơn nhiều so với Mỹ cũng như các nước khác trên thế giới (dẫn theo Hà Thanh Hương, 2008) Theo Reichmuth (1997) đã thông báo có tới 60 loài côn trùng thuộc 21 họ của 4 bộ đã bắt gặp trên nông sản bảo quản ở Đức
Điều tra 1999-2001 ở Tây Ban Nha đã công bố hơn 29 loài côn trùng thuộc 15 họ (chủ yếu là Coleoptera và Lepidoptera) đã được tìm thấy trên các sản
phẩm thực vật trong kho bảo quản Trong đó, mọt gạo Sitophilus oryzae và mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica là những loài có mức độ phổ biến cao nhất (Riudavets et al., 2002)
Kết quả điều tra quốc gia lần thứ 4 của Trung Quốc năm 2004-2005 về
Trang 16thành phần côn trùng và nhện hại trong kho ngũ cốc là 270 loài, trong đó có 44 loài thiên địch, chúng thuộc 2 lớp, 12 bộ và 54, trong đó có 54 loài gây hại chủ
yếu trong các kho dự trữ như: Sitophilus oryzae (L.), Sitophilus granarius (L.), Rhyzopertha dominica (F.), Palorus ratzeburgi (Wissmann), Xylocoris galactinus (Fieber)……(Yan et al., 2010)
Điều tra các sản phẩm lưu trữ như ngũ cốc, bột, các loại thảo mộc khô, trái cây khô và các loại hạt tại Đức đã xác định hơn 213 loài côn trùng gây hại trong
đó có 16% được tìm thấy trong kho bảo quản, hầu hết các loài này thuộc nhóm gây hại thứ phát và nhóm ăn mốc với tỷ lệ tương ứng là 28% và 29% tổng số loài (Scholler, 2013)
CABI (2015) nêu rõ các loài côn trùng Acanthoscelides obtectus¸ Callosobruchus spp., Prostephanus truncatus, Rhyzopertha dominica, Sitophilus spp., Tribolium castaneum gây hại nguy hiểm đối với kho thóc lúa và đậu
Từ những dẫn liệu trên cho thấy thành phần loài côn trùng trong kho dự trữ hạt ngũ cốc trên thế giới khá là phong phú và được đặc biệt quan tâm nghiên cứu
1.2.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ trong kho bảo quản
Các loại hạt ngũ cốc như lúa mỳ, lúa gạo, ngô, v.v… chiếm một phần quan trọng trong bữa ăn của con người Những sản phẩm này được dự trữ ở dạng hạt khô và là nguồn dự trữ lương thực duy nhất của con người Tuy nhiên, hạt ngũ cốc dự trữ thường bị các loài côn trùng gây hại cắn phá và gây thiệt hại lớn
về trọng lượng cũng như giảm chất lượng Theo tài liệu của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) hàng năm trên thế giới có tới 6-10% số lương thực bảo quản trong kho bị tổn thất Báo cáo ở 5 nước Asean chỉ ra rằng các quốc gia thành viên đã mất khoảng 25% sản lượng của họ trong quá trình thu hoạch và sau thu hoạch bao gồm lưu trữ và cận chuyển, sự mất mát này ước tính khoảng 10,5 triệu tấn lúa Trong báo cáo của FAO (2015) tổn thất trọng lượng gạo của Thái Lan sau thu hoạch dao động từ 8 – 14% Các báo cáo gần đây của Viện lúa chỉ ra rằng trong 20 giống lúa khác nhau chưa xử lý được lưu trữ trong 10 tháng thì tổn thất
Trang 17trọng lượng dao động trong khoảng 2,06-24,30% trung bình là khoảng 4,54% Vì vậy thiệt hại do côn trùng gây ra có liên quan đến thời gian lưu trữ
Theo Subramanyam and Hagstrum (1996) tổng sản lượng lương thực thế giới đã có thể tăng 25 – 30% nếu chúng ta có thể tránh được mất mát sau thu hoạch
Năm 1973, FAO đã chỉ ra rằng không lâu nữa, nguồn cung cấp lương thực của thế giới sẽ không đủ để chống lại thiệt hại mùa màng và nạn đói Ít nhất 10% lương thực sau thu hoạch bị mất mát do dịch hại trong kho và thiệt hại lên tới 30% là phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới Hàng hoá tổn thất về ngũ cốc
dự trữ trên toàn thế giới vào khoảng 10%, có nghĩa là 13 tấn ngũ cốc đã bị mất chỉ do côn trùng và 100 tấn đã bị mất giá trị Theo Powley (1963) ở Mỹ, mất mát hàng năm trong các kho dự trữ ngũ cốc thường dao động giữa 15 và 23 triệu tấn, trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột phá hại và 8 - 16 triệu tấn do côn trung phá hại Nếu tính giá trị bằng tiền mặt đã mất khoảng 465 triệu USA (dẫn theo Snelson,1987)
Tỷ lệ tổn thất do côn trùng gây ra trong kho ngũ cốc dự trữ tại Thái Lan dao động từ 1 – 25% (Sukprakarn, 1985)
Tổn thất sau thu hoạch đối với thóc và gạo tại một số nước châu Á như Malaysia là 17%, Nhật Bản là 5% và Ấn Độ là 11 triệu tấn/ năm (Vũ Quốc Trung, 2008)
Tại Mỹ, theo Pawgley (1963) tổn thất hại bảo quản mỗi năm được công bố
là khoảng 15-23 triệu tấn, trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột, từ 9-16 triệu tấn
do côn trùng Ở châu Mỹ - Latinh, người ta đánh giá rằng ngũ cốc và đậu đỗ đã thu hoạch bị tổn thất tới 25-50%; ở vài nước châu Phi, khoảng 30% tổng sản lượng nông nghiệp bị mất đi hàng năm Đối với thóc và gạo, tổn thất sau thu hoạch tại một số nước châu Á như Mã Lai là 17% Nhật Bản là 5% và Ấn Độ là
11 triệu tấn/năm (dẫn theo Nguyễn Xuân Huy, 2009)
Lam (1993) đã cho biết tổn thất sau thu hoạch đối với gạo cất giữ trong kho ở châu Á khoảng 2 – 6%
Walter công bố rằng, thiệt hại do dịch hại kho gây ra khoảng 10% ở
Trang 18Minnesota, thậm chí tới 50% ở một số quốc gia đang phát triển Tổn thất do côn trùng gây ra ước tính từ 5 – 10% sản phẩm lương thực toàn thế giới (dẫn theo Hà Thanh Hương, 2008)
Snelson (1987) công bố rằng, tại vùng Sahara thiệt hại của hạt trong kho bảo quản có thể lên tới 25 – 40%
Bùi Công Hiển (2014) cho rằng mọt gạo là đối tượng gây hại chủ yếu trong lương thực, đặc biệt ở những kho chứa gạo, ngô; ở Thổ Nhĩ Kỳ 2/3 số trường hợp bị hại là do mọt gạo Ở Mỹ, riêng năm 1951 ước tính thiệt hại do mọt gạo gây ra khoảng 120 triệu đô la Mỹ Trong lịch sử cũng ghi nhận ở một chiếc tàu chở 145 tấn ngô vào năm 1948, khi cập bến đã sàng được 3 tấn mọt gạo
Sitophilus zeamais và Tribolium castaneum là côn trùng gây hại nghiêm
trọng trong kho lưu trữ hạt, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch mà chúng gây ra tại Brazil khoảng 25% (Atunes, 2013)
Tại Ấn Độ, theo Sittisuang and Imura (1987) chỉ ra rằng gạo nâu mất 19%
so với trọng lượng hạt ban đầu sau 14 tuần nhiễm Sitophilus oryzae Để đánh giá khả năng gây hại của ấu trùng và trưởng thành Sitophilus oryzae các thí nghiệm
trong phòng đã được thực hiện Chúng làm trọng lượng hạt bị giảm tối đa là 57% đối với gạo và 10% đối với lúa mì (dẫn theo CABI, 2015)
Sitophilus oryzae được coi là một trong những loài gây hại chính trong kho bảo quản ngũ cốc (ngô, thóc, gạo, lúa mạch và lúa mì) Chúng làm giảm trọng lượng và chất lượng hạt, tạo điều kiện cho nấm, côn trùng khác phát triển
Trên ngô hoặc hạt bo bo, S oryzae tấn công khi độ ẩm hạt đã giảm đến 18 –
20% Xâm nhiễm và gây hại trong kho thông qua việc di chuyển vào các vật liệu
lưu trữ Trong kho ngô dự trữ, S oryzae thường gây tổn thất khoảng 4 – 5%
nhưng cũng có khi gây hại nặng lên đến 30 – 40% (CABI, 2015)
1.2.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
Phòng trừ sinh học cũng bao gồm việc sử dụng các chất độc có nguồn gốc
tự nhiên, các chất xua đuổi hoặc dẫn dụ, những chất có thể được sử dụng trong
hệ thống phòng trừ tổng hợp côn trùng gây hại trong kho, thậm chí những kỹ thuật này còn được gọi tên riêng là các kỹ thuật công nghệ sinh học (Reichmuth,
Trang 192000) Phòng trừ sinh học tạo ra cơ hội để đấu tranh có hiệu quả chống lại một loài dịch hại riêng biệt mà không gây ra ảnh hưởng đến các loài dịch hại khác hoặc các loài côn trùng có ích
Một số kết quả nghiên cứu về sinh học phòng trừ côn trùng gây hại trong kho: McGaughey (1980) cho biết việc xử lý trên lớp hạt bề mặt (khoảng 10cm) với
một lượng nhỏ chế phẩm Bacillus thuringiensis đã hạn chế khoảng 81% quần thể ngài Ấn Độ (Plodia interpunctella) và ngài bột điểm (Esphestia cautella) và kết quả
đã hạn chế sự ăn hại của chúng tới hơn 92% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 2014)
Scholler (2000) nghiên cứu tại Đức cho biết trong điều kiện thí nghiệm
phòng và trong kho có quy mô nhỏ, việc thả ong ký sinh Trichogramma evanescens đã làm giảm quần thể của Ephestia elutella tới 31,4% so với đối chứng Trong số những kẻ thù tự nhiên, Anisopteromalus calandrae (Howard)
và Lariophagus distinguendus (Forster) là ong kí sinh sâu non và có khả năng kiểm soát số lượng của một số loài mọt như Sitophilus oryzae, Sitophilus zeamay
Reichmuth (2000) cho biết bọ xít Xylocoris flavipes Reuter ăn trứng, sâu non và nhộng nhiều loài côn trùng gây hại trong kho như: Plodia interpunctella, Corcyra cephalonica, Ephestia cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes maculatus, Sitophilus zeamais, Cryptolestes ferrugineus, Sitophilus granarius, Tribolium confusum, Tribolium castaneum, Lasioderma serricorne và Sitotroga cerealella Cũng theo Christoph Reichmuth (2000), ong Trichogramma evanescens Wetw ký sinh trứng nhiều loài côn trùng gây hại trong kho như
Plodia interpunctella, Ephestia kuehniella, Corcyra cephalonica, Ephestia cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes maculatus
Batta (2003) công bố nghiên cứu sử dụng chủng nấm Metarhzium anisopliae để phòng trừ mọt gạo Sitophilus oryzae, tỷ lệ chết của trưởng thành
mọt gạo khá cao từ 73,3 – 80%
Agostini (2015) chỉ ra rằng sử dụng các chủng nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và Isaria fumosorosea để kiếm soát mật độ Sitophilus oryzae là có hiệu quả với tỷ lệ tử vong dao động từ 5 – 25%
Trang 20Các biện pháp kỹ thuật được xử lý trong việc bảo quản lưu trữ hàng hóa trong kho có tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng Vệ sinh sạch sẽ kho tàng trước khi nhập hàng, sắp xếp và bố trí hàng hóa bảo quản trong kho gọn gàng, ngăn nắp và giữ cho kho sạch sẽ trong suốt quá trình bảo quản có tác dụng loại bỏ nguồn lây nhiễm côn trùng gây hại cho các lô hàng lưu trữ tiếp theo Côn trùng trong kho thường sống trong các phần hàng hóa còn sót lại sau khi xuất hàng hoặc ẩn nấp trong các khe kẽ của sàn tường kho, trong các phương tiện chế biến, vận chuyển Vì vậy giữ cho kho tàng luôn được sạch sẽ trong quá trình bảo quản kết hợp với kiểm tra định kỳ giúp phát hiện sớm sự xuất hiện của côn trùng gây hại để có biện pháp xử lý kịp thời Theo những nghiên cứu của Evans (1981) thì biện pháp vệ sinh kho tàng là điều có giá trị trước tiên khi áp dụng các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại (sinh học, hóa học và vật lý) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 2014)
Tại Trung Quốc, thuốc thảo mộc Gu Chong Jing (GCJ) đã được sản xuất và đưa vào sử dụng rộng rãi trong các kho bảo quản lương thực dự trữ tại tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và nhiều tỉnh khác ở Trung Quốc đạt hiệu quả tốt (Lin, 2003)
Đánh giá dầu thực vật trừ sâu hại bắt đầu được sử dụng từ những năm đầu của thế kỷ 19 Năm 1927, một công trình nghiên cứu tiến hành tại Mỹ đã ghi nhận hạt dầu bông, hạt lanh, hạt thầu dầu có hiệu quả trừ sâu Messina & Renwich
(1983) đã sử dụng dầu lạc, dầu dừa Cocos nucifera L., (Arecales:Arecaceaee) và dầu cây rum nhuộm để bảo quản hạt đậu đỗ, trừ loài mọt ngũ cốc Sitophilus granarius ( L) (Coleoptera: Curculionidae) Dầu thực vật như hạt dầu lanh, (Lnum usitatissium L., bộ Linales: họ Linaceae), hạt thầu dầu (Ricinus communis L., bộ Euphorbiales: họ Euphobiaceae), cây ô liu (Oler europaea L bộ Scophulariales:
Trang 21Wang et al (2015) chỉ ra rằng các loại tinh dầu thực vật có tiềm năng để
phát triển thành thuốc xông hơi tự nhiên hoặc chất xua đuổi kiểm soát côn trùng
gây hại như Sitophilus zeamais và Sitophilus oryzae trong kho bảo quản nông
sản
Spart (1979) đã báo cáo kinh nghiệm ở Úc trong việc bảo quản kín khi
lượng ôxy đạt 5% thì mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.) vẫn tồn tại
và sinh sản được Nhìn chung, phương pháp bảo quản kín chỉ thích hợp với điều kiện hạt khô và nồng độ ôxy đạt từ 5-10% và cácbônic cũng chiếm tỷ lệ tương tự (dẫn theo Bùi Công Hiển, 2014)
Việc bảo quản hạt ngũ cốc ở Úc và Trung Quốc hiện nay chủ yếu sử dụng các loại kho xylô với hệ thống thông gió hiện đại có sức chứa 50.000-70.000 tấn Với các loại kho này, côn trùng rất khó xâm nhiễm từ bên ngoài vào bên trong
kho để gây hại (Lin, 2003, Qin et al., 2003)
Bên cạnh đó, ở Úc hiện áp dụng biện pháp bảo quản kín dưới đất bằng việc đào các hố sâu khoảng 1-2m dưới đất, sau đó để trải bạt để cách nhiệt và
ẩm, rồi đổ rời hạt lúa mỳ xuống; sau đó trùm lên trên bằng một tấm bạt che khác và ghép các mép bạt lại với nhau làm kín (không cần đến nhà và mái che cho loại kho này) Phương pháp này kết hợp với sử dụng thuốc Phostoxin xông hơi để trừ côn trùng gây hại trên hạt lúa mỳ Bảo quản theo phương pháp này có thể kéo dài trong thời gian 6 tháng Bảo quản dưới mặt đất cũng rất phổ biến ở các nước châu Phi hiện nay, nơi có điều kiện thời tiết khô và nóng Phương pháp bảo quản dưới mặt đất có chi phí thấp hơn nhiều so với bảo quản trong các xylô Tuy nhiên, phẩm chất hạt bảo quản cũng giảm đi nhanh hơn
nên thời gian bảo quản thường chỉ là 6 tháng (Collins et al., 2002)
Thủy phần của hàng hóa trong bảo quản là một trong những yêu cầu rất quan trọng Hàng hóa bảo quản phải đủ độ khô cần thiết sẽ hạn chế sự bốc nóng trong khối hàng cũng như hạn chế sự xâm nhiễm và gây hại của côn trùng Davey và Elcoata (1996) kết luận rằng thủy phần an toàn đối với hạt ngũ cốc khoảng 12-13%; với lạc là 8%; với hạt cọ dầu là 6% Hyde (1969) cho rằng nấm mốc và côn trùng chỉ phát triển khi độ ẩm tương đối của không khí trong kho lớn hơn 70-
Trang 2275% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 2014)
Chiếu xạ cũng là một biện pháp phòng trừ Sitophilus oryzae trong kho bảo
quản gạo Thóc bị nhiễm mọt gạo sẽ được chiếu xạ với liều lượng 120 Gy khiến
tỷ lệ chết của mọt gạo trưởng thành lên tới 100% tại thời điểm 2 tuần sau khi xử
lý Chiếu xạ là phương pháp tối ưu để kiếm soát mật độ Sitophilus oryzae ở các
quần thể thể hiện tính kháng với phosphine cũng như ngăn ngừa sự lây lan của
mọt gạo trong các loại ngũ cốc xuất khẩu (Follet et al., 2013)
Đầu thế kỷ XX, thuốc hóa học với ưu điểm nổi vật như tác động diệt côn trùng nhanh, phổ tác động của thuốc rộng, để dễ sử dụng và giá thành rẻ đã giúp cho phòng trừ hóa học được xem như là vũ khí rất lợi hại của con người trong cuộc chiến chống lại các loài côn trùng gây hại ngoài đồng rộng cũng như trong kho bảo quản Một số hoạt chất hóa học được sử dụng trong việc phòng trừ côn trùng hại kho như alpha-cypermethrin, thiamethoxam Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ
chết của sâu non và trưởng thành loài Trogoderma granarium và Tenebrio molitor cao hơn khi xử lý bằng alpha-cypermethrin so với thiamethoxam (Athanassiou et
al., 2015)
Nghiên cứu của Swamy (2015) đã chỉ rõ hiệu lực của một số loại thuốc hóa
học sử dụng để phòng trừ Sitophilus oryzae trong kho ngô như Emamectin
benzoate 5 SG, spinosad 45 SC, indoxacarb 14,5 SC, rynaxypyr 20 SC, chlorfenapyr 10 EC, novaluron 10 EC và Deltamethrin 2,8 EC cũng như ảnh hưởng của từng loại thuốc tới chất lượng hạt giống (khả năng nảy mầm, sức sống, độ ẩm hạt, ) Trong đó, hiệu quả nhất trong việc kiểm soát mật độ
Sitophilus oryzae trên ngô giống là spinosad 45 SC
1.2.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái và tính kháng thuốc của mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus
Vị trí phân loại (CABI, 2015)
+ Giới (Kingdom): Metazoa
+ Ngành (Phylum): Arthropoda
+ Lớp (Class): Insecta
+ Bộ(Oder): Coleoptera
Trang 23+ Họ(Family): Dryophthoridae
+ Giống: Sitophilus + Loài: Sitophilus oryzae
Phân bố:
Mọt gạo phân bố ở nhiều khu vực trên thế giới như châu Âu: Áo, Belarus,
Bỉ, Hi Lạp, Italy, Phần Lan, Tây Ban Nha; châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Nepal, Sri Lanka; châu Mỹ: Brazil, Peru, Argentina; châu Đại Dương: Ôxtrâylia, New Zealand; châu Phi: Congo, Ai Cập, Ghana, Kenya (CABI, 2015)
Phạm vi kí chủ:
Mọt gạo Sitophilus oryzae gây hại chủ yếu trên hạt gạo Ngoài ra chúng
còn gây hại trên nhiều loại ngũ cốc khác nhau đậu đỗ, ngô, hạt bo bo … Mặc dù,
Sitophilus oryzae là côn trùng gây hại trong kho bảo quản nhưng chúng cũng có thể gây hại các loại ngũ cốc ngoài đồng ruộng (CABI, 2015)
Đặc điểm hình thái, sinh học và tính kháng thuốc của mọt Sitophilus oryzae
Linnaeus
Theo CABI (2015) mọt trưởng thành có màu nâu đỏ, trên đầu có vòi nhô dài ra Râu đầu hình đầu gối có 8 đốt Trên mảnh ngực trước có những đốm tròn nhỏ lõm vào Trên cánh cứng có những đường dọc lõm cũng có những điểm tròn Con đực có vòi ngắn và to hơn con cái, trên mặt lưng chấm lõm dài và rõ hơn con cái Trứng được đẻ bên trong hạt Sâu non và nhộng phát triển hoàn toàn bên trong hạt mà chúng phá hại, chỉ sau khi vũ hóa trưởng thành mới chui ra ngoài Mọt hoạt bát, có tính giả chết, thích bò lên cao và phía ngoài các bao nông sản, bay được khá tốt Mọt có thể sinh sôi nảy nở trong kho và ngoài đồng Mọt gạo trung bình sống khoảng 180- 200 ngày Thời gian sống của mọt gạo phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và thủy phần của hạt (PADIL, 2015)
Trung bình một con cái đẻ 380 trứng, cao nhât đạt 576 trứng (Perez-Mendoza et
Trang 24Nakakita (1997) đã chỉ ra ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến Sitophilus oryzae , ở nhiệt độ dưới 10oC Sitophilus oryzae đình dục; sự gia tăng mật độ của
mọt gạo bị ảnh hưởng ở 15 oC
Theo Koehler (1994) trưởng thành cái mọt gạo Sitophilus oryzae đẻ trung
bình 4 trứng mỗi ngày và có thể sống 4-5 tháng Vòng đời khoảng 26 – 32 ngày trong những tháng mùa hè nhưng kéo dài hơn trong thời tiết lạnh Trứng nở trong khoảng 3 ngày Sâu non đục bên trong hạt ngũ cốc trung bình 18 ngày Nhộng trần, giai đoạn nhộng kéo dài 6 ngày Trưởng thành mới vũ hóa vẫn ở trong hạt khoảng 3 – 4 ngày rồi chui ra
Choudhury (2013) chỉ ra rằng trong điều kiện nhiệt độ 30,7oC trên giống
lúa địa phương Sampa mashuri, vòng đời Sitophilus oryzae dao động từ 35 - 49
ngày, thời gian sâu non kéo dài từ 22 – 29 ngày, nhộng từ 7-8 ngày
Trưởng thành cái mọt gạo S oryzae đẻ 50 – 250 trứng, vòng đời kéo dài từ
28 – 35 ngày trong thời tiết ấm, có vài thế hệ trong một năm Thời gian hoàn thành một vòng đời kéo dài hơn khi nhiệt độ giảm Trứng nở sau 5 – 7 ngày, trưởng
thành S oryzae có thể sống từ 3 – 8 tháng trong điều kiện nhiệt độ từ 15 – 35oC (Trécé, 1999)
Vòng đời Sitophilus oryzae trong kho ngô bảo quản khoảng 42 ngày (ở
nhiệt độ từ 15 – 34oC, độ ẩm 58 – 89%) giai đoạn sâu non 27,6 ngày và giai đoạn
nhộng diễn ra trong 9,5 ngày (Swamy et al., 2014)
Manoj et al (2004) đánh giá ảnh hưởng của thời gian tiếp xúc và nồng độ
phosphine tới tỷ lệ chết của dòng mẫn cảm và dòng kháng yếu của mọt gạo
Sitophilus oryzae tại Australia
Odeyemi et al (2010) thực hiện nghiên cứu tính kháng pirimiphos methyl của mọt gạo Sitophilus oryzae Thóc bị nhiễm Sitophilus oryzae được lấy mẫu từ 5
tỉnh khác nhau của Nigeria để thử nghiệm tính kháng với pirimiphos methyl ở 7
nồng độ khác nhau Kết quả cho thấy tỷ lệ chết của mọt gạo Sitophilus oryzae
tăng theo nồng độ và thời gian tiếp xúc với thuốc pirimiphos methyl; cả 5 dòng mọt gạo đều có tỷ lệ chết 100% tại thời điểm 24 giờ sau tiếp xúc với pirimiphos methyl ở các nồng độ khác nhau
Trang 25Akhlag et al (2013) nghiên cứu tính kháng phosphine trong quần thể côn trùng Tribolium castaneum Rhyzopertha dominica, Trogoderma granarium và Sitophilus oryzae từ các vùng khác nhau của Sindh Bốn mươi tám dòng địa phương lần lượt được thu từ 7 thành phố của Sindh đã được thử nghiệm tính
kháng phosphine Trong đó các dòng địa phương của loài Tribolium castaneum Rhyzopertha dominica, Trogoderma granarium đều thể hiện mức kháng khác
nhau trong khi tất cả các dòng địa phương của loài Sitophilus oryzae chỉ thể hiện
tính kháng yếu so với dòng mẫn cảm chuẩn
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản
Việt Nam là một trong những nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, thành phần côn trùng và nhện hại kho nông sản cũng không kém phần phong phú
Kết quả điều tra về thành phần loài côn trùng và nhện hại trong kho bảo quản nông sản của tác giả Bùi Công Hiển (2014) đã công bố thành phần các loài thuộc bộ cánh cứng gây hại trong kho đã phát hiện ở Việt Nam gồm 55 loài
Kết quả điều tra thành phần côn trùng trong kho ở Việt Nam công bố năm
1996 của Nguyễn Thị Giáng Vân và cs (1995) đã ghi nhận được 110 loài côn trùng Chỉ tính riêng trong kho thóc dự trữ, các tác giả đã phát hiện được 23 loài côn trùng gây hại trong kho thóc dự trữ đổ rời thuộc 14 họ của 3 bộ, trong đó có
4 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và 19 loài thuộc nhóm gây hại thứ cấp
Một số loài côn trùng trong kho không có ở Việt Nam nhưng chúng thường lây nhiễm và theo hàng hóa nhập khẩu vào nước ta, trong đó có một số
loài rất nguy hiểm như mọt cứng đốt (Trogoderma granarium) (Nguyễn Thị
Giáng Vân, 1995)
Bùi Minh Hồng và cs (2002) đã tiến hành điều tra côn trùng hại kho trên thóc đổ rời tại hệ thống kho cuốn thuộc Cục dự trữ quốc gia ở 3 tỉnh Hà Nội, Thái Bình, Bắc Giang Kết quả thu thập được 15 loài, thuộc 3 bộ, 11 họ Số loài tập trung chủ yếu ở bộ cánh cứng (13 loài thuộc 11 họ) trong đó 3 họ chính là Curculionidae, Tenebrionidae và Silvanidae
Trang 26Lương Thị Hải và cs (2000) công bố trong “Kết quả điều tra từ năm 1996 – 1998 tại các kho thóc dự trữ ở Hà Nội và Hải Phòng” thu được 10 loài côn trùng hại trong kho thóc
Kết quả điều tra của Cục bảo vệ thực vật (2009) về thành phần sâu mọt hại kho tại một số tỉnh vùng biên giới phía Bắc (Lào Cai, Lạng Sơn) rất phong phú
bao gồm 31 loài trong đó chủ yếu là các loài thuộc bộ Coleoptera: Oryzaephilus surinamensis, Palorus baxicolis, Palorus flaveicolis, Corcyra cephalonica, Ahasverus advena, Sitophilus oryzae, Cryptolestes pusillus
Theo Hà Thanh Hương và cs (2004) cho biết đã thu thập được 56 loài côn trùng và 1 loài nhện trong kho tại 17 tỉnh thuộc 3 cùng sinh thái nông nghiệp miền Bắc Việt Nam thuộc 26 họ, 4 bộ và 2 lớp (nhện và côn trùng) (bảng 2) Có
5 loài côn trùng xuất hiện với tần suất cao là Rhyzopertha dominica Fabricius Cryptolestes pusillus Stephan, Sitophilus oryzae Linnaeus, Tribolium castaneum Herbst và Lophocateres pusillus (Klug)
Trần Văn Hai và cs (2008) đã ghi nhận thành phần sâu mọt trên gạo, trong kho bảo quản tại Cần Thơ là 23 loài với 14 họ thuộc 6 bộ, trong đó có
7 loài xuất hiện với tần suất và mật độ cao là Tribolium castaneum Herbst, Sitophilus oryzae Linnaeus, Ahasverus advena Waltl, Latheticus oryzae Waterhouse, Cryptelestes munitus Oliv., Rhizopertha dominica Fab., Liposcelis spp
Dương Minh Tú (2005) điều tra thành phần côn trùng trên thóc đổ rời ở miền Bắc Việt Nam thu được 32 loài côn trùng thuộc 20 họ của 5 bộ
Kết quả điều tra của Cục bảo vệ thực vật (2010) về thành phần côn trùng gây hại trên lúa sau thu hoạch có 47 loài trong đó có các loài gây hại như:
Rhizopertha dominica; Araecearus fasciculatus, Callosobruchus maculatus,
Sitophilus oryzae, Palorus foveicollis
1.3.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ trong kho bảo quản
Không giống như các tác nhân gây hại trên các giống cây trồng ngoài đồng ruộng mà chúng ta có thể đánh giá được những thiệt hại một cách trực tiếp Những
Trang 27tổn thất của nông sản trong công tác bảo quản thường không thể hiện ngay và thường ít thấy, để đánh giá được mức độ thiệt hại do sâu mọt hại kho gây ra cho nông sản lưu trữ là rất phức tạp
Tổn thất do côn trùng gây ra đối với ngũ cố dự trữ trong kho ở nước ta
là 10% (Lê Doãn Diên, 1990) Số liệu điều tra về tổn thất trung bình do côn trùng gây ra đối với thóc dự trữ trong 6 tháng ở hộ nông dân ngoại thành Hà Nội là 2,8% và giá bán bị giảm 20% Năm 2001 thì tổn thất sau thu hoạch của
hộ nông dân các huyện ngoại thành Hà Nội là khoảng 5,7 – 6,5% (Nguyễn Kim Vũ, 2003)
Theo Vũ Quốc Trung (1978) những con số thể hiện thiệt hại do sâu mọt hại kho gây ra là rất đáng chú ý: Gạo tẻ sau 3 tháng bảo quản với mật độ sâu hại
100 con/kg và thủy phần 13,5%, nó ăn hao mất 3,5% khối lượng và phát triển thêm 106% Bột mỳ có thủy phần 12%, mật độ sâu hại là 10 con/kg, sau 3 tháng bảo quản nó ăn hao mất 8% khối lượng và phát triển thêm 190% Một kho thóc sau 8 tháng không tiến hành các biện pháp phòng trừ sâu hại, mật độ sâu hại còn sống lên đến 32 con/kg Khi tiến hành kiểm tra lớp thóc bề mặt tới độ sâu 0,5 m thì thấy trung bình tỷ lệ hạt bị hại là 13,7%, dung trọng của lớp thóc này là 490 g/l (cũng loại thóc này không bị sâu hại có dung trọng 568 g/l) Đem cân 1000 hạt thóc không bị sâu hại nặng 23,2 g, còn 1000 hạt bị sâu hại chỉ nặng có 16,9 g Theo dõi quá trình xay xát thì thấy: từ 100 kg thóc không bị sâu hại có thể thu hồi được 70 – 73 kg gạo trắng, trong khi đó có mật độ sâu hại 100 con/kg, chỉ thu hồi được tối đa 66 kg gạo Đó là chưa kể tới chất lượng gạo rất kém, giá trị thương phẩm thấp và không đảm bảo về mặt vệ sinh
Thí nghiệm về khả năng gây hại của mọt gạo trên hỗn hợp thức ăn là thóc, gạo, ngô, lúa mỳ, đậu xanh và đậu đen cho thấy ở công thức thả 10 cặp mọt gạo
đã có tới 32,6% số hạt thóc và 40% số hạt gạo bị hại tại thời điểm sau thí nghiệm
60 ngày (Vũ Quốc Trung, 2008)
Nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm, có những điều kiện về nhiệt
độ, độ ẩm thích hợp với sự phát sinh phát triển của sâu hại kho, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác bảo quản nông sản nói chung và phòng trừ sâu hại nói
Trang 28riêng còn hạn chế, do đó thiệt hại do chúng gây ra không phải nhỏ Ở nước ta công tác phòng trừ sâu mọt hại kho có một tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt, nếu làm tốt sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất to lớn
1.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
Hiện nay trong bảo quản nông sản có nhiều biện pháp phòng trừ côn trùng hại kho khác nhau
Biện pháp cơ học vật lý hầu như chỉ sử dụng với việc bảo quản ở quy
mô nhỏ bằng các phương pháp cơ học như: sàng để loại bỏ côn trùng ra khỏi nông sản ở nhưng nơi chúng tập chung với mật độ cao; phơi sấy tiêu diệt côn trùng bằng tác dụng của nhiệt độ cao; bẫy đèn thu hút các loài côn trùng có tính hướng quang …
Biện pháp sinh học trong bảo quản nông sản lưu trữ là một hướng đi đúng trong việc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn và bền vững, đồng thời giảm thiểu những tác hại đến môi trường và cân bằng hệ sinh thái
Biện pháp phòng trừ sinh học là việc làm giảm các quần thể côn trùng gây hại bằng cách sử dụng các sinh vật sống do con người khuyến khích Phòng trừ sinh học cũng có thể được định nghĩa là một biện pháp làm hạn chế thiệt hại do côn trùng gây ra bằng các yếu tố sinh học Biện pháp sinh học phòng chống côn trùng gây hại kho như sử dụng các loài thiên địch (kẻ thù tự nhiên), vi sinh vật hoặc chế phẩm từ vi sinh vật, hooc mon và pheromone (chất dẫn dụ) còn rất hạn chế (Bùi Minh Hồng, 2002)
Thủy phần của hàng hóa trong bảo quản là một trong những yêu cầu rất quan trọng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy ở vùng Tây Nguyên, vào mùa khô thủy phần ngô giảm xuống 10,5-11% cho dù lúc nhập kho trước đó chỉ 2 – 3 tháng vào khoảng 13 – 14%; nhưng vào mùa mưa thủy phần có thể tăng lên 2 - 3%
Từ kết quả trên chúng ta cần quan tam lựa chọn kiểu hình và cấu trúc kho phù hợp với điều kiện khí hậu địa hình từng nơi Nhiều kết quả nghiên cứu đã kết luận mọt
Sitophilus oryzae không đẻ trứng vào lúa mỳ có thủy phần thấp hơn 10,5% cho dù nhiệt độ tối ưu; ở thủy phần dưới 13% thì quần thể phát triển chậm và tỷ lệ chết tăng
Trang 29(Bùi Công Hiển, 2014)
Cũng như các nước trên thế giới, thuốc hóa học sử dụng trong bảo quản kho tại Việt Nam cũng gồm 2 loại chính là Methyl bromide và Phosphine Với ngưỡng phòng trừ của các loại sâu mọt gây hại chính (mọt gạo, mọt đục hạt nhỏ, mọt bột đỏ và mọt thóc Thái Lan) là 20con/kg nông sản thì tiến hành sử dụng thuốc hóa học để diệt trừ Ngoài ra còn có nhóm thuốc sát trùng mà chủ yếu là Sumithion 50EC sử dụng để sát trùng kho, vật dụng trong kho khi đã xuất hết lô hàng cũ và chuẩn đưa lô hàng mới vào bảo quản Sumithion cũng dùng để xua đuổi, ngăn chặn sự xâm nhiễm côn trùng vào gây hại trong kho bằng cách phun vào rèm vải ở cửa kho và các khu vực xung quanh kho (Nguyễn Xuân Huy, 2008)
Phương pháp phòng trừ sâu mọt kho bằng thuốc thảo mộc là phương pháp cổ truyền từ rất lâu đời, nhưng hiện nay chúng được phát triển vì đã áp dụng các phương pháp tiên tiến để giữ những hợp chất có tác dụng làm chết hay ngăn ngừa sự xâm nhiễm của côn trùng Ở Việt Nam, chúng tôi đã dùng thuốc Gu Chung Jinh
trừ T castaneum ở liều 0,4 o/oo và 1 o/oo đều đạt hiệu lực 100% sau 3 tháng xử lý (tuy tác dụng chậm nhưng hiệu lực kéo dài) (PQDC, 1996)
Cục dự trữ quốc gia đã sử dụng thuốc Gu Chung Jinh rộng rãi trên phạm
vi miền Bắc Việt Nam phòng trừ côn trùng hại kho (trong đó có Tribolium castaneum) ở liều 1 o/oo và 2 o/oo cho thóc đổ rời (30 cm lớp thóc bề mặt) Biện pháp này đã có hiệu quả rất tốt ở Thái Bình Thuốc thảo mộc Gu Chung Jinh 25DP
do Trung Quốc sản xuất là loại thuốc tổng hợp của nhiều loại tinh dầu thực vật, chất mang và được bổ sung thêm thuốc hóa học Deltamethrin với hàm lượng 2,5 mg/kg Thuốc GCJ đã được bổ sung vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam năm 1998 Sử dụng thuốc GCJ ở liều lượng 0,04% để bảo quản hạt ngũ cốc như thóc và ngô rất có hiệu quả và đặc biệt thích hợp với quy mô bảo quản ngô hạt ở hộ gia đình nông dân tại tỉnh Hà Giang (Hà Thanh Hương, 2008) Trong số các biện pháp phòng trừ côn trùng hại kho nông sản thì biện pháp hóa học được ứng dụng rộng rãi nhất Thuốc hóa học gồm thuốc trừ sâu và thuốc xông hơi khử trùng Thuốc trừ sâu được sử dụng trong kho nông sản bị hạn
Trang 30chế hơn so với thuốc trừ sâu trên cây trồng, chúng gồm một số là lân hữu cơ và một số khác là pyretroit Một số loại thuốc hóa học đã và đang được sử dụng để bảo quản hạt ngũ cốc ở nước ta gồm có Actellic, DDVP 50%, Sumithion, Deltamethrin và Permethrin Tuy nhiên, hiện chỉ có thuốc Sumithion được sử dụng rộng rãi để phòng trừ côn trùng gây hại trong kho nói chung và kho thóc dự trữ đổ rời nói riêng do hiệu lực thuốc với côn trùng cao, giá thành phù hợp (Vũ Quốc Trung, 2008)
Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu hiệu quả và liều lượng phosphine để phòng trừ côn trùng hại kho nông sản Hiệu quả của phosphine trong phòng trừ côn trùng hại kho nông sản như sau: 1/2 viên PH3/ tấn trong 5-7 ngày, trừ các loài côn trùng hại trên nông sản đóng bao hoặc đổ rời; 1/2 viên PH3//35 kg trong 24 giờ trừ Sitophilus oryzae, sâu non Tribolium castaneum trong ngăn dự trữ thóc; 1,16 mg/l PH3 trong 24 giờ hoặc 4,66 mg/l
PH3 trong 8 giờ trừ S oryzae trong kho thóc; 1-3 g phosphine /m2 trừ
Rhizopertha dominica , Tribolium castaneum, Sitophilus oryzae và Oryzaephilus surinamensis; 1,5-3,5 g/1000 kg trong 4-5 ngày trừ côn trùng hai trong kho hạt giống (Hà Thanh Hương, 2008)
Nhiều loại thuốc xông hơi đã được sử dụng trong việc phòng trừ côn trùng gây hại , trong kho như: Methyl bromide (CH3Br), Phosphine (PH3), Chloropicrin (CCL3.NO2), Dichlorvos – DDVP (loại có hàm lượng hoạt chất 98%), Ethylene dichloride (CH2Cl.CH2Cl), Cacbon disulphide (CS2), Cacbon tetrachloride (CCl4), Sulphuryl fluoride (SO2F2), Acrylonitrile (CH2:CH.CN) … Tuy nhiên, hiện chỉ còn hai loại thuốc được sử dụng rộng rãi là Methyl bromide
và Phosphine Những loại khác hầu hết đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng do tính độc cao, gây nguy hiểm cho người sử dụng, hàng hóa và môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến hàng hóa bảo quản sau khi xông hơi Trong hai loại thuốc xông hơi trên thì Methyl bromide bị kiểm soát nhập khẩu và sử dụng bởi Nghị định thư Montrean do có tiềm năng phá hủy tần ôzôn của khí quyển (hệ số 0,6), còn lại là thuốc Phosphine thì đã được xác định là có nhiều loài côn trùng gây hại
Trang 31trong kho thể hiện tính kháng thuốc cao (Dương Minh Tú, 2005)
Hoàng Trần Anh, 2010 đã nghiên cứu biện pháp xử lý mọt khuẩn đen
Alphitobius diaperinus bằng thuốc Phostoxin liều lượng 4g/m3 có hiệu lực phòng trừ mọt khuẩn đen cao nhất, đạt 100%
Nguyễn Cao Sơn (2010) đã nghiên cứu biện pháp sử dụng lá xoan, lá trúc đào để bảo quản đậu đỗ cho thấy nếu rải lá cùng với đậu đỗ trong khu vực bảo quản giúp hạn chế phần nào sự sinh sản của mọt đậu xanh trên đậu đỗ bảo quản Thuốc hóa học Gu Chong Jing cũng được tác giả nghiên cứu cho thấy hiệu lực không cao đối với mọt đậu xanh trong quá trình bảo quản đậu đỗ
Theo Phạm Thị Thùy (1995) đã thử nghiệm hiệu quả nấm Beauveria bassiana đối với mọt gạo Sitophilus oryzae trong điều kiện phòng thí nghiệm thì nấm Beauveria bassiana có tác dụng diệt trừ mọt gạo từ 53,2 – 61,1 % sau 20 ngày
1.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái và tính kháng của mọt gạo Sitophilus oryzae
Vị trí phân loại (Bùi Công Hiển, 2014)
+ Giới (Kingdom): Animalia
Phân bố:
Mọt gạo Sitophilus oryzae phân bố ở nhiều khu vực trên thế giới, ở các
nước nhiệt đới và á nhiệt đới trong các sản phẩm ngũ cốc đều bắt gặp mọt (Bùi Công Hiển, 2014)
Phạm vi kí chủ:
Mọt gạo là đối tượng gây hại chủ yếu trong lương thực đặc biệt là trong
kho chứa gạo, ngô Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, Sitophilus oryzae có thể
Trang 32bay ra ngoài đồng và đẻ trứng lên lúa sắp thu hoạch Nhưng thường khi nhiệt độ cao hơn 25oC thì hoạt động của mọt ngô chiếm ưu thế hơn mọt gạo Ngoài lương thực, hầu hết các mặt hàng từ thực vật như đậu đỗ, hạt có dầu, dược liệu, các loại quả khô … đều bị mọt gạo ăn hại (Vũ Quốc Trung, 2008)
Đặc điểm hình thái, sinh học và tính kháng thuốc của mọt Sitophilus oryzae
Linnaeus
Kích thước cơ thể từ 2,3-3,5 mm Mặt lưng màu nâu đến nâu đen không bóng; trên góc mỗi cánh trước có 2 điểm màu đỏ (hình bán nguyệt) Tấm lưng ngực trước có những lỗ chấm tròn nông, sắp xếp ko theo quy luật Thời gian phát triển phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ Từ trứng đến trưởng thành ở nhiệt độ 27,2oC là 25 ngày; ở nhiệt
17oC là 92 ngày Tốc độ phát triển và khả năng tăng trưởng quần thể cũng phụ thuộc nhiều vào hàm lượng nước trong gạo (thủy phần gạo), cụ thể sẽ tăng lên khi thủy phần gạo thay đổi từ 12,2 lên 16,7% Thủy phần hạt thích hợp nhất cho chúng phát triển
là 16% Hoạt động sinh dục và đẻ trứng bắt đầu ở nhiệt độ 14oC Ở nhiệt độ dưới
6oC tất cả các giai đoạn phát triển cá thể đều bị chết trong vòng 3 ngày (Bùi Công Hiển, 2014)
Thời gian hoàn thành một thế hệ phụ thuộc chặt chẽ vào thủy phần hạt Khi thủy phần hạt tăng thì thời gian hoàn thành một thế hệ mọt giảm Lúa mì, ngô, thóc, sắn lát có thủy phần 11,5% thì trứng mọt gạo vẫn nở nhưng vòng đời lên tới 70 ngày Khi thủy phần hạt tăng tới khoảng 15% thì mọt nở khả nhanh (Vũ Quốc Trung, 2008)
Theo Dương Minh Tú (2005) vòng đời của mọt gạo ở 25oC là 59,5 ngày, ở 30oC là 42,2 ngày và khi tăng nhiệt độ lên 25oC vòng đời rút ngắn lại còn 33,8 ngày
Kết quả thử nghiệm ban đầu với các mẫu mọt gạo Sitophilus oryzae thu
tại Lào Cai, Nghệ An, Sơn La và Hà Nội cho thấy tất cả các mẫu đưa vào thử nghiệm đều chưa thể hiện tính kháng với phosphine Mẫu thu tại tổng kho dự trũ Đông Anh và Pháp Vân chỉ bắt đầu thể hiện tính kháng do tỷ lệ chết của trưởng thành chỉ nhỉnh hơn một chút so với dòng mẫn cảm chuẩn (Dương Minh Tú, 2005)
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1.Địa điểm nghiên cứu
- Kho bảo quản nông sản tại khu vực Hà Nội: Công ty Cổ phần Việt Pháp sản xuất thức ăn gia súc Proconco, Kho dự trữ Từ Liêm, Công ty Cổ phần giống cây trồng Trung Ương
- Phòng nhân nuôi côn trùng - Trung tâm Giám định Kiểm dịch thực vật – Cục Bảo vệ thực vật
2.2.2.Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2014 đến tháng 10/2015
2.3 Vật liệu nghiên cứu
* Vật liệu nghiên cứu: thóc (sấy ở 80oC trong 3 giờ để khử trùng sau đó
để 1 ngày đạt độ ẩm cần thiết để tiến hành thí nghiệm) dựa theo phương pháp số
16 của F.A.O (1980)
* Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm:
- Bộ rây sàng côn trùng
- Xiên lấy mẫu đối với hàng bảo quản đóng bao
- Lọ đựng côn trùng thu thập có nắp lưới thông thoáng
- Khay phân tích mẫu
- Kính lúp soi nổi Leica MC165C (cùng phụ kiện chụp ảnh), kính hiển vi (Leica DM 2500) quan sát các đặc điểm hình thái và có thước đo kích thước côn trùng
- Đĩa petri theo dõi thí nghiệm sinh vật học côn trùng
- Tủ định ôn sinh thái côn trùng DK – PGC 010
- Tủ sấy thức ăn nuôi côn trùng
- Thuốc xông hơi Phosphine và thùng khử trùng (chamber) thể tích 1 m3
Trang 34- Ngoài ra còn có: panh, ống nghiệm, bút lông, giấy lọc, bông, cồn, găn tay, giấy ghi nhãn
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần sâu mọt gây hại và thiên địch của chúng trên thóc bảo quản tại khu vực Hà Nội năm 2014
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài Sitophilus oryzae
- Nghiên cứu biện pháp hóa học phòng trừ Sitophilus oryzae
- Thử tính kháng thuốc của mọt Sitophilus oryzae
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Điều tra thành phần côn trùng trong kho thóc bảo quản ở Hà Nội
Hình 2.1 Điều tra thành phần côn trùng
- Điều tra thành phần côn trùng gây hại trên thóc bảo quản tại các kho chứa theo phương pháp của Bùi Công Hiển (1995) và QCVN 01-141 (BNN&PTNT, 2013) Tại mỗi kho tiến hành điều tra trên ngăn, mỗi ngăn lựa chọn 3 ô Tiến hành lấy mẫu theo 5 điểm, lấy cửa kho làm chuẩn điểm 1 là góc bên trái ngoài, điểm 2 là phải ngoài, điểm 3 là góc trái trong, điểm 4 là góc phải trong và điểm 5 là giữa kho Đối với kho bảo quản theo hình thức đổ đống tùy thuộc vào độ cao đống hàng để chia thành các tầng khác nhau, tầng đáy (chân đống hàng), tầng giữa (thân đống hàng) và lớp trên cùng (đỉnh đống hàng) Ở các
Trang 35vị trí phân lớp lấy mẫu không sâu quá 50cm so với bề mặt
- Lấy mẫu theo tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 01-141 (BNN&PTNT, 2013) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp lẫy mẫu Kiểm dịch thực vật
- Tiến hành sáng bằng các ngăn khác nhau để tách côn trùng từ mẫu hàng
hóa, phân tách các loài côn trùng kho và mọt Sitophilus oryzae cho vào lọ thu
mẫu, ghi nhãn: địa điểm thu thập, loại hình bảo quản của kho
- Tất cả các mẫu thu thập được ở các địa điểm đều dán nhãn đầy đủ và đưa
về phòng thí nghiệm giám định dưới kính lúp soi nổi và chụp ảnh
- Côn trùng thu được trên các mẫu được định loại theo tài liệu của Bousquet (1990), Gorham (1991), Haines (1991) và Bùi Công Hiển (2014)
- Tính độ thường gặp để đánh giá mức độ phổ biến của từng loài côn trùng theo không gian điều tra
Độ thường gặp OD (%) = Số điểm điều tra có chứa loài A x 100
Tổng số điểm điều tra Trong đó:
Na: Số điểm điều tra có chứa loài a
N: Tổng số điểm điều tra
Tỷ lệ thành phần loài (%) = Số lượng mỗi loài sâu mọt X 100
Tổng số các loài thu được
2.5.2 Phương pháp làm mẫu tiêu bản và giám định
Trang 36hết trứng rồi mới giết) Sấy mẫu ở nhiệt độ 30-40oC trong 1-2 ngày, tăng nhiệt độ 40-50-60oC trong 7-10 ngày (phụ thuộc vào kích thước
cơ thể côn trùng)
Đối với rệp (bộ Homoptera) xử lý mẫu bằng NaOH hoặc KOH 10%, đun dưới ngọn lửa đèn cồn trong 25-30 phút hoặc ngâm 24h
Đối với ruồi (bộ Diptera) xử lý mẫu bằng cách làm lạnh ở nhiệt độ
0-5oC trong vài giờ (có tác dụng giữ nguyên màu sắc mẫu) Quan sát cấu trúc vân cánh, vị trí lông trên cơ thể, màu sắc cơ thể,…
Giám định bằng tiêu bản giải phẫu (bộ phận sinh dục) theo khoá phân loại thích hợp sau khi xử lý bằng NaOH hoặc KOH 10%, đun
dưới ngọn lửa đèn cồn trong 25-30 phút
* Pha sâu non, nhộng:
Giám định trực tiếp bằng hình thái bên ngoài hoặc giám định bằng tiêu bản giải phẫu theo khoá phân loại sau khi xử lý bằng NaOH hoặc KOH 10%, đun dưới ngọn lửa đèn cồn trong 20 phút (vừa đun vừa lắc ống nghiệm)
Xử lý mẫu sâu non, nhộng bằng cách luộc nhẹ 80-90oC trên ngọn lửa đèn cồn hoặc đun cách thuỷ (không để sôi kỹ sẽ nát thân thể, khó giám định) Sau đó ngâm trong dung dịch giữ mẫu
Tất cả các mẫu khó đều được tham gia hội chẩn giám định bởi các chuyên gia đầu ngành trong định loại côn trùng kho TS Dương Minh Tú và GS Bùi Công Hiển
2.5.3.Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae (Linnaeus)
2.5.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài mọt gạo Sitophilus oryzae
Phương pháp nhân nuôi quần thể
- Chuẩn bị thức ăn: Thóc được sấy ở 80oC trong vòng 3 giờ để diệt trừ hết nấm và sâu bệnh, sau đó để ẩm để thủy phần hạt đạt14% tiến hành nhân nuôi mọt
- Chuẩn bị lồng nuôi mọt: Hộp lồng nuôi mọt gạo là các hộp nhựa có nắp, nắp hộp được đục lỗ (đường kính lỗ 1mm) được dán lưới (diện tích mắt lưới 1mm2) Kích thước hộp nuôi mọt, chiều cao 40cm, chiều rộng 20cm Phần gần
Trang 37nắp hộp được quét một lớp fluon (10cm) để tránh sự lây lan của mọt từ trong hộp
bò ra ngoài Trong mỗi hộp có chứa 500g thóc đã được khử trùng và làm ẩm
- Thả mọt: mẫu mọt gạo S oryzae thu được từ các kho rửa sạch bằng
dung dịch Miticide 1% để làm sạch nguồn nấm bệnh và côn trùng ký sinh trên mọt gạo, sau đó thả trưởng thành vào các lồng nuôi đã chuẩn bị sẵn
Quan sát, mô tả, đo đếm kích thước từng pha của mọt Sitophilus oryzae
(n=30), đơn vị đo (mm)
- Pha trứng: đo chiều dài và chiều rộng
- Pha sâu non: đo chiều dài và độ rộng đầu
- Pha nhộng và pha trưởng thành: đo chiều dài và phần rộng nhất của cơ thể Kích thước trung bình tính theo công thức:
3.5.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae
- Nghiên cứu thời gian các pha phát dục của Sitophilus oryzae trên thức ăn
là thóc trong điều kiện tủ định ôn của phòng thí nghiệm ở 2 điều kiện nhiệt độ là
25 oC và 30 oC, với độ ẩm trung bình là 70%
a Phương pháp lưu giữ quần thể
Thóc được sấy ở nhiệt độ 80oC trong vòng 3 giờ để diệt trừ hết các loại dịch hại khác như nấm, côn trùng đi theo Sau đó tiến hành để ẩm, khi thủy phần
hạt đạt 14% tiến hành thả mọt gạo S.oryzae thu bắt được tại các kho điều tra vào
để lưu giữ quần thể
n
Xi X
±
=
Trang 38b Phương pháp nhân nuôi cá thể
Tiến hành thí nghiệm nuôi sinh học loài mọt gạo Sitophilus oryzae: Dùng
hộp petri loại nhỏ có lót một lớp giấy trắng bên dưới Cho thức ăn đã được làm sạch và khử trùng vào các hộp petri Trong mỗi hộp thả một cặp mọt với tỷ lệ đực cái là 1:1 Kiểm tra, tìm trứng và thay thức ăn hàng ngày (1 lần/ngày)
Pha trứng: kiểm tra hàng ngày, tách trưởng thành cho đến khi trứng nở thành sâu non
Pha sâu non: khi trứng nở thành sâu non tiếp tục theo dõi thời gian phát dục của từng tuổi Quan sát mỗi ngày một lần và ghi lại thời điểm khi phát hiện thấy có xác sâu non của mọt trong hộp petri Thời gian phát dục của mỗi tuổi được tính từ thời điểm lột xác lần trước đến lần lột xác tiếp theo
Pha nhộng: tiếp tục theo dõi mỗi ngày một lần Ghi chép thời điểm khi sâu non tuổi cuối bắt đầu hóa nhộng và khi nhộng vũ hóa trưởng thành
Pha trưởng thành: khi phát hiện nhộng vũ hóa trưởng thành Chọn 10 cặp đực – cái ghép đôi và nuôi trong hộp petri có thức ăn Theo dõi mỗi ngày một lần đến khi tìm thấy quả trứng đầu tiên và ghi chép ngày phát hiện
Vòng đời của mọt được tính từ khi trứng nở đến khi mọt trưởng thành đẻ quả trứng đầu tiên
- Thời gian phát dục trung bình của một cá thể được tính theo công thức:
- Thời gian phát dục trung bình của một cá thể được tính theo công thức:
(3)
Trong đó: X : thời gian phát dục trung bình của từng pha;
Xi: thời gian phát dục của cá thể thứ I;
ni: số cá thể lột xác trong ngày thứ i
N: số cá thể theo dõi
N
ni Xi X
Trang 39- Tính sai số theo công thức:
(4)
Trong đó:
t: tra bảng Student – Fisher với độ tin cậy P = 0,95 và độ tự do v = n-1
δ: Độ lệch chuẩn, được tính theo công thức
n: Số cá thể theo dõi
(5)
- Nghiên cứu sức sinh sản của Sitophilus oryzae:
Mọt gạo Sitophilus oryzae được nuôi trong môi trường thức ăn là thóc, bố
trí 15 cặp đực cái 1 ngày tuổi vào mỗi hộp petri có chứa 50g thức ăn, nuôi riêng rẽ
và theo dõi sức đẻ trứng ở điều kiện ẩm độ, nhiệt độ phòng
Theo dõi các chỉ tiêu sau:
+ Sức trứng đẻ trung bình của một cá thể cái (STĐ/con cái):
STĐ/con cái = Tổng số trứng đẻ (quả) (quả/con) (6)
Tổng số con cái (con) + Số trứng đẻ trung bình trong một ngày của một con cái (ST/ngày):
ST/ngày = Tổng số trứng đẻ (quả/con) (quả/con/ngày) (7)
Tổng thời gian đẻ (ngày)
2.5.3.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của loài mọt gạo Sitophilus oryzae
- Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ đến thời gian phát dục của
Sitophilus oryzae
Tiến hành nuôi theo phương pháp nuôi cá thể trên thóc, nhiệt độ nuôi đặt cố định trong tủ định ôn theo các công thức:
+ Công thức 1: Nhiệt độ 25oC (ẩm độ trung bình 70%)
+ Công thức 2: Nhiệt độ 30oC (ẩm độ trung bình 70%)
n
t X
i
δ
Trang 40Số cá thể thí nghiệm (n = 30) được nuôi trong các lọ nhựa
- Diễn biến mật độ quần thể mọt gạo Sitophilus oryzae trong kho dự trữ
Điều tra mật độ mọt Sitophilus oryzae trên 3 loại nguyên liệu trong cùng
một kho là cám gạo, sắn lát, ngô hạt theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm lấy mẫu 1kg Thời gian điều tra định kỳ 7 ngày/lần Tiến hành 15 kỳ điều tra Kỳ điều tra đầu tiên bắt đầu sau khi các nguyên liệu được thực hiện xong việc khử trùng và thông thoáng trong 1 tuần
- Diễn biến mật độ mọt Sitophilus oryzae trên các hình thức bảo quản
thóc trong kho
Điều tra mật độ Sitophilus oryzae trên 2 hình thức bảo quản thóc thường
gặp trong kho là bảo quản theo kiểu đóng bao xếp thành chồng và bảo quản theo kiểu đổ rời thành đống, theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm lấy mẫu 1kg Thời gian điều tra định kỳ 7 ngày/lần Tiến hành 15 kỳ điều tra Kỳ điều tra đầu tiên bắt đầu sau khi thóc được nhập vào kho, thực hiện xong việc khử trùng
và thông thoáng trong 1 tuần
Hình 2.2 Các hình thức bảo quản thóc trong kho
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn (thóc, ngô, sắn lát) đến khả
năng gia tăng quần thể mọt Sitophilus oryzae
Thả trưởng thành mới vũ hóa (10 cặp đực - cái) vào các hộp nhựa đựng 1kg các loại thức ăn (có thủy phần 14%)sau:
Công thức 1: thóc
Công thức 2: ngô