BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LAPHINH PHITHACTHEP TÌNH HÌNH BỆNH DỊCH TẢ LỢN VÀ SỬ DỤNG VACXIN TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI NGOẠI THÀNH... Học vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LAPHINH PHITHACTHEP
TÌNH HÌNH BỆNH DỊCH TẢ LỢN VÀ SỬ DỤNG VACXIN TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI NGOẠI THÀNH
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, Ngày……tháng……năm 2015
Tác giả
LAPHINH PHITHACTHEP
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn:
PGS TS.Nguyễn Bá Hiên, Bô môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y- HọcViện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn Ban chủ nhiệm Khoa Thú y, Ban Quản lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo Sở Nông Lâm Nghiệp, các phòng ban liên quan Thành phố Viêng Chăn - Lào Sự giúp đỡ của Phòng Nông Lâm Nghiệp của các huyện
Sự giúp đỡ của Phòng khám bệnh gia súc và Thủy sản Trung Tâm Thú y Thủ Đô Viêng Chăn, CHDCND-Lào đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Hà Nội, Ngày……tháng……năm 2015
Tác giả
LAPHINH PHITHACTHEP
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
MỤC LỤC
1.1 Tình hình hình chăn nuôi lợn tại ngoại thành thành phố Viêng Chăn 3 1.2 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở thế giới và ở CHDCND lào 3 1.2.1 Tình hình bệnh dịch tả lợn trên thế giới 3 1.2.2 Ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 4
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.2.1 Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn tại ngoại thành thành phố
2.2.2 Nghiên cứu tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
2.2.3 Xác định hiệu giá kháng thể dịch tả lợn sau tiêm phòng vacxin 23
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 24
3.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại ngoại thành thành phố Viêng Chăn 30 3.1.1 Một số điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Viêng Chăn 30 3.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại ngoại thành thành phố Viêng Chăn 33 3.2 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn 33 3.2.1 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn
3.2.2 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn
từ năm 2012 đến năm 2014 theo lứa tuổi 37 3.2.3 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn
từ năm 2012 đến năm 2014 theo tháng 42 3.3 Xác định hiệu giá kháng thể dịch tả lợn sau tiêm phòng vacxin 46 3.3.1 Tình hình tiêm phòng vacxin dịch tả lợn ở những huyện ngoại
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADN Acid deoxyribonucleic
ARN Acid ribonucleic
BDV Border disease virus
BVDV Bovine viral diarrhea virus
CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
CPE Cytopathogenic Effect
CSF Classical Swine Fever
CSFV Classical Swine Fever Virus
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn 33 3.2 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn năm 2012 34 3.3 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn năm 2013 35 3.4 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn năm 2014 36 3.5 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn năm
3.6 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn năm
3.7 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn năm
3.8 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn năm
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC HÌNH
1.1 Bản đồ lưu hành bệnh dịch tả lợn tại một số nước khu vực châu Á 53.1 Bản đồ thành phố Viêng Chăn và khu vực ngoại thành 32 3.2 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn theo
3.3 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn theo
3.4 Tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong vài năm gần đây, chăn nuôi lợn ở Cộng hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào (CHDCND Lào) đã phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi loài gia súc này vẫn gặp phải nhiều yếu tố nguy cơ Một trong những yếu tố nguy cơ phải kể đến là bệnh dịch tả lợn Bệnh dịch tả lợn là bệnh truyền nhiễm của loài lợn, khi bệnh xảy ra sẽ giết chết nhiều lợn, tỷ lệ chết từ 60 - 90 %; số còn lại không chết thì còi cọc, chậm lớn, làm giảm năng suất chăn nuôi và ảnh hưởng đến chất lượng thịt và thậm chí tiềm ẩn mầm bệnh lây lan cho các đàn khác
Bệnh dịch tả lợn đã và đang gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi lợn ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Cộng hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện nay bệnh được xếp vào một trong bốn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và đã được Bộ Nông nghiệp đưa vào kế hoạch xây dựng chương trình phòng chống từng bước khống chế để loại trừ Cũng vì lý do đó mà bệnh dịch tả lợn cũng là một trong số các bệnh được quy định phải tiêm phòng bắt buộc và phải công bố dịch Tuy nhiên,
vì nhiều lý do khác nhau, nên kết quả của việc tiêm phòng còn thấp, dẫn đến đàn lợn không được miễn dịch, dịch phát ra âm ỉ Hiện tại Lào đang nhập 2 loại vacxin dịch tả lợn sản xuất từ Thái Lan và Việt Nam Vấn đề đặt ra là chất lượng các loại vacxin nhập ngoại này có chất lượng ra sao khi sử dụng phòng bệnh cho đàn lợn của Lào?
Theo thống kê của phòng thú y thành phố Viêng chăn, hàng năm xảy ra nhiều ổ dịch lớn nhỏ khác nhau chết rất nhiều lợn của tỉnh, nhưng chu ý là năm
2012 có 2 ổ dịch lớn tại 4 huyện Nasaithong, Parkngum, Sangthong và Saythanee làm chết 1960 con(2028 con mắc) Bệnh thường không diển hình cả về triệu chứng lâm sàng cũng như về bệnh tích, điều này gây khó khăn cho việc chẩn đoán Vì vậy nhân viên thú y cơ sở thường nhầm lẫn với các bệnh khác nên không đưa ra các biện pháp phòng chống kịp thời
Xuất phát từ tình hình đặc điểm hiện nay của bệnh dịch tả lợn tại các
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
huyện ngoại thành thành phố Viêng Chăn nói riêng và cả nước nói chung, việc điều tra xác định tình hình dịch bệnh, áp dụng các biện pháp chẩn đoán nhanh, chính xác, sử dụng một loại vacxin tốt và thực hiện việc tiêm phòng hợp lý sẽ góp phần khống chế được bệnh này một cách hiệu quả Xuất phát từ vấn đề nêu
trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Tình hình bệnh dịch tả lợn và sử
dụng vacxin trên đàn lợn nuôi tại ngoại thành thành phố Viêng Chăn”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn ở những huyện ngoại thành thành phố Viêng Chăn
- Khảo sát khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn lợn sau khi tiêm phòng vacxin dịch tả lợn
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình hình chăn nuôi lợn tại ngoại thành thành phố Viêng Chăn
Ngoại thành thành phố Viêng Chăn có ngành chăn nuôi lợn khá phát triển, cung ứng thịt lợn cho trung tâm thành phố Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi có sự khác biệt giữa các huyện ngoại thành chăn nuôi lợn năm 2012 - 2014 tại các huyện ngoại thành Viêng Chăn được thể hiện
Bảng 1.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn
Huyện Năm 2012
(con)
Năm 2013 (con)
Năm 2014 (con)
- Năm 1810 bệnh dịch tả lợn được mô tả đầu tiên ở Tenessce Đến năm
1833, bệnh dịch tả lợn được thông báo đầu tiên ở Ohio (Bắc Mỹ), sau đó bệnh lan
ra cả nước Mỹ nhất là vùng Cornbert, vì đây là vùng chăn nuôi lợn nhiều nhất) Theo Dahle J and B Liess (1992) dịch diễn ra ở Pháp năm 1862, ở Đức 1893
- Fuchs F (1968) cho rằng bệnh xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1862, sau đó lây lan sang các nước châu Âu khác là Đan Mạch, Thụy Điển vào năm
1887 Sau đó bệnh lan sang khắp các nước trên thế giới, ở Nam Mỹ năm 1899, Nam Phi năm 1900
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Kể từ đó bệnh dịch tả lợn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, thiệt hại về kinh tế do dịch tả lợn gây ra rất lớn, năm 1997 các nước: Đức, Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ có hơn 10 triệu con lợn bị giết hủy (Rassow D, 1997) ở Hà Lan tính đến 31/12/1997 có 424 ổ dịch trong một năm Cộng hòa liên bang Đức
từ tháng 11/1982 - 9/1984 có 1.457 ổ dịch xảy ra ở 248 đàn lợn giống, 777 đàn lợn thịt và 412 đàn hỗn hợp, với 395.000 lợn bị xử lý Năm 1984 ở Mêhyco có
179 ổ dịch, Malaysia có 5 ổ dịch, Hàn Quốc có 45 ổ dịch Năm 1997 dịch tả lợn xuất hiện ở Italia, Tây Ban Nha và Bỉ đều có nguồn gốc từ Hà Lan (Mesplede A, E Albina, F Madee, 1999) Năm 2000 bệnh xảy ra ở Anh, lây lan 16 trang trại và 75000 lợn phải loại bỏ để khống chế dịch
Do tầm quan trọng của bệnh dịch tả lợn, khi xảy ra gây chết nhiều lợn và làm thiệt hại lớn về kinh tế nên nhiều nước đã xây dựng chương trình thanh toán bệnh này Theo thông báo của Tổ chức Thú y thế giới (OIE) năm 2009, bệnh dịch
tả đã được khống chế và an toàn dịch bệnh ở phần lớn các nước Châu Âu Các nước đã thanh toán được bệnh này là Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Anh, Ai xơ len, Ai len, Niu Di Lân, Bồ Đào Nha, các nước vùng scandinavia, Tây Ban nha, Thụy sỹ
và Mỹ Ở Mỹ năm 1962, một chương trình thanh toán bệnh dịch tả lợn toàn liên bang đã được khởi động và đến năm 1976 đã thanh toán được bệnh dịch tả lợn Tổng chi phí thanh toán bệnh dịch tả lợn lên tới 140 triệu USD Cộng đồng Châu
Âu cũng đã hỗ trợ một chương trình thanh toán virus dịch tả lợn cho các nước thành viên Chương trình thanh toán dựa trên việc giết huỷ các đàn nhiễm bệnh
và các biện pháp vệ sinh thú y cũng như tăng cường pháp chế Thú y
Ở các nước Châu Á dịch được khống chế ở các nước đang phát triển như Nhật, Nam Triều tiên Ở các nước Đông Nam Á cũng được khống chế ở các nước Singapor, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippine Trong cam kết của các nước ASEAN, Malaysia cam kết sẽ thanh toán bệnh dịch tả lợn vào năm
2015, Philippine, Indonesia, Brunei, Thái Lan năm 2020, các nước khác đều có
lộ trình khống chế và thanh toán bệnh dịch tả lợn
1.2.2 Ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Ở CHDCND Lào trong những năm gần đây đang đẩy mạnh ngành
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
chăn nuôi lợn Tại Lào có 4 giống lợn địa phương là “Moo Chid”, “Moo Laat”, “Moo Daeng” và “Moo Nonghaet” Ngoài ra ở Lào cũng chăn nuôi một số giống lợn nhập ngoại trong đó nhiều nhất là Landrace và Duroc (Vongthilath and Blacksell, 2000)
Bệnh dịch tả lợn được coi là bệnh nghiêm trọng nhất ở lợn được chăn
nuôi tại Lào (Stür et al., 2002) Theo điều tra của Colan vào giai đoạn
2003-2005, đã phát hiện thấy bệnh dịch tả lợn ở Lào với số lượng là 30 ổ dịch trên
100 làng tại huyện Bolikhan và 5 ổ dịch trên 100 làng tại huyện Parkkading (Conlan, 2006) Tuy nhiên, do hệ thống quản lý tình hình dịch bệnh tại Lào còn chưa phát triển mạnh nên không cập nhật tình hình bệnh dịch tả lợn trên
hệ thống quản lý bệnh dịch của thế giới Theo bản đồ tình hình dịch bệnh của OIE (2015), tất cả những nước có biến giới với CHDCND Lào là Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Myanmar và Trung Quốc đều có lưu hành bệnh dịch
tả lợn Vì vậy, tại CHDCND Lào bệnh dịch tả lợn chắc chắn có lưu hành cho tới ngày nay và chưa thể kiểm soát cũng như tiến tới thanh toán dịch bệnh
Hình 1.1 Bản đồ lưu hành bệnh dịch tả lợn tại một số nước khu vực châu Á
(Nguồn: OIE, 2015)
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
Năm 1885 Salmon và Smith cho rằng bệnh gây ra bởi một loại vi
khuẩn mà hai ông đặt tên là Bacillus cholerae suis (tức Salmonella cholerae
suis) Nhưng đến năm 1903, Schweinitz và Dorset đã xác định được tác nhân
gây bệnh dịch tả lợn là một loại virus còn vi khuẩn Bacillus cholerae suis chỉ
đóng vai phụ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) Năm 1947 Holmes đặt tên cho
virus gây bệnh dịch tả lợn là Tortor suis Từ đó việc xếp loại virus này có
nhiều ý kiến khác nhau Những nghiên cứu gần đây đã xác định virus gây
bệnh dịch tả lợn là thành viên của họ Togavirideae, giống Pestivirus cùng với virus gây bệnh tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus - BVDV) và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus) Nhưng khi nghiên cứu
về cấu trúc phân tử của Pestivirus cho thấy bộ gen của chúng (genome)
tương ứng với virus thuộc họ Flaviridae, nên giống Pestivirus được xếp vào
họ Flaviridae
Theo thông tin chính thức từ Hội đồng phân loại quốc tế về virus học – International Committee on Taxonomy of Viruses (2012) thì virus dịch tả lợn thuộc họ Flaviridae, giống Pestivirus và Phân loại Baltimore (Baltimore Classification) vào nhóm IV (+) ssRNA (Group IV: Positive-sense Single-stranded RNA viruses)
Virus gây bệnh dịch tả lợn ở Lào phân lập giai đoạn 1997 – 1999 được xếp vào nhóm genogroup 2, phân nhóm subgroup 2.1 (Blacksell, 2005)
Về mặt độc lực: Trong tự nhiên tồn tại những chủng virus có độc lực khác nhau Những chủng có độc lực cao thường gây ra bệnh thể cấp tính và tỷ lệ chết cao, các chủng có độc lực trung bình thường gây bệnh ở thể á cấp tính hoặc mãn tính Các chủng có độc lực thấp thường gây tỷ lệ chết cao đối với bào thai
và lợn sơ sinh Theo Dunn H W (2000), độc lực của virus thường không ổn
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
định, việc tăng cường độc lực có thể được tiến hành sau một hoặc nhiều lần tiêm truyền qua lợn Ngày nay, người ta đã sử dụng các phương pháp làm giảm độc lực của virus và thu được một số chủng nhược độc có thể sử dụng làm vacxin như virus dịch tả lợn chủng C, chủng IFFA, chủng GPE(-), chủng Thiverval
Trước đây người ta cho rằng kháng nguyên virus dịch tả lợn đồng nhất, nhưng áp dụng kĩ thuật kháng thể đơn dòng (MCAS) có thể phân biệt virus dịch
tả lợn thành một số nhóm kháng nguyên (Edwards S., 1998) Độc lực của các chủng gây bệnh thay đổi rất lớn Các chủng độc lực cao gây bệnh thể cấp tính, tỉ
lệ chết cao, trong khi đó các chủng có độc lực trung bình thường gây các nhiễm trùng á cấp tính và mãn tính Các chủng virus độc lực yếu chỉ gây bệnh nhẹ, tuy nhiên có thể gây chết thai lợn và lợn con mới sinh Tùy thuộc vào độc lực của chủng virus gây bệnh mà tỷ lệ chết có thể từ 0 - 100%
1.3.1.2 Hình thái cấu trúc của virus
Virus dịch tả lợn thuộc loại ARN virus, một sợi đơn, có vỏ bọc là lipoprotein Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, virus có dạng cấu trúc hình cầu với nucleocapside đối xứng hình khối bao bọc bởi lớp màng ngoài Virion là đơn
vị đặc hiệu của virus, có đường kính 40 - 50 nm (nanomet), đường kính của một khối nucleocapside là 29 nm, là lớp vỏ bao bọc sợi ARN của virus, có những gai lồi 6 - 8 nm tập trung trên bề mặt của virus Bộ gene của virus là một chuỗi đơn ARN, có độ dài 12 KB (Moormann R J M and M M Hulot, 1998) Virus có 2 glycoprotein E155 và E146 KD ở trên bề mặt và 1 nucleocapside protein 36 KD (Enzmann P J and F Weiland, 1978) Hệ số sa lắng là 140s - 180s Hạt virus gây nhiễm gồm 3 thành phần chính sau đây:
Nhân (core): nhân là một sợi đơn ARN nằm ở giữa hạt virus, nên virus chủ yếu nhân lên trong bào tương của tế bào vật chủ Theo Moening V, 1988, nhân vừa là yếu tố di truyền, vừa là yếu tố sinh sản của virus Theo Moorrman R
J M và M M Hulot, 1998 bộ gene virus dịch tả lợn là một chuỗi ADN sợi đơn dài khoảng 12 kilobases (KB), có trình tự sắp xếp giống nhau giữa gene của virus dịch tả lợn và virus gây tiêu chảy ở bò (Bovine Viral Diarrhea Virus - BVDV)
và virus gây bệnh Border ở cừu (Border Disease Virus)
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
Vỏ protein (Nuleocapside): theo Van Oirchot J T, 1992, vỏ protein mang những thành phần bên ngoài có độ dày 29 nm, trên bề mặt có những gai lồi 6 - 8
nm là thành phần có tính chất bảo vệ virus Theo P J Enzmann và F Weiland,
1978, lớp nucleocapside của virus bao gồm 2 glycoprotein có trọng lượng phân
tử là 55 KD (Kilodanton) và 46 KD cùng với một lớp 36 KD (Trần Đình Từ, 1990) Các protein này được đặt tên là Protein E1 (GP55), Protein E2 (GP46) và protein C (G36) Bằng phương pháp đánh dấu các phân tử, các tác giả đã nhận thấy E1 và E2 là những Glycoprotein nằm trên bề mặt của virus, E2 tạo nên các gai của virus Protein E1 chứa đựng các kháng nguyên chính của virus dịch tả lợn Trong tế bào bị nhiễm, E1 luôn được liên kết với một lycopeptide khoảng 47
KD (Mesplede A, E Albina, F Medee, 1999 Những nghiên cứu gần đây cho thấy lớp vỏ protein gồm 4 thành phần: GP55, GP48, GP44 và GP33 cùng một số các protein nhân 36KD, 23KD và 14KD (Taylor D J, 1995) Bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ kết tủa, Stark R, F T Rumenap, G.Mayers, H J Thiel 1990 đã nhận thấy GP48 và GP44 có chung một trục Protein thông thường Cả 3 dạng này đều nằm ở dạng nhị trùng có cầu nối Disulfide trong virus ở tế bào bị nhiễm Theo Thiel H J., R Stark, F T Rumenap, G Mayers- 1991, những sự tương tác đồng hóa trị phức tạp như vậy giữa những Glycoprotein cấu trúc đến nay chưa được mô tả ở bất kỳ một ARN virus nào
Thứ tự các Glycoprotein trên bộ gene của virus dịch tả lợn được sắp xếp như sau: NH2 - GP44/GP48 - GP33 - GP55 - COOH
1.3.1.3 Đặc tính nuôi cấy
Khi tiêm truyền qua cơ thể lợn, các chủng virus dịch tả lợn vẫn giữ nguyên các đặc tính gây bệnh và miễn dịch (Moenning V, 1988) Sự thích nghi của virus đối với các loài động vật khác nhau thường thay đổi tính gây bệnh của virus đối với lợn Trong các loài động vật thì chỉ có thỏ là được chú ý nhất, đặc biệt là để chế tạo ra những chủng virus vaccine nhược độc
Ngoài những tế bào có nguồn gốc từ lợn, virus dịch tả lợn có thể nhân lên trong những tế bào động vật khác Dòng tế bào thận lợn PK - 15 và SK - 6 rất thích hợp cho việc nuôi cấy virus dịch tả lợn Các chủng virus dịch tả lợn cường
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
độc thường không gây bệnh tích tế bào (CPE) khi chúng nhân lên trong môi trường tế bào nuôi Đối với những chủng được mô tả là có gây bệnh lý tế bào là
do trong thực tế chúng đã bị tạp nhiễm bởi một loại virus khác Terpstra C, 1991 cũng cho rằng tác động gây CPE chỉ xuất hiện khi có Adenovirus
1.3.1.4 Sự nhân lên của virus
Virus dịch tả lợn nhân lên có giới hạn trong nguyên sinh chất của tế bào
và không gây bệnh tích tế bào Thế hệ đầu tiên của virus được giải phóng ra khỏi
tế bào khoảng 5 - 6 giờ sau khi gây nhiễm Theo Saatkamp H.W, 1998, trong môi trường tế bào, virus lây lan qua tế bào bên cạnh và từ tế bào mẹ sang tế bào con qua cầu nối nguyên sinh chất, điều này dẫn đến không có khả năng phát hiện ra kháng nguyên virus trên bề mặt tế bào bị nhiễm
1.3.1.5 Sức đề kháng của virus dịch tả lợn
Virus dịch tả lợn có sức đề kháng yếu và tùy thuộc vào trạng thái vật lý của chất chứa virus Trong dịch nuôi cấy tế bào, virus bị vô hoạt ở 600C trong 10 phút; ở máu đã khử fibrin lại không bị vô hoạt ở 680C trong vòng 30 phút Virus
có khả năng bền vững ở pH từ 5 - 10, trên và dưới giá trị pH này thì virus bị phá hủy nhanh chóng vì vỏ virus có chứa lipid nên các dung môi của mỡ như ether, chloform, deoxychlolate và nonided P40, saponin làm bất hoạt virus rất nhanh
Người ta thường dùng NaOH 2% để tiêu độc chuồng trại Virus có thể sống trong phân gia súc trong vài ngày, sống lâu trong các sản phẩm là thịt Thịt lợn đông lạnh và chính những sản phẩm này là nguồn gieo rắc mầm bệnh rất nguy hiểm Không phát hiện ra virus trong thịt đã được chế biến và đóng hộp từ thịt của những lợn bị bệnh (Terpstra C 1991)
Trong máu, ở nhiệt độ bình thường, virus có thể sống được 3 tháng Máu trộn với axit phenic, virus mất độc lực trong 60 phút ở 580C, trong 7 ngày ở 370C Nếu bảo quản máu ở âm 200C, virus tồn tại tới 9 tháng, ở âm 400C virus tồn tại trong 14 tháng; máu để khô trên phiến kính virus sống 5 - 6 ngày Trong thịt xông khói, virus sống được 37 ngày, thịt để trong tủ lạnh virus tồn tại tới 33 ngày, trong thịt ướp đông 95 ngày Trong thịt, nước tiểu, xác động vật chết thối, virus bị chết trong vòng 2 - 3 ngày Trong phân, rác virus bị mất hoạt tính sau khoảng 24 giờ
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
1.3.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh dịch tả lợn
1.3.2.1 Động vật cảm nhiễm
Trong tự nhiên, chỉ có loài lợn (cả lợn rừng và lợn nhà) mọi lứa tuổi đều mắc bệnh dịch tả lợn Những nghiên cứu gần đây cho thấy lợn con theo mẹ và lợn cai sữa bị nhiễm nhiều nhất (Nguyễn Xuân Bình, 1998; Đào Trọng Đạt và cộng sự, 1988); đáng chú ý là lợn nái nhiễm những chủng virus có độc lực thấp gây bệnh cho thai và sơ sinh (Hanson R P, 1957)
Trong phòng thí nghiệm, khi tiêm truyền cho lợn mẫn cảm, bệnh phát ra với triệu chứng, bệnh tích giống như trong tự nhiên Tiêm virus cho thỏ, chuột lang thì bệnh thường ở thể ẩn tính, có thể tái phân lập virus sau vài ngày Tiêm truyền cho thỏ liên tục qua nhiều đời (khoảng 150 đời) sẽ tạo ra một chủng virus nhược độc, không độc với lợn nhưng vẫn giữ được đặc tính kháng nguyên, dùng
để chế văc xin nhược độc dịch tả lợn (Nguyễn vĩnh Phước, 1978)
Những lợn khỏe mạnh mang trùng có vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh dịch tả lợn cổ điển, đặc biệt là ở những vùng virus có độc lực thấp Lợn
ở những nơi này thường xuất hiện những thể bệnh không điển hình do những chủng virus có độc lực thấp gây ra Đây chính là nguồn tàng trữ mầm bệnh rất nguy hiểm Khi lợn nái mang thai bị nhiễm thường làm cho bào thai bị chết lưu, hoặc lợn con bị chết sau khi sinh hoặc lợn được sinh ra nhưng yếu ớt Những lợn con này có thể bị chết sau khi sinh một thời gian ngắn Virus có thể có thể gieo rắc cho những lứa đẻ sau Những lợn con bị nhiễm bệnh bẩm sinh có thể mang virus suốt đời và gây ra sự truyền bệnh tiếp xúc, vì vậy gây khó khăn trong công
tác phòng chống bệnh (Van Oirchot J T 1998)
1.3.2.2 Chất chứa mầm bệnh
Trong cơ thể, virus hấp thu mạnh trên bạch cầu nên máu có độc lực sớm nhất; các chất bài xuất như nước dãi, nước mũi, nước mắt, nước tiểu, phân, các phủ tạng đều chứa virus; hạch lympho và lách chứa nhiều virus nhất (OIE, 2009)
Những lợn bị nhiễm bệnh có thể thải virus trước khi phát bệnh và tiếp tục thải virus trong quá trình bệnh, sự thải virus chỉ dừng lại khi kháng thể được sinh
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
ra Vì vậy những lợn bị nhiễm virus có độc lực cao có thể thải virus với số lượng lớn trong thời gian 10 -20 ngày, những lợn bị bệnh thể mãn tính thải virus liên tục hoặc từng đợt cho đến khi chết
1.3.2.3 Lứa tuổi mắc bệnh
Các nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy bệnh dịch tả lợn xảy ra ở lợn mọi lứa tuổi, nhưng tập trung nhiều nhất ở lợn con theo mẹ và lợn mới cai sữa Theo Đào Trọng Đạt, Trần Thị Tố Liên (1989), do đàn lợn đã được tiêm phòng vắc xin nhiều năm nên tuổi mắc bệnh phụ thuộc vào sức đề kháng và tình trạng miễn dịch của đàn lợn Điều này khác với tính chất lây lan mạnh và lợn ở mọi lứa tuổi
bị bệnh, tỷ lệ chết tới 100% trong các ổ dịch của nhiều năm trước đây Theo Nguyễn Xuân Bình (1998), mặc dù quy trình tiêm phòng đã khép kín nhưng bệnh dịch tả lợn vẫn xảy ra với lợn con và lợn thịt giai đoạn 30 - 90 ngày tuổi với tỷ lệ 1- 1,5% tổng đàn
Như vậy, tỷ lệ mắc bệnh dịch tả lợn tùy thuộc vào tỷ lệ tiêm phòng của đàn lợn và mức độ kháng thể trong cơ thể lợn đã được tiêm; phụ thuộc vào mức
độ kháng thể của lợn mẹ truyền qua sữa đầu mà lợn con thu nhận được, ở những vùng có tỷ lệ tiêm phòng thấp hoặc không được tiêm phòng thì tỷ lệ chết cao và xảy ra ở mọi lứa tuổi
1.3.2.4 Mùa vụ bị bệnh
Bệnh dịch tả lợn phát ra quanh năm, nhưng do biến động của đàn lợn nên bệnh có lúc tăng, lúc giảm Dịch xảy ra hầu hết ở các tháng trong năm nhưng vẫn
có sự chênh lệch đáng kể giữa các tháng của vụ Đông - Xuân và Hè - Thu Ngoài
ra, tình hình dịch bệnh cũng còn bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tỷ lệ tiêm phòng, số lợn lớn đã bị giết thịt, số lợn con ra đời chưa được tiêm phòng làm cho
số lượng cá thể mẫn cảm với bệnh dịch tả lợn trong khu vực tăng lên Tại Lào, bệnh dịch tả lợn cũng xuất hiện quanh năm nhưng tập trung vào tháng 8-10 và tháng 4-6 (Conlan, 2006)
1.3.3 Triệu chứng và bệnh tích
1.3.3.1 Triệu chứng
Thể bệnh của bệnh dịch tả lợn ngày nay có nhiều thay đổi, tùy thuộc vào
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
lứa tuổi lợn, phương thức chăn nuôi, chủng virus, thời điểm nhiễm bệnh,… nhưng các thể bệnh chủ yếu thường gặp là: thể quá cấp, thể cấp tính, thể mãn tính
và thể tiềm ẩn (không điển hình)
* Thể quá cấp
Lợn bệnh đột ngột, sốt cao kết hợp với trạng thái thương hàn Lợn bệnh
tử vong trong vòng 24 - 48 giờ, con vật chưa kịp xuất hiện triệu chứng ỉa chảy Thể này còn gọi là thể bệnh dịch tả lợn khô
* Thể cấp tính
Thời gian nung bệnh từ 3 - 4 ngày ở thể này, lợn bệnh có triệu chứng điển hình là sốt cao từ 41 - 420C, kéo dài 3 - 5 ngày Con vật uể oải, mệt mỏi, ít vận động, kém ăn hoặc bỏ ăn Từ khi nhiễm bệnh đến 24 - 48 giờ thì mắt lợn sưng húp, viêm kết mạc, mắt chảy rỉ Xuất huyết ngoài da cũng có thể xuất hiện cùng lúc với giai đoạn nhiệt độ tăng cao Các triệu chứng ngoài da như điểm xuất huyết điển hình màu đỏ (bằng đầu đinh ghim) hoặc có khi tạo thành mảng đỏ lớn ở vùng da mỏng chân, bụng, bên trong đùi, da gốc tai,… thường ở giai đoạn cuối của bệnh Con vật bị viêm dạ dày, ruột, có triệu chứng nôn mửa Lúc đầu lợn đi táo, có màng nhầy bao quanh cục phân Về sau ỉa chảy nặng, phân màu xám, mùi phân thối khắm rất đặc trưng Virus tấn công vào đường hô hấp thì con vật bị viêm niêm mạc mũi, tụ huyết, xuất huyết ở phổi, rối loạn nhịp thở, khó thở Virus xâm nhập vào hệ thống thần kinh, gây xuất huyết màng não, con vật co giật, đi loạng choạng, liệt hai chân sau Những con vật không bị chết trong vòng 4 tuần sau khi nhiễm bệnh thì có thể phục hồi nếu hàm lượng kháng thể trung hòa cao hoặc chuyển thành thể mãn tính Lợn nái chửa thường giảm khả năng sinh sản, sảy thai, đẻ non, thai khô,…
Mức độ nghiêm trọng của thể bệnh cấp tính tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi con vật, khả năng đáp ứng miễn dịch, liều gây nhiễm và độc lực của virus Mổ khám thấy bệnh tích đặc trưng là xuất huyết hạch lâm ba Huyết khối ở lách, rìa lách bị nhồi huyết có hình răng cưa Loét niêm mạc vùng van hồi manh tràng Trên bề mặt vết loét có phủ bựa, vẽ thành các vòng tròn đồng tâm, trông giống như hình cúc áo Xuất huyết thận, viêm cầu thận Các hạch lympho chứa đầy hồng cầu
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
* Thể mạn tính
Khi lợn bị bệnh mà sống đến quá 30 ngày thì được coi là thể mạn tính Đặc trưng của thể bệnh này là lợn ăn rất ít hay bỏ ăn, sốt, ỉa chảy kéo dài hoặc ngắt quãng, bạch cầu giảm Thể này kéo dài vài tháng và cuối cùng cũng chết (Trần Đình Từ, 1990) Các giai đoạn của thể mãn tính gồm:
- Giai đoạn đầu kéo dài 10 - 15 ngày, các triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn
- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thuyên giảm
- Giai đoạn ba: sẽ bị bội nhiễm các loại mầm bệnh khác; con vật gầy yếu,
Hậu quả của lây nhiễm trong giai đoạn mang thai nhẹ hay nặng phụ thuộc vào giai đoạn mang thai bị nhiễm virrus, khả năng đáp ứng miễn dịch của bào thai
và độc lực của virus Nếu bào thai bị nhiễm ở giai đoạn đầu của quá trình mang thai, lúc mà bào thai chưa có khả năng sinh miễn dịch thì sau khi cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh, không có khả năng chống lại virus và trở thành vật mang trùng Lây nhiễm ở giai đoạn sau của quá trình mang thai thì bào thai sinh đáp ứng miễn dịch
và làm giảm nguy cơ mang trùng; chỉ những con lợn bị nhiễm trong giai đoạn đầu của bào thai mới trở thành thể bệnh tiềm ẩn
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng phần lớn những lợn con của những nái đã bị nhiễm virus trong thời kỳ có thai đều dung nạp miễn dịch; chúng không hình thành được kháng thể mà mang virus thường xuyên; ngay cả sữa đầu cũng không xác định được ở những lợn con này mang trùng bởi vì kháng thể thường xuyên bị cố định bởi những virus lưu hành Van Oirchot J T (1998) cho thấy những lợn con sinh ra từ những lợn nái nhiễm virus lúc mang thai 90 ngày tuổi thì có thể sống được 2 - 3 tuần tuổi, nhưng cơ thể mang virus và không
có kháng thể trung hòa
Bệnh dịch tả lợn thể không điển hình rất khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có triệu chứng đặc trưng Thể bệnh dịch tả lợn không điển hình được nhiều tác giả đề cập đến như Đào Trọng Đạt, Trần Thị Tố Liên (1989), Terpstra
C, (1991) Thể không điển hình biểu hiện dưới các dạng khác nhau như rối loạn sinh sản hoặc bệnh lý sinh sản như sảy thai, thai gỗ, chết thai, thai dị hình, chết sau khi sinh,…Theo Nguyễn Lương (1997) đây là thể bệnh dịch tả lợn khó phân biệt vì bệnh kéo dài và không có các thời kỳ rõ rệt; virus lưu hành một cách không rõ ràng, nhất là lợn sinh sản với các trường hợp ổ dịch nhỏ lẻ nổ ra khi có điều kiện thuận lợi (Mesplede A, E Albina, F Madee, 1999) Nguyên nhân của thể không điển hình có rất nhiều, như: Độc tố của virus, các nhiễm trùng thứ phát, sức đề kháng bẩm sinh, loại thức ăn, phương thức chăn nuôi
1.3.3.2 Bệnh tích
* Bệnh tích đại thể
Theo Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên (1989), bệnh dịch tả lợn là bệnh dịch tễ đàn, do vậy khi quan sát lâm sàng và bệnh tích phải quan sát từ 3 - 5 con trở lên; nhưng tìm ra đầy đủ các bệnh tích điển hình của bệnh dịch tả lợn trong thời gian gần đây là rất khó
Thể cấp tính và mãn tính có thể quan sát thấy bệnh tích xuất huyết lấm tấm ở da, kích thước khác nhau do hoại tử thoái hoá tế bào nội bì và máu khó đông Xuất huyết xảy ra nhiều nhất ở hạch lympho, thận, ít hơn ở tim, màng thanh dịch, bóng đái, niêm mạc ruột, thanh quản, da và dưới da Hạch lympho thường sưng to và xuất huyết ở các xoang ngoại biên làm cho hạch lympho giống
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
đá hóa vân Xuất huyết ở thận chủ yếu là lấm chấm và thường nằm dưới vỏ Lách
có kích thước bình thường, thấy nhồi huyết dọc theo rìa, làm cho lách có hình răng cưa Virus tác động gây mụn loét ở niêm mạc ruột già sau khi gây hoại tử ở những nang lâm ba riêng biệt Những mụn loét xuất hiện dày, tròn hình cúc áo trên bề mặt có những khối sợi huyết tạo những vòng tròn đồng tâm Những khối sợi huyết đông đặc lại từng đợt làm mụn loét dầy lên Ngoài ra có thể quan sát
thấy hiện tượng có nước nhầy, lắng đọng sợi fibrin, xuất huyết cục bộ màng nhày
của đường tiêu hóa, đường hô hấp, phổi, cuối cùng nhiễm bệnh kế phát xảy ra (Van Oirschot J T, 1998) Tùy theo từng ổ dịch, độc lực của virus, sức đề kháng của con vật, thời gian cảm nhiễm,… mà bệnh tích ở từng con ở từng ổ dịch có thể không giống nhau và không đầy đủ như đã nêu Theo quan sát trong thời gian gần đây thì việc tìm thấy đầy đủ các bệnh tích, triệu chứng của bệnh dịch tả lợn
là rất khó
Tuy nhiên, theo Trần Thị Dân và cộng sự (2000), bệnh tích của lợn có triệu chứng lâm sàng dịch tả lợn tại các lò giết mổ ở Bà Rịa - Vũng Tầu chủ yếu là: Thận sưng xuất huyết, bàng quang xuất huyết, lách nhồi huyết, phổi viêm xuất huyết, hạch ruột sưng, xuất huyết,…
Thể bệnh mãn tính và thể bệnh phát muộn (Late onset) thường thấy teo tuyến Thymus và sưng các khớp của xương sườn ở lợn con (Van Oirschot J
bì, nghẽn mạch, thấm nhiễm lymphocyte quanh mạch Theo Van Oirschot J.T,
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
1998, sự gia tăng về số lượng các đại thực bào và sự suy yếu của hệ đơn bào ở giữa hạch bạch huyết, lách, hạch amidan và những đám hạch ruột xảy ra trong trường hợp bệnh mãn tính
1.3.4 Các phương pháp chẩn đoán bệnh dịch tả lợn
Trước đây việc chẩn đoán bệnh dịch tả lợn thường dựa vào các biểu hiện
về triệu chứng, bệnh tích Tuy nhiên, hiện nay bệnh dịch tả lợn đã diễn biến phức tạp, do vậy phương pháp này tỏ ra không hiệu quả Virus dịch tả lợn chỉ gây bệnh cho loài lợn, lợn là loài động vật cảm thụ duy nhất nên việc tiêm truyền cho động vật để chẩn đoán bệnh tốn kém về kinh tế hơn các động vật khác Việc chẩn đoán, phát hiện virus trong cơ thể lợn là khó khăn vì số lượng virus trong cơ thể không nhiều Các phương pháp hiện nay đang được áp dụng là: phát hiện kháng nguyên hoặc phát hiện kháng thể trong các bệnh phẩm bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp; nuôi cấy phân lập virus trên môi trường tế bào hoặc tiêm truyền cho lợn; phản ứng trung hòa trên thỏ; phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu; công thức bạch cầu; phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch; phản ứng miễn dịch đánh dấu enzym (ELISA), tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng
1.3.4.1 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng, bệnh tích
Trong thực tế sản xuất tại các địa phương, việc dựa vào các triệu chứng, bệnh tích để chẩn đoán bệnh dịch tả lợn là chủ yếu, tuy nhiên kết quả của phương pháp này có độ chính xác không cao; nhưng rất cần thiết để có kết quả sơ chẩn ban đầu trước khi tiến hành các phương pháp trong phòng thí nghiệm
1.3.4.2 Chẩn đoán virus học
Chẩn đoán virus học phải được tiến hành nhanh chóng ngay trong ngày khi lấy bệnh phẩm; phương pháp chẩn đoán virus học bao gồm: Kiểm tra máu và bệnh phẩm trên kính hiển vi bằng cách làm tiêu bản, tiêm truyền động vật thí nghiệm; phương pháp làm tăng cường độc lực của virus newcastle
* Mẫu bệnh phẩm
- Trên động vật chết: Lách, hạch lympho, thận, amidan
- Trên động vật sống: máu có chất chống đông, máu đựng trong ống
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
nghiệm khô; thai sảy
* Phương pháp kiểm tra trên kính hiển vi bệnh phẩm máu và phủ tạng:
Làm tiêu bản, nhuộm gram để kiểm tra trên kính hiển vi; nếu không thấy vi khuẩn thì có thể nghi đó là bệnh dịch tả lợn thuần túy sau khi đã có kết quả chẩn đoán lâm sàng (các triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả lợn); trường hợp có vi khuẩn thì có thể nghi ghép với bệnh đã phát hiện ra vi khuẩn (Nguyễn Lương, 1997)
* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm
Phương pháp phát hiện bệnh dịch tả lợn cổ điển chính xác nhất là tiêm truyền cho lợn (Pearson J E, 1998) Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm
là tốn thời gian (Có thể 3 - 4 tuần lễ) và tiền của Phương pháp này thường được
áp dụng khi các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích không đủ để kết luận bệnh hoặc để có cơ sở pháp lý công bố dịch
Theo Nguyễn Như Thanh (2001), lấy hạch, lách, tủy xương của lợn nghi mắc bệnh trong ổ dịch nghiền với nước sinh lý, tiêm cho lợn khỏe (chưa tiêm vắc xin dịch tả lợn lần nào) ở ngoài ổ dịch Bệnh phẩm là 1 ml máu và 0,5g lách của lợn nghi mắc bệnh pha thành huyễn dịch 1/10, xử lý kháng sinh rồi tiêm cho lợn vào dưới da Trong 3 ngày (nếu bệnh phẩm có virus) lợn được tiêm sẽ kém ăn, sốt cao, táo bón, có hiện tượng viêm kết mạc mắt, mắt có dử sau khoảng 1 tuần con vật đi tháo, phân có mùi tanh khắm đặc trưng ; nếu kéo dài con vật có biểu hiện thần kinh, liệt hai chân sau ; cuối cùng con vật bị hạ thân nhiệt và chết Mổ khám thấy các bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả lợn
* Phương pháp làm tăng cường độc lực của virus Newcastle
Người ta dùng môi trường tế bào một lớp chế từ dịch hoàn để cấy bệnh phẩm nghi có virus dịch tả lợn, sau 5 ngày tiếp tục cấy virus Newcastle, thấy virus newcastle nhân lên mạnh và gây bệnh tích tế bào, chứng tỏ trong bệnh phẩm có chứa virus dịch tả lợn
1.3.4.3 Chẩn đoán huyết thanh học
Hiện nay ở Việt Nam thường dùng một số phản ứng huyết thanh học sau đây để nghiên cứu, chẩn đoán và giám sát bệnh dịch tả lợn:
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
* Chẩn đoán bằng thí nghiệm trung hòa trên thỏ
Nguyên lý: Virus dịch tả lợn cường độc và virus nhược độc có tính gây bệnh khác nhau cho thỏ và cho lợn, nhưng có tính kháng nguyên giống nhau Có thể dùng virus dịch tả lợn cường độc tiêm cho thỏ để gây miễn dịch Sau đó chứng minh tính miễn dịch của thỏ đối với virus dịch tả lợn bằng cách tiêm virus nhược độc dịch tả lợn (Nguyễn Như Thanh, 2001)
Dùng bệnh phẩm là lách, hạch của lợn nghi mắc bệnh dịch tả lợn nghiền với nước sinh lý thành huyễn dịch 1/10 - 1/20, xử lý kháng sinh, sau đó tiêm cho
3 thỏ khỏe mạnh, mỗi con 1ml huyễn dịch vào tĩnh mạch tai Sau 5 - 10 ngày, dùng giống virus nhược độc dịch tả lợn pha thành huyễn dịch 1/10 - 1/20 tiêm vào tĩnh mạch của 3 thỏ thí nghiệm nói trên; cũng đồng thời tiêm huyễn dịch này cho 3 thỏ khỏe mạnh đối chứng
Kết quả
- Phản ứng dương tính nếu ba thỏ thí nghiệm không có phản ứng sốt Trong khi đó thỏ đối chứng có sốt điển hình Lấy máu của 3 thỏ thí nghiệm này tiêm cho 3 thỏ khỏe mạnh khác, ba thỏ này cũng không sốt Điều đó chứng tỏ virus nhược độc dịch tả lợn đã bị kháng thể dịch tả lợn trung hòa Kết luận bệnh phẩm có virus dịch tả lợn
* Phương pháp miễn dich khuyếch tán trên thạch
Chuẩn bị:
- Kháng thể chuẩn: chế bằng cách tối miễn dịch cho ngựa
- Kháng nguyên nghi: bệnh phẩm lấy là lách lợn bệnh, nghiền với nước sinh lý, theo tỷ lệ 1/1, có pha thêm 1 - 2% axit phenic, lọc qua gạc và ly tâm lấy nước trong
- Kháng nguyên dương: là hạch, lách lợn đã tiêm virus cường độc dịch tả lợn, cũng được chế như trên
- Kháng nguyên âm: là hạch, lách lợn khỏe mạnh, được chế như trên
- Đun nóng chảy thạch, để nhiệt độ hạ xuống còn 40 - 450C rồi đổ thạch vào đĩa petri hoặc trên phiến kính; để đông thạch; đục lỗ trên thạch, đường kính mỗi lỗ 6 mm, khoảng cách giữa các lỗ là 9 mm
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
Cách tiến hành: - Thể tích mỗi thành phần phản ứng là 0,02 ml
- Sau khi đã cho các thành phần vào lỗ, đặt đĩa petri vào hộp ẩm, cho vào
tủ ấm 250C trong 12 - 24h ; đọc kết quả:
+ Dương tính: ở phần thạch giữa lỗ kháng thể dịch tả lợn và lỗ kháng nguyên nghi xuất hiện đường kết tủa màu trắng như vạch kết tủa giữa lỗ chứa kháng thể dịch tả lợn và kháng nguyên dương
+ Âm tính: ở phần thạch giữa lỗ kháng thể dịch tả lợn và lỗ kháng nguyên nghi không có đường kết tủa màu trắng
* Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu
Bình thường virus dịch tả lợn không hấp thụ được lên hồng cầu, do đó phải xử lý hồng cầu bằng axit tanic 1%, chất này có một nhóm chức gắn với hồng cầu và một nhóm chức khác gắn với virus dịch tả lợn; khi đó virus dễ dàng hấp thụ lên hồng cầu thỏ, cừu, chuột lang nhưng không gây ngưng kết hồng cầu Khi gặp kháng thể tương ứng, virus dịch tả lợn sẽ kết hợp với kháng thể đó, hồng cầu dính lại qua cầu nối kháng thể gây hiện tượng ngưng kết hồng cầu
* Phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp
Nghiền hạch, lách của lợn nghi nhiễm bệnh, cấy trực tiếp vào môi trường
tế bào PK15; virus được phát hiện trong các tế bào bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang: Tế bào nhiễm virus được phát hiện khi kiểm tra trên kính hiển vi huỳnh quang có màu xanh của bào tương (Sự nhân lên của virus ARN được thực hiện trong bào tương), tế bào không nhiễm sẽ không bị bắt màu
Dùng kháng thể dịch tả lợn đã được nhuộm màu huỳnh quang, cho tác động với kháng nguyên là bệnh phẩm nghi có chứa virus dịch tả lợn (hạch, lách lợn bệnh) đã được cố định trên tiêu bản Nếu:
- Kháng thể dịch tả lợn gặp kháng nguyên tương ứng tức là virsus có trong bệnh phẩm thì xuất hiện sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, phức hợp này sẽ bám chặt vào nhau, khi rửa nước không bị trôi đi Soi trên kính hiển vi huỳnh quang sẽ thấy có sự phát sáng của phức hợp kháng nguyên - kháng thể dịch tả lợn được nhuộm màu huỳnh quang
- Ngược lại, kháng thể dịch tả lợn không gặp kháng nguyên tương ứng thì
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
khi rửa nước sẽ bị trôi đi, do đó soi dưới kính hiển vi huỳnh quang sẽ không có
sự phát sáng của chất huỳnh quang
* Phản ứng miễn dịch đánh dấu enzym (Enzyme linked immuno sorbent assay - ELISA)
Nguyên lý: dùng kháng nguyên hoặc kháng thể kháng globulin có mang một enzym (phosphatase hoặc peroxidase) đã được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên hoặc kháng thể Sau đó cho cơ chất sinh mầu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân hủy tạo nên màu; đem so sánh với mầu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức phản ứng
Phản ứng ELISA có độ chính xác rất cao và tiết kiệm được thời gian (chỉ trong vòng 24 giờ)
- Phản ứng ELISA trực tiếp: phản ứng này dùng để phát hiện kháng
nguyên chưa biết Kết quả của phản ứng này phụ thuộc nhiều vào tính hấp thụ kháng nguyên lên mặt rắn cũng như tính chất kháng thể được dùng để phát hiện kháng nguyên Phản ứng gồm các bước sau:
- Hấp thụ kháng nguyên chưa biết lên pha rắn, rửa nước để loại bỏ kháng nguyên thừa
- Cho kháng thể gắn enzym vào, rửa nước
- Cho cơ chất vào
Nếu kháng nguyên tương ứng với kháng thể đặc hiệu thì bước 2 sẽ tạo ra phức hợp kháng nguyên - kháng thể, khi rửa nước sẽ không bị trôi đi, khi thêm
cơ chất vào thì enzym sẽ phân giải cơ chất thành màu có thể nhìn thấy được Trường hợp kháng thể không tương ứng với kháng nguyên thì không hình thành phức hợp kháng nguyên - kháng thể, khi rửa nước sẽ bị trôi đi, không còn enzym
để phân giải cơ chất nên không xuất hiện màu
- Phản ứng ELISA gián tiếp: phản ứng này dùng để phát hiện và xác định
hiệu giá kháng thể Kháng nguyên đã biết sẽ được hấp thụ lên pha rắn, enzym được gắn với kháng kháng thể chứ không gắn với kháng thể như phản ứng ELISA trực tiếp Phản ứng gồm các bước sau :
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
- Gắn kháng nguyên lên pha rắn, rửa nước để loại bỏ những kháng nguyên thừa
- Cho huyết thanh có chứa kháng thể pha loãng ở các hiệu giá khác nhau vào, rửa nước
- Cho kháng thể gắn enzym vào, tiếp tục rửa nước
- Cuối cùng là thêm cơ chất
Nếu trong huyết thanh có chứa kháng thể đặc hiệu tương ứng với kháng nguyên nên kháng thể không bị mất đi khi rửa, khi cho kháng thể gắn enzym vào thì phức hợp kháng nguyên - kháng thể được hình thành và khi cho cơ chất vào thì sẽ xuất hiện màu và ngược lại, nếu không hình thành phức hợp kháng nguyên
- kháng thể thì khi cho cơ chất vào sẽ không xuất hiện màu
Một số nước, khi có bệnh dịch tả lợn xảy ra thì tất cả những lợn nghi nhiễm trong đàn sẽ bị giết hủy đồng thời với việc áp dụng các biện pháp vệ sinh
để tiêu diệt mầm bệnh
Theo quy định của EC, chỉ những lợn và sản phẩm của lợn từ những nước hoặc các vùng an toàn bệnh dịch tả lợn mới được buôn bán tự do trong phạm vi cộng đồng Châu Âu (OIE, 2009)
Một số nước thanh toán bệnh dịch tả lợn bằng các biện pháp sau đây:
- Nghiên cứu và áp dụng các phương pháp chẩn đoán nhanh, nhạy tại hiện trường cũng như trong phòng thí nghiệm
- Củng cố giám sát dịch bệnh và hệ thống thông tin để kịp phát hiện mức
độ lây nhiễm
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
- Loại trừ các tác nhân gây bệnh bằng phương pháp tiêu độc, sát trùng vật dụng nhiễm mầm bệnh và tiêu hủy những vật chủ nhiễm bệnh
- Đề phòng virus xâm nhập vào lợn cảm nhiễm bằng cách kiểm soát chặt việc vận chuyển lợn bằng các biện pháp kiểm dịch động vật
- Nghiên cứu tình trạng mang trùng của lợn và các chủng virus có độc lực thấp, phát hiện lợn mang trùng và thải loại kịp thời những lợn đó
- Một số nước dùng biện pháp tiêm phòng vắc xin; kinh nghiệm ở châu
Âu là có thể thanh toán bệnh dịch tả lợn bằng cách thực hiện chương trình tiêm phòng vắc xin một cách nghiêm ngặt trong khoảng thời gian nhất định Chương
trình này phải kết hợp với việc vệ sinh gia súc chu đáo (Terpstra C 1991) Để có
hiệu quả, chương trình tiêm phòng vắc xin phải bắt buộc, đồng thời quy định rõ thời gian, độ tuổi phải tiêm phòng
1.4.2 Phòng chống bệnh dịch tả lợn ở Lào
Bệnh dịch tả lợn ở Lào gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi Mặc dù được tham khảo nhiều phương pháp phòng chống dịch bệnh ở các nước, nhưng việc áp dụng vào kiểm soát dịch tả lợn ở Lào là không dễ dàng Theo Vitesnik và cộng sự (2006), cần thiết kế phương pháp phòng chống bệnh phù hợp với quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ của nông hộ Hiện nay, mỗi khi người chăn nuôi gặp trường hợp đàn lợn bị bệnh đều tìm đến bác sỹ thú y địa phương, mua thuốc từ hiệu thuốc sử dụng những phương pháp điều trị lạc hậu
Đối với việc sử dụng vacxin, người chăn nuôi cũng có nhận thức về việc tiêm vacxin phòng dịch tả lợn là quan trọng Tuy nhiên vẫn còn nhiều hộ chăn nuôi không biết tìm nguồn vacxin phòng dịch tả lợn ở đâu để tiêm phòng
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG NGUYÊN LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đàn lợn mắc bệnh dịch tả lợn tại các huyện ngoại thành thành phố Viêng Chăn từ năm 2012 đến 2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn tại ngoại thành thành phố Viêng Chăn từ năm 2012-2014
2.2.2 Nghiên cứu tình hình bệnh dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn từ năm 2012-2014
- Nghiên cứu tình hình bệnh dịch tả lợn theo địa bàn chăn nuôi
- Nghiên cứu tình hình bệnh dịch tả lợn theo tháng trong năm
2.2.3 Xác định hiệu giá kháng thể dịch tả lợn sau tiêm phòng vacxin
- Nghiên cứu tình hình tiêm phòng vaxin dịch tả lợn ở ngoại thành thành phố Viêng Chăn
- Nghiên cứu xác định hiệu giá kháng thể dịch tả lợn sau tiêm phòng vacxin theo địa phương và theo cơ cấu đàn
2.3 Nguyên liệu
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội được thu thập từ Cục thống
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
kê thành phố Viêng Chăn
- Số liệu lưu trữ về tình hình bệnh dịch tả lợn của Bộ nông nghiệp, cục thú
y thành phố Viêng Chăn
- Số liệu điều tra trực tiếp tại các địa bàn chăn nuôi
- Mẫu xét nghiệm lấy tại các khu vực chăn nuôi của các huyện
- Kít chẩn đoán: dùng bộ kít Ceditest CSFV do hãng Cedi - Diagnotics (Mỹ) sản xuất
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học
Dùng phương pháp hồi cứu, dịch tễ học phân tích, điều tra dịch tễ, chọn mẫu ngẫu nhiên
2.4.2 Phương pháp tính
- Tỷ lệ mẫu có kháng thể (%) = Số mẫu có kháng thể x 100
Số mẫu xét nghiệm
- Tỷ lệ bảo hộ (%) = Số mẫu bảo hộ (1) Số mẫu xét nghiệm x 100
(1): Những mẫu huyết thanh pha loãng hơn 1/4 mà cho kết quả dương tính là mẫu bảo hộ