Virus phát triển, tăng nhanh về số lượng trong đại thực bào, phá huỷ tế bào đại thực bào, làm suy giảm nghiêm trọng sức đề kháng của lợn bệnh; tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN HỒNG VÂN
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP (PRRS) VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM LÂY LAN VÀ PHÁT SINH DỊCH
PRRS GIAI ĐOẠN 2012-2014 TẠI HAI
TỈNH THÁI BÌNH VÀ NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN HỒNG VÂN
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP (PRRS) VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM LÂY LAN VÀ PHÁT SINH DỊCH
PRRS GIAI ĐOẠN 2012-2014 TẠI HAI
TỈNH THÁI BÌNH VÀ NAM ĐỊNH
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LẠI THỊ LAN HƯƠNG
TS PHẠM MINH HẰNG
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Vân
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức, cơ quan, các nhà khoa học, các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn, giúp đỡ chân tình, đầy trách nhiệm và hết lòng vì khoa học của TS Lại Thị Lan Hương (Bộ môn Giải phẫu
tổ chức, Khoa Thú y) và TS Phạm Minh Hằng (Viện Thú Y)
Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban quản lý đào tạo và giảng viên khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới các thầy, các cơ quan, các nhà khoa học cùng các đồng nghiệp các tỉnh triển khai dự án đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn quan tâm, động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Vân
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang 62.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn, vệ sinh, tiêm phòng, và tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và
2.2.2 Nghiên cứu hồi cứu để xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến việc
2.3.3 Nghiên cứu xác định chủng virus PRRS lưu hành trên địa bàn chăn nuôi
2.3.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn, vệ sinh, tiêm phòng, và tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và
2.3.2 Nghiên cứu hồi cứu để xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến việc
Trang 72.6 Các phương pháp nghiên cứu nucleic acid và phân tích số liệu 29
3.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn, vệ sinh, tiêm phòng, và tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và Nam Định
3.3 Phân thích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch PRRS tại một số
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.13 Kết quả phân tích nguy cơ phát sinh và lây lan dịch từ việc mua con
3.14 Kết quả phân tích nguy cơ phát sinh và lây lan dịch PRRS từ việc
3.15 Kết quả của việc không tiêm phòng vắc xin ảnh hưởng đến nguy cơ
3.16 Kết quả của việc không nuôi cách ly giống mới mang về chăn nuôi
3.17 Kết quả của việc xả thẳng chất thải trong chăn nuôi ảnh hưởng đến sự
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Trang 10Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS, Porcine reproductive and respiratory syndrome) hay còn gọi là bệnh Tai xanh – là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và làm chết nhiều lợn nhiễm bệnh (tỷ lệ chết 20 – 30%) Nguyên nhân gây bệnh do virus PRRS gây ra, đây là một loại vius thuộc giống Arterivirus Virus PRRS là loại virus có vỏ bọc bên ngoài, có cấu trúc hệ gen là ARN sợi đơn dương, có tính thích ứng nhân lên rất cao với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở phổi Virus phát triển, tăng nhanh về số lượng trong đại thực bào, phá huỷ tế bào đại thực bào, làm suy giảm nghiêm trọng sức đề kháng của lợn bệnh; tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn thứ phát gây bệnh viêm phổi như bệnh Dịch tả lợn, suyễn lợn, liên cầu khuẩn, Tụ
huyết trùng (Pasteurella multocida) phát sinh, phát triển và làm cho bệnh ngày
càng trầm trọng hơn, lợn bệnh chết chủ yếu do các vi khuẩn kế phát
Thái Bình và Nam Định là hai trong nhiều tỉnh thành mà người dân sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp nên vẫn còn rất nhiều hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, mang tính chất tự cung tự cấp, chăn nuôi không đảm bảo
an toàn sinh học dẫn đến những khó khăn trong công tác kiểm soát dịch bệnh Đây cũng chính là các yếu tố gây bất lợi làm dịch bệnh Lợn tai xanh dễ dàng phát sinh và lây lan Từ vài năm trở lại đây, mặc dù dịch không xảy ra thường xuyên và rộng nhưng trên địa bàn hai tỉnh vẫn có một số ổ dịch lẻ tẻ xảy ra làm
ốm và chết lợn, gây thiệt hại không nhỏ cho các hộ chăn nuôi
Trang 11Do vậy, việc nghiên cứu hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và phân tích những yếu tố nguy cơ làm lây lan và phát sinh dịch tại địa phương có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng chống dịch tại địa phương
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Phân tích tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) và các yếu tố nguy cơ làm lây lan và phát sinh dịch PRRS giai đoạn 2012-2014 tại hai tỉnh Thái Bình và Nam Định”
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lịch sử bệnh
1.1.1 Hiếu biết căn bản về PRRS
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản với tên tiếng Anh Porcine Respiratory and Reproductive syndrome (PRRS) hay còn gọi là Bệnh lợn tai xanh là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với lợn, gây ra do một loại virus Bệnh gây viêm đường hô hấp rất nặng ở lợn con và gây rối loạn sinh sản ở lợn cái bao gồm xảy thai, thai chết lưu, và đẻ ra lợn con ốm yếu (Hill, 1990;
Zuckermann et al., 2007)
1.1.2 Tình hình dịch bệnh Tai xanh trên thế giới
Bệnh lợn tai xanh lần đầu tiên được tìm thấy ở Mỹ vào năm 1987
(Keffaber, 1989; Martelli et al., 1991) và chỉ vài năm sau bệnh đã lan ra toàn Bắc
Mỹ Ở châu Âu, Münster Đức lần đầu tiên có dịch vào tháng 11 năm 1990 Dịch nhanh chóng lan ra và hơn 3000 ổ dịch được phát hiện cho đến thời điểm tháng 5 năm 1991 Người ta không tìm thấy mối liên hệ nào giữa các ổ dịch xảy ra ở Đức
và Mỹ (Anonymous, 1991) Tiếp theo sau đó là các nước Hà Lan, Tây Ban Nha
có dịch vào tháng 1 năm 1991 và Bỉ tháng 3 (OIE, 2007a) Anh có dịch bắt đầu
từ tháng 3 năm 1991 đến tháng 10 năm đó có 58 ổ dịch được phát hiện (Edwards
11 năm 1991 (Baron et al., 1992; OIE, 2007a) Đến năm 1992 bệnh đã có mặt ở Đan Mạch (BotnerA et al., 1994), Ba Lan (Rowland, 2010) và đến năm 1995 bệnh xảy ra ở Cộng hòa Czech (Wissink et al., 2005) Trong khi lan khắp châu
Âu thì triệu chứng bệnh khó nhận thấy ở những đàn lợn giống nhưng lại tác động lớn đến sự hô hấp của đàn lợn thịt Và đến cuối năm 1991, virus Tai xanh đầu tiên phân lập ở Lelystad, Hà Lan Thời gian ngắn ngay sau đó, virus được phân lập tại Missouri, Mỹ Tại châu Á, bệnh xuất hiện ở Nhật Bản năm 1988 (Hirose
Trang 13Từ năm 2006, bệnh Lợn tai xanh tác động nghiêm trọng đến chăn nuôi lợn
ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, và Philippin với chủng virus độc lực cao Đến 2010 bệnh lan sang Lào và Campuchia Ở Trung Quốc, virus lần đầu tiên được tìm thấy năm 1996, kể từ đó virus lây lan rộng ra khắp Trung Quốc
(Gao et al., 2004; Loula T, 1991) Từ tháng 6 cho đến tháng 9 năm 2006 thì bệnh
xảy ra trầm trọng ở 16 tỉnh với hơn 2 triệu lợn bị mắc bệnh và 440.000 lợn chết
(Wensvoort et al., 1991) Chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2007, Trung Quốc đã có 826
vụ dịch ở 26 tỉnh với 257.000 lợn bệnh, 68.000 lợn chết, và 175.000 lợn bị tiêu
hủy (Scortti et al., 2007) Philippines bệnh xảy ra chủ yếu ở những vùng có mật
độ nuôi lợn cao và số lượng lợn bị dịch tăng lên hàng năm, đỉnh điểm là năm
2009 Thái Lan lần đầu tiên thông báo có dịch là năm 2008, tuy nhiên số lượng dịch xảy ra 2008 và 2009 là thấp (2008 có 25 vụ, 2009 là 33) Nhưng đến 2010 thì dịch xảy ra nhiều như trong tháng 10 xảy ra 143 vụ (FAO, 2008)
Thông tin dịch bệnh PRRS trên thế giới năm 2013-2015 (OIE): Belarus xuất hiện một ổ bệnh với 40.058 con nghi mắc; 3.260 con mắc; 2.458 con chết Mongolia xuất hiện một ổ bệnh với 337 con nghi mắc; 293 con mắc; 44 con chết;
293 con tiêu hủy Mexico xuất hiện 83 ổ bệnh Thụy Sỹ xuất hiện 3 ổ bệnh với
5099 con nghi mắc; 19 con mắc
Có thể khẳng định rằng PRRS là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc gia trên thế giới Hiện nay, trên các tạp chí khoa học quốc tế , các nhà khoa học gọi là “hội chứng bệnh liên quan với PRRS” (PRRS – related syndrome) hoặc “ hội chứng sốt cao trên lợn”(PHFS – Porcine High Fever Syndrome) nhằm phân biệt với các hội chứng cổ điển của PRRS đã xuất hiện và đã trở thành nội dịch (endemie) từ 20 năm qua trên khắp thế giới
1.1.3 Tình hình dịch bệnh Tai xanh ở Việt Nam
Bệnh Lợn tai xanh được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam năm 1997, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu đó có huyết thanh dương tính với PRRS (từ năm 1997 đến trước tháng 3/năm 2007) chưa phát hiện các ổ dịch lâm sàng trên đàn lợn Nhưng sau đó từ
Trang 14giữa tháng 3 và tháng 8 năm 2007 đã có 44 vụ dịch lợn tai xanh với khoảng 44.000 lợn bị nhiễm bệnh trong đó hơn 4000 lợn chết (OIE, 2007b) Đến cuối tháng 8 năm 2007 căn bản đã khống chế được bệnh Tuy nhiên đến tháng 9 lại có
9 vụ dịch xảy ra ở các tỉnh Khánh Hòa, Cà Mau và Lạng Sơn với tỷ lệ chết lên đến 24 phần trăm (Papatsiros, 2012) Những số liệu điều tra năm 2010 cho thấy một chủng virus mới xuất hiện phía Bắc Việt Nam trong khi đó ở phía Nam thì hỗn hợp cả chủng mới và cũ Trong năm đó dịch Lợn tai xanh có nhiều diễn biến phức tạp, dịch xảy ra trên diện rộng từ miền Bắc - Trung - Nam dịch xảy ra hai đợt dịch lớn:
Hải Dương Tính đến hết tháng 6/2010, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanh tại
461 xã, phường, thị trấn của 71 quận, huyện thuộc 16 tỉnh, thành phố Tổng số lợn mắc bệnh là 146.051 con trong đó số tiêu hủy là 65.911 con
Đợt 2/2010 (miền Trung và miền Nam): Đợt dịch này bắt đầu từ ngày
11/6/2010 tại Sóc Trăng Trong đợt dịch này, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanh tại 42.080 hộ chăn nuôi của 1.517 xã, phường, thị trấn thuộc 215 quận, huyện của 36 tỉnh, thành phố Tổng số lợn trong đàn mắc bệnh là 970.857 con, số mắc bệnh là 717.830 con, trong đó số chết, tiêu hủy là 413.540 con (Cơ quan thú
y vùng VI, 2007)
Năm 2011:
Đợt dịch thứ nhất: Dịch xảy ra từ đầu năm đến ngày 10/6/2011 tại 127 xã, phường, thị trấn của 20 quận huyện thuộc 7 tỉnh Tổng số lợn mắc bệnh là 14.759 con (trong đó có 1.468 lợn nái, 5.346 lợn thịt, và 7.665 lợn con) Tổng số lợn phải tiêu hủy là 14.158
Đợt dịch thứ hai: Dịch xảy ra từ ngày 30/8/2011 đến hết năm 2011 toàn quốc ghi nhận các ổ dịch PRRS tại 137 xã, phường, thị trấn của 29 quận, huyện thuộc 8 tỉnh Tổng số lợn mắc bệnh là 27.558 con và tổng số lợn phải tiêu hủy
là 12.361 con
Trang 15Năm 2012:
Dịch xảy ra bắt đầu từ tháng 1 cho đến tháng 6 năm đó tại 123 xã, phường, thị trấn của 27 quận, huyện thuộc 11 tỉnh với số lợn mắc 33.778 con và
số lợn tiêu hủy là 21.708 con
Tính trong cả năm 2012, cả nước có 28 tỉnh, 95 huyện, 453 xã có các ổ dịch Tổng số lợn bị bệnh 90.688 con, tiêu hủy 51.761 con (Bộ NN và PTNT, 2012)
Năm 2013:
Dịch Tai xanh ở lợn đã xảy ra tại 168 xã, phường của 46 huyện, quận thuộc 13 tỉnh; tổng số lợn mắc bệnh 38.532 con; số lợn tiêu hủy là 18.452 con
So với năm 2012, số tỉnh có dịch giảm 43,5%; số huyện có dịch giảm gần 40%;
số xã có dịch giảm 42,4%; số gia súc mắc bệnh, chết và phải tiêu hủy giảm 42,6% Tại Nam Định, dịch PRRS đã lây lan ra 17 xã của cả 2 huyện Xuân Trường và Trực Ninh làm gần 11.000 con lợn bị ốm
Năm 2014: Không có ổ dịch nào xảy ra trên phạm vi cả nước
1/2015-11/2015: Có 15 ổ dịch xảy ra tại 8 huyện của 5 tỉnh (Tiền
Giang, Hà Tĩnh, Sóc Trăng, Nghệ An, Long An)
1.2 Căn bệnh
1.2.1 Hình thái và cấu trúc của vius
* Cấu trúc hạt: PRRS là một virus đa hình thái, virion hình cầu và hình
trứng, có vỏ bọc ngoài với đường kính của virion vào khoảng 45 – 55nm, nucleocapsid có đường kính từ 30 -35 nm Là ARN virus với hệ gene là phân tử ARN sợi đơn dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này có kích thước khoảng 15-15.5kb với đầu 5’ được metyl hóa và đuôi 3’-bọc Poly Adenyl Hệ gene mã hóa với 10 khung đọc mở (open reading frame – ORF) gồm: ORF1, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6 và ORF7 Trong đó, ORF1 được chia làm hai phần ORF1a và ORF1b, chiếm tới khoảng 80% tổng số độ dài genome của vius, chịu trách nhiệm mã hoá RNA dependent RNA polymerase, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF5 và ORF7 là các gene tạo nên khung đọc mở
mã hoá các protein tương ứng, đó là GP2 (polycoprotein), GP3, GP4, GP5 hay
Trang 16còn gọi là glycoprotein vỏ (E, envelope), protein màng M (membrane protein),
và protein cấu trúc N (nucleocapsid protein) Các protein được glycosyl hoá (là hiện tượng gắn thêm hydratcacbon vào một vị trí acid amin xác định) là: GP2, GP3, GP4, GP5 và các protein không được glycosyl hoá là M và N
Hình 2.1 Virus PRRS
Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen PRRS virus
Trang 17Bảng 1.1.Protein cấu trúc của PRRS Protein KL phân tử Gen mã hoá Vai trò
Các nghiên cứu đã dựa vào phân tích trình tự acid amin của virus chủng
2332 và chủng Lelystad cho thấy rằng các virus này đang tiến hoá do đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen
Những nghiên cứu của Benfield et al (1992) cho biết kết quả nghiên cứu
các chủng virus thuộc dòng châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất định so với chủng virus của châu Mỹ Tương
tự, dòng virus châu Mỹ cũng có sự tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên
1.2.2 Phân loại
PRRSV là một virus ARN chuỗi đơn, có màng bọc, thuộc giống
Artervirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanagh et al., 1997) Hiện nay, có
2 kiểu gen PRRS chính được công nhận là:
- Kiểu gen 1 (nhóm 1): các nhóm virus thuộc dòng châu Âu với tên gọi
phổ thông là virus Lelystad (Muelenberg et al., 1993)
- Kiểu gen 2 (nhóm 2): các nhóm virus thuộc dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu
cho chủng này là chủng virus VR2332 (Nelsen et al., 1999)
Các chủng này gây bệnh trên động vật cảm thụ với bệnh cảnh giống nhau, nhưng chúng lại đại diện cho hai genotyp khác biệt mà có sự khác biệt đó vào khoảng 40%; do đó, tạo ra một lớp màng bí mật về nguồn gốc của loại virus này Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về chuỗi nucleotit khá cao (đến 20%), đặc biệt là
Trang 18các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ Chính sự khác biệt và sự đa dạng về tính kháng nguyên, khả năng biến đổi cấu trúc kháng nguyên của virus đã làm tăng thêm những khó khăn trong việc sản xuất vắc xin chống lại nó Ở một số quốc gia căn bệnh lưu hành trên đàn lợn gồm cả hai dòng virus (dòng Bắc Mỹ và dòng Châu Âu)
Bảng 1.2 Sự tương đồng về nucleotide của các chủng PRRS khi so sánh với
chủng Bắc Mỹ VR2332 Chủng Nước phát hiện Tỷ lệ % tương đồng
VR2332 Hoa Kỳ 100
Taiwan Đài Loan 97
807/94 Canada 92
Olot Tây Ban Nha 66
110 Hà Lan 66
Kết quả phân tích cấu trúc gen virus của Mỹ và Trung Quốc cộng với kết quả công cường độc của Trung tâm chẩn đoán thú y trung ương đều thống nhất: virus PRRS gây ra các ổ dịch ở Việt Nam là chủng độc lực cao Qua phân tích ban đầu về cấu trúc gen, virus PRRS tại Việt Nam đã được xác định là chủng thuộc dòng Bắc Mỹ Theo kết quả phân tích gen ban đầu, chủng virus PRRS của Việt Nam có mức tương đồng về trình tự aminoacid là 99% so với chủng virus độc lực cao đang lưu hành tại Trung Quốc; nếu so sánh với các chủng PRRS khác thuộc dòng Bắc Mỹ thì mức tương đồng là 98% Ở Việt Nam có cả hai chủng virus độc lực thấp (cổ điển) và chủng virus độc lực cao (biến đổi) đang lưu hành
Trang 191.2.3 Sức đề kháng của virus PRRS
Bảng 1.3 Sức đề kháng của virus với điều kiện ngoại cảnh
Điều kiện môi trường Khả năng đề kháng
72 giờ ở 250C
72 giờ ở 40C hoặc -200C
Vẫn phát hiện được virus
Mặc dù virus PRRS có vỏ bọc, nhưng khả năng sống sót của chúng bên ngoài vật chủ vẫn chịu tác động của nhiệt độ, độ pH và sự tiếp xúc với các chất tẩy uế Do
đó, với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng
bị tiêu diệt; ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng
PRRSV có thể tồn tại 1 năm trong nhiệt độ lạnh từ -200C đến -700C; trong điều kiện 40C virus có thể sống 1 tháng; với nhiệt độ cao, cũng như các virus khác, PRRSV đề kháng kém; ở nhiệt độ 370C PRRSV chịu được 48 giờ; virus bị giết chết sau 1 giờ ở nhiệt độ 560C Trong huyết thanh bảo quản ở 40C hoặc -200C, sau 72 giờ có thể phân lập được PRRSV từ 85% số mẫu
1.2.4 Đặc tính nuôi cấy virus PRRS trong môi trường tế bào
Virus PRRS phát triển với mật độ 105 – 107 TCID50 ở các loại tế bào:
- Đại thực bào phế nang lợn (PMA)
- Dòng tế bào liên tục CL261
- Tế bào thận khỉ châu Phi (MA104) và các biến thể của MA104 là MARC-145
Trang 20Ảnh hưởng bệnh lý tế bào ở môi trường PAM gây ra những tế bào kết thành khối hình tròn và phân huỷ nhanh chóng (1 – 4 ngày)
Trong các tế bào dòng CL261 hoặc MA104, tế bào bệnh lý phát triển chậm hơn, xuất hiện 1 – 6 ngày sau khi cấy truyền Virus PRRS gây bệnh lý ở tế bào CL261 và MA104 cũng bị phân giải, đầu trên tế bào tròn lại, tập trung thành cụm, sau đó dày lên, nhân co lại và cuối cùng bong ra
1.2.5 Khả năng gây bệnh
PRRSV chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai mẫn cảm hơn cả Lợn rừng cũng có thể bị mắc bệnh
Về mặt độc lực người ta thấy PRRSV tồn tại dưới 2 dạng:
- Dạng cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 – 5% tổng đàn
- Dạng biến thể độc lực cao: gây nhiễm và làm chết nhiều lợn (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2011)
1.3 Dịch tễ học
PRRS có những đặc điểm dịch tễ không như những bệnh khác ở gia súc Bệnh được ghi nhận với tốc độ lây lan nhanh, mạnh trên phạm vi rộng, trong một thời điểm có nhiều địa phương cùng mắc Làm thiệt hại lớn từ 10 – 20%
Trang 21Cho đến nay kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy virus PRRS không cảm nhiễm và không gây bệnh cho các loại thú khác và người Các loài thuỷ cầm chân màng, vịt trời lại mẫn cảm với virus PRRS Virus PRRS
có thể nhân lên ở các loài động vật này và chính đây là nguồn gieo rắc mầm bệnh trên diện rộng rất khó khống chế
1.3.2 Chất chứa virus
Virus có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường Tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh Ở lợn nái mang thai, virus có thể từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn con nhiễm bệnh và lợn mang trùng có thể đào thải virus trong vòng 6 tháng
Trong cơ thể lợn nhiễm virus:
- Từ 2 – 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được virus ở phổi, hạch lympho, hạch amidan, tuyến ức, lách và máu Lượng virus nhiều nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3 ngày
- Ở hạch amidan, hạch lympho và tuyến ức vẫn có thể phân lập được virus sau 21 ngày, ở phổi đến 35 ngày
- Virus PRRS thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách Ở những con nái có chứa virus có thể qua được nhau thai; tuy nhiên, khả năng qua được nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tuỷ xương và đám rối màng treo ruột
- Virus có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ở gan, thận, tim
và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơn nhân trung tính Tế bào đích chủ yếu của virus là đại thực bào phế nang, tại đây virus nhân lên một cách mạnh mẽ
1.3.3 Động vật môi giới và truyền virus
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang virus, đây là nguồn tàng trữ và truyền mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng cũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho lợn nhà và ngược lại, lợn nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng
Trang 22Trong thực nghiệm, người ta cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khoẻ (virus PRRS dòng châu Âu)
1.3.4 Đường lây truyền
Virus PRRS có thể được lây truyền qua 2 phương thức:
* Truyền lây trực tiếp: các đường lây truyền trực tiếp của virus PRRS trong và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm virus Virus PRRS được phát hiện ở nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch mũi, phân, nước tiểu, sữa và sữa đầu
(Yoon et al., 1993); (Rossow et al., 1994); (Swenson et al., 1994); (Will et al., 1997); (Wagstrom et al., 2001)
* Truyền lây gián tiếp:
- Các dụng cụ, thiết bị: một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị đã được xác định trong những năm gần đây Ủng và quần áo bảo hộ đã được chứng minh là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm (Otake
qua áp dụng các bảng nội quy: thay quần áo, giầy dép, rửa tay, tắm, tạo những khoảng thời gian nghỉ khoảng 12 giờ giữa những lần tiếp xúc với lợn
Kim tiêm cũng là phương tiện lan truyền virus PRRS giữa các lợn với nhau
- Các phương tiện vận chuyển: các phương tiện vận chuyển là một đường chính làm lây lan virus PRRS Sau thời gian vận chuyển những con mang bệnh nếu không khử trùng phương tiện vận chuyển thì chính những phương tiện này sẽ làm lây truyền mầm bệnh
Do đó, biện pháp làm tăng thời gian sấy khô qua vệc sử dụng không khí
ẩm với tốc độ cao (hệ thống khử tạp nhiễm và sấy khô bằng nhiệt) đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để loại trừ virus PRRS từ trong một phương tiện vận chuyển đã bị nhiễm virus
Kết hợp với việc sấy khô, các chất sát trùng cũng đã được sử dụng rộng rãi
để làm vệ sinh các phương tiện vận chuyển sau khi được vận chuyển
- Côn trùng: các loài côn trùng (muỗi – Aedes vexans và ruồi nhà – Musca domestica) được theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn
Trang 23trong suốt các mùa hè và đã cho thấy có lan truyền virus PRRS bằng cơ học từ
lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm (Otake et al.,
2002 và 2004)
Trong côn trùng, virus nằm ở đường tiêu hoá Các côn trùng không phải là vector sinh học của virus PRRS vì thế khoảng thời gian tồn lưu vủa virus PRRS trong đường tiêu hoá côn trùng phụ thuộc vào lượng virus ăn vào và nhiệt độ của môi trường Sự vận chuyển virus PRRS bởi các côn trùng qua một vùng nông nghiệp đã được báo cáo là có thể tới 2,4km sau khi tiếp xúc với quần thể lợn nhiễm bệnh
- Lây lan qua không khí: hiện nay, sự lây truyền virus PRRS qua các tiểu phần lơ lửng trong không khí giữa các trang trại với nhau vẫn còn gây nhiều tranh cãi Các dữ liệu trước đây thu thập từ các ổ dịch diễn ra ở Anh cho thấy virus có thể lan truyền theo các tiểu phần lơ lửng trong không khí xa tới 3km Hay một vụ dịch nổ ra ở Tây Âu gần như ngay lập tức sau khi ổ dịch đầu tiên xảy
ra tại Đức Nguyên nhân của vụ dịch này được giải thích là do virus có khả năng truyền qua không khí, theo gió tới vùng Tây Âu và gây bệnh cho những lợn trong các trang trại ở khu vực này, điều đó chứng minh rằng virus có thể truyền qua không khí với khoảng cách lên tới 3km
- Đặc biệt, hình thức thụ tinh nhân tạo với tinh dịch của lợn đực giống nhiễm bệnh hoặc mang trùng cũng làm phát tán virus PRRS
- Bệnh có thể lây từ quốc gia này sang quốc gia khác qua việc xuất, nhập khẩu lợn có mang virus mà không được kiểm dịch chặt chẽ
Trang 24Lúc đầu, virus PRRS có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày virus sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác Ở giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm của virus PRRS, dường như hiệu giá không thể kháng lại các loại virus và vi khuẩn khác không liên quan trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn
Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm virus PRRS sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp Trong cơ thể lợn ốm, có tới 40% số lượng tế bào đại thực bào bị virus giết chết
Viêm phổi làm thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hoá của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao
vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp nhiều lần, vì vậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào kỳ cuối Sau sảy thai, tế bào nội mạc tử cung bị thoái hoá, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý khác của cơ thể con vật
1.5 Triệu chứng
Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chủng virus, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường, vệ sinh chăn nuôi, sự kế phát của một số vi khuẩn khác
Triệu chứng lâm sàng được thể hiện rất khác nhau, theo ước tính cứ 3 đàn lần đầu tiên tiếp xúc với mầm bệnh thì một đàn không có biểu hiện, một đàn có biểu hiện mức độ vừa và một đàn biểu hiện mức độ nặng Lý do của việc này đến nay vẫn chưa có lời giải thích Tuy nhiên, với những đàn khoẻ mạnh thì mức độ bệnh cũng giảm nhẹ hơn và cũng có thể virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau Thực tế, nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu lâm sàng
Trang 25Triệu chứng lâm sàng phát hiện cũng khác nhau tuỳ thuộc vào loại lợn và từng lứa tuổi khi mắc bệnh:
đoạn chửa kỳ 2 hoặc thai chết lưu chuyển thành thai gỗ; thể cấp tính tai chuyển màu xanh, đẻ non vào giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai hoặc thai chết yểu Giai đoạn đẻ và nuôi con: biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú (triệu chứng điển hình), đẻ sớm khoảng 2 – 3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn
mê, thai gỗ (10 – 15% thai chết trong 3 – 4 tuần cuối của thai kỳ), lợn con chết ngay sau khi sinh (30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh (khoảng dưới 5%) và được duy trì trong vài giờ, pha cấp tính này kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn con số này có thể tới 30% tổng số lợn con sinh ra Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 – 4 sau khi xuất hiện triệu chứng Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4 – 8 tháng trước khi trở lại bình thường Ảnh hưởng lâu dài của PRRS tới việc sinh sản rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn có tình trạng sức khoẻ kém
Giai đoạn sau cai sữa: thường có biểu hiện biếng ăn, sốt cao, động dục giả, chậm động dục hoặc không động dục trở lại sau đẻ, phối giống không đậu thai,
ho và có dấu hiệu của bệnh viêm phổi
tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm tới 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (chiếm 85%), giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém: nồng độ tinh dịch C < 80.106, hoạt lực của tinh trùng A < 0,6, sức kháng của tinh trùng R < 3000, tỷ lệ
kỳ hình K > 10%, tỷ lệ sống của tinh trùng < 70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn khỏi bệnh lâu hồi phục khả năng sinh sản
Phần lớn đực giống nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng nhưng tinh dịch có virus Điều này làm cho việc lây nhiễm lan tràn nếu sử dụng tinh dịch của những con nhiễm bệnh trong thụ tinh nhân tạo
đường huyết do không bú được, mắt có dử màu nâu, trên da có vết phồng rộp,
Trang 26tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi ra, đi run rẩy, tỷ lệ chết cao ( Phạm Ngọc Thạch, 2007)
phần da mỏng như da tai, da bụng chuyển màu hồng nhạt sau đó hồng thẫm và xanh nhạt Trong trường hợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi lan toả cấp tính, hình thành nhiều ổ áp xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, hắt hơi,
chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ tử vong cao (Lê Văn Năm, 2007)
1.6 Bệnh tích
* Ở lợn nái sảy thai:
Âm môn sưng tụ huyết, niêm mạc tử cung và âm đạo sưng thũng, xuất huyết và chảy dịch, viêm phổi, có những đám tụ huyết, trong phế quản có nhiều dịch và bọt khí Một số trường hợp bàng quang xuất huyết
*Ở lợn con theo mẹ:
Viêm đường hô hấp cấp, thể hiện phế quản và phổi sưng có màu vàng hoặc tụ huyết đỏ, hach phổi và hạch hầu sưng có màu vàng, khi kế phát do
*Ở lợn con sau cai sữa và lợn thịt:
Biểu hiện viêm đường hô hấp đặc trưng: viêm phổi thuỷ thũng từng đám,
có màu vàng hoặc đỏ do xuất huyết, phế quản chứa đầy dịch nhờn và bọt khí Nếu kế phát các bệnh nhiễm khuẩn khác, sẽ thấy thêm các bệnh tích đặc trưng của từng loại bệnh
Trang 271.7.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào 2 nhóm triệu chứng:
- Triệu chứng đường sinh sản: trong giai đoạn đầu của dịch, có thể thấy hiện tượng sảy thai ở thời kỳ đầu, đẻ non, đẻ ra thai yếu, thai chết lưu dồng thời thai gỗ, lợn con yếu chết trước khi cai sữa
- Triệu chứng đường hô hấp: viêm phổi ở lợn con và lợn thịt Ta có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoán xác định bệnh trong các trường hợp như: sảy thai muộn > 20%, thai chết khi sinh > 5%, chết trước lúc cai sữa > 25%
Tuy nhiên, do tính đa dạng của các loại bệnh ở lợn nên việc chẩn đoán dựa vào lâm sàng thường rất khó, dễ nhầm lẫn (về các bệnh phổi, bệnh sinh sản khác) Ngoài ra việc phân lập virus cũng rất khó
1.7.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Khi thấy lợn có các triệu chứng nêu trên, bước đầu có thể chẩn đoán là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác cần phải lấy mẫu bệnh phẩm (máu lợn bệnh còn sống hoặc các tổ chức bệnh phẩm: phổi, hạch của lợn chết) để làm các xét nghiệm chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Kỹ thuật chẩn đoán trong phòng thí nghiệm đối với PRRS thường dựa vào
3 tiêu chí: virus, kháng nguyên của virus, kháng thể đặc hiệu
- Dựa vào phương pháp miễn dịch đánh dấu bằng enzym (ELISA) hoặc phương pháp gián tiếp huỳnh quang thể (IFAT) theo quy trình của OIE để phát hiện kháng thể
- Phương pháp PCR để phát hiện virus hoặc phương pháp phân lập virus gây bệnh trên các môi trường phôi gà hoặc các môi trường tế bào đặc biệt
Các phương pháp này cho độ chính xác cao (từ 92 – 95%) trong chẩn đoán xác định hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
1.7.3 Các vi khuẩn kế phát
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus PRRS thường tấn công, phá huỷ và giết chết đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào vùng phổi Kết quả làm suy giảm
hệ thống phòng vệ tự nhiên của cơ thể Hệ thống phòng vệ của cơ thể bị suy giảm
là điều kiện lý tưởng cho các mầm bệnh khác kế phát được tổng hợp ở bảng 1.4
Trang 28Bảng 1.4 Một số mầm bệnh kế phát thường gặp
- Không nuôi lợn thả rông
- Thường xuyên vệ sinh cơ giới và tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và các dụng cụ khác bằng các loại hoá chất như: vôi bột, chlorine, iodine
- Xử lý phân và chất thải chuồng nuôi theo phương pháp ủ sinh học hoặc xây dựng bể Biogas
- Con giống đưa vào chăn nuôi phải khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, giấy chứng nhận kiểm dịch của cơ quan thú y
Trang 29- Vệ sinh thức ăn, nước uống: thức ăn, nước uống dùng trong chăn nuôi phải đảm bảo vệ sinh Không sử dụng thức ăn ôi thiu, ẩm mốc, không đảm bảo chất lượng , thường xuyên vệ sinh máng ăn, máng uống
1.8.3 Phòng bệnh bằng vắc xin
Hiện nay, đã có vắc xin PRRS Tuy nhiên, vắc xin này còn đang trong quá trình thử nghiệm Vì vậy, khuyến cáo người chăn nuôi tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin phòng 4 bệnh đỏ là: Dịch tả lợn, Đóng dấu lợn, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn lợn Ngoài ra, nên tiêm phòng thêm vắc xin E.coli, Suyễn lợn, để phòng bệnh
Một số vắc xin phòng PRRS đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép nhập vào Việt Nam như:
- Vắc xin PRRS BSL - PS100: là loại vắc xin sống nhược độc, dạng đông khô có nguồn gốc từ chủng JKL – 100 thuộc dòng virus gây PRRS Bắc Mỹ Một liều vắc xin chứa ít nhất 105TC50 Vắc xin chỉ được pha với dung dịch chuyên biệt, sử dụng tiêm bắp với liều 2ml/con Miễn dịch chắc chắn sau tiêm 1 tuần và kéo dài 4 tháng
Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3 tuần tuổi
Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi và tái chủng hàng năm
Nái hậu bị và nái sinh sản tiêm phòng trước khi cai sữa cho con hoặc trước lúc phối giống
- Vắc xin phòng PRRS BSK – PS 100: là loại vắc xin vô hoạt chế từ chủng PRRSV dòng Châu Âu Một liều vắc xin chứa ít nhất 107,5TCID50 Vắc xin
an toàn và gây miễn dịch tốt
Liều dùng 2ml/con tiêm bắp
Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3 – 6 tuần tuổi
Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi, tái chủng 6 tháng/lần
Nái hậu bị tiêm lúc 18 tuần tuổi, tiêm nhắc lại sau 3 – 4 tuần
Nái sinh sản tiêm 3 – 4 tuần trước khi phối giống
Bảo quản vắc xin ở 20C – 60C
Trang 30- Vắc xin Amervac – PRRS: là loại vắc xin nhược độc đông khô, chứa virus chủng Châu Âu VP 046 BIS, mỗi liều chứa ít nhất 103,5TCID50 Vắc xin này có khả năng bảo hộ tất cả các chủng Châu Âu và Châu Mỹ Đây là chủng an toàn nhất trong các chủng Châu Âu và hoàn toàn không gây hoàn nguyên nhược độc lực
Liều lượng 2ml/con, tiêm vào cơ cổ
Lợn con tiêm 1 lần vào lúc 3 – 4 tuần tuổi, khả năng bảo hộ đến 5 tháng tuổi Lợn đực giống tiêm lúc 5 tuần tuổi, tái chủng 6 tháng/lần
Nái hậu bị tiêm 1 lần ở thời điểm 5 tuần tuổi trước khi phối giống
Nái sinh sản tiêm 1 lần sau khi sinh 12 – 15 ngày
Bảo quản vắc xin ở 20C – 80C
Hiện nay, tuy chưa có những đánh giá cụ thể về hiệu quả sử dụng vắc xin
ở Việt Nam, những việc tiêm phòng vắc xin chỉ thực sự hiệu quả khi được đồng thời thực hiện cùng hàng loạt các biện pháp khác như an toàn sinh học, kiểm tra huyết thanh định kỳ
1.8.4 Kiểm dịch vận chuyển
- Kiểm soát chặt chẽ lợn, sản phẩm của lợn vận chuyển qua biên giới
- Tại các địa phương kiểm soát chặt chẽ lợn, sản phẩm của lợn vận chuyển, xuất ra, nhập vào địa phương
- Xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật
1.9 Điều trị bệnh
Hiện nay, PRRS không có thuốc điều trị, chỉ có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa bệnh kế phát Với những trang trại đang xảy ra dịch, thực hiện đúng các bước sau:
• Loại bỏ những con bị quá nặng
• Tách những con bỏ ăn ra chuồng riêng
• Giãn mật độ nuôi tối đa
• Không tắm cho lợn có dấu hiệu bị bệnh, chỉ rửa chuồng, tích cực vệ sinh
• Sát trùng chuồng trại ngày 1 – 2 lần
• Pha Vitamin C vào nước cho uống khi đàn lợn có triệu chứng sốt cao
Trang 31• Một tuần cho uống 2 ngày Sorbitol để giải độc gan, thận
• Sử dụng cám có thuốc kháng sinh cho đến khi hết bệnh (1 – 2 tháng)
• Với những con bỏ ăn: phải tách ra để tiêm cùng lúc 2 loại thuốc là kháng sinh và thuốc điều trị triệu chứng
• Kháng sinh kéo dài và phổ rộng: Amoxillin LA, Oxytetraxyllin LA, Tiamulin
• Thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm sử dụng các loại sau: Funicin, Ketoprofen (Ketofen, ketovet) khi đàn lợn có triệu chứng sốt cao
Không nên sử dụng thuốc kháng viêm dạng Corticoids
Thời gian điều trị phải kéo dài từ 10 – 15 ngày lợn mới có thể hết bệnh Đối với lợn nái phải lấy thân nhiệt ít nhất 2lần/ngày và tiêm thuốc hạ sốt cho những con > 39,50C
Nên xem xét kỹ và chẩn đoán chính xác có phải bị PRRS (chết < 30%) hay là dịch tả lợn (chết 100% khi có triệu chứng bệnh)
* Cụ thể phác đồ điều trị như sau:
- Chống nhiễm bệnh kế phát: dùng kháng sinh có tác dụng với đường hô hấp: + Nếu lợn còn ăn thì trộn vào thức ăn hàng ngày một trong các loại kháng sinh sau: Flofenicol 40ppm (40gr/tấn thức ăn) hoặc 10 – 15 ngày, Lincomix S liều 2kg/tấn thức ăn, Tylansulfa – G 2kg/tấn thức ăn
+ Nếu con vật bỏ ăn dùng một trong các loại kháng sinh sau đây: Amoxicillin LA 15% liều 1ml/10kgP, Linco – spectin, Cafelosporin liều 1gr/30 – 50kgP Liệu trình 3 – 7 ngày
Với lợn nái có thể tiêm chậm vào tĩnh mạch vành tai, còn đối với lợn con
có thể tiêm bắp ở vùng cổ
- Nâng cao sức đề kháng: có thể sử dụng kết hợp một số loại thuốc sau: Vitamin C 5% liều 5 – 10 ml/con/ngày (có thể tiêm bắp)
Đường glucoza 5% liều 10 – 20 – 30 ml/con/ngày
Urotropin 10% liều 5 – 10 – 20 ml/con/ngày
Thuốc trợ tim
Trang 321.10 Yếu tố nguy cơ
1.10.1 Khái niệm
Yếu tố nguy cơ là yếu tố làm cho ký chủ bị phơi nhiễm trước các vi sinh vật (virus, vi khuẩn, ) hoặc các chất độc hại khác
Một yếu tố nguy cơ bao gồm 3 thành phần: tác nhân có hại, yếu tố nguy cơ
và mức độ hậu quả Thông thường, người ta ít khi phân biệt tác nhân có hại với yếu tố nguy cơ và nhiều khi coi chúng đều là nguyên nhân Do vậy, nếu dùng từ nguyên nhân thì trong dịch tễ học cần phân biệt giữa tác nhân có hại với yếu tố nguy cơ
1.10.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ
Nguy cơ xảy ra dịch bệnh không chỉ nói chung chung là nguy cơ cao mà phải xác định và tính toán để chứng minh rằng yếu tố đó chính là yếu tố nguy cơ Muốn vậy, ta phải tính xác suất xảy ra bệnh khi không có yếu tố nguy cơ đó Sau
đó so sánh 2 xác suất với nhau Có 3 con số so sánh xác suất tuỳ theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ Đó là tỷ số chênh lệch OR (Odd Ratio), tỷ số tỷ lệ nhiễm PR (Prevalence Ratio) và nguy cơ tương quan RR (Relative Risk)
1.10.3 Tỷ số chênh lệch OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu
Nghiên cứu (điều tra) hồi cứu là điều tra ngược thời gian để tìm ra yếu tố nguy cơ đã làm cho bệnh xảy ra Một cách làm nghiên cứu hồi cứu là nghiên cứu bệnh chứng (case control – Study) Người ta chọn một số gia súc có bệnh gọi là nhóm bệnh và một số gia súc không bệnh gọi là nhóm đối chứng và so sánh xem giữa 2 nhóm này có những điểm gì khác biệt Nhưng sự khác biệt này chủ yếu là
do các yếu tố tác động đến gia súc ở 2 nhóm Các yếu tố nói trên nếu có tác động vào gia súc thì gia súc đó được coi là đã phơi nhiễm và nếu không có tác động thì gia súc đó được coi là không phơi nhiễm với yếu tố đó
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Lợn nuôi (mắc dịch và không mắc dịch PRRS)
- Các hộ chăn nuôi (có dịch và không có dịch) trên địa bàn một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và Nam Định
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng dịch tễ - Viện Thú Y
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn, vệ sinh, tiêm phòng, và tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và Nam Định năm 2012 – 2014
- Điều tra tình hình chăn nuôi
- Điều tra tình hình vệ sinh, khử trùng
- Điều tra tình hình tiêm vắc xin phòng bệnh PRRS
- Nguồn thức ăn nước uống
- Nguồn cung cấp lợn giống
- Vệ sinh tiêu độc, khử trùng
- Nền chuồng
- Xử lý chất thải chăn nuôi
- Người lạ vào trước khi có dịch
- Xử lý khi có dịch
- Các yếu tố tự nhiên (ao, hồ, sông, ngòi, động vật hoang dã )
Trang 342.3.3 Nghiên cứu xác định chủng virus PRRS lưu hành trên địa bàn chăn nuôi tỉnh Nam Định
Thu thập 30 mẫu bệnh phẩm
Các chỉ tiêu theo dõi:
- Phân lập virus lợn tai xanh
Phân tích mối quan hệ phả hệ giữa các chủng virus phân lập ở Nam Định với các chủng virus phân lập trên cả nước và thế giới
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn, vệ sinh, tiêm phòng, và tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và Nam Định năm 2012 – 2014
Thu thập thông tin:
Thông qua các phiếu điều tra phỏng vấn hộ chăn nuôi, thú y xã
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
Tình hình chăn nuôi lợn: Số lượng lợn trong một hộ chăn nuôi, nguồn giống, nguồn cung cấp thức ăn, phương thức chăn nuôi
Tình hình vệ sinh: Chất lượng chuồng trại, vệ sinh chuồng trại, nguồn cung cấp nước, xử lý chất thải
Điều kiện tự nhiên khí hậu: Thời tiết hay xảy ra dịch ,
Tình hình dịch bệnh: xử lý khi có dịch, khử trùng tiêu độc chuồng trại khi
có dịch, lấy mẫu xét nghiệm khi có dịch, tổng số lợn khi có dịch, số lượng lợn bị tiêu hủy
Tình hình tiêm phòng: tỷ lệ tiêm phòng, thực hiện các quy định về thú y khi tiêm phòng
2.3.2 Nghiên cứu hồi cứu để xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến việc làm phát sinh và lây lan bệnh
Bố trí thí nghiệm
Tại Thái Bình:
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành điều tra như sau: