1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đậu dê ứng dụng phương pháp pcr trong chẩn đoán bệnh

75 554 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 22,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sữa dê là nguồn nguyên liệu quý giá cho một số ngành sản xuất khác như sản xuất thực phẩm, mỹ phẩm… Những năm gần đây, nhờ có chính sách đầu tư và hỗ trợ của nhà nước cùng nhiều tiến bộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Học viên

Trần Ngọc Hoàn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực tập tại Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, giảng dạy nhiệt tình của thầy cô trong Khoa thú y, các thầy cô trong nhà trường, cùng với sự nỗ lực của bản thân và sự động viên của người thân, bạn bè nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Nhân đây lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Lan đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến vô cung quý báu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể thầy cô giáo trong khoa, trong bộ môn bệnh lý, các anh chị đang công tác trên phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học trọng điểm thú y, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô giáo và các bạn để nghiên cứu được hoàn thiện và hiệu quả hơn

Cuối cùng kính chúc toàn thể quý thầy cô và gia đình luôn mạnh khỏe và công tác tốt

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2015

Học viên

Trần Ngọc Hoàn

Trang 4

MỤC LỤC Lời cam đoan Error! Bookmark not defined Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined Mục lục Error! Bookmark not defined

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ảnh ix

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới và tại Việt Nam 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Tại Việt Nam 6

1.2 Bệnh đậu dê 8

1.2.1 Giới thiệu chung về bệnh 8

1.2.2 Tình hình dịch bệnh đậu dê trên thế giới và tại Việt Nam 8

1.2.3 Động vật cảm nhiễm 10

1.2.4 Diễn biến bệnh, triệu chứng lâm sàng và tổn thương 10

1.3 Virus đậu dê 12

1.3.1 Phân loại virus 12

1.3.2 Hình thái cấu tạo 13

1.3.3 Đặc tính nuôi cấy và sự nhân lên của virus 14

1.3.4 Sức đề kháng của virus 15

1.3.5 Đường truyền bệnh 16

1.4 Một số phương pháp chẩn đoán 16

1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng 16

1.4.2 Bệnh tích mổ khám 17

1.4.3 Chẩn đoán phân biệt 17

1.4.4 Chẩn đoán thí nghiệm 19

Trang 5

1.5 Miễn dịch chống virus 23

1.5.1 Miễn dịch không đặc hiệu 23

1.5.2 Miễn dịch đặc hiệu 23

1.6 Phòng bệnh 24

1.6.1 Đối với vùng có gia súc đã mắc bệnh 24

1.6.2 Đối với vùng gia súc chưa mắc bệnh 25

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Nội dung nghiên cứu 26

2.1.1 Tình hình mắc bệnh đậu dê ở một số tỉnh tại miền Bắc; 26

2.1.2 Xác định các triệu chứng lâm sàng của dê mắc bệnh đậu; 26

2.1.3 Phương pháp PCR 26

2.1.4 Xác định các tổn thương đại thể của dê mắc bệnh đậu; 26

2.1.5 Xác định các tổn thương vi thể của dê mắc bệnh đậu; 26

2.1.6 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của dê mắc bệnh đậu 26

2.2 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 26

2.2.1 Đối tượng 26

2.2.2 Địa điểm thời gian nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 26

2.3.1 Phương pháp điều tra dịch tễ 26

2.3.2 Phương pháp xác định dê mắc bệnh 27

2.3.3 Phương pháp làm tiêu bản vi thể 28

2.3.4 Phương pháp kiểm tra trên kính hiển vi 31

2.3.5 Phương pháp xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học 32

2.3.6 Phương pháp PCR 32

2.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 35

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Kết quả điều tra tình hình đậu dê tại một số tỉnh ở khu vực phía bắc 37

3.1.1 Tình hình bệnh đậu dê tại Bắc Giang, Hà Nam và Yên Bái 37

3.1.2 Hình thức chăn nuôi 38

Trang 6

3.1.3 Mùa vụ 39

3.1.4 Độ tuổi 40

3.1.5 Phương thức chăn nuôi 41

3.2 Kết quả xác định triệu chứng lâm sàng của dê mắc bệnh đậu 42

3.3 Kết quả PCR 44

3.4 Kết quả xác định các tổn thương đại thể của dê mắc bệnh đậu 45

3.5 Kết quả xác định các tổn thương vi thể ở dê mắc bệnh đậu 50

3.5.1 Tổn thương vi thể ở da 50

3.5.2 Tổn thương vi thể ở phổi 51

3.5.3 Tổn thương vi thể ở thận 52

3.5.4 Tổn thương vi thể ở lách 53

3.5.5 Biến đổi vi thể tạo thể bao hàm 54

3.6 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của dê mắc bệnh đậu 56

3.6.1 Chỉ tiêu hệ hồng cầu 56

3.6.2 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu 57

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AGIT: Agar Gel Immunodiffusion Test

AND: Deoxyribonucleic Acid

EDTA: Etylen Diamin Tetracetic Acid (ống chống đông máu)

ELISA: Enzyme link immunosorbent assays

FAO: Food and Agriculture Organization

GPV: Capripoxvirus (Virus đậu dê)

HCT: Hematocrit (Tỷ khối huyết cầu)

HE: Haematoxilin – Eosin

HGB: Hemoglobiin (Hàm lượng huyết sắc tố)

OIE: World Organisation for Animal Health

PAGE: phân tích điện di gel polyacrylamide

PCR: Polymerase Chain Reaction

RBC: Red blood cell (Số lượng hồng cầu)

SPV: Virus đậu cừu

TCLS: Triệu chứng lâm sàng

WBC: White blood cell (Số lượng bạch cầu)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

1.1 Số lượng dê trên thế giới và các khu vực (nghìn con) 4

1.2 Sản lượng thịt và sữa dê thế giới năm 2001-2003 (nghìn tấn) 5

3.1 Tình hình đậu dê tại một số tỉnh 37

3.2 Kết quả điều tra tỷ lệ dê mắc bệnh đậu theo hình thức chăn nuôi 38

3.3 Kết quả điều tra tỷ lệ dê mắc bệnh đậu theo mùa vụ 39

3.4 Kết quả điều tra tỷ lệ dê mắc bệnh đậu theo độ tuổi 40

3.5 Kết quả điều tra tỷ lệ dê mắc bệnh đậu theo phương thức chăn nuôi 42

3.6 Triệu chứng của dê mắc bệnh đậu 43

3.7 Các tổn thương đại thể của dê mắc bệnh đậu 45

3.8 Tần suất xuất hiện nốt đậu trên các cơ quan 47

3.9 Tổn thương vi thể ở một số cơ quan của dê mắc bệnh đậu 50

3.10 Chỉ tiêu hệ hồng cầu ở dê mắc bệnh đậu 56

3.11 Chỉ tiêu hệ bạch cầu ở dê mắc bệnh đậu 58

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

STT Tên hình ảnh Trang

1.1 Cấu trúc của virus đậu dê 13

3.1: Kết quả điện di sản phẩm phản ứng PCR phát hiện virus đậu dê cho cặp mồi GTPVF1, GTPVR1 (Thang chuẩn Marker 100bp; chiêu dài đoạn gen là 196bp 45

3.2 Nốt đậu mọc trên mũi và tai dê 49

3.3 Vết loét ở miệng, mũi và dử mắt ở dê mắc bệnh 49

3.4 Nốt đậu trên tai dê 49

3.5 Nốt đậu trên phổi dê mắc bệnh 49

3.6 Nốt đậu trên ruột dê mắc bệnh 49

3.7 vùng da lành tầng tế bào sinh trưởng rõ (20X, HE) 51

3.8 vết loét do mụn đậu tạo ra mất lớp tế bào sinh trưởng (20X, HE) 51

3.9 Hình ảnh vi thể phổi dê bình thường và phổi dê mắc bệnh đậu 52

3.10 Hình ảnh vi thể của thận dê mắc bệnh đậu 53

3.11 Hình ảnh vi thể lách dê bình thường và lách dê mắc bệnh đậu 54

3.12 Thể bao hàm tại nội mạc niêm mạc ống mật dê bị bệnh đậu 54

3.13 Thâm nhiễm tế bào viêm ở hạ niêm mạc (20X, HE) 55

3.14 Gan sung huyết (10X, HE) 55

3.15 Mụn mủ đậu dê ở niêm mạc ruột (10X, HE) 55

3.16: Tăng sinh bạch cầu ái toan ở lớp hạ bì 59

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho người dân và cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở Việt Nam đã phải gặp nhiều khó khăn như rớt giá, bệnh dịch, sử dụng chất cấm và dư thừa kháng sinh Hậu quả là nhiều người chăn nuôi đã bị thua lỗ nặng nề phải bỏ nghề, dịch bệnh xảy

ra liên miên từ năm này sang năm khác, môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm Việc lựa chọn đối tượng vật nuôi nào ít rủi ro, ít phụ thuộc vào thị trường

là tiêu chí quan trọng của các nhà chăn nuôi hiện nay Với nhiều lợi thế là dễ nuôi và thích nghi tốt với khí hậu Việt Nam, nguồn thức ăn dễ kiếm, thậm chí có thể tận dụng phụ phẩm trong trồng trọt làm thức ăn, cần ít vốn, quay vòng vốn nhanh, tận dụng được lao động và điều kiện tự nhiên ở mọi vùng sinh thái, chăn nuôi dê là định hướng hợp lý cho phát triển chăn nuôi của nông dân nghèo Sản phẩm được khai thác từ dê cũng rất tiện ích Không những cung cấp loại thịt có chất lượng dinh dưỡng cao, dê còn được chăn nuôi theo hướng khai thác sữa Sữa

dê là nguồn nguyên liệu quý giá cho một số ngành sản xuất khác như sản xuất thực phẩm, mỹ phẩm…

Những năm gần đây, nhờ có chính sách đầu tư và hỗ trợ của nhà nước cùng nhiều tiến bộ trong việc lai tạo giống cũng như kỹ thuật chăn nuôi cho nên chăn nuôi dê được nhiều hộ nông dân trên cả nước nói chung quan tâm đầu tư phát triển với quy mô khá lớn Một số tỉnh Miền Trung như Khánh Hòa, Ninh Thuận có điều kiện tự nhiên thuận lợi và người dân ở đây có nhiều kinh nghiệm chăn nuôi dê giống và dê thương phẩm với quy mô từ vài chục đến hàng ngàn con cung cấp nguồn sản phẩm cho vùng và cả khu vực thành phố Hồ Chí Minh Một số tỉnh tại khu vực Miền Bắc như Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Bắc Giang chăn nuôi dê cũng rất phát triển và tiến sâu hơn lên các tỉnh vùng sâu xa như Cao Bằng, Yên Bái số lượng cũng đang tăng không ngừng qua các năm Theo số liệu thống kê của Cục chăn nuôi, cả nước hiện có 757 trang trại nuôi dê

Trang 11

trong đó Ninh Thuận dẫn đầu với 470 trang trại

Tuy nhiên hiện nay dịch bệnh vẫn đang là lực cản lớn Ngoài các bệnh nguy hiểm như lở mồm long móng, viêm loét miệng truyền nhiễm, bệnh về đường hô hấp và tiêu hóa,…hiện nay còn xuất hiện “Bệnh đậu dê” có nguyên nhân là do virus Capripoxvirus thuộc họ Poxviridae một loại virus thích nghi trên da gây nên là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho dê được tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào bảng A- bảng các bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm Bệnh xuất hiện trên thế giới từ rất lâu (khoảng năm 200 sau Công nguyên), nhưng đến năm 1879, Hansen ở Nauy thông báo phát hiện bệnh đậu dê

Ở Việt Nam, bệnh mới chỉ xuất hiện từ đầu năm 2005, năm 2006

-2007 bệnh bùng phát thành dịch ở nhiều địa phương, đã gây nhiều thiệt hại về kinh tế đặc biệt đối với hộ chăn nuôi nghèo và ảnh hưởng đến các hoạt động xã hội khác Trong quá trình nhập khẩu một số giống dê ngoại có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, chúng ta đã đồng thời đưa vào nước ta những mầm bệnh mới, lây lan rất nhanh, có thể xảy ra ở dê mọi lứa tuổi, mọi giống, trên cả con đực và con cái nó là bệnh quan trọng nhất trong số các bệnh đậu của loài nhai lại, gây tỉ lệ chết cao trong dê con Khi mắc bệnh này con vật xuất hiện những triệu chứng thường thấy của bệnh truyền nhiễm: sốt cao, bỏ ăn, mệt, mỏi, ho Sau đó xuất hiện mụn đậu trên da Mụn đậu có thể lan tràn khắp cơ thể hoặc chỉ xuất hiện vài nốt nổi

Điều nguy hiểm nữa là khi mắc bệnh đậu con vật rất dễ mắc các bệnh kế phát khác gây ra những biến chứng kết hợp thì thiệt hại càng lớn Nếu chúng ta không có hiểu biết nhất định về loại bệnh này thì rất dễ chẩn đoán nhầm với một

số bệnh khác như: bệnh eczema, bệnh ghẻ, bệnh chốc loét,…Vì vậy việc nắm chắc các kiến thức về căn bệnh cũng như tìm ra và áp dụng có hiệu quả các biện pháp phòng chống các bệnh gây ra trên dê có ý nghĩa vô cùng lớn

Xuất phát từ vấn đề trên và góp phần hiểu biết về bệnh, hạn chế tác hại của

bệnh, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của

bệnh đậu dê và ứng dụng phương pháp PCR trong chẩn đoán bệnh”

Trang 12

1.2 Mục đích của đề tài

Góp phần hoàn thiện hơn những thông tin về bệnh đậu dê, phục vụ công tác chẩn đoán và phòng chống bệnh

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới và tại Việt Nam

Gần đây nhận thức về vai trò của con dê đã được thay đổi và tiềm năng của

nó đã bắt đầu được khai thác tích cực hơn Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau

về chủ trương phát triển nhưng chăn nuôi dê ngày càng được chú trọng hơn và đóng góp lớn vào việc phát triển kinh tế cho người dân nghèo Đặc biệt là các vùng bò sữa, lợn lai không nuôi phù hợp thì con dê có thể coi là con vật giúp người dân tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu

Bảng 1.1 Số lượng dê trên thế giới và các khu vực (nghìn con)

Toàn thế giới 737.175 765.511 775.211 Các nước phát triển 30.998 31.650 33.350 Các nước đang phát triển 706.177 732.861 741.861

Trang 14

Thực tế, có khoảng 95% trong tổng số 765 triệu dê trên thế giới được nuôi ở các nước đang phát triển và mang lại thu nhập có ý nghĩa cho người dân Ở Châu

Á nước nuôi nhiều nhất là Trung Quốc (173 triệu con), sau đó là Ấn Độ (125 triệu con) và Pakistan (53 triệu con) Chăn nuôi dê tập trung ở các nước đang phát triển, nhưng chủ yếu ở khu vực nông hộ quy mô nhỏ, ở những vùng khô cằn, nông dân nghèo Ở những nước phát triển, chăn nuôi dê có quy mô đàn lớn hơn và chăn nuôi theo phương thức thâm canh với mục đích lấy sữa làm phomat hoặc chuyên lấy thịt cho tiêu dùng trong nước hay xuất khẩu Ngoài ra, chăn nuôi

dê thế giới cung cấp một khối lượng khá lớn sản phẩm về lông và da

Theo FAO (2004), trong năm 2003 sản lượng thịt các loại của thế giới đạt

249 triệu tấn, trong đó sản lượng thịt dê đạt 4,1 triệu tấn (1,64%) Khu vực các nước đang phát triển là nơi sản xuất nhiều thịt dê nhất đạt 3,9 triệu tấn, trong đó tập chung chủ yếu ở các nước Châu Á đạt 3,0 triệu tấn Nước cung cấp nhiều thịt

dê nhất là Trung Quốc 1,5 triệu tân, sau đó là Ấn Độ 0,47 triệu tấn và Pakistan 0,37 triệu tấn

Bảng 1.2 Sản lượng thịt và sữa dê thế giới năm 2001-2003 (nghìn tấn)

Thịt Sữa Thịt Sữa Thịt Sữa Toàn thế giới 3.895 11.680 4.048 11.756 4.091 11.816 Các nước phát triển 182 2.585 187 2.517 188 2.538 Các nước đang phát triển 3.713 9.095 3.861 9.239 3.903 9.278 Châu Á 2.820 6.177 2.964 6.263 3.004 6.291 Châu Âu 120 2.470 122 2.395 122 2.421 Châu Phi 810 2.686 811 2.743 814 2.745 Châu Mĩ La Tinh 132 347 137 355 138 359

Nguồn tổ chức nông lương thế giới FAO, 2004

Cũng theo số liệu của FAO (2004) tổng sản lượng sữa các loại trong năm

2003 của toàn thế giới đạt khoảng 600 triệu tấn, trong đó sữa dê đạt 12 triệu tấn (1,97%) Cũng như thịt dê sữa dê chủ yếu do các nước đang phát triển sản xuất đạt 9,3 triệu tấn Các nước Châu Á cung cấp phần lớn lượng sữa này (6,3 triệu

Trang 15

tấn), trong đó đứng đầu là Ấn Độ 2,6 triệu tấn, sau đó là Bangladesh 1,3 triệu tấn

và Pakistan 0,64 triệu tấn

Về số lượng giống dê, theo Aharya và Bhattachalya (1992) trên thế giới có

150 giống dê đã được miêu tả cụ thể, phần còn lại chưa được biết đến và phân bố

ở khắp các châu lục Trong đó 63% giống dê hướng sữa, 27% giống dê hướng thịt và 5% giống dê kiêm dụng lấy lông làm len Các nước Châu Á có giống dê nhiều nhất, chiếm 42% số giống dê thế giới Các nước có nhiều giống dê nhất là Pakistan 25 gống, Trung Quốc 25 giống và Ấn Độ 20 giống

Ấn Độ là nước có ngành chăn nuôi dê phát triển Công tác nghiên cứu về chăn nuôi dê được nhà nước đặc biệt quan tâm chú ý Họ có Viện nghiên cứu chăn nuôi dê, Viện sữa quốc gia, các trường đại học và một số trung tâm nghiên cứu về dê

Ở Trung Quốc, từ năm 1978 Chính phủ đã bắt đầu quan tâm đến chăn nuôi dê

và do đó tốc độ chăn nuôi dê phát triển ngày càng nhanh Hiện tại Trung Quốc có 14 trại dê giống sữa và sử dụng kĩ thuật cấy chuyển hợp tử trên dê

Để hội tụ các nhà khoa học cùng tham gia nghiên cứu và tổ chức trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dê trên toàn thế giới, Hội chăn nuôi dê đã được thành lập từ năm 1976 (International Goat Assocation) và cứ 4 năm họp một lần Khu vực Châu Á cũng đã thành lập tổ chức Chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ (Small Ruminant Production System Network for Asia) với mục đích góp phần trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê trong khu vực

1.1.2 Tại Việt Nam

Con dê đã thuần hóa khá lâu đời ở nước ta, là một nghề truyền thống của đồng bào dân tộc miền núi như Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái Đồng bào nuôi dê làm thực phẩm nhằm phục vụ cho những công việc lớn của gia đình như đám cưới, dựng nhà, hội hè Con dê cũng được nuôi tại các tỉnh đồng bằng, rải rác tại các vùng đồi núi như tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ

An Tại những vùng này thịt dê được coi như một món ăn đặc sản

Trang 16

Ở Ninh Thuận có dân tộc Chăm, do tính chất tôn giáo, một số làng xã nhân dân không sử dụng thịt bò, thịt lợn, con dê là nguồn thực phẩm chính nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, không những thế còn là nguồn cung cấp thịt cho thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn ở phía Nam Đặc biệt ở đây nhân dân còn nuôi kết hợp cả cừu với số lượng tương đối lớn do thích nghi với tính chất khí hậu khô nóng quanh năm của vùng này Dê và cừu ở Ninh Thuận đã được nuôi theo mô hình trang trại Nhiều hộ đã nuôi đến 2000-3000 cừu, 500-

1000 dê Phân của chúng cũng được gom để bán cho các tỉnh Tây Nguyên làm phân bón cho các vùng công nghiệp và hoa màu

Ở Việt Nam, nghề chăn nuôi dê mặc dù đã có từ lâu đời nhưng chủ yếu được nuôi theo phương thức quảng canh, tự cung tự cấp Tới năm 2000, theo số liệu của Cục thống kê: Tổng đàn dê của cả nước là 525.000 con, trong đó chủ yếu

là giống dê Cỏ (dê địa phương), được phân bố tập trung ở các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc Riêng đàn dê của miền Bắc chiếm 72,5% tổng đàn, miền Nam 27,5% (trong đó Tây Nguyên chiếm 12,3%, Duyên hải miền Trung chiếm 8,9%, Đông Nam bộ 2,1% và Tây Nam bộ 3,8%) Đàn dê của các tỉnh vùng núi phía Bắc chiếm 67% tổng đàn dê của miền Bắc và 48% tổng đàn dê cả nước

Theo số liệu thống kê của FAO năm 2003, tổng đàn dê của nước ta là 780.354 con, đã sản xuất ra được 6000 tấn thịt, tuy nhiên sản lượng sữa còn rất thấp và chỉ đạt khoảng 120 tấn Trong đó vùng Ba Vì, Sơn Tây, Hà Tây sản xuất được 95 tấn, số còn lại tập trung ở vùng ven thành phố Hồ Chí Minh

Nhiều năm qua, ngành chăn nuôi dê của nước ta chưa được quan tâm, chú ý Người dân nuôi dê chủ yếu theo phương thức quảng canh, tận dụng đồi bãi chăn thả, thiếu kiến thức kỹ thuật Giống dê Việt Nam chủ yếu là giống dê

Cỏ địa phương nuôi lấy thịt có nhiều màu sắc lông da khác nhau và độ pha tạp nhiều, dê có tầm vóc bé nhỏ, hiệu suất chuyển hoá thức ăn thấp, hiện tượng suy thoái cận huyết cao, nuôi dưỡng kém, bệnh tật phát sinh nhiều Ở một số nơi tỷ lệ chết của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi khá cao, lên tới trên 40% tổng số dê con sinh ra

Trang 17

Năm 1993, Nhà nước bắt đầu giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê trong cả nước cho Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây thuộc Viện Chăn Nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ đó đến nay nhiều công trình nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi dê về giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y, chế biến sản phẩm đã được tiến hành và đã thu được những kết quả bước đầu rất phấn khởi Chăn nuôi dê ngày càng phát triển ở nhiều nơi trong

cả nước và trở thành phong trào rộng khắp, đã và đang đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân

1.2 Bệnh đậu dê

1.2.1 Giới thiệu chung về bệnh

Bệnh đậu dê là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho dê được tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào bảng A-bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm cực kì nguy hiểm

Căn nguyên gây bệnh là do chủng virus thuộc giống Capripoxvirus, họ Poxrividae Trong giống Capripoxvirus, ngoài virus gây bệnh cho dê còn virus gây bệnh cho cừu, gây bệnh nổi cục sần cho bò và một số bệnh khác Tuy nhiên chỉ có virus gây bệnh đậu dê cho dê và cừu có thể lây chéo cho dê và cừu, còn virus gây bệnh nổi cục sần cho bò không lây sang cho dê ở điều kiện tự nhiên

Dê mọi lứa tuổi đều mắc, bệnh lây lan rất nhanh Dê trưởng thành tỉ lệ mắc có thể lên đến 80% đàn dê con và già yếu có thể lên đến 100% Nếu thiếu biện pháp chữa trị đặc hiệu thì tỉ lệ chết ở dê trưởng thành có thể lên đến 50% và 95% ở dê con

và dê già yếu

Virus đậu là virus hướng thượng bì, gây nên các mụn nổi có mủ trên da và niêm mạc của dê mắc bệnh đậu

1.2.2 Tình hình dịch bệnh đậu dê trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.2.1 Trên thế giới

Trong các tài liệu cổ, bệnh được miêu tả chi tiết khoảng 200 năm sau công nguyên trong một tài liệu về thú y cổ xưa và cũng bắt đầu lây lan từ thời đó Hansen đã đưa ra bản báo cáo về bệnh đậu dê năm 1879 ở Nauy Trong suốt cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất bệnh đã lây lan khắp Macedonia và được công bố

Trang 18

dịch năm 1926 với tỷ lệ chết là 15% Nguyên nhân gây bệnh chính là virus đậu

dê (GPV), đôi khi có virus đậu cừu (SPV) Đây là một loại virus AND có vỏ bọc, được đặt tên là giống Capripoxvirus thuộc họ Poxviridae Bệnh gây ra tổn thất rất lớn về kinh tế: gây chết dê non với tỷ lệ cao, giảm khả năng sản xuất nói chung, giảm chất lượng lông và da, gây tổn thất cho các trang trại chăn nuôi tập trung, hạn chế thông thương quốc tế

Châu Âu: bệnh xảy ra tại Nauy, Thụy Điển, Ý, Bungari, Liên Bang Nga, Hy Nạp

Châu Á: Bệnh xảy ra tại các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Afghakistan, Băng La Đét, Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kì, Mông Cổ

Châu Phi: Cộng hòa Trung Phi, Ai Cập, Ma Rốc, Togo, Niger, Sudan Châu Mỹ: Bang Washington của Mỹ

Bệnh đậu dê được xem như bệnh quan trọng nhất trong các bệnh đậu của ngành chăn nuôi gia súc

Virus đậu dê có khả năng chống chịu rất tốt, chúng sống được một thời gian dài ngoài môi trường: 6 tháng trong bóng râm của khu chăn thả, 3 tháng trong vảy khô trên lông, da cừu

1.2.2.2 Tại Việt Nam

Bệnh trước đây chưa từng xuất hiện tại Việt Nam Đến ngày 3/1/2005 bệnh xuất hiện tại huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng đe dọa đến 1.000 con dê của các

hộ chăn nuôi với lượng dê mắc là 598 con lượng dê chết là 515 con Sau đó bệnh xảy ra tại huyên Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang ngày 13/1/2005, tại huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn ngày 25/1/2005 và huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây ngày 18/3/2005 (số liệu do cục thú y gửi OIE ngày 2/5/2005)

Theo kết quả xét nghiệm của trung tân chẩn đoán thú y trung ương các mẫu bệnh phẩm được lấy tại các ổ dịch tại các tỉnh Hà Nam tháng 9/2005, thành phố

Hồ Chí Minh tháng 1/2006 và Thanh Hóa tháng 7/2006 đều dương tính với virus đậu dê bằng phương pháp PCR

Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận xuất hiện bệnh đậu dê vào mùa khô năm

2005, khởi đầu từ huyện Ninh Hải sau lây sang huyện Thuận Bắc, huyện Ninh

Trang 19

Phước Toàn tỉnh Ninh Thuận có khoảng 125.000 dê thì có 1.210 con chết Trong thời gian dịch bệnh hầu hết các hộ chăn nuôi đều điêu đứng vì dê ốm chết hoặc người chăn nuôi lo bán chạy, giá thành rẻ gây khó khăn về kinh tế đặc biệt đối với người chăn nuôi nghèo

1.2.3 Động vật cảm nhiễm

Capripoxvirus chỉ lây nhiễm động vật có móng guốc, hầu hết virus hướng tới 1 loài động vật đặc trưng Trong điều kiện tự nhiên GPV gây nhiễm trên dê Virus phân lập được ở Trung Đông, Ấn Độ cho thấy chúng chỉ đặc trưng trên dê

mà không gây nhiễm cho cừu Nhưng virus này cũng được phân lập từ cả dê và cừu ở vùng Oman của Yemen và Kenia Bệnh có thể biểu hiện rõ hơn khi dê, cừu nhiễm các giống khác nhau do virus có khả năng thích nghi trên những dê, cừu địa phương Tuy nhiên, trên thực tế, những xét nghiệm sinh hóa cũng khó phân biệt được virus gây bệnh đó là đặc trưng trên dê hay trên cừu

Dê ở tất cả các lứa tuổi, tính biệt đều có khả năng bị mắc bệnh này, đặc biệt

là dê non, dê già, dê nuôi lấy sữa Các giống dê ở Châu Âu cảm nhiễm với bệnh này hơn dê ở các lục địa khác Các nghiên cứu cũng cho thấy, đối với giống dê bản xứ, khi mắc bệnh này thì tỉ lệ nhiễm và tỉ lệ chết không cao Song tỉ lệ này sẽ phát triển nếu chăn nuôi tập trung theo các phương thức cải tiến, giống ngoại nhập hay kế phát theo một số bệnh khác ví dụ như peste des petits virus trên động vật nhai lại hoặc bệnh Lở mồm long móng

Dịch bệnh đậu dê không phát ra theo mùa rõ ràng

Mức độ trầm trọng của dịch bệnh phụ thuộc vào mật độ động vật mẫn cảm, độc lực của giống virus GPV và giống nhiễm bệnh Nói chung, với một đàn mẫn cảm thì tỷ lệ nhiễm có thể lên tới 75%, tỷ lệ chết cao tới 50%, đặc biệt có đàn gia súc non chết tới 100%

1.2.4 Diễn biến bệnh, triệu chứng lâm sàng và tổn thương

Diễn biến của bệnh đậu dê như sau: Thời gian ủ bệnh từ 1 đến 2 tuần Con vật sẽ sốt từ 4 đến 7 ngày sau khi mắc bệnh Một vài giống cừu Châu Âu, ví dụ như giống Soay, có thể mắc bệnh ở thể cấp tính và chết trước khi các nốt tổn thương xuất hiện trên da Thường thì sau khi sốt cao trên 40o C, một số vùng da

Trang 20

xuất hiện các nốt ban và những đốm xuất huyết (đường kính 2-3cm) rất dễ thấy trên các vùng da trắng của dê, đặc biệt là dưới bụng 24 giờ sau các nốt sưng lớn thành các nốt sần cứng Các nốt này bao phủ khắp cơ thể, nhưng tập trung nhiều

ở đầu, cổ, nách, bụng, bộ phận sinh dục (bao quy đầu, âm hộ), màng ngoài của mắt, hậu môn, mũi Các nốt sần ở phần niêm mạc nhanh chóng bị loét Khi chúng kết hợp với chất tiết của mũi, mắt thì trở thành màng mủ nhầy Các hạch limpho đều sưng Nếu động vật sống sót sau quá trình cấp tính của bệnh thì các nốt sần bắt đầu hoại tử trở thành các vẩy khô sau 5-10 ngày Vảy này tồn tại dai dẳng hàng tháng Có trường hợp virus gây ra dạng tổn thương mụn nước trên da, nhưng trường hợp này rất hiếm Tổng thời gian diễn biến bệnh là khoảng 1-2 tháng Trong một số trường hợp gia súc không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng Những con vật mắc bệnh trở nên gầy sút và chết ở bất cứ giai đoạn nào của bệnh

Dê có chửa dễ sảy thai, bầu vú sưng, miệng, lưỡi và lợi xuất hiện nhiều nốt loét

Con vật có thể hồi phục trong 3-4 tuần, tùy mức độ nghiêm trọng của bệnh các nốt đậu có thể liền hoàn toàn hoặc liền để lại sẹo to sâu Vẩy đậu trên cơ thể con bệnh có thể ủ bệnh vài tháng sau đó

Như vậy, dê mắc bệnh đậu có triệu chứng đặc trưng là sốt cao 40-41oC, xuất hiện nốt đậu ở da, sưng hạch lympho, chảy nước mắt, nước mũi và chảy nhiều dãi Thời gian ủ bệnh kéo dài 1-2 tuần Con vật sốt, suy nhược, ủ rũ, khó thở, kếm ăn, kết mạc mắt đỏ, lưng cong, sưng hạch lympho, chảy nước mũi đặc Sau 1-2 ngày vùng ban đỏ bắt đầu xuất hiện ở vùng niêm mạc nhìn thấy được như mũi, miệng, âm hộ, ở da đặc biệt là vùng da mỏng của cơ thể đầu, cổ, phía trong chân và dưới đuôi dần dần những nốt này sần lên phát triển thành mụn nước tiếp đến là mụn mủ và kết thúc tạo thành các vẩy đậu

Thường gặp hai dạng tổn thương đậu trên da là dạng mụn nước và dạng nốt đậu Với dạng mụn nước lúc đầu nốt đậu chuyển sang màu trắng nâu, khô dần, cứng lại thành vảy dễ bong ra Với dạng nốt đậu, mụn đậu sưng to dần thành nốt sần ăn sâu vào da tạo thành các nốt hoại tử và khi lành tạo thành sẹo không mọc lông Tổn thương đậu dê không chỉ giới hạn trên da mà còn ảnh hưởng đến bất kì

tổ chức nội tạng nào, đặc biệt là ống tiêu hóa từ miệng, lưỡi, hậu môn và đường

Trang 21

hô hấp Làm tiêu bản bệnh lý của da có thể thấy mức độ tổn thương của biểu bì,

hạ bì và mô cơ liên kết Mổ khám bệnh tích thường bao gồm sung huyêt khí quản các nốt u có dạng hạt đậu, các đốm trắng trên phổi, lách sưng tấy, hạch lympho hoại tử màu trắng xám và sự gia tăng số lượng dịch màng phổi màu máu Ở một

số động vật các tổn thương hình thành trên phổi nhiều vùng cứng chắc

1.3 Virus đậu dê

1.3.1 Phân loại virus

Virus đậu dê là ADN 2 sợi có vỏ bọc, thuộc nhóm Capripoxvirus, họ Poxviridae Trong giống Capripoxvirus, ngoài virus gây bệnh cho dê còn virus gây bệnh cho cừu, gây bệnh nổi cục sần cho bò và một số bệnh khác Tuy nhiên chỉ có virus gây bệnh đậu dê cho dê và cừu có thể lây chéo cho dê và cừu, còn virus gây bệnh nổi cục sần cho bò không lây sang cho dê ở điều kiện tự nhiên Khi giải trình tự hệ gen cho thấy bộ gen của virus đậu dê và virus đậu cừu có chiều dài khoảng 150 kb và điều đặc biệt là chúng rất giống nhau, biểu hiện 96% cấu trúc nucleotit giống nhau trên toàn bộ hệ gen giữa 2 chủng gây bệnh cho dê

và cừu Đối với kiểu gen thông thường chúng có ít nhất 147 gen, bao gồm các gen bảo tồn sự nhân lên của virus và các cấu trúc gen có liên quan đến độc lực của virus và khả năng gây bệnh ở vật chủ Gen của virus đậu dê và đậu cừu rất giống nhau và giống với cả gen của virus gây u da ở bò, có tới 97% thành phần nucleotided giống nhau

Tất cả các gen của virus gây bệnh đậu dê và đậu cừu đều có mặt trong hệ gen của virus gây bệnh u da bò Tuy nhiên trong gen của virus gây bệnh đậu dê

và đậu cừu không chứa gen quy định độc lực và hệ vật chủ của LSDV, sự vắng mặt của gen này trong hệ gen của virus gây bệnh đậu dê và cừu được phỏng đoán

là chúng có vai trò quan trọng trong việc xác định vật chủ là bò

Hệ gen của virus đậu dê và cừu co chứa các nucleotide đặc hiệu khác nhau được cho là chúng thuộc các loài riêng biệt Một số sự thay đổi nhỏ trong hệ gen của virus đậu dê và đậu cừu được giải thích là do sự giảm độc do chúng chứa từ 7

và 71 gen thay đổi so với các chủng ngoài thực địa Đáng chú ý là sự thay đổi của gen bao gồm cả đột biến và đứt gãy của gen với những chức năng quy định

về độc lực và hệ vật chủ, bao gồm protein Ankyrin được lặp lại trong virus đậu cừu và 3 protein dạng kelch được lặp lại trong virus đậu dê

Trang 22

1.3.2 Hình thái cấu tạo

Virus gây bệnh đậu dê thuộc nhóm virus đậu Nếu xét về mặt đặc điểm kháng nguyên thì virus đậu được chia ra thành 5 nhóm phụ khác nhau (Joklik 1996) Quan sát cấu trúc của virus có thể thấy chúng có dạng lăng trụ hoặc dạng trứng, kích thước khoảng 300-350nm x 200-250nm x 100nm Cấu trúc phân tử của chúng bao gồm một nhân ở giữa, hai lateral bodies, bề mặt protein và màng bao bọc Nhân của virus được bao phủ bởi một lớp màng riêng trong đó chứa deoxyribonucleic acid (DNA) và protein Nếu cắt lát thẳng đứng thì nhân có dạng lõm 2 mặt như mặt cắt thẳng đứng của tế bào hồng cầu gia súc Vật chất di truyền là 2 sợi nhiễm sắc thể có phân tử lượng

là 80 x 106 (Joklik 1996) Xung quanh nhân là chất nền protein và bên sườn là hai lateral bodies Nhắc tới cấu trúc của tiểu thể virus cũng cần nhắc tới cấu trúc của lớp màng bao quanh toàn bộ virus Một tiểu thể virus có khối lượng khoảng 5,5 – 10 -15g Cấu tạo hóa học của virus này cũng đã được nghiên cứu Thành phần của nó bao gồm 89% là protein, 5 – 6% là vật chất di truyền DNA Phần còn lại là carbohydrate, các màng liên kết phospholipid, cholesterol và mỡ trung tính Khi lớp vỏ bọc bên ngoài được loại bỏ thì nhân của virus rất mẫn cảm với men DNAes và men trypsin Thêm vào đó tất cả các giống virus đậu đều bị tiêu diệt bằng cồn 95 – 99% tùy thuộc vào từng giống khác nhau Chúng cũng bị bất hoạt trong môi trường pH3

Hình 1.1 Cấu trúc của virus đậu dê

Trang 23

Về cấu trúc của kháng nguyên của virus đậu có khác với cấu trúc của virus

có kích thước nhỏ, vì virus có thên lớp vỏ bọc ngoài nên ngoài kháng nguyên nucleoprotein còn có thêm kháng nguyên hòa tan, kháng nguyên này nằm trên bề mặt của virion Những nghiên cứu về cấu trúc chính của những polipetide của virus đậu dê được xác định bằng sự phân tích điện di gel polyacrylamide (PAGE) kết quả cho thấy có trên 20 vạch có thể phân biệt từ một virus đã được tinh khiết trong đó có một kháng nguyên kết tủa chính kháng nguyên này được gọi là kháng ngyên hòa tan loại kháng nguyên đại diện cho một công cụ chẩn đoán có giá trị đối với sự nhiễm virus đậu dê

Các kháng nguyên hòa tan có khả năng kích thích virus tạo ra số lượng lớn kháng nguyên trong quá trình nhân lên của virus Kháng huyết thanh kháng lại chúng tăng lên có thể trung hòa đặc hiệu tính gây bệnh của virus vì có một số kháng nguyên hòa tan có thành phần cấu trúc của virus

1.3.3 Đặc tính nuôi cấy và sự nhân lên của virus

Virus đậu dê thích hợp nuôi cấy trên các môi trường là mô tổ chức có nguồn gốc từ bò, dê, cừu, đặc biệt trên môi trường thận cừu, dịch hoàn cừu sơ cấp hay thứ cấp Tuy nhiên, virus đậu dê chỉ gây bệnh tích tế bào sớm nhất 4 ngày sau khi gây nhiễm vì vậy cần kiểm tra các môi trường tế bào đã nhiễm virus trong 14 ngày

Có thể nuôi cấy virus trên phôi thai gà ấp 11-13 ngày, sau khi gây nhiễm

3-4 ngày, xuất hiện bệnh tích nốt đậu trên màng thai ở dưới dạng màu trắng, xám đục, màng thai phù nề và dày lên

Quá trình nhân lên của virus diễn ra trong tế bào chất khi số lượng của virus trong tế bào đạt được mức độ cần thiết cho việc tái tạo gen Quá trình này được

sử dụng một số nguyên liệu từ tế bào của vật chủ, nhưng những chất nào đã được

sử dụng thì chưa rõ

Receptor của virus đậu, mặc dù chưa chắc chắn nhưng có thể nhận thấy có nhiều loại khác nhau

Trang 24

Virus dậu dê đề kháng cao và tồn tại trên vật chủ và môi trường trong thời gian dài Thực nghiệm cho thấy chúng có thể tồn tại 6 tháng trong các bãi quây nhốt động vật trong bóng mát, trên nền chuồng, ít nhất 3 tháng trong vảy mụn khô trên da, lông của động vật mắc bệnh Virus có thể phát tán qua quần áo bảo

hộ, dụng cụ chăn nuôi Chưa có bằng chứng về sự lây truyền virus đậu dê qua tinh dịch hoặc phôi thai

Những nghiên cứu về virus đậu dê cho thấy, các chủng virus đậu dê nói chung đề kháng với điều kiện khô, tồn tại được trong điều kiện đông lạnh và tan chảy và nhiều tháng trong tình trạng đông khô

Trang 25

1.3.5 Đường truyền bệnh

Bệnh lây lan chủ yếu qua đường tiếp xúc trực tiếp giữa động vật mẫn cảm với động vật mang mầm bệnh qua không khí hoặc phối giống Động vật mắc bệnh bài thải virus qua vảy đậu khô, nước mũi, nước bọt, trong sữa, nước tiểu

và phân

Thời gian bài thải virus có thể kéo dài từ 1 - 2 tháng Thêm nữa các vết xước trên da hay vết do côn trùng đốt cũng là nơi virus đậu dê thâm nhập vào cơ thể vật chủ.Có thể gây bệnh cho dê trong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng virus đậu dê cường độc tiêm vào vùng hạ bì, nội bì, cơ hoặc phun khí dung qua đường hô hấp Các virus đậu dê có sức đề kháng cao, có thể sống sót trong thời gian dài trên vật chủ hay ngoài môi trường, ví dụ chúng có thể tồn tại tới 6 tháng trên nền chuồng và ít nhất là 3 tháng trên vẩy mụn khô nằm trên lông và trên da con vật bị bệnh Virus cũng có thể được phát tán qua quần áo bảo hộ và các dụng

cụ chăn nuôi Chưa có bằng chứng về sự truyền lây virus đậu dê qua tinh dịch hoặc phôi thai

1.4.1.2 Giai đoạn tạo thành mụn nước và nốt sần

- Nốt sần khô tạo thành vẩy dễ bóc

- Hiếm khi nốt sần có thể thay đổi thành mụn nước, nhưng nếu có mụn nước thì khi vỡ sẽ tạo thành nốt loét và tạo thành một cục vẩy bao phủ nốt loét đó

1.4.1.3 Tạo thành u cục nhỏ (dạng đậu đá)

- Các mụn nổi lên làm tăng sinh cả lớp dưới biểu bì và da

Trang 26

- Kết quả của hoại tử là các tổn thương đóng vẩy sau khi bong ra đều để lại các vết sẹo không thể mọc lông được

Tại khu vực chăn nuôi dê chúng ta có thể nghi ngờ dê mắc bệnh đậu khi xuất hiện một số triệu chứng như: sốt cao, chảy nhiều nước mắt, nước mũi, con vật chán ăn, lưng cong Trên da nổi ban đỏ, bắt đầu là các vùng ban đỏ đặc biệt là những phần cơ thể không có lông, vùng da mỏng, niêm mạc hình thành nên các nốt đậu Sưng hạch lympho ở các vùng bị nhiễm, tăng sinh tế bào lympho, tỉ lệ chết cao

1.4.2 Bệnh tích mổ khám

Bệnh tích trên da: sung huyết, xuất huyết, phù nề, viêm mạch máu và hoại

tử Thường gặp hai dạng bệnh tích đậu trên da là dạng mụn nước và dạng nốt đậu Với dạng mụn nước lúc đầu mụn nước chuyền trắng nâu, sau khô dần, cứng lại thành vảy dễ bong ra Với dạng nốt đậu, mụn đậu sưng to dần thành nốt sần

ăn sâu vào da tạo thành các nốt hoại tử và khi lành tạo thành sẹo không có lông Bệnh tích trên niêm mạc mắt, miệng, thanh quản, khí quản, ruột, dạ dày, dạ

cỏ, dạ múi khế, âm hộ, bao quy đầu, nếp gấp âm vật, tinh hoàn, vú, núm vú Bệnh tích ở phổi: tổn thương đậu nghiêm trọng và lan rộng tạo thành các nốt đậu tập trung và khắp lá phổi

1.4.3 Chẩn đoán phân biệt

Cần chẩn đoán phân biệt bệnh đậu dê với một số bệnh sau đây:

1.4.3.1 Bệnh viêm da có mủ truyền nhiễm

(Contagious pustular dermatitis) hay còn gọi là bệnh lở miệng (Scabby mouth)

- Giống: Có bệnh tích là các nốt sần, mụn mủ, mụn nước trên da, môi, mũi, các vùng da không có lông

- Khác: không tạo ra các nốt sần trong nội tạng

Bệnh chủ yếu ở dê non và dê non theo mẹ Tỉ lệ mắc bệnh cao (lên tới 100%) nhưng tỉ lệ chết thấp Chết do nguyên nhân nhiễm khuẩn và dòi do ruồi Dê hồi phục sau khi nhiễm bệnh trong tự nhiên có thể kháng lại sự tái nhiễm rất cao

Đặc điểm lâm sàng: Bệnh tích đầu tiên trên da ở môi và hai lỗ mũi Bệnh

Trang 27

tích xuất hiện ở các chân (vành móng), bắp đùi, nách, âm đạo hoặc bầu vú của dê cái và các bộ phận khác được phủ bởi lớp lông ngắn Các con dê bị nặng hơn có thể sẽ bỏ ăn và bị giảm cân Các bệnh tích vết sần, mụn nước, mụn mủ và vết loét được hình thành trong 3-4 ngày, các vảy lớn hình thành trong 1 tuần và vảy bị bong ra trong 3-4 tuần

1.4.3.2 Bệnh lưỡi xanh ( Blue tongue):

- Giống: viêm loét niêm mạc, viêm loét da chân, viêm phổi, xảy thai

- Khác: không tạo thành các nốt đậu cứng trên da và trong nội tạng

Bệnh thường xuất hiện ở cừu, xuất hiện không điển hình ở bò, trâu, dê Tỉ lệ chết khoảng 2-10% Thời gian ủ bệnh 2-5 ngày

- Đặc điểm lâm sàng:

* Dạng cấp tính:

- Sốt lên tới 420C, con vật uể oải, gầy hốc hác

- Viêm, loét, mài mòn và hoại tử ở niêm mạc miệng

- Sưng lưỡi và đôi khi lưỡi bị tím tái

- Viêm vành ở chân hoặc viêm da chân, viêm cơ dẫn đến què

- Sảy thai

- Viêm phổi do nhiễm khuẩn kế phát

Gia súc chết trong 8-10 ngày hoặc bệnh kéo dài thì gia súc phục hồi với hiện tượng rụng lông, vô sinh và chậm phát triển

* Dạng á cấp tính:

Các triệu chứng phân biệt như gia súc sảy thai, yếu ớt, có những dấu hiệu không bình thường bẩm sinh (mất kiểm soát, não úng thủy, cong khớp)

- Bệnh tích: Tụ huyết, phù thũng, xuất huyết, loét niêm mạc đường tiêu hóa

và niêm mạc đường hô hấp (miệng, lưỡi, khí quản, thực quản, dạ dày và ruột) Tụ huyết vùng mảnh đệm móng và vành móng Thủy thũng phổi (viêm phổi) Các hạch lympho và lách sưng to

Viêm khớp Xung huyết các mạch của mảnh đệm móng, phù thũng và

Trang 28

xâm nhập bạch cầu trung tính Hoại tử ở các bó cơ Sắt trong máu tích tụ và bạch cầu trung tính thâm nhập ở lách

1.4.3.3 Lở mồm long móng (Foot and Mouth Diease)

- Triệu chứng lâm sàng:

Thời gian ủ bệnh từ 3-5 ngày Con vật sốt cao từ 40-410C, khó thở, trên niêm mạc miệng, lợi có các đám mụn nước nhỏ, vỡ loét ra màu đỏ, sau sẫm lại làm cho con vật đau đớn, ăn uống khó và chảy nhiều nước rãi trắng như bọt xà phòng Trên vành móng có những mụn nước vỡ loét tương tự như ở miệng, trường hợp nặng sẽ làm long móng con vật, khiến con vật đi lại khó khăn Dê non thường bị nặng tỉ lệ chết cao hơn dê trưởng thành

- Bệnh tích: Dê có mụn nước vỡ loét ở miệng, niêm mạc mũi và quanh móng chân

- Chẩn đoán phân biệt:

+ Giống: có bệnh tích dạng mụn ở da và niêm mạc Ban đầu con vật sốt, sau khi qua giai đoạn cấp tính con vật hết sốt nhiệt độ trở lại gần như bình thường + Khác: tổn thương dạng mụn nước và không có tổn thương dạng mụn trong nội tạng Trong khi tổn thương của bệnh đậu dê là tổn thương dạng tăng sinh và tổn thương đến tận nội tạng

Kết hợp làm các xét nghiệm về virus và các phản ứng huyết thanh để chẩn đoán chính xác, chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác

1.4.4 Chẩn đoán thí nghiệm

Các mẫu dùng cho chẩn đoán trong phong thí nghiệm (phân lập virus) thường là các mô sinh thiết nhưng nên lấy mẫu từ 1 – 2 trường hợp bị nhiễm cấp tính Mẫu sinh thiết nên bao gồm 2 – 3 nốt sần hoặc mụn nước, dùng nước sạch

để rửa Nếu mẫu xét nghiệm là máu thì phải vô trùng từ con vật mắc bệnh đang ở giai đoạn đầu của quá trình sốt Dùng chất chống đông để bảo quản mẫu máu Ngoài ra có thể lấy bệnh phẩm là khí quản, phổi, hạch lympho tăng sinh Mẫu phải mang đi xét nghiệm trong vòng 24 giờ trong điều kiện bảo quản bằng đá ướt, nếu bảo quản bằng đá khô thì thời gian tối đa cũng chỉ là một ngày

Trang 29

Mẫu dùng trong chẩn đoán vi thể là các mô phải được giữ trong dung dịch formalin 10%, không được làm đông lạnh để gửi tới phòng thí nghiệm

Mẫu làm huyết thanh: lấy mẫu tối thiểu 3 mẫu trong trường hợp phát hiện sớm và 3 mẫu trong trường hợp mãn tính Có thể lấy huyết thanh của những cá thể hồi phục sớm (ở 14 – 21 ngày)

Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm có rất nhiều phương pháp khác nhau Ban đầu phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp khuyếch tán trên thạch Tuy nhiên, chẩn đoán bệnh đậu dê bằng phương pháp virus hoặc huyết thanh cổ điển phụ thuộc vào virus sống càng ngày càng khó thực hiện, nhất là đối với các quốc gia bị bệnh này xâm nhập thông qua đường nhập khẩu động vật Do

đó phương pháp sinh học phân tử mới nhất như PCR, có khả năng phát hiện axit Nucleic của GPV là rất hiệu quả, vì thế mà hết sức có lợi Xét nghiệm tiếp theo

có thể dùng những phương pháp thường quy cho chẩn đoán đậu dê tại địa phương:

1.4.4.1 Cấy vào phôi gà

Tiêm huyễn dịch mụn đậu vào màng nhung niệu của phôi gà 11-13 ngày tuổi, sau 3-4 ngày hoặc 6-7 ngày sẽ xuất hiện nốt đậu trên màng thai và gây bệnh tích màng thai như màng dày, phù nề giống chất gelatin

1.4.4.2 Nuôi cấy trên môi trường tế bào thận dê non và tinh hoàn

Nuôi cấy vào môi trường tế bào thận dê non và tinh hoàn dê sau 24-72h tế bào bị thoái hóa, biến dạng và tan vỡ màng tế bào

1.4.4.3 Phương pháp miễn dịch khuếch tán trên thạch (Agar Gel Immunodiffusion Test -AGIT)

AGIT dùng cho chẩn đoán bệnh đậu dê được áp dụng từ năm 1960 Sau đó với cách làm mới hơn, người ta sử dụng 35S-methionin gắn kháng xuyên với nhiều cải tiến cho chẩn đoán phát hiện kháng xuyên capripoxvirus AGIT rất đơn giản và có thể ứng dụng ở những nơi kỹ thuật phòng thí nghiệm chưa phát triển, mới chỉ có những phương tiện tối thiểu Mặc dù chi phí thấp nhưng phương pháp này tương đối nhạy

Trang 30

1.4.4.4 Kĩ thuật chất hấp phụ miễn dịch gắn enzyme (Enzyme link immunosorbent assays-ELISA)

Đây là kỹ thuật khá nhạy và đơn giản, cho phép xác định kháng nguyên (KN) hoặc kháng thể (KT) ở nồng độ thấp (khoảng 0,1ng/ml) Hai kỹ thuật ELISA được dùng nhiều là kỹ thuật trực tiếp và kỹ thuật gián tiếp (hay kỹ thuật “sanwich” – bánh kẹp)

Kỹ thuật bánh kẹp : nhỏ kháng huyết thanh chứa KT vào giếng ở bản nhựa

để cho KT bám vào thành giếng, nhỏ tiếp dịch KN cần xét nghiệm Nếu là

KN đặc hiệu với KT thì sẽ gắn với KT, thêm cộng hợp KT gắn enzyme vào giếng để cho KT cộng hợp gắn với KN mà trước đó đã gắn với KT đầu tiên, tạo nên một “bánh kẹp” KT –KN –KT gắn enzyme, cuối cùng bổ sung cơ chất của enzyme Enzyme thuỷ phân cơ chất làm thay đổi màu dung dịch Tốc độ thuỷ phân của enzyme tỷ lệ thuận với lượng KT gắn enzyme, cũng có nghĩa tỷ lệ thuận với KN cần xét nghiệm

Kỹ thuật hấp phụ miễn dịch gián tiếp: nhỏ dịch KN cho hấp phụ lên thành giếng, nhỏ tiếp kháng huyết thanh (chứa kháng thể) cần xét nghiệm rồi ủ Nếu trong huyết thanh có chứa KT đặc hiệu với KN thì sẽ gắn với nó, thêm cộng hợp kháng – KT đã gắn enzyme, thêm cơ chất của enzyme Tốc độ thuỷ phân của

cơ chất gắn liền với sự thay đổi màu dung dịch và tỷ lệ thuận với lượng KT cần xác định trong mẫu

- Ưu điểm:

ELISA nhạy hơn phương pháp SRH, CIE Avidin-Biotin ELISA có thể phát hiện trực tiếp GPV trong huyết thanh, sử dụng kháng nguyên pha loãng thành những phần tử nhỏ về cơ bản giảm mức tối thiểu sau phản ứng thí nghiệm Đây

là phương pháp có thể dùng để đánh giá kháng thể miễn dịch đậu dê (có thể cả đậu cừu), có thể dùng trong nghiên cứu miễn dịch học

Trang 31

1.4.4.5 Phương pháp PCR

Phương pháp PCR - phản ứng dây truyền nhờ hoạt động của enzyme ADN –polymerase – do Kary Mullis cùng cộng sự phát minh năm 1985, đã đưa lại một cuộc cách mạng trong di truyền học sinh học phân tử Đây là phương pháp hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu, phân tích gen và hệ gen Khó khăn lớn nhất trong việc phân tích gen ở chỗ chúng là những mục tiêu đơn lẻ và rất nhỏ trong một hệ gen phức tạp khổng lồ Kỹ thuật PCR ra đời đã thay đổi tất cả, giúp chúng

ta có thể tạo ra một số lượng lớn các bản sao của một đoạn AND mong muốn

Do những ưu điểm tuyệt đối trong nghiên cứu sinh học phân tử, kỹ thuật PCR được nhanh chóng áp dụng rộng rãi để chẩn đoán các bệnh về virus, vi khuẩn, các bệnh ký sinh trùng và cho kết quả rất chính xác Mặt khác sự phân tích thành phần và trật tự nucleotide trên phân tử ADN trong hệ gen còn có ý nghĩa to lớn trong phân loại các loài sinh vật Chính nhờ tính thực tiễn to lớn của kỹ thuật này tác giả của PCR, Kary Mulis, được tặng giải thưởng Nobel vào năm 1993

Kỹ thuật PCR có độ nhạy cao, cho phép xác định chính xác Capripoxviruses trong các mẫu sinh thiết da và nuôi cấy tế bào trong khi các phương pháp trên có thể xảy ra phản ứng chéo với một số virus khác

- Ưu điểm của phương pháp PCR

Thời gian thực hiện nhanh, chỉ cần 3 giờ là có thể khuếch đại được một trình tự đáng quan tâm

Thực hiện đơn giản và ít tốn kém (nó được thực hiện trong ống nghiệm plastic nhỏ gồm thành phần tối thiểu được thực hiện đồng thời), yêu cầu về độ tinh sạch của mẫu không cao (vết máu khô,mẫu vật khảo cổ, những vết tích để lại của con vật đã chết)

- Nhược điểm của phương pháp PCR

Cần phải có ADN mồi đặc trưng cho ADN cần khuếch đại Để có đoạn mồi này ít nhất phải biết trước trình tự nucleotide cần khuyếch đại

Kích thước AND cần khuếch đại không vượt quá 3 kb

Khả năng ngoại nhiễm lớn (do thao tác nhiều lần)

Sai sót còn do sử dụng enzyme Taq -polymerase khoảng 104 (sai sót cho một lần sao chép)

Trang 32

1.5 Miễn dịch chống virus

1.5.1 Miễn dịch không đặc hiệu

Cơ thể đáp lại sự xâm nhiễm của virus trước hết bằng cách tiết interferon (IFN) tại chỗ để ngăn cản sự nhân lên và lan tràn ra của virus IFN được coi là yếu tố bảo vệ cơ thể không đặc hiệu vì chúng được sinh ra để đáp lại một virus thì cũng có hiệu quả ngăn cản sự nhân lên của nhiều virus khác

Khi bị nhiễm virus, tế bào natural killer (NK) được họat hóa bởi IFN tăng cường phá hủy tế bào nhiễm, trên bề mặt tế bào NK có thụ thể KCIR (killer cell inhibitory receptor) dành cho MHC1 của tế bào đích Khi KCIR gắn với MHC ức chế tín hiệu hoạt hóa Tế bào nhiễm virus có ít MHC nên không bị ức chế và và

Để có được miễn dịch chủ động thành công hay có hiệu quả thì các tế bào

có thẩm quyền miễn dịch phải có các khả năng sau:

- Khả năng nuốt và chế biến kháng nguyên;

- Khả năng nhận biết và kết gắn với kháng nguyên đã được chế biến;

- Khả năng đáp ứng để sản xuất kháng thể đặc hiệu hoặc các tế bào hoặc cả hai có khả năng loại bỏ kháng nguyên

1.5.2.2 Miễn dịch thụ động

Miễn dịch thu được bằng cách truyền kháng thể đặc hiệu hoặc là các tế bào của hệ thống miễn dịch Có hai loại là miễn dịch thụ động tự nhiên và miễn dịch thụ động nhân tạo

Sự nhiễm với các virus đậu gây ra đáp ứng miễm dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào Sự liên quan quan trọng của kháng thể lưu hành chống lại

Trang 33

tế bào lympho T gây độc trong việc ngăn chặn sự nhiễm bệnh vẫn chưa được hiểu đầy đủ, rõ ràng Tuy nhiên rõ ràng với sự có mặt của kháng thể lưu hành chống virus, sự nhiễm vào vật chủ đã giảm sút Kháng thể lưu hành được tạo ra

do nhiễm tự nhiên hay do tiêm vaccine có thể hạn chế sự lan truyền của virus đậu trong động vật, nhưng chính đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào với loại trừ

sự nhiễm Tuy nhiên, tình trạng miễn dịch của động vật do bị nhiễm tự nhiên hay

do tiêm vaccine không liên quan đến kháng thể trung hòa và các phản ứng huyết thanh học hiện nay không thể phân biệt rõ ràng giữa động vật miễn dịch và động vật cảm nhiễm

Ở những khu vực có dịch địa phương, cả vaccine sống giảm độc và vaccine chết đều hữu hiệu trong việc phòng chống đậu dê, nhưng vaccine chết chỉ gây miễn dịch trong thời gian ngắn còn vaccine sống giảm độc gây miễn dịch cao nhưng có nhược điểm là tạo ra các nốt đậu hoặc gây chết cho một số động vật được tiêm vaccine do sự phát triển của bệnh Thông thường việc sử dụng vaccine chứa các chủng đang lưu hành tại địa phương rất có hiệu quả trong việc phòng chống đậu dê

Ở những nước khác nhau, những vùng khác nhau trong một nước có rất nhiều loại vaccine sống giảm độc tồn tại để chống lại virus đậu dê với mức độ hiệu quả bảo hộ khác nhau

- Tiêm phòng bao vây vùng có dịch và vùng có nguy cơ lây lan bệnh;

- Thực hiện các biện pháp vệ sinh thú y như tiêu độc, sát trùng chuồng trại, nơi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi và phương tiện vận chuyển gia súc bằng một số hóa chất như xút, formol, benkocid, BKA

- Cách ly trước khi nhập đàn;

- Kiểm soát xe cộ vận chuyển, đi lại trong vùng có dịch và các vùng vành đai;

Trang 34

- Nếu có trường hợp khỏi bệnh thì cũng phải cách ly ít nhất là 45 ngày Tất cả dê nếu còn khả năng chữa trị thì nên nhốt ra một nơi biệt lập, sạch

sẽ, không khí thoáng, cho ăn khẩu phần đảm bảo dinh dưỡng Nếu con vật không

ăn thì có thể bổ sung glucosa 10% cho chúng Tất cả động vật bị nhiễm bệnh nên được tiêm kháng sinh để đề phòng trường hợp bội nhiễm vi khuẩn gây bệnh thứ phát Làm vệ sinh thật sạch các nốt tổn thương trên da nếu có bằng dung dịch thuốc tím 1/10000, sau đó bôi kháng sinh mỡ hoặc kháng sinh dạng bột vào các nốt tổn thương đó Kích thích con vật hô hấp trong trường hợp cần thiết bằng cách cho hít hương tinh dầu khuynh diệp hoặc coramine

1.6.2 Đối với vùng gia súc chưa mắc bệnh

- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, cho dê ăn uống đầy đủ để tăng cường sức đề kháng

- Thường xuyên tiêu độc khử trùng bằng các loại hóa chất như xút, formol, javen

- Tiêm phòng vaccine đậu dê

- Cách li các dê nhập từ nơi khác đến trước khi cho nhập đàn

Trang 35

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Tình hình mắc bệnh đậu dê ở một số tỉnh tại miền Bắc;

2.1.2 Xác định các triệu chứng lâm sàng của dê mắc bệnh đậu;

2.1.3 Phương pháp PCR

2.1.4 Xác định các tổn thương đại thể của dê mắc bệnh đậu;

2.1.5 Xác định các tổn thương vi thể của dê mắc bệnh đậu;

2.1.6 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của dê mắc bệnh đậu

2.2 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng

Dê mắc bệnh đậu được chăn nuôi ở tỉnh Bắc Giang, Hà Nam và Yên Bái

2.2.2 Địa điểm thời gian nghiên cứu

- Một số tỉnh thuộc Miền Bắc: Bắc Giang, Hà Nam, Yên Bái

- Phòng thí nghiệm Bệnh lý, Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học trọng điểm thú ý, Khoa thú y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2014 - 8/2015

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra dịch tễ

Điều tra dịch tễ bệnh đậu dê bằng phương pháp cứu hồi dựa vào phiếu điều tra kết hợp phỏng vấn thú y cơ sở và người chăn nuôi, khảo sát trực tiếp Các dữ liệu thu thập được được điền vào các chỉ tiêu điều tra trên phiếu điều tra

Trang 36

2.3.1.2 Điều tra chi tiết

- Số lượng dê theo tuổi;

- Triệu chứng lâm sàng (TCLS): phỏng vấn người chăn nuôi về các TCLS xảy ra trước thời điểm điều tra;

- Tổn thương;

- Thời gian bị bệnh: mùa xuân, mùa hè, mùa thu, mùa đông, không theo mùa;

- Những biểu hiện triệu chứng bệnh lý khác

2.3.2 Phương pháp xác định dê mắc bệnh

Những dê có triệu chứng lâm sàng của bệnh đậu như: Mệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn, lưng cong lên, chảy nước mắt nước mũi, nước bọt, sốt cao 40-41oC, xuất hiện các nốt ban đỏ trên da, hạch lympho sưng, nốt đậu mọc ở miệng, mũi, mắt, âm hộ,

vú, núm vú, bao quy đầu, tinh hoàn, nhiều nốt loét ở lưỡi, lợi, sảy thai, sưng bầu vú…được quan sát lấy mẫu gửi đến phòng thí nghiệm Bệnh lý, Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học trọng điểm thú y, Khoa thú y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam để chẩn đoán xác định bệnh

Phương pháp lấy mẫu như sau:

Thu thập bệnh phẩm: Đối tượng là những con đang trong thời kì nung bệnh hay đang phát bệnh (với các triệu chứng sốt cao 40-41oC, xuất hiện các nốt đậu ở

da, sưng hạch lympho, chảy nước mắt, nước mũi, nước bọt, khó thở và kém ăn) Bệnh phẩm: virus đậu dê là virus hướng thượng bì nên bệnh phẩm thường lấy là các vảy mụn đậu trên da, niêm mạc và dịch tiết ở các mụn chưa vỡ Lấy 1-2g vảy của mụn đậu của con vật nghi mắc bệnh càng vô trùng càng tốt bỏ vào lọ chứa 5ml môi trường vận chuyển virus (glycerin đệm photphat, pH= 7,6) Ở trường hợp bệnh cấp tính, sốt không phát hiện thấy các tổn thương lâm sàng hoặc có thể phát hiện thấy các tổn thương <4 ngày: lấy 10ml máu toàn phần của con vật đưa vào ống chứa chất chống đông chuyên dụng

Các mẫu bệnh phẩm sau khi lấy từ gia súc nghi mắc bệnh đậu dê, cho vào lọ thủy tinh dày có nút vặn có chứa dung dịch bảo quản Trên mỗi lọ đựng bệnh phẩm dán nhãn ghi những nội dung sau:

- Số hiệu gia súc

Trang 37

- Loại bệnh phẩm

- Ngày lấy bệnh phẩn

- Địa chỉ lấy

- Tên người lấy

Cho lọ đựng mẫu bệnh phẩm vào hộp sau đó vận chuyển về phòng thí nghiệm Sau khi mẫu được vận chuyển về phòng thí nghiệm bệnh phẩm được bảo quản ở -80oC cho đến khi sử dụng

Lưu ý: khi lấy mẫu trong những con mắc bệnh cần chọn những con có triệu chứng điển hình nhất để lấy mẫu, cần lấy đủ mẫu theo tiêu chuẩn về thể tích hay trọng lượng Nên chụp ảnh với những con vật mắc bệnh và nghi mắc bệnh

2.3.3 Phương pháp làm tiêu bản vi thể

Từ những mẫu bệnh phẩm có các biến đổi đại thể được lấy mẫu ngâm trong formol 10% để làm tiêu bản vi thể Cần tiến hành làm tiêu bản để xác định bệnh tích vi thể chủ yếu của bệnh Phương pháp làm tiêu bản vi thể theo quy trình tẩm đúc bằng parafin, nhuộm Haematoxilin – Eosin (HE)

Mỗi dê bệnh chúng tôi tiến hành ở mỗi cơ quan hai miếng bệnh phẩm rồi đúc thành hai block Mỗi block chúng tôi tiến hành cắt, nhuộm tiêu bản rồi chọn ra tiêu bản đẹp, sau đó tiến hành soi dưới kính hiển vi để đọc kết quả bệnh tích vi thể Nếu block nào có hai tiêu bản có bệnh tích trở lên thì chúng tôi coi là dương tính

Quy trình làm tiêu bản: Các bước tiến hành

Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất: Lọ chứa formol 10%, dao, kéo, pank kẹp, cốc đựng hóa chất, phiến kính, máy đúc block, khuôn đúc, tủ ấm 37oC, máy cắt mảnh microtom, nước ấm 48-52oC, xylem, paraffin, thuốc nhuộm Hematoxylin, Eosin…

- Lấy mẫu bệnh phẩm: Bệnh phẩm là phổi, tim, khí quản, ruột, hạch ruột,…

- Cố định bệnh phẩm (mục đích để giết chết tổ chức): Ngâm miếng tổ chức

vào dung dịch formol 10% (chú ý thể tích formol phải gấp 10 lần bệnh phẩm và

bệnh phẩm phải ngập trong formol)

- Vùi bệnh phẩm (tạo ra các chất nền cho tổ chức dễ cắt)

Ngày đăng: 04/02/2017, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cù Xuân Dần, Nguyên Xuân Tịnh và Tiết Hồng Ngân (1996). Sinh lý học gia súc. NXB Nông nghiệp Khác
2. Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Đăng Khải (2001). Bệnh thường thấy ở dê Việt Nam và biện pháp phòng trị. Trung tâm chẩn đoán thú y trung ương Khác
3. Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (2001). Thực hành điều trị thú y. NXB Nông nghiệp Khác
4. Phạm Đức Lộ, Đổ Đức VIệt và Trịnh Thị Thơ Thơ (1980). Tổ chức phôi thai. NXB Nông nghiệp Khác
5. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên và Phạm Ngọc Thạch (1997). Giáo trình chẩn đoán lâm sàng thú y - NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
6. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên và Trần Thị Lan Hương (2001). Giáo trình Vi sinh vật thú y - NXB Nông nghiệp Khác
7. Trịnh Văn Thịnh và Phan Đình Đổ (1958). Bệnh truyền nhiễm gia súc. NXB Nông thôn.II. TIẾNG ANH Khác
1. Aharya and Bhattachalya (FAO – IGA – IDRC, 1992). Recent Advances In Goat Production Khác
2. Appel MJG and Summers BA (1995). Morbilliviruses of terrestrial carnivores. Vet. Microbiol., Special Issue: Morbilliviruses Vol. 44 Khác
11. Davies FG and Mbugwa G (1985). The alterations in pathogenicity and immunogenicity of a Kenya sheep and goat pox virus on serial passage in bovine foetal muscle cell cultures. Journal of Comparative Pathology, 565-572 P Khác
12. Joshi RK, Chandra R, Rao VDP and Garg SK (1999). Coagglutination test : a simple and rapid diagnostic technique for goat pox. Tropical Animal Health and Production. 233-235 P Khác
13. Kilelu ES (1991). Prevalence of sheep and goat pox in Kenya. Bulletin of Animal Health and Production in Africa. 451-452 P Khác
14. Kitching RP (1983). Progress towards sheep and goat pox vaccines. Vaccine, 4-9 P Khác
15. OIE, 1984-1999. Bullentin Office International des Epizooties, Paris, France: World Organization for Animal Health Khác
16. Okaiyeto SO, Sackey AK, Lawal IA, Daggana D and Alam L (1995). Outbreak of goat pox in Zaria, Kaduna State of Nigeria (care report). Israel Journal of Veterinary Medicine, 65-66 P Khác
17. Prasad IJ and Datt NS (1973). Observation on the use of live and inactivated vaccines against goat pox. The Indian Veterinary Journal. 1-10 P Khác
20. Slagsvold L (1993). Goat pox and allied conditions in sheep and goat in Norway. Skand VetTidskr. 471 - 495 P Khác
2. Địa chỉ:…………………………………………………………………… Thôn:................ Xã:.................... Huyện:....................... Tỉnh Khác
3. Thời gian điều tra:......... .................... Mùa vụ: Mùa khô  Mùa mưa  4. Cán bộ điều tra:…………………………………………………………II. Điều tra tổng thể Khác
3. Phương thức chăn nuôi: dê: Nuôi thả  Bán chăn thả  Bán chăn thả Nuôi nhốt  Nuôi nhốt  Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w