1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang

117 698 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 5,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu, giống là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất, chất lượng nguyên liệu và đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng.. Việc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN HỒNG THÁI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG HẠT LAI F1 CỦA GIỐNG GL7 TẠI BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất cứ học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Thái

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ vô cùng quý báu của Ban giám hiệu, Khoa sau đại học Học viện nông nghiệp Việt Nam, Ban lãnh đạo Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá

Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Ninh Thị Phíp – Trưởng Bộ môn Cây công nghiệp Học viện nông nghiệp Việt Nam luôn theo dõi và hướng dẫn chu đáo để tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến Tiến sĩ Tào Ngọc Tuấn – Phó trưởng phòng Sinh học Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện đề tài nghiên cứu, trong tổng kết kết quả và hoàn chỉnh luận văn

Qua đây, tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến tập thể cán

bộ công nhân viên Chi nhánh Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá tại Bắc Giang, các cán bộ Phòng Sinh học Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá, Bộ môn Cây công nghiệp – Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện

đề tài và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Thái

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục hình và sơ đồ xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và yêu cầu 3

2.1 Mục đích 3

2.2 Yêu cầu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

1.1 Sơ lược về cây thuốc lá 6

1.2 Các dạng thuốc lá hiện trồng trên thế giới và Việt Nam 6

1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu 6

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu của thế giới 6

1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá lá ở Việt Nam 9

1.4 Yêu cầu ngoại cảnh đối với thuốc lá vàng sấy 11

1.4.1 Nhiệt độ và ánh sáng 11

1.4.2 Độ ẩm và lượng mưa 11

1.4.3 Đất trồng 12

1.5 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống và sản xuất hạt giống thuốc lá trên thế giới 13

1.5.1 Tình hình sử dụng giống thuốc lá lai trong sản xuất 13

1.5.2 Những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt lai trên thế giới 14

1.5.3 Một số giải pháp nâng cao năng suất hạt 21

1.6 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống và sản xuất hạt giống thuốc lá ở Việt Nam 22

Trang 5

1.6.1 Tình hình giống thuốc lá ở Việt Nam 22

1.6.2 Tình hình nghiên cứu phát triển giống thuốc lá lai tại Việt Nam 24

1.6.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất hạt giống thuốc lá tại Việt Nam 26

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 29

2.1 Vật liệu, thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai 29

2.1.1 Vật liệu 29

2.1.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai 29

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng cây mẹ đến năng suất, chất lượng hạt lai 30

2.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng cây mẹ đến năng suất, chất lượng hạt lai 31

2.3.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của số lượng hoa lai đến năng suất, chất lượng hạt lai 31

2.3.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến năng suất, chất lượng hạt lai 32

2.3.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu khả năng sử dụng cành hoa chồi của dòng mẹ cms-C.176 trong sản xuất hạt lai 32

2.3.6 Quy trình kỹ thuật chăm sóc cây lai và đánh giá kết quả 33

2.4 Xử lý số liệu 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất, chất lượng hạt lai 36

3.1.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng của dòng mẹ cms-C176 37

3.1.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ sâu bệnh hại các dòng bố mẹ 41

3.1.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian phát dục của các dòng bố mẹ 43

Trang 6

3.1.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng dòng mẹ đến khả năng đậu quả, kết hạt khi lai 44 3.1.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng dòng mẹ đến chất lượng hạt lai 47 3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ đến năng suất, chất lượng hạt lai 48 3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ sinh trưởng của dòng mẹ 49 3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ đến mức độ sâu bệnh hại 51 3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian phát dục của dòng mẹ 52 3.2.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ đến khả năng đậu quả, kết hạt khi lai 53 3.2.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ đến chất lượng hạt lai 55 3.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của số lượng hoa lai đến năng suất, chất lượng hạt lai 56 3.3.1 Ảnh hưởng của số lượng hoa lai đến khả năng đậu quả, kết hạt khi lai 56 3.3.2 Ảnh hưởng của số lượng hoa lai đến chất lượng hạt lai 58 3.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến năng suất, chất lượng hạt lai 59 3.4.1 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến năng suất hạt lai 60 3.4.2 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến chất lượng hạt lai 62 3.5 Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của biện pháp cắt thân của dòng mẹ cms-C.176 trong sản xuất hạt lai 63 3.5.1 Ảnh hưởngcủa biện pháp cắt thân dòng mẹ đến khả năng kéo dài thời gian phát dục 63 3.5.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt thân dòng mẹ đến mức độ đậu quả kết hạt của hoa chồi 65 3.5.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt thân dòng mẹ đến chất lượng hạt lai 68 3.6 Quy trình sản xuất hạt lai F1 của giống thuốc lá lai 69

Trang 7

3.6.1 Xác định các yếu tố kỹ thuật chính để xây dựng quy trình sản xuất

hạt lai F1 của giống lai GL7 69

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

KẾT LUẬN 73

ĐỀ NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Sản lượng các dạng thuốc lá nguyên liệu chủ yếu của thế giới giai

đoạn 2001 – 2012 71.2 Sản lượng thuốc lá nguyên liệu vàng sấy của các nước sản xuất chính

giai đoạn 2001-2012 81.3 Diện tích, năng suất và sản lượng thuốc lá nguyên liệu trồng trong nước

đến năm 2020 93.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của

dòng mẹ cms-C.176 ở vụ xuân 2015 373.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng số lá của dòng mẹ

cms-C.176 ở vụ xuân 2015 383.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của dòng

mẹ cms-C.176 ở các thời vụ trồng trong vụ xuân 2015 403.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ sâu bệnh hại các dòng bố, mẹ

ở vụ xuân 2015 423.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian phát dục của các dòng bố

mẹ ở vụ xuân 2015 433.6 Ảnh hưởng của thời vụ trồng dòng mẹ đến mức độ đậu quả ở vụ xuân

2015 453.7 Ảnh hưởng của thời vụ trồng dòng mẹ đến các yếu tố cấu thành năng

suất hạt lai ở vụ xuân 2015 463.8 Ảnh hưởng của thời vụ trồng dòng mẹ đến chất lượng hạt lai

ở vụ xuân 2015 473.9 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của dòng

mẹ cms-C.176 493.10 Ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ đến mức độ sâu bệnh hại ở vụ

xuân 2015 513.11 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian phát dục của dòng mẹ cms-

C.176 ở vụ xuân 2015 52

Trang 10

3.12 Ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ đến mức độ đậu quả ở vụ xuân

2015 533.13 Ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ đến các yếu tố cấu thành năng

suất hạt lai ở vụ xuân 2015 543.14 Ảnh hưởng của mật độ trồng dòng mẹ cms-C.176 đến chất lượng hạt

lai ở vụ xuân 2015 553.15 Ảnh hưởng của số lượng hoa lai đến mức độ đậu quả ở vụ xuân 2015 563.16 Ảnh hưởng của số lượng hoa lai đến các yếu tố cấu thành năng suất hạt

lai ở vụ xuân 2015 573.17 Ảnh hưởng của số lượng hoa lai đến chất lượng hạt lai ở vụ xuân 2015 583.18 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến mức độ đậu quả ở vụ xuân

2015 603.19 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến các yếu tố cấu thành năng

suất hạt lai ở vụ xuân 2015 613.20 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến chất lượng hạt lai ở vụ

xuân 2015 623.21 Ảnh hưởng của biện pháp cắt thân nuôi hoa chồi đến khả năng kéo dài

thời gian phát dục của dòng mẹ 643.22 Ảnh hưởng của biện pháp cắt thân dòng mẹ nuôi hoa chồi đến mức độ

đậu quả ở vụ xuân 2015 653.23 Ảnh hưởng của biện pháp cắt thân dòng mẹ nuôi hoa chồi đến các chỉ

tiêu cấu thành năng suất hạt lai ở vụ xuân 2015 673.24 Ảnh hưởng của biện pháp cắt thân dòng mẹ nuôi hoa chồi đến chất

lượng hạt lai ở vụ xuân 2015 68

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hút thuốc lá tuy có hại cho sức khoẻ, nhưng do tập quán sinh hoạt và thói quen sử dụng lâu đời nên sản xuất thuốc lá vẫn được xếp là một trong những ngành kinh tế cần thiết của nhiều quốc gia Mặt khác, ngành thuốc lá còn mang lại nguồn thu ngân sách đáng kể cho nhiều quốc gia và tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động

Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, thuốc lá hiện vẫn là mặt hàng tiêu dùng thường xuyên đối với nhiều đối tượng dân cư, có giá trị sản phẩm xã hội cao Ngành thuốc lá có nhiều ưu thế so với các ngành khác khi hiệu quả cao và thời gian thu hồi vốn nhanh, nộp ngân sách lớn (Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, 2014) thì mỗi năm ngành thuốc lá Việt Nam nộp ngân sách nhà nước trên 15 ngàn tỷ đồng Ngoài ra, ngành thuốc lá còn tạo ra công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho hơn 20.000 lao động sản xuất công nghiệp, hàng trăm ngàn lao động nông nghiệp và dịch vụ khác có liên quan

Thuốc lá nguyên liệu, là thành phần chính của thuốc lá điếu, là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng sản phẩm thuốc điếu Trong những năm qua, sản xuất thuốc lá trong nước đã có những tiến bộ đáng kể qua việc cải thiện chất lượng nguyên liệu Tuy nhiên, để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm ngành thuốc lá còn phải nhập hàng chục ngàn tấn thuốc lá nguyên liệu Nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu, ngành thuốc lá Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển nguyên liệu được thể hiện ở “Quy hoạch sản xuất sản phẩm thuốc lá và phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá Việt Nam đến năm 2020” đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt là phát triển và duy trì ổn định diện tích trồng cây thuốc lá ở mức 32.000 ha và sản lượng 75.000 tấn vào năm 2020 (Bộ Công Thương, 2013)

Trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu, giống là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất, chất lượng nguyên liệu và đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng Thực tế sản xuất và tiêu thụ thuốc lá nguyên

Trang 13

liệu ở nước ta thời gian qua cho thấy, thuốc lá vàng sấy (Virginia) là loại nguyên liệu chính Các vùng trồng thuốc lá trải dài từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn đến các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai ở phía Nam có sự đa dạng lớn về điều kiện đất đai, khí hậu, điều kiện gieo trồng và tập quán canh tác Để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề trồng và chế biến thuốc lá vàng sấy, cần thiết phải chọn tạo ra được bộ giống tốt phục vụ sản xuất Đó là một bộ giống

đa dạng có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh hại và thích hợp với các điều kiện đất đai, khí hậu, điều kiện canh tác, thâm canh khác nhau

Nhằm đạt tới mục tiêu trên, Viện Kinh tế – Kỹ thuật thuốc lá đã tiến hành công tác lai tạo và chọn lọc giống thuốc lá mới Công tác phát triển các giống thuốc lá lai đã được Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá triển khai và thu được những kết quả ban đầu rất khả quan khi các giống lai VTL5H, GL2 được công nhận giống mới (Tào Ngọc Tuấn và cs., 2009; 2013) Các giống lai này được tạo ra trên cơ sở đánh giá khả năng kết hợp của các giống bố mẹ để tìm kiếm các tổ hợp lai tốt và sử dụng dòng mẹ bất dục đực được chọn tạo trong nước để sản xuất hạt lai (Tào Ngọc Tuấn, 2005) Công tác chọn tạo giống lai tiếp tục đạt được kết quả mới khi các tổ hợp lai GL6, GL7 được công nhận giống sản xuất thử năm 2013 (Tào Ngọc Tuấn và cs., 2013) Tuy mới được công nhận là giống sản xuất thử nhưng giống GL7 với đặc tính thích hợp điều kiện hạn, rét ở các tỉnh phía Bắc, kháng bệnh khảm lá, đốm lá, năng suất cao đã được trồng với diện tích trên 1.000

ha ở vụ xuân 2014 Để đáp ứng nhu cầu giống lai cho sản xuất thuốc lá nguyên liệu thì công tác sản xuất hạt lai cần được quan tâm Khác với các giống thuần, việc sản xuất hạt lai cần có sự kết hợp giữa ba dòng: dòng mẹ bất dục đực, dòng duy trì bất dục và dòng bố Việc nghiên cứu các yếu tố kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất hạt lai phù hợp với giống GL7, có tính khoa học và hiệu quả cao là cần thiết, đáp ứng nhu cầu phát triển các giống thuốc lá lai trong thời gian

tới, vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật

nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai F 1 giống GL7 tại Bắc Giang”

Trang 14

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

Xác định được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hạt lai F1 của giống thuốc lá GL7 góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống thuốc lá lai F1 hệ ba dòng tại miền Bắc Việt Nam

2.2 Yêu cầu

- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ cây mẹ đến năng suất, chất lượng hạt lai

- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng của cây mẹ đến năng suất chất lượng hạt lai

- Đánh giá ảnh hưởng số hoa lai đến năng suất chất lượng hạt lai

- Đánh giá ảnh hưởng thời gian bảo quản phấn đến năng suất chất lượng hạt lai

- Đánh giá khả năng sử dụng cành hoa chồi của dòng mẹ cms-C176 trong sản xuất hạt lai

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Các kết quả nghiên cứu sẽ tạo ra các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật trong sản xuất hạt lai bao gồm: thời vụ, mật độ trồng cây mẹ,

số lượng hoa lai đến năng suất, chất lượng hạt lai; khả năng sử dụng phấn cây bố

có thời gian bảo quản khác nhau trong sản xuất hạt lai; khả năng trì hoãn thời gian phát dục dòng mẹ bằng biện pháp cắt thân và sử dụng cành hoa chồi

Kết quả nghiên cứu sẽ tạo ra các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật đến năng suất, chất lượng hạt lai ở cây thuốc lá Các kết quả này

có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu

và chuyển giao khoa học kỹ thuật

Công tác chọn tạo giống thuốc lá lai trong nước được triển khai từ năm

1998 và đã đạt được những kết quả tốt khi các giống lai đơn VTL5H, GL2 được công nhận giống mới vào các năm 2009 và 2013 Các giống lai GL6, GL7 được công nhận là giống sản xuất thử năm 2013 Các giống lai VTL5H, GL2, GL6, GL7 với ưu điểm về năng suất cao vượt trội giống đối chứng K.326 và kháng bệnh khảm lá do TMV đang được phát triển nhanh trong sản xuất

Trang 15

Nhằm cung cấp hạt giống lai có chất lượng cao cho sản xuất nguyên liệu trong nước thì việc xây dựng quy trình sản xuất hạt lai phù hợp cho mỗi giống nhằm sản xuất ra hạt lai có chất lượng cao, năng suất đảm bảo để có giá thành hạt lai thấp là hết sức cần thiết Các giống lai VTL5H, GL2 được tạo ra giữa các dòng bố mẹ mà thời gian phát dục không có sự chênh lệch đáng kể nên việc sản xuất hạt lai có thể áp dụng Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai của giống VTL5H được đề xuất bởi Đỗ Đình Dũng và cs (2006) Các giống lai GL6, GL7 được tạo

ra giữa các dòng bố mẹ có sự chênh lệch về thời gian phát dục lớn nên cần có những nghiên cứu bổ sung để xây dựng quy trình sản xuất hạt lai phù hợp

Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xây dựng được quy trình sản xuất hạt lai F1 của giống GL7 cũng như tạo cơ sở cho việc đề xuất quy trình sản xuất hạt lai F1 của các giống lai mới Trên cơ sở các quy trình này, hạt lai F1 của các giống lai được sản xuất có chất lượng tốt và giá thành thấp đáp ứng nhu cầu phát triển các giống lai trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Các dòng bố mẹ để sản xuất hạt lai F1 của giống lai GL7 gồm:

- Dòng mẹ C.176 bất dục đực (cms-C.176) do TS Tào Ngọc Tuấn tạo ra qua việc kết hợp tế bào chất bất dục đực từ nguồn RGH4 với vật chất di truyền nhân của giống C.176 cùng có xuất xứ từ Mỹ bằng phương pháp lai trở lại (backcross)

- Dòng bố BS là giống thuốc lá địa phương có tính thích nghi cao với điều kiện hạn rét, đang được trồng với diện tích hàng ngàn ha tại Lạng Sơn

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng hạt lai của giống GL7 bao gồm:

- Ảnh hưởng của thời vụ trồng cây mẹ đến năng suất, chất lượng hạt lai

- Ảnh hưởng của mật độ trồng cây mẹ đến năng suất chất lượng hạt lai

- Ảnh hưởng của số hoa lai đến năng suất chất lượng hạt lai

- Ảnh hưởng của thời gian bảo quản phấn đến năng suất chất lượng hạt lai

Trang 16

- Đánh giá hiệu quả của biện pháp cắt thân cây mẹ và sử dụng hoa chồi nhằm đồng bộ hóa thời gian phát dục của các dòng bố mẹ cũng như khả năng sử dụng cành hoa chồi của dòng mẹ cms-C176 trong sản xuất hạt lai

Đề tài tiến hành tại Chi nhánh Viện Kinh tế Kỹ thuật thuốc lá tại Bắc Giang: Xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam – Bắc Giang

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về cây thuốc lá

Ngày nay, thuốc lá là một trong số rất ít cây trồng không phải lương thực, thực phẩm được trồng rộng rãi trên thế giới Thuốc lá hiện được trồng ở trên 100 quốc gia và thu hút hàng triệu nông dân và được trải khắp từ 600 vĩ Bắc đến 400

vĩ Nam (Collins and Hawks, 1993) với diện tích khoảng 3,5 triệu ha và sản lượng hàng năm trên 5 triệu tấn (Universal Leaf Tobacco Company, 2012)

* Nguồn gốc di truyền

Tất cả các dạng thuốc lá trồng mang tính thương mại ngày nay thuộc loài

dạng hoang dại nên có những giả thuyết rằng N tabacum sinh ra từ sự lai khác loài ngẫu nhiên giữa N sylvestris và N tomentosiformis Từ thực tế tìm thấy các

loài hoang dại này ở Nam Mỹ có thể tin tưởng rằng sự lai ngẫu nhiên này xảy ra

ở miền bắc Achentina hoặc ở tây nam Bolivia

* Phân loại thuốc lá

Thuốc lá thương mại hay N tabacum là một trong số 65 loài đã được xác định thuộc chi Nicotiana Trong số 65 loài thuộc chi Nicotiana chỉ có loài N

Ở nước Nga và một số nước châu Á người ta trồng loài N rustica chủ yếu cho tiêu dùng tại chỗ Một số loài như N alata, N sylvestris được trồng làm cây cảnh

1.2 Các dạng thuốc lá hiện trồng trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới hiện nay có khoảng 10 - 12 dạng thuốc lá, được phân loại dựa trên các đặc điểm trồng trọt, hái sấy và mục đích sử dụng

1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá nguyên liệu của thế giới

* Tình hình sản xuất thuốc lá nguyên liệu

Thuốc lá nguyên liệu tham gia thương mại trên thế giới chủ yếu được sản xuất ở các vùng từ 450 vĩ Bắc đến 300 vĩ Nam Diện tích trồng thuốc lá trên thế giới trong những năm gần đây luôn duy trì ở mức khoảng 3,5 triệu ha Các nước sản xuất thuốc lá nguyên liệu hàng đầu của thế giới là: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ,

Trang 18

Braxin, Thổ Nhĩ Kỳ, Zimbabuê, Inđônêxia và Hy lạp với diện tích và sản lượng chiếm gần 3/4 tổng sản lượng toàn cầu

Những nước có trình độ thâm canh tiên tiến như Mỹ, Braxin, Zimbabuê trồng thuốc lá cho năng suất cao hơn hẳn so với các nước khác và đạt bình quân

25 tạ/ha Sản xuất ở Thổ Nhĩ Kỳ có năng suất thấp do trồng chủ yếu loại thuốc lá thơm oriental và do khí hậu khô hạn ở vùng này

Theo số liệu công bố bởi Universal Leaf Tobacco Company (2012), sản lượng thuốc lá nguyên liệu có sự gia tăng từ khoảng 5 triệu tấn trong những năm

2007 về trước lên mức 5,5 triệu tấn trong những năm gần đây Dạng thuốc lá vàng sấy lò chiếm phần chủ đạo và có sự gia tăng từ mức 70% ở thời kỳ trước năm 2000 lên mức gần 80% trong giai đoạn hiện nay Xếp thứ 2 là dạng thuốc lá Burley với tỷ lệ biến động từ 10 đến 15% Tiếp đến là dạng thuốc lá Oriental với

tỷ lệ có sự sụt giảm từ khoảng 10% thời kỳ trước năm 2000 xuống khoảng 5% trong những năm gần đây

Bảng 1.1 Sản lượng các dạng thuốc lá nguyên liệu chủ yếu của thế giới

Nguồn tài liệu: 2012 Supply & Demand Report Universal Leaf Tobacco Company

Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá ở các nước chịu nhiều áp lực từ chính sách quốc gia và dư luận xã hội nhưng mức sản xuất không những không suy giảm mà còn có sự gia tăng Điều này cho thấy nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc lá điếu vẫn không suy giảm

Trang 19

Các nước sản xuất thuốc lá vàng sấy lò hàng đầu thế giới là: Trung Quốc, Braxin, Ấn Độ, Mỹ và Zimbabuê với số liệu sản xuất trong giai đoạn 2001 –

Nguồn tài liệu: 2012 Supply & Demand Report Universal Leaf Tobacco Company

*Tình hình tiêu thụ trên thế giới

Do đặc thù của công nghiệp sản xuất thuốc lá điếu là mỗi khẩu vị (gu) thuốc lá phải sử dụng một số dạng nguyên liệu và nguyên liệu từ các vùng lãnh thổ khác nhau nên hàng năm có tới trên 30% lượng nguyên liệu được trao đổi trên thị trường Hoa Kỳ là nước sản xuất lớn thứ tư nhưng do yêu cầu sản xuất có lượng nguyên liệu trao đổi lớn nhất Braxin xuất khẩu trên 50% sản phẩm sản xuất ra Zimbabuê và Malauy sản xuất nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu Ấn

Độ có số lượng xuất nhiều hơn nhập Liên bang Nga, Đức, Anh, Nhật bản, sử dụng lượng nguyên liệu lớn, nhập của nước ngoài là chủ yếu

Trang 20

1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá lá ở Việt Nam

Có một số tài liệu cho rằng thuốc lá được trồng ở nước ta từ thời vua Lê Thần Tông (1660) với nguồn giống từ các thương nhân Tây Ban Nha Nghề trồng thuốc lá chính thức phát triển vào năm 1876 tại Gia Định, 1899 tại Tuyên Quang (Lê Đình Thụy và Phạm Kiến Nghiệp, 1996)

Cây thuốc lá vàng sấy được trồng ở nước ta từ đầu những năm 40 của thế

kỷ 20 Tuy nhiên, sau ngày thống nhất đất nước năm 1975 sản xuất nguyên liệu thuốc lá mới có sự chuyển biến mạnh mẽ Giai đoạn từ 1975 - 1990 đã hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu thuốc lá Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Bắc, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá, Nghệ An, Từ sau năm 1990, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam đã xây dựng chương trình phát triển nguyên liệu trong nước nhằm từng bước nâng cao năng suất, chất lượng và mở rộng vùng nguyên liệu Để tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác sản xuất thuốc lá nguyên liệu, Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã áp dụng đồng bộ các biện pháp như chọn tạo giống, thử nghiệm để xác định các biện phá kỹ thuật canh tác phù hợp; xây dựng chính sách đầu tư cho các vùng trồng bao gồm cung ứng giống, phân bón, thuốc BVTV, hỗ trợ lò sấy và bao tiêu sản phẩm

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng thuốc lá nguyên liệu trồng

trong nước đến năm 2020

Năm Diện

tích

Sản lượng

Thuốc lá vàng Thuốc lá Nâu Thuốc lá Burley

*Số liệu dự báo; DT: Diện tích (ha), NS: Năng suất (tấn/ha), SL: Sản lượng (tấn)

Nguồn tài liệu: Quy hoạch sản xuất sản phẩm thuốc lá và phát triển vùng nguyên

liệu thuốc lá Việt Nam đến năm 2020 Bộ Công Thương

Trang 21

Thuốc lá vàng sấy là dạng nguyên liệu chính được phát triển với diện tích 20.000 – 25.000 ha/năm và hình thành các vùng nguyên liệu trọng điểm như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn ở phía Bắc và Gia Lai, Đắc Lắc, Tây Ninh ở phía Nam Việc ứng dụng các giống thuốc lá mới cùng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến

đã nâng cao năng suất chất lượng nguyên liệu vàng sấy Năng suất đã có sự cải thiện đáng kể từ mức bình quân 1,33 tấn/ha năm 2005 lên 1,7 tấn/ha năm 2010 và khoảng 2,1 tấn/ha hiện nay Nhiều hộ thâm canh tốt đã đạt năng suất 3 tấn/ha Sản lượng thuốc lá nguyên liệu vàng sấy năm 2005 đạt 30.599 tấn và năm 2010 đạt 45.017 tấn

Thuốc lá burley từng được trồng với diện tích trên 1.000 ha trong những năm 1995 – 2000 tại Lâm Đồng, Đồng Nai, Ninh Thuận, Bình Thuận Tuy nhiên

do nhu cầu nguyên liệu burley cho sản xuất gu thuốc hỗn hợp trong nước còn hạn chế nên hiện nay thuốc lá burley chủ yếu được trồng tại tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với diện tích dao động từ 400 đến 700 ha Sản lượng nguyên liệu burley hàng năm biến động trong khoảng 600 đến 1.200 tấn

Thuốc lá nâu phơi được trồng tại các tỉnh phía Nam từ rất sớm và đã từng đạt diện tích tới chục ngàn ha trong những năm 1990 của thế kỷ XX Tuy nhiên,

do thuốc lá nâu có chất lượng nguyên liệu hạn chế nên chỉ được sử dụng cho sản xuất các nhãn thuốc điếu cấp thấp Hiện nay, chỉ còn lại 3 tỉnh trồng thuốc lá Nâu gồm Ninh Thuận, Đồng Nai và Bình Thuận với diện tích ở mức rất khiêm tốn từ

400 đến 800 ha/năm và sản lượng từ 800 đến 2.100 tấn/năm

Tình hình nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu

Với sản lượng thuốc điếu hiện nay khoảng 5 tỷ bao thuốc lá/năm thì mỗi năm ngành thuốc lá cần lượng nguyên liệu từ 85.000 – 90.000 ngàn tấn Do đặc thù của sản xuất thuốc điếu phải phối trộn các loại nguyên liệu khác nhau và mặt khác, chất lượng của thuốc lá nguyên liệu trong nước còn có những hạn chế nên mỗi năm ngành thuốc lá vẫn phải nhập hàng chục ngàn tấn Phần lớn lượng nguyên liệu được nhập khẩu từ Trung Quốc là để bù đắp lượng nguyên liệu thiếu hụt của sản xuất trong nước Một lượng đáng kể nguyên liệu nhập khẩu là nguyên liệu cao cấp mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được Bộ Công Thương (2013)

Trang 22

1.4 Yêu cầu ngoại cảnh đối với thuốc lá vàng sấy

1.4.1 Nhiệt độ và ánh sáng

Theo tài liệu của Collins và Hawks (1993), tổng tích ôn để cây thuốc lá phát dục là từ 3.200 – 3.6000 Do vậy, tuỳ điều kiện nhiệt độ mà tổng thời gian sinh trưởng của cây thuốc lá biến động từ 90 – 130 ngày, ngưỡng nhiệt độ tối thấp của cây thuốc lá là 130C Các giống thuốc lá vàng sấy được trồng thành công ở ít nhất 75 nước trên thế giới, chủ yếu từ 60 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam

và sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ ban ngày từ 29 – 320C, ban đêm từ 18 – 210C và ánh sáng đầy đủ Khi nhiệt độ xuống thấp hơn 160C, sự tích luỹ chất khô kém, lóng thân ngắn, lá phần ngọn dài và hẹp Đặc biệt, trong điều kiện nhiệt độ thấp kết hợp thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn, cây thường ra hoa sớm khi chưa đạt đủ số lá sinh học

Trang 23

đoạn này đều ảnh hưởng xấu đến chất lượng thuốc lá sấy cả về mặt cấp loại lẫn thành phần hoá học

1.4.3 Đất trồng

Cây thuốc lá vàng sấy được trồng trên đất cát hoặc thịt nhẹ, nghèo mùn, tầng canh tác dày, thoát nước tốt và ít dinh dưỡng sẽ cho lá sau khi sấy có màu vàng đẹp, hàm lượng đường cao sau khi sấy; bởi vì đất nghèo đạm thì sự hấp thu đạm của cây thuốc lá vàng sấy suy kiệt khi cây ra nụ và chuẩn bị thu hoạch Phần lớn các loại thuốc lá hong, trừ thuốc lá Maryland và Oriental, đều được trồng trên đất nặng hơn, giàu dinh dưỡng mà thực chất là có hàm lượng đạm cao Tại Bắc Carolina đất có hàm lượng mùn cao > 0,8% thường làm cho thuốc lá chín chậm

và đặc biệt khó sấy vì cây vẫn hút đạm cả khi đang thu hoạch, ngay cả khi lá vàng sấy có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của hệ thống rễ, mà bộ rễ thuốc

lá lại không ưa ẩm quá và kéo dài Hàm lượng mùn cao có thể cho năng suất cao trong vụ khô nhưng lại làm cho năng suất thuốc lá rất thấp trong vụ mưa

Độ chua của đất và lượng canxi trong đất cũng ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng thuốc lá, pH tốt nhất ở khoảng 5,8 – 6,2 và cần được duy trì bằng vôi dolomite (Peedin và McCants, 1977) Tuy nhiên, pH đất nhỏ hơn 5,0 có thể dẫn tới rễ thuốc lá ngộ độc nhôm và mangan, nhưng nếu pH đất > 6,2 có thể làm cho cây thiếu một số nguyên tố vi lượng vốn đã có rất ít trong đất (Kamprath và Foy, 1985) dẫn tới cây sinh trưởng phát triển kém

Nhìn chung, đất trồng thuốc lá vàng sấy thích hợp là các loại đất cát hoặc thịt nhẹ, pH từ 5,5 – 6,5, tầng đất mặt dày, tầng đất cái giàu sét phải sâu từ 1,2 – 1,5m, thoát nước tốt Đa số đất trồng thuốc lá vàng sấy ở Zimbabuê có thành phần cát thô cao hơn ở Mỹ (Garner, 1934)

Đất trồng thuốc lá vàng sấy ở Brazil khá phong phú, từ loại đất xám đến đất vàng và đất đỏ với dạng hình từ cát mịn đến cát thô, song tất cả các dạng đất này đều có tầng đất mặt sâu và thoát nước tốt

Ở Ấn Độ, đất trồng thuốc lá vàng sấy đa số là giàu sét ở cả tầng canh tác

và tầng đất cái, pH đất từ 7,5 – 8,1 Đất có cấu trúc và khả năng ẩm, song có tính thoát nước kém

Trang 24

Ở Việt Nam, đất trồng thuốc lá vàng sấy rất đa dạng, từ đất cát, cát pha như ở các tỉnh Bắc Giang, Ninh Thuận, Tây Ninh,… đến các loại đất thịt nhẹ, thịt trung bình, thậm chí cả thịt nặng như ở Lạng Sơn, Cao Bằng

Do sự đa dạng về loại đất trồng đã tạo nên sự đa dạng của nguyên liệu thuốc lá vàng sấy Sự khác biệt về hương vị của nguyên liệu thuốc lá vàng sấy giữa các vùng trong mỗi nước và giữa các nước đã giúp các nhà sản xuất thuốc lá điếu có nhiều cơ hội để lựa chọn nhằm sản xuất ra những mác thuốc ưa thích hoặc quen dùng cho người tiêu dùng Do vậy, thật khó khi đánh giá một loại đất

là thích hợp hay không thích hợp cho trồng trọt thuốc lá vàng sấy, mà sự đánh giá phần lớn tuỳ thuộc vào nhà tiêu thụ nguyên liệu – nhà sản xuất thuốc lá điếu

1.5 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống và sản xuất hạt giống thuốc lá trên thế giới

1.5.1 Tình hình sử dụng giống thuốc lá lai trong sản xuất

Việc khai thác hiệu ứng ưu thế lai ở thuốc lá được triển khai từ khá sớm

so với nhiều cây trồng tự thụ phấn quan trọng khác Đầu tiên là việc sử dụng giống lai ở dạng thuốc lá xì gà tại các bang Georgia, Florida Tiếp theo là các dạng thuốc lá vàng sấy lò, thuốc lá burley và thuốc lá Maryland Đối với dạng thuốc lá burley, giống lai đã chiếm 60% diện tích trồng tại Mỹ vào năm 1970 (Akehurst B.C, 1981)

Đối với thuốc lá vàng sấy - loại nguyên liệu chính cho sản xuất thuốc lá điếu, giống lai mới được triển khai nhiều từ giữa những năm 90 của thế kỷ 20 Tại

Mỹ, các giống thuần K326, K346 được tạo ra từ những năm 80 của thế kỷ trước nhưng vẫn được sử dụng với tỷ lệ diện tích đáng kể do chất lượng nguyên liệu tốt Tuy nhiên giống thuốc lá lai đang được phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Nếu như ở niên vụ 1996 giống lai chưa có diện tích đáng kể thì đến năm

2012 riêng 5 giống lai dẫn đầu gồm NC 196, NC 71, CC 27, CC37, NC299 đã chiếm 61% diện tích trồng thuốc lá tại đây Tại Zimbabuê, một số giống thuốc lá thuần do Viện này lai tạo, chọn lọc được phổ biến trong sản xuất trong thập niên

80 của thế kỷ 20 như Kutsaga 51, Kutsaga E1, Kutsaga 51E, KM 10, KM 110 Tuy nhiên, theo Tobacco Research Board (2008), từ thập niên 90 Zimbabuê chủ

Trang 25

yếu chọn tạo và phát triển các giống thuốc lá lai Hàng loạt các giống lai đã được đưa vào sản xuất như như RK1, RK3, RK6, K.34, K.35, K.36 Bên cạnh đó hàng loạt giống lai mới đang được khảo nghiệm như K RK22, K RK23, K RK26, K RK27, K RK28, K 30R, T29, T60, T61, T62, T64, T65, T66 Tại Braxin, từ sau năm 1995, Công ty Profigen chủ yếu phát triển giống thuốc lá lai và đang cung ứng cho sản xuất bộ giống lai phong phú với các giống PVH03, PVH09, PVH19, PVH20, PVH50, PVH51, PVH156, PVH2110 Bên cạnh đó, nhiều giống lai mới

có triển vọng đang được bổ sung vào bộ giống đã có như PVH2239, PVH2241, PVH2254, PVH2259, PVH2274, PVH2275, PVH2299, PVH2306 Giống lai đã phát triển trên diện rộng và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu giống thuốc

lá của các nước

Các giống lai bên cạnh các ưu điểm thường thấy ở các giống cây trồng nói chung như tiềm năng năng suất cao (30-35 tạ/ha), chúng còn có chất lượng tốt và kháng chịu tốt đối với nhiều bệnh hại nguy hiểm Các giống thuốc lá lai được phát triển trong sản xuất đều bất dục đực nên không tạo hạt Các công ty giống cũng không tiết lộ giống bố mẹ, do vậy họ luôn giữ độc quyền trong việc cung cấp giống và thường bán với giá khá cao so với hạt giống thuần

1.5.2 Những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật sản xuất hạt lai trên thế giới

Để sản xuất được hạt giống tốt, cần nắm vững các đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây thuốc lá, tạo các điều kiện thuận lợi, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của cây giống theo từng giai đoạn sinh trưởng Để sản xuất hạt giống thuốc lá lai có chất lượng tốt, bên cạnh việc nắm bắt các yêu cầu đối với sản xuất hạt giống thuần, cần có những hiểu biết về các kỹ thuật đặc thù của sản xuất hạt lai

1.5.2.1 Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất và phẩm chất hạt

Việc xác định thời vụ trồng hợp lý để sản xuất hạt giống rất quan trọng Thời

vụ cần đảm bảo điều kiện ngoại cảnh như chế độ nhiệt, ánh sáng, lượng mưa phù hợp cho sự phát triển của cây; cây ít bị sâu bệnh gây hại và điều quan trọng nhất là thời kỳ

nở hoa các quá trình thụ phấn, thụ tinh và kết hạt tiến triển thuận lợi

Trang 26

Gricaj L L (1979) đã tiến hành thử nghiệm về ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất và chất lượng hạt giống của giống Podolski 23 tại Ucraina trong vụ xuân Kết quả cho thấy thời vụ trồng sớm cho số lượng quả/cây nhiều hơn và lượng hạt/cây lớn hơn Thời vụ trồng 20/4 cho kết quả tốt nhất với 52,8 kg hạt/ha so với đối chứng chỉ đạt 6,4 kg/ha Có thể thấy, cây được trồng ở thời vụ sớm nở hoa rộ vào tháng 7 thời tiết ấm áp phù hợp cho thụ phấn, thụ tinh và kết hạt

Chang và C S (1984) cũng đã thử nghiệm sản xuất hạt đối với các giống thuốc lá TT5, TT6, TT7 theo các thời vụ khác nhau của vụ thu Các tác giả bố trí trồng vào 3 thời vụ từ 19/9 đến 13/10 Kết quả cho thấy: Thời vụ trồng sớm khi nhiệt độ trung bình ngày đêm cao hơn có hiệu quả tốt hơn cho sản xuất hạt do cây giống có số lượng hoa/cây nhiều hơn

1.5.2.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất và phẩm chất hạt

Xác định mật độ và khoảng cách trồng thích hợp nhằm nâng cao hiệu suất

sử dụng năng lượng mặt trời, lượng dinh dưỡng trong đất và đảm bảo chất lượng hạt giống Cơ sở để xác định mật độ, khoảng cách trồng khi sản xuất hạt giống thuốc lá bao gồm:

- Đặc tính sinh học của từng giống, đặc biệt là kiểu hình cây, dạng lá

- Khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất

Berbec S and Wisniewski J (1983) đã tiến hành thí nghiệm trên đất phù sa giàu dinh dưỡng đối với giống thuốc lá Pulawski 66 Cây được trồng theo các khoảng cách hàng: 40, 50, 60 cm và khoảng cách cây: 35, 50, 65 cm Năng suất hạt đạt từ 640 đến 860 kg/ha Năng suất hạt cao nhất đạt được ở công thức mật

độ trồng dày nhất 40 x 35 cm

Dima A.; Stan F.;Stanescu V (2001) thử nghiệm các khoảng cách trồng 60

x 40 cm, tương ứng với mật độ 41.600 cây/ha; 60 x 35 cm (47.000 cây/ha); 60 x

55 cm (30.000 cây/ha) và 60 x 85 cm (20.800 cây/ha) đối với giống Baragan 185 Kết quả nghiên cứu trong các năm 1997-2000 cho thấy:

- Khi trồng thưa có số cành hoa/cây và số lượng quả/cây cao hơn

- Khối lượng hạt cao hơn ở công thức trồng 30.000 cây/ha

Trang 27

Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất nên trồng giống Baragan

185 ở mật độ 30.000 cây/ha để hạt giống có chất lượng tốt tạo cơ sở cho cây con

có sức sinh trưởng ban đầu tốt hơn

1.5.2.3 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và phẩm chất hạt

Trong các loại cây trồng, thuốc lá là cây rất nhạy cảm với phân bón Phân bón ảnh hưởng sâu sắc đến cả năng suất và chất lượng hạt giống Tỷ lệ phân bón không cân đối sẽ làm giảm sức đề kháng của cây với những điều kiện bất lợi như chịu hạn kém, dễ bị nhiễm sâu bệnh

Mỗi giống thuốc lá có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau và thuốc lá được trồng trên các loại đất khác nhau về thành phần cơ giới cũng như thành phần dinh dưỡng Trong các yếu tố dinh dưỡng chính, cây thuốc lá có nhu cầu cao về đạm, lân, kali Cần xác định mức bón phù hợp cho mỗi giống thuốc lá trên từng loại đất khác nhau để đảm bảo năng suất, chất lượng hạt giống

Theo tác giả Wang C.T (1976) trong một phạm vi nhất định, mức bón phân không ảnh hưởng đáng kể đến năng suất hạt, tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ hạt sạch, tuy nhiên khi tăng đáng kể mức bón đạm đã làm tăng năng suất và tỷ lệ hạt sạch

Gricaj L L (1976) đã thử nghiệm các mức bón phân vô cơ: đạm từ 30-60 kg/ha, P2O5 từ 45-120 kg/ha và K2O từ 60-120 kg/ha theo các tỷ lệ khác nhau khi sản xuất hạt giống của giống thuốc lá chín muộn Podolski 23 Kết quả của ba năm thử nghiệm cho thấy năng suất hạt trung bình là 13,7 kg/ha Năng suất hạt cao nhất khi bón phân theo tỷ lệ N:P2O5:K2O là 60:120:120 Với mức bón này cây nở hoa sớm hơn 16 ngày và cho số quả/cây gấp đôi Bón bổ sung phân đã làm tăng thu nhập/ha

Tác giả Thomas J.F và Raper C D (1979) đã thử nghiệm các công thức bón phân 50, 72, 94 kg N/ha cho sản xuất hạt giống của giống thuốc lá Coker

319 Hạt thuốc lá của các công thức bón phân này được thử nảy mầm ở 7 mức nhiệt độ từ 15 oC đến 30 oC Tác giả cho biết, hạt từ công thức bón phân thấp nhất có tỷ lệ nảy mầm thấp nhất Thời gian nảy mầm 50% và khoảng thời gian từ bắt đầu nảy mầm đến kết thúc nảy mầm giảm tương ứng từ 3,4 xuống 3 ngày và

từ 2,4 xuống 2,2 ngày khi tăng mức bón đạm

Trang 28

Arutyunova M A (1981) nghiên cứu với giống thuốc lá Samsun 36 tại Armenia từ 1976-1979 cho thấy trong các công thức phân bón thử nghiệm thì mức bón 160 kg N + 160 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha cho năng suất hạt cao nhất (89 kg/ha) so với công thức 80 kg N + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha cho năng suất 41 kg/ha và không bón NPK cho 15 kg/ha

Yancheva A (1991) tiến hành thí nghiệm ô nhỏ đối với giống thuốc lá dạng oriental Kharmanli 11 với các công thức bón phân: không bón N, bón 20,

40, 60 kg N riêng biệt hoặc bón cùng 60 kg P + 60 kg K/ha Kết quả cho thấy: Lượng N bón tăng thúc đẩy hình thành các cơ quan sinh sản, tạo thuận lợi cho cây nở hoa, tạo hạt khi nhiệt độ phù hợp nhất Khi bón 60 kg mỗi loại phân NPK, cây có hình thái tốt nhất và cho năng suất hạt cao nhất (6,1g/cây và 119 mg/quả)

1.5.2.4 Ảnh hưởng của biện pháp tưới nước đến năng suất và chất lượng hạt giống

Tưới nước là một biện pháp hết sức quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng thuốc lá nguyên liệu thông qua hiệu quả của biện pháp bón phân Đất

đủ ẩm cũng là điều kiện cần thiết để cây tung phấn và quá trình thụ phấn, thụ tinh được tiến triển thuận lợi Sau khi hạt được hình thành, cung cấp đủ nước cho cây góp phần thúc đẩy các quá trình chuyển hoá, tích luỹ dinh dưỡng về hạt, đảm bảo chất lượng hạt giống Các tác giả Ivanovskii N P.và Beroshvili R.V (1973) đã khẳng định biện pháp tưới nước làm rút ngắn khoảng thời gian từ trồng đến ra hoa và nâng cao năng suất, chất lượng hạt

1.5.2.5 Ảnh hưởng của biện pháp thu hoạch lá đến năng suất và chất lượng hạt giống

Lá thuốc lá thường được thu hoạch khi đạt độ chín kỹ thuật Đó là khi thành phần vật chất tích luỹ trong lá phù hợp nhất để sau quá trình sấy cho chất lượng nguyên liệu tốt nhất Chín kỹ thuật thường đến trước chín sinh lý khi mà các tế bào

lá mất hết khả năng tổng hợp và các quá trình phân giải chiếm ưu thế Cần xác định ảnh hưởng của biện pháp hái lá đến năng suất và chất lượng hạt giống

Drazic S (1978) đã tiến hành thí nghiệm về sản xuất hạt giống với giống thuốc lá oriental Prilep với các phương án có thu hoạch và không thu hoạch lá khi đạt độ chín kỹ thuật Kết quả cho thấy: Thu hoạch lá làm giảm năng suất hạt

Trang 29

24% trong năm 1976 và 29% trong năm 1977 nhưng thu hoạch lá không ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm của hạt

Stoilov S (1980) cũng thử nghiệm biện pháp hái lá và không hái lá khi sản xuất hạt giống của giống Plovdiv 7 và Speight G-28 Tác giả cho biết: Cây thuốc lá không hái lá cho năng suất hạt cao hơn so với cây vẫn hái lá bình thường Mức tăng của giống Plovdiv 7 là 31% và Speight 28 là 60% Khối lượng 1000 hạt của cây không hái lá của hai giống này cao hơn so với cây hái lá tương ứng là 23,9 và 45,8% Sản xuất hạt giống thuốc lá không hái lá cây mẹ đã được áp dụng tại Stara Zagora từ 1978 Kỹ thuật này cho hạt giống có chất lượng tốt hơn và khi dùng hạt giống này vào sản xuất cho năng suất lá sấy và thu nhập cao hơn

Thomas J.F và Raper C D (1979) đánh giá chất lượng hạt giống của giống thuốc lá Coker 319 ở các công thức cây giống được thu hoạch lá hoặc không thu hoạch lá bằng thử nảy mầm ở 7 mức nhiệt độ từ 15 oC đến 30 oC Kết quả cho thấy: Thu hoạch lá không ảnh hưởng đến đặc tính nảy mầm và khối lượng 1000 hạt

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy: để đảm bảo năng suất và chất lượng hạt giống không nên thu hoạch lá ở những cây trồng lấy hạt mà chỉ nên loại bỏ các lá đã chín vàng khi mà hầu hết vật chất hữu ích đã được phân giải để cung cấp cho các bộ phận khác của cây trong đó có phần nuôi quả và hạt

1.5.2.6 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa hoa và quả đến năng suất, chất lượng hạt giống

Thuốc lá có số lượng hoa khá lớn và thời gian nở hoa kéo dài nên việc xác định biện pháp tỉa hoa, quả hợp lý để chất lượng hạt giống tốt mà vẫn đảm bảo năng suất hạt là cần thiết

Chien S.Y (1978) đã thử nghiệm một số kỹ thuật như tỉa các cành hoa dưới, loại bỏ một số lá ngọn Các biện pháp này đã làm giảm đáng kể sản lượng hạt so với cây đối chứng không áp dụng bất kỳ biện pháp nào kể trên Các biện pháp hái các lá gốc đã chín, tỉa các hoa nở sớm và các quả đậu cuối không làm giảm năng suất hạt Tỷ lệ nảy mầm của hạt ở tất cả các công thức đều nằm trong phạm vi cho phép Nếu tính đến cả năng suất và chất lượng thì không cần thiết

Trang 30

thực hiện các biện pháp kỹ thuật truyền thống như tỉa các cành hoa dưới, loại bỏ các lá ngọn Việc tỉa hoa cây mẹ có ảnh hưởng đến năng suất hạt của thuốc lá vàng sấy Năng suất hạt tăng đáng kể cùng với sự tăng số lượng quả nhưng dung tích và khối lượng hạt/quả sẽ giảm khi tăng số lượng quả/cây Tỷ lệ nảy mầm của hạt không bị ảnh hưởng đáng kể bởi biện pháp tỉa hoa cây mẹ và thường có tỷ lệ nảy mầm từ 90% trở lên Như vậy, để tăng năng suất hạt giống, số lượng quả có thể tăng đến 150 hoặc 175 quả/cây ở điều kiện chăm sóc ruộng giống hiện nay ở Đài Loan Tuy nhiên để đảm bảo độ đồng nhất về độ chín của hạt cần phải tỉa bỏ các quả, hoa ra sớm và ra muộn

Supridjadi G và Hartana I (1981) cũng thực hiện các thí nghiệm tại

Kaliwining về hiệu quả của các biện pháp tỉa hoa quả Kết quả cho thấy: năng suất hạt đạt các mức 10,87; 7,47; 4,75 và 12,57 g/cây tương ứng với các công thức: không tỉa quả, tỉa cành hoa thấp nhất, tỉa một số cành hoa thấp nhất và tỉa các hoa nở muộn ở cuối các cành hoa Hạt của cây áp dụng biện pháp tỉa đuôi cành hoa có tỷ lệ nảy mầm cao hơn (95,72% sau 5 ngày) so với các công thức khác (85,37 - 88,13%)

Theo Dima et al., (2000): Hạt thuốc lá với kích thước lớn và nội nhũ lớn

có khả năng cung cấp nhiều dinh dưỡng, đảm bảo cho cây con có sức sinh trưởng tốt ở giai đoạn đầu Thí nghiệm nhằm xác định số lượng quả thích hợp/cây ở giống Baragan 132, giống có diện tích trồng lớn thứ 2 ở Rumani được tiến hành với các công thức để 25, 50, 75, 100 quả/cây Cây đối chứng để tất cả số quả đậu trên cây có số lượng trung bình là 150 quả Kết quả xử lý số liệu cho thấy: Khối lượng quả trung bình cũng như khối lượng hạt tăng khi khi số lượng quả/cây giảm,tỷ lệ nảy mầm của hạt không bị ảnh hưởng bởi số lượng quả/cây Công thức

để 50 quả/cây thích hợp nhất đối với giống Baragan 132 vì có khối lượng hạt cao nhất mà vẫn đảm bảo hiệu quả sản xuất hạt giống

Từ kết quả trên đã đề xuất nên để số lượng quả/cây gần với mức tốt nhất

đã xác định (50 quả/cây) và cần quan tâm mức độ chín của quả, loại bỏ những quả đậu muộn và những quả phát triển không đầy đủ

Trang 31

1.5.2.7 Ảnh hưởng của độ chín quả đến chất lượng hạt giống

Ảnh hưởng của độ chín quả đến chất lượng hạt giống được Torrecillas G; etal., (1982) thử nghiệm với giống thuốc lá nâu P 1-6 Quả được thu hoạch vào các thời điểm 15, 25, 35, 45 và 65 ngày sau khi nở hoa Kiểm tra nảy mầm sau khi bảo quản cho thấy: hạt của những quả thu hoạch sau khi nở hoa 35 ngày có tỷ

lệ nảy mầm cao nhất (98,9%) Hạt của những quả thu hoạch sau khi nở hoa 15 ngày có tỷ lệ nảy mầm 88,6% Thời gian bảo quản có liên quan chặt và tương quan nghịch với tỷ lệ nảy mầm

Tác giả Gwynn G R (1973) cũng thu quả của 6 giống thuốc lá ở các thời điểm khác nhau: 14, 18, 22, 26 ngày sau khi hoa nở Kết quả cho thấy: hạt thu hoạch sau nở hoa 14 ngày cũng nảy mầm nhưng với tỷ lệ thấp nhất và có sự khác nhau giữa các giống Hạt thu hoạch sau nở hoa 22 ngày hoặc lâu hơn thường có

tỷ lệ nảy mầm trên 94% dù thử nảy mầm ngay sau thu hoạch hoặc sau khi bảo quản ba tháng

Chien S.Y (1979) nghiên cứu độ chín của hạt giống sản xuất trong vụ thu

và vụ xuân Hạt thu hoạch sau nở hoa 30 ngày ở vụ thu và 15 ngày ở vụ xuân có mức độ nảy mầm trong khoảng cho phép Nhiệt độ cao trong thời gian hình thành hạt của cây mẹ trong vụ xuân đã đẩy nhanh quá trình chín của hạt Việc thu hoạch sớm hạt có khả năng nảy mầm giúp cho các nhà chọn giống tăng vụ và rút ngắn thời gian chọn tạo giống

Việc nắm bắt được ảnh hưởng của khối lượng quả đến chất lượng hạt giống chúng ta có thể xây dựng được những biện pháp kỹ thuật phù hợp cho sản xuất hạt giống Torrecilla G etal., (1987) đã chia quả của một giống thuốc lá nâu

cv P-1-6 làm ba loại: quả nhẹ (0,12-0,22 g/quả), quả trung bình (0,22-0,32 g/quả), quả nặng (0,32-0,42 g/quả) Hạt của ba nhóm quả được thử tỷ lệ nảy mầm với kết quả: những quả nhẹ có tỷ lệ nảy mầm 83,8 - 85,9% trong khi hạt của các quả loại trung bình và quả nặng có tỷ lệ nảy mầm 95,1 -96,5% Từ thực tế này có thể thấy cần loại bỏ các hoa nở sau ở cuối mỗi cành hoa vì sự cạn kiệt dinh dưỡng ở cuối vụ và do ảnh hưởng của chu kỳ sống, các hoa nở cuối bao giờ cũng hình thành các quả thuốc lá có kích thước bé hơn, chất lượng hạt giống kém hơn

Trang 32

1.5.2.8 Khả năng sản xuất hạt giống từ hoa chồi

Trong sản xuất hạt giống thuốc lá đôi khi gặp điều kiện bất thuận có thể ảnh hưởng xấu đến năng suất, chất lượng hạt giống Đó là trường hợp gặp mưa nhiều vào thời vụ cây thuốc lá nở hoa rộ làm phấn bị rửa trôi, quá trình tự thụ không xảy ra nên cây không kết hạt hoặc không thu được phấn để thụ phấn cưỡng bức trong sản xuất hạt lai Khi cây bố và cây mẹ không nở hoa trùng khớp việc thụ phấn cưỡng bức cũng không thực hiện được Trong những trường hợp này, cần tìm các giải pháp khắc phục để sản xuất được hạt giống

Pino et al., (1984) đã thử nghiệm phương án ngắt chùm hoa chính và nuôi

2 chồi bên cho ra hoa để thu hoạch hạt Kết quả cho thấy: Chùm hoa chính cho số lượng hạt nhiều hơn so với hạt thu từ 2 chồi bên nhưng không có sự khác biệt về chất lượng hạt Tác giả gợi ý có thể lấy hạt từ các chồi bên để có thể thu hoạch các lá của thân chính ở đúng độ chín Cũng các tác giả Quintana et al., (1986) khi làm thí nghiệm với giống thuốc lá Escambray-70 lại cho thấy: không có sự khác biệt về tỷ lệ nảy mầm, khối lượng 1.000 hạt và năng suất hạt giữa chùm hoa chính và hoa của hai chồi bên được hình thành sau khi ngắt ngọn ở độ cao 18 lá

Tại Zimbabuê, giống KM10 được sử dụng trong nhiều tổ hợp lai để tạo giống

lai Tác giả Stevenson J.M (2001) cho biết: sử dụng giống KM10 trong sản xuất hạt

lai có mức độ rủi ro cao do tập tính nở hoa bất thường của giống này (nhiều khi cây

nở hoa rất muộn so với các giống khác) Tác giả đã thử nghiệm biện pháp ngắt ngọn, nuôi chồi nách nhằm khống chế để cây nở hoa sớm hơn và đã xác định được kỹ thuật chuẩn là ngắt ngọn ở độ cao 20 lá vào thời điểm cây có 35 lá

1.5.3 Một số giải pháp nâng cao năng suất hạt

1.5.3.1 Sử dụng chất kích thích sinh trưởng

Ling K C và Wang C T (1976) xử lý 2,4,5-T cho giống thuốc lá TT4 làm tăng năng suất hạt và hiệu quả cao nhất khi sử lý ở mức 8 ppm sau khi cánh hoa héo (thinning) Sử dụng P và K cũng làm tăng năng suất quả và hạt

1.5.3.2 Sử dụng chất kích thích quả chín

Berbec S và Wisniewski J (1979) thực hiện thí nghiệm về phun Reglone (diquat) để thúc đẩy quả thuốc lá chín và làm khô các phần xanh của cây thuốc lá giống Pulawski 66 và Makhorka Brazylijska được tiến hành trong các năm 1974-

Trang 33

1976 Phun dung dịch Reglone 0,4% cho các lá trên đã làm giảm khối lượng lá tới 20% Các đặc tính vật lý của lá cũng bị ảnh hưởng xấu, ngoài ra làm giảm hàm lượng nicotin nhưng làm tăng hàm lượng protein Phun dung dịch này cho lá

và quả khi quả bắt đầu chuyển nâu làm cho quả chín nhanh hơn, chín đồng đều hơn tạo thuận lợi cho thu hoạch Biện pháp phun này ảnh hưởng không lớn đến khối lượng 1000 hạt nhưng làm tăng năng suất hạt vì đã làm giảm mất mát hạt do quả nứt Phun Diquat ít ảnh hưởng đến thành phần hoá học của hạt

1.6 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống và sản xuất hạt giống thuốc lá ở Việt Nam

1.6.1 Tình hình giống thuốc lá ở Việt Nam

Lịch sử trồng thuốc lá tại Việt Nam đến năm 1995 được Lê Đình Thụy và Phạm Kiến Nghiệp (1996) tóm lược Theo đó, thuốc lá được trồng ở nước ta từ thời vua Lê Thần Tông (1660) với nguồn giống từ các thương nhân Tây Ban Nha Nghề trồng thuốc lá chính thức hình thành vào năm 1876 tại Gia định, 1899 tại Tuyên Quang với dạng thuốc lá nâu phơi Thuốc lá vàng sấy lò (Virginia) được trồng ở nước ta tương đối muộn khi giống Virginia Blond Cash được trồng thử ở An Khê năm 1935 và trồng tại các tỉnh miền Bắc năm 1940

Trước năm 1954, sản xuất thuốc lá ở nước ta mang tính tự cung, tự cấp với nguồn giống chủ yếu là các giống thuốc lá nâu, thuốc lào Giống thuốc lá vàng sấy lò Virginia Blond Cash vào nước ta tương đối muộn và được trồng ở một số vùng như Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Ba Vì (Sơn Tây), Hoàng Long (Ninh Bình), Vĩnh Lộc, Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá), Bắc Giang, Vĩnh Phúc,… Giai đoạn 1954 - 1975 ở miền Bắc sử dụng các nguồn giống cũ của Pháp

và các giống đã được địa phương hoá như: Giống Cao Bằng, Nho Quan, Ba Vì Ngoài ra, còn có một số giống có nguồn gốc từ Trung Quốc như Đại Kim Tinh, Trung Hoa Bài, Bắc Lưu Đa số các giống thuốc lá vàng sấy này đã bị thoái hoá, lẫn tạp cùng với kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năng suất thấp và chất lượng nguyên liệu kém

Trang 34

Ở Miền Nam chủ yếu trồng thuốc lá nâu phơi nắng với tên giống đã được địa phương hoá như: Ri xanh, Ri quắn, Ri mốc, Ri trắng, Xiêm nhọn, Xiêm bầu, Tai trâu,… Thuốc lá vàng sấy chỉ được trồng ở diện hẹp với giống Virginia Gold Giai đoạn 1975 - 1990 bên cạnh các giống thuốc lá vàng sấy cũ đã được địa phương hoá và các nguồn giống nhập nội có nguồn gốc từ Ấn Độ, Bungari, Trung Quốc,… ngành thuốc lá đã chọn lọc và đưa vào sản xuất được một số giống mới như Ba Vì 1, Cao Bằng 1, Ninh Bình 1, Virginia 4241

Giai đoạn từ 1990 đến nay đã có những chuyển biến rõ rệt về công tác giống:

- Đối với dạng thuốc lá vàng sấy: Từ tập đoàn giống nhập nội của Mỹ, Zimbabuê ngành thuốc lá đã chọn được hai giống thích hợp cho sản xuất là C.176

và K.326 Hai giống này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống Quốc gia năm 1996 Các giống này đã dần thay thế các giống cũ và được trồng trên toàn bộ diện tích trồng thuốc lá vàng sấy của nước ta Giai đoạn từ năm 1996 đến nay, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam đã nhập nội nhiều nguồn giống mới từ các cơ sở chọn tạo và phát triển giống của các nước sản xuất thuốc lá tiên tiến trên thế giới và giao cho Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá đánh giá, chọn lọc bao gồm: Các giống từ Mỹ: C.317, C.347, RG.8, RG.11, RG.13, RG.17, RG.81, K.149, K.346, K.394, K.399, K.730, Cu363, Speight 168, Speight G.28, NC27NF, NC37NF, NF3, OX414NF; Các giống từ Zimbabuê: K51E, KE1, Kutsaga E1, Kutsaga Mammoth 110, K.34, K.35, K.36, và các giống từ Braxin: PVH03, PVH09, PVH20, PVH21, PVH51,… Viện KTKT Thuốc lá., (1998)

Tuy có hàng chục giống được nhập nội nhưng kết quả đánh giá chỉ xác định được một số giống có triển vọng như RG.8, K.399, K.149, K.730, OX414NF Giống K.149 có sức sinh trưởng tốt, cho năng suất và chất lượng ở mức khá đã được công nhận giống chính thức

Cùng với công tác đánh giá, chọn lọc giống nhập nội, Viện Kinh tế Kỹ thuật thuốc lá đã tiến hành lai tạo và chọn lọc giống thuốc lá mới Bằng việc sử dụng sơ đồ lai NCII, tác giả Tào Ngọc Tuấn đã đánh giá khả năng kết hợp của các dòng bố mẹ và chọn lọc dòng theo phương pháp phả hệ Kết quả chọn lọc và thuần dòng, Vũ Thị Bản và Tào Ngọc Tuấn (2005) đã chọn được các dòng C7-1,

Trang 35

C9-1 có nhiều ưu điểm về tính thích nghi, cho năng suất cao, chất lượng nguyên liệu tốt Hai dòng này đã được công nhận giống chính thức năm 2004

- Đối với dạng thuốc lá Burley: Dạng thuốc lá sấy theo phương pháp hong gió trong bóng râm này được trồng thử nghiệm ở nước ta lần đầu vào năm 1994

Để phục vụ nhu cầu sản xuất thuốc lá điếu gu hỗn hợp và tiến tới xuất khẩu, Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam đã tiến hành nhập nội và trồng thử nghiệm các giống Burley và cho kết quả tốt ở các vùng đất ven bãi sông Đà, Sông Hồng, vùng Tây nguyên, miền Đông Nam bộ,… Các giống được sản xuất chấp nhận và phát triển trong sản xuất là KY 14, Banket A1

- Đối với dạng thuốc lá nâu phơi: Dạng thuốc lá được trồng từ khá lâu ở nước ta Trong sản xuất chủ yếu sử dụng các giống địa phương, có nguồn gốc từ giống Rio Grand được nhập vào nước ta từ rất lâu và đã có biểu hiện thoái hoá Những năm gần đây, từ các quần thể giống địa phương lẫn tạp, năng suất thấp, Phân Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá đã tiến hành phục tráng được các dòng RMB 34, RMB 35 có độ thuần và năng suất cao đã thay thế các giống cũ trong sản xuất

1.6.2 Tình hình nghiên cứu phát triển giống thuốc lá lai tại Việt Nam

Ngay từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, một số giống thuốc lá lai đã được nhập nội và đánh giá khảo nghiệm như RK1, RK3, RK6, K.34, K.35, K.36 của Zimbabuê; PVH01, PVH03, PVH09 của Braxin; Hevesi 1, Hevesi 9 của Hungari; RGH4, RGH17, RGH61, NC55, NC71 của Mỹ Tuy nhiên, chưa có giống lai nào đáp ứng được các yêu cầu về năng suất, chất lượng nguyên liệu và khả năng kháng chịu bệnh hại ở điều kiện Việt Nam Mặt khác, việc triển khai các giống thuốc lá lai trong sản xuất có khó khăn do giá thành hạt nhập quá cao (3.000 USD/kg) và sự phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu giống

Sau khi có nguồn thuốc lá bất dục đực, tác giả Tào Ngọc Tuấn (2001) đã định hướng chọn tạo và phát triển giống lai trong nước qua việc tiến hành đồng thời các công việc:

+ Đánh giá khả năng kết hợp giữa các dòng bố mẹ có các tính trạng quý để tìm kiếm tổ hợp lai cho con lai kết hợp được ưu điểm của các dòng bố mẹ, thể

Trang 36

hiện ưu điểm về các tính trạng kinh tế như năng suất cao, chất lượng nguyên liệu tốt và kháng một số bệnh hại chính

+ Tạo các dòng bất dục đực tương đồng của các dòng thuần ưu tú: Song song với quá trình đánh giá khả năng kết hợp của các dòng bố mẹ, Tào Ngọc Tuấn và cộng sự đã tiến hành việc lai tạo các dòng bất dục đực tương đồng của các dòng được sử dụng làm mẹ trong các phép lai Một khi xác định được tổ hợp lai tốt thì khi sản xuất hạt lai sẽ sử dụng dòng mẹ bất dục đực nhằm đảm bảo độ thuần của hạt lai Các dòng bất dục đực được tạo ra bằng phương pháp lai trở lại

để chuyển vật chất di truyền nhân của các dòng ưu tú vào tế bào chất của nguồn bất dục đực RGH.4 Sau 6 thế hệ lai trở lại (backcross), tác giả Tào Ngọc Tuấn (2005) đã tạo ra hàng chục dòng thuốc lá bất dục đực gồm cms-C.176, cms-K.326, cms-K.346, cms-K.394, cms-K.399, cms-RG.8, cms-RG.17, cms-RG.81, cms-Mn.373, cms-NC27NF, cms-C7-1, cms-C9-1, cms-D81 Các dòng bất dục đực này là công cụ có giá trị phục vụ công đoạn sản xuất hạt lai F1 để phát triển các giống lai trong sản xuất nguyên liệu

Những nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá lai ở nước ta lần đầu tiên được triển khai từ năm 1998: bằng phương pháp lai dialen khi sử dụng 5 dòng thuốc lá

có nguồn gốc từ Mỹ, Tào Ngọc Tuấn (2009) đã xác định được các tổ hợp lai có triển vọng TL1, TL5, TL6 Qua các bước khảo nghiệm, sản xuất thử tổ hợp lai TL5 cho thấy khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, kháng bệnh khảm lá do TMV,

có năng suất cao vượt trội giống C.176, K.326 trên 10%, chất lượng nguyên liệu tốt, được người trồng chấp nhận và có nhu cầu phát triển giống Tổ hợp lai TL5

đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống chính thức năm 2009 với tên giống VTL5H

Phát triển giống thuốc lá lai theo định hướng nâng cao khả năng kháng bệnh, Tào Ngọc Tuấn (2012) đã chọn được giống GL2 kháng bệnh khảm lá do TMV và kháng cao với các bệnh đen thân do nấm, héo rũ vi khuẩn Giống GL2

đã được Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận giống mới tháng 1/2013

Công tác phát triển giống thuốc lá lai tiếp tục được triển khai theo hướng tạo giống thích nghi với điều kiện hạn rét tại các tỉnh phía Bắc và kháng cao với

Trang 37

một số bệnh hại chính Tào Ngọc Tuấn (2012) đã kết hợp được tính thích nghi cao với điều kiện hạn rét của một số giống địa phương với đặc tính chất lượng tốt cùng tính kháng cao một số bệnh hại trong các tổ hợp lai GL6, GL7 Các tổ hợp lai GL6, GL7 kháng bệnh khảm lá do TMV, có năng suất vượt giống K.326 trên 25% đã được Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận giống cho sản xuất thử tháng 5/2013

1.6.3 Tình hình nghiên cứu sản xuất hạt giống thuốc lá tại Việt Nam

Cho đến khi xây dựng và ban hành Tiêu chuẩn ngành 10TCN 619 – 2005: Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống thuốc lá vàng sấy (Bộ NN&PTNT; 2005) ở nước ta, có rất ít nghiên cứu về sản xuất hạt giống nói chung và chưa có nghiên cứu nào về sản xuất hạt lai Quy trình sản xuất hạt giống thuần đối với dạng thuốc lá vàng sấy chủ yếu được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm sản xuất hạt giống thuần:

- Về thời vụ: Thực tế sản xuất hạt giống những năm trước cho thấy: nếu thời kỳ nở hoa gặp nhiệt độ thấp (<18oC) hoặc nhiệt độ cao (>30 oC) đều cho năng suất rất thấp Từ thực tế đó ruộng sản xuất hạt giống thường được triển khai sớm hơn 10-15 ngày so với ruộng sản xuất nguyên liệu để tránh nắng nóng trong

vụ xuân và giá rét trong vụ thu

- Về mật độ trồng: Nhu cầu hạt giống cung cấp cho sản xuất thuốc lá nguyên liệu trong nước không lớn nên vấn đề chất lượng hạt giống được ưu tiên hàng đầu Thông thường ruộng sản xuất hạt giống có mật độ trồng thưa hơn với khoảng cách luống 1,2 m và khoảng cách giữa các cây 0,55 - 0,6 m so với sản xuất nguyên liệu (khoảng cách trồng 1,2 m x 0,5 m) nhằm đảm bảo không gian dinh dưỡng cho cây

- Về mức bón phân: Khuyến cáo mức bón N từ 80-90 kg/ha, P2O5 từ

160-180 kg/ha, K2O từ 210-250 kg/ha Với mức bón này nhìn chung đảm bảo cho cây sinh trưởng, phát triển tốt Năng suất hạt giống đạt khoảng 70 kg/ha, chất lượng hạt giống đảm bảo với khối lượng 1.000 hạt đạt trên 80 mg, tỷ lệ nảy mầm trên 85% Tuy nhiên cách bón phân làm ba lần: bón lót, bón thúc lần 1 sau trồng khoảng 20 ngày và bón thúc lần 2 sau trồng 35-40 ngày đôi khi chưa hợp lý Vào

Trang 38

những vụ mưa nhiều, có một lượng phân bón bị rửa trôi mà không có bón bổ sung dẫn đến cây vàng lá - biểu hiện của thiếu dinh dưỡng

- Về số quả cố định/cây: Mức khuyến cáo 70 – 100 quả/cây tuy chất lượng hạt giống tốt nhưng có thể không hợp lý vì nếu để tự nhiên có thể thu được trên

200 quả/cây Cần nghiên cứu để thu hoạch số quả/cây ở mức cao hơn để nâng cao hiệu quả sản xuất hạt giống

Đỗ Đình Dũng (2006) đã thử nghiệm một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất hạt lai của giống VTL1H trong vụ xuân 2006 và đi đến kết luận: Thời vụ trồng sớm (23/1) cho năng suất và chất lượng hạt lai cao hơn các thời vụ trồng muộn (2/2 và 12/2) Sử dụng phấn được xử lý và bảo quản mát 2 ngày vẫn cho năng suất hạt lai cao và chất lượng hạt lai tốt

Kết quả nghiên cứu của Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá (2012) khi thử nghiệm kỹ thuật sản xuất hạt lai F1 của giống GL2 với dòng mẹ cms-C176 và dòng bố D81 cho thấy:

- Thời vụ sớm, trồng cây bố mẹ ngày 12/1 phù hợp cho việc sản xuất hạt lai do giai đoạn thụ phấn chủ yếu xảy ra trong tháng 4 có nền nhiệt độ chưa cao, phù hợp cho quá trình thụ phấn, thụ tinh và kết hạt Bên cạnh đó, tháng 4 có lượng mưa không lớn nên hạn chế ảnh hưởng xấu của những nguy cơ về rửa trôi phấn trong sản xuất hạt lai

- Mức bón phân 85 N phù hợp hơn mức 70 N đối với sản xuất hạt lai của giống GL2 vì bên cạnh năng suất hạt lai cao, các chỉ số về chất lượng hạt lai như khối lượng 1.000 hạt, tỷ lệ nảy mầm đều ở mức cao

- Số lượng hoa được thụ phấn luôn tỷ lệ với năng suất hạt lai Việc nâng

số lượng hoa lai lên 130 hoa/cây cho năng suất hạt lai cao, chất lượng tốt khi cây được bón ở mức 85N Việc tăng số lượng hoa lai lên mức 160 hoa tiếp tục nâng cao năng suất hạt lai, chỉ tiêu khối lượng 1.000 hạt vẫn đạt mức chất lượng hạt nguyên chủng nhưng chỉ tiêu tỷ lệ nảy mầm chỉ tương đương cấp xác nhận

- Sử dụng phấn hoa bảo quản 3 ngày trong thụ phấn để sản xuất hạt lai cho năng suất và chất lượng hạt lai tương đương phấn mới Phấn bảo quản 6 ngày vẫn

có hiệu quả trong sản xuất hạt lai nhưng năng suất và chất lượng hạt lai có sự suy

Trang 39

giảm Chỉ tiêu khối lượng 1.000 hạt vẫn đạt mức chất lượng cấp nguyên chủng nhưng tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt mức của hạt cấp xác nhận

Giống thuốc lá lai GL7 có dòng mẹ bất dục đực cms-C.176 và dòng bố

BS Dòng bố BS có thời gian phát dục muộn hơn đáng kể so với dòng mẹ C.176 nên cần thử nghiệm về thời vụ trồng để có sự nở hoa trùng khớp Nhằm sản xuất hạt lai F1 của giống GL7 cho năng suất hạt lai cao và chất lượng hạt lai tốt thì bên cạnh việc ứng dụng mức bón 85N cần thử nghiệm để xác định một số biện pháp kỹ thuật phù hợp khi sản xuất hạt lai bao gồm: thời vụ trồng, mật độ trồng, số hoa lai/cây, thời gian bảo quản phấn Bên cạnh đó, thử nghiệm biện pháp xử lý một trong 2 dòng bố mẹ khi có sự phát dục lệch pha là cần thiết

Trang 40

cms-CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu, thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai

2.1.1 Vật liệu

- Dòng bố, mẹ để lai tạo:

+ Dòng mẹ bất dục đực cms-C.176 Đây là dòng thuốc lá do Tào Ngọc Tuấn và cộng sự tạo ra qua việc kết hợp tế bào chất bất dục đực từ nguồn RGH4 với vật chất di truyền nhân của giống C.176 có xuất xứ từ Mỹ

+ Dòng bố Bắc Sơn (BS) là giống thuốc lá địa phương, được trồng với diện tích lên đến hàng ngàn ha tại Lạng Sơn Giống có đặc điểm thích nghi với điều kiện hạn, rét của vụ xuân sớm ở các tỉnh phía Bắc, kháng cao bệnh đốm

- Phân bón:

+ NH4NO3 (34% N)

+ Supe lân (16,5 P2O5)

+ K2SO4 (50% K2O)

2.1.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai

- Thời gian: từ tháng 05 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015

- Địa điểm: Chi nhánh Viện KT- KT thuốc lá tại Bắc Giang

Điều kiện đất đai: Đất cát pha, được luân canh với cây lúa nước tại xã Bảo Sơn

huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang

Vật liệu nghiên cứu là các dòng bố mẹ để tạo hạt lai F1 của giống GL7 gồm:

- Dòng mẹ cms-C.176 là dòng bất dục đực tương đồng của giống C.176 Dòng bất dục đực này do T.S Tào Ngọc Tuấn,( 2012) tạo ra qua việc kết hợp tế bào chất bất dục đực từ nguồn RGH4 của Mỹ với vật chất di truyền nhân của giống C.176 Giống C.176 có năng suất khá, kháng bệnh khảm lá do TMV và bệnh héo

vàng do nấm Fusarium

- Dòng bố BS là giống thuốc lá địa phương có tính thích nghi cao với điều kiện hạn rét, năng suất khá, đang được trồng với diện tích hàng ngàn ha tại Lạng Sơn

Ngày đăng: 04/02/2017, 22:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  Sản lượng các dạng thuốc lá nguyên liệu chủ yếu của thế giới - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Bảng 1.1 Sản lượng các dạng thuốc lá nguyên liệu chủ yếu của thế giới (Trang 18)
Đồ thị 1. - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
th ị 1 (Trang 47)
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng số lá của dòng mẹ cms-C.176 - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng số lá của dòng mẹ cms-C.176 (Trang 50)
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ sâu bệnh hại - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ sâu bệnh hại (Trang 53)
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian phát dục - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian phát dục (Trang 54)
Sơ đồ 3.1. sản xuất hạt lai của giống GL7 trên cở sở bất dục đực tế bào chất - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Sơ đồ 3.1. sản xuất hạt lai của giống GL7 trên cở sở bất dục đực tế bào chất (Trang 81)
Hình 1: Thí nghiệm sản xuất hạt lai  F1giống GL7 - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 1 Thí nghiệm sản xuất hạt lai F1giống GL7 (Trang 90)
Hình 2: Thí nghiệm sản xuất hạt lai  F1 giống GL7 - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 2 Thí nghiệm sản xuất hạt lai F1 giống GL7 (Trang 90)
Hình 4: Thí nghiệm mật độ sản xuất hat lai F1 giống GL7 - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 4 Thí nghiệm mật độ sản xuất hat lai F1 giống GL7 (Trang 91)
Hình 5: Thí nghiệm mật độ sản xuất hat lai F1 giống GL7 - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 5 Thí nghiệm mật độ sản xuất hat lai F1 giống GL7 (Trang 92)
Hình 6: Thí nghiệm số hoa lai - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 6 Thí nghiệm số hoa lai (Trang 93)
Hình 7: : Thí nghiệm số hoa lai - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 7 : Thí nghiệm số hoa lai (Trang 94)
Hình 8: Thí nghiệm lai hoa bằng phấn bảo quản 6 ngày - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 8 Thí nghiệm lai hoa bằng phấn bảo quản 6 ngày (Trang 95)
Hình 9: Thí nghiệm lai hoa bằng phấn mới - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 9 Thí nghiệm lai hoa bằng phấn mới (Trang 96)
Hình 10: Thí nghiệ m s ả n xu ấ t h ạ t lai b ằ ng ph ươ ng pháp c ắ t thân - nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hạt lai f1 của giống gl7 tại bắc giang
Hình 10 Thí nghiệ m s ả n xu ấ t h ạ t lai b ằ ng ph ươ ng pháp c ắ t thân (Trang 97)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm