Việc sử dụng cây thuốc trong điều trị các bệnh do vi khuẩn đang ngày càng được ưa chuộng bởi tính an toàn, ít tác dụng phụ và khả năng gây kháng chậm Nguyễn Văn Thanh và... Xuất phát từ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHÚC HUY HOÀNG
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG DIỆT KHUẨN IN VITRO
CỦA DỊCH CHIẾT CÂY HUYỀN DIỆP (POLYALTHIA
NGHIỆM BỆNH VIÊM VÚ TRÊN ĐÀN BÒ SỮA
TẠI KHU VỰC GIA LÂM – HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS.Nguyễn Thanh Hải
2 PGS.TS Nguyễn Văn Thanh
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu trong báo cáo này là hoàn toàn trung thực, chính xác và là kết quả của quá trình theo dõi thí nghiệm trong thời gian thực tập, không sao chép của bất kỳ tác giả nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Khúc Huy Hoàng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được báo cáo này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến TS.Nguyễn Thanh Hải và PGS.TS Nguyễn Văn Thanh là những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới các thầy cô trong
bộ môn Ngoại sản-khoa Thú Y, những người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Và để có ngày hôm nay, tôi không thể quên bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên, hỗ trợ tôi về mặt vật chất và tinh thần để tôi có thể vượt qua những khó khăn thử thách Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm Phát triển chăn nuôi Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi
có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày … tháng ….năm 2015
Học viên
Khúc Huy Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2.Mục tiêu của đề tài: 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi 4
1.1.1 Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn 4
1.1.2 Vấn đề tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi 5
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới 6
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược ở Việt Nam 10
1.3 Cây Huyền diệp (Polyalthia longifolia var.pendula Hort.) 13
1.3.1 Nguồn gốc phân loại 13
1.3.2 Mô tả thực vật 14
1.3.3 Thành phần hóa học 14
1.3.4 Tổng quan các nghiên cứu về tác dụng kháng vi sinh vật của cây Huyền diệp 16
1.4 Bệnh viêm vú ở Bò sữa 18
1.4.1 Khái niệm về bệnh 18
1.4.2 Nguyên nhân gây bệnh viêm vú bò 18
Trang 51.4.3 Chẩn đoán bệnh Viêm vú 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.2 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2.1 Bò sữa 25
2.2.2 Cao khô lá cây Huyền diệp 25
2.2.3 Vi khuẩn nghiên cứu 26
2.2.4 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất thí nghiệm 26
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Khảo sát tình hình chăn nuôi bò sữa và tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội 31
3.1.1 Cơ cấu đàn bò sữa tại xã Phù Đổng những năm qua 31
3.1.2 Cơ cấu giống đàn bò sữa tại xã Phù Đổng 32
3.1.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú lâm sàng tại xã Phù Đổng 34
3.2 Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú bò sữa 35
3.2.1 Khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú theo mùa tại xã Phù Đổng 35
3.2.2 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến bệnh viêm vú bò sữa tại xã Phù Đổng 36
3.2.3 Ảnh hưởng của giống bò sữa tới bệnh viêm vú tại xã Phù Đổng 38
3.3 Kết quả phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ 39
3.3.1 Kết quả xác định loài vi khuẩn trong mẫu sữa dương tính 39
3.3.2 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ sữa bò bị viêm vú với một số thuốc kháng sinh và hoá trị liệu 41
3.4 Đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của dịch chiết lá Huyền diệp 43
3.4.1 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá cây Huyền diệp đối với vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập từ sữa bò bị viêm vú 43
3.4.2 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá cây Huyền diệp đối với vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ sữa bò bị viêm vú 46
Trang 63.4.3 Đánh giá khả năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết lá Huyền
diệp khi pha loãng 48
3.5 Sử dụng cao dịch chiết lá Huyền diệp điều trị thử nghiệm trên bò bị viêm vú 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
KẾT LUẬN 53
KIẾN NGHỊ 54
Trang 7DANH MỤC BẢNG STT Tên hình Trang
2.1 Bảng tiêu chuẩn đánh giá khả năng mẫn cảm và kháng thuốc của
vi khuẩn [tiêu chuẩn CLSI 2010] 28
3.1 Kết quả khảo sát cơ cấu đàn bò sữa tại xã Phù Đổng 31
3.2 Cơ cấu giống đàn bò sữa tại xã Phù Đổng 33
3.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú lâm sàng 34
3.4 Tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú theo mùa tại xã Phù Đổng 35
3.5 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo lứa đẻ tại xã Phù Đổng 37
3.6 Bệnh viêm vú bò sữa tại xã Phù Đổng theo các giống 38
3.7 Thành phần loài vi khuẩn có trong sữa bò bình thường và sữa bò viêm vú 40
3.8 Kết quả thử nghiệm tính mẫn cảm với các kháng sinh chuẩn 42
3.9 Kết quả kháng sinh đồ các dịch chiết lá huyền diệp đối với vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập từ sữa bò bị viêm vú 44
3.10 Kết quả kháng sinh đồ các dịch chiết lá huyền diệp đối với vi khuẩn Streptococcus spp 46
3.11 Khả năng ức chế vi khuẩn khi pha loãng cao khô dịch chiết lá cây Huyền diệp 49
3.12 Kết quả thử nghiệm điều trị bò bị viêm vú lâm sàng 51
Trang 8DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
1.1 Cây và các bộ phận của cây Huyền diệp 14
2.1 Hệ nồng độ pha loãng cao đặc để xác định nồng độ tối thiểu tác dụng trên vi khuẩn thử nghiệm 29
3.1 Cơ cấu đàn bò hiện nay tại xã Phù Đổng 32
3.2 Cơ cấu về giống của đàn bò sữa xã Phù Đổng 33
3.3 Tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú lâm sàng 34
3.4 Tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú theo mùa tại xã Phù Đổng 36
3.5 Tỷ lệ bò sữa viêm vú theo lứa đẻ xã Phù Đổng 37
3.6 Bệnh viêm vú bò sữa tại xã Phù Đổng theo các giống 38
3.7 Thành phần vi khuẩn trong sữa bò bình thường và sữa bò bị viêm vú 41
3.8 Kết quả làm kháng sinh đồ của 02 chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus và Streptococcus spp. đối với 14 loại kháng sinh 43
3.9 Kết quả kháng sinh đồ của 5 loại DC trên vi khuẩn Staphylococcus aureus 45
3.10 Kết quả so sánh tác dụng kháng khuẩn của 5 loại DC trên vi khuẩn Streptococcus spp 47
3.11 Khả năng diệt khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết lá cây Huyền diệp, ở nồng độ 100mg/ml 47
3.12 Tỷ lệ bò hết triệu chứng viêm vú theo thời gian điều trị 52
Trang 9MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 167/2001/QĐ/TTg về một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa giai đoạn 2001- 2010, trong đó quy định rất nhiều chính sách hỗ trợ hấp dẫn cho các tổ chức và cá nhân tham gia chăn nuôi và kinh doanh bò sữa Năm 2011, Thành phố Hà Nội ký Quyết định 2801/QĐ-UBND về việc phê duyệt “Chương trình Phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm và chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân cư giai đoạn 2011-2015” Nhiều tỉnh cũng đưa ra nghị quyết lấy bò sữa làm con vật nuôi chủ lực để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và có các chính sách ưu đãi đặc biệt với ngành chăn nuôi bò sữa
Tuy nhiên trong chăn nuôi bò sữa hiện nay việc chăm sóc nuôi dưỡng bò sữa theo các quy trình kỹ thuật, đặc biệt các quy trình vệ sinh phòng bệnh cho bò sữa với người chăn nuôi còn hạn chế nhiều nên các bệnh xảy ra làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi
Một trong những bệnh gây thiệt hại lớn đến ngành chăn nuôi bò sữa là bệnh viêm vú Bệnh xảy ra gây thiệt hại lớn về kinh tế, làm giảm sản lượng, chất lượng sữa, điều trị tốn kém, một số thuốc thường dùng trước đây đến giờ tỏ ra bất lực và khả năng phải loại thải bò, gây tâm lý lo lắng cho người chăn nuôi (Nguyễn Ngọc Nhiên và cs., 1997; Trần Tiến Dũng, 1999; Trương Quang và cs., 2008) Thông thường, bò bị vú sẽ được điều trị với kháng sinh Điều này làm nảy sinh ba vấn đề quan trọng đó là thiệt hại kinh tế, mất an toàn vệ sinh thực phẩm
và kháng kháng sinh ở vi khuẩn
Nhằm tháo gỡ những khó khăn đó, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, sử dụng chiết xuất của các thảo dược nhằm điều trị viêm vú cho bò mắc bệnh Với những nguồn gốc tự nhiên, chiết xuất thảo dược được cho là an toàn đối với
bò và người sử dụng sữa Rất nhiều thảo dược đã được các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới chứng minh là có tác dụng với vi khuẩn gây bệnh Việc sử dụng cây thuốc trong điều trị các bệnh do vi khuẩn đang ngày càng được ưa chuộng bởi tính
an toàn, ít tác dụng phụ và khả năng gây kháng chậm (Nguyễn Văn Thanh và
Trang 10Nguyễn Thanh Hải, 2014) Các chất có nguồn gốc thiên nhiên, dù được sử dụng dưới dạng truyền thống hay các dạng đã được tinh chế và chiết tách được đánh giá
là một nguồn đáng kể cho việc tìm hiểu và khám phá ra các thuốc thay thế các chất hóa học tổng hợp Thảo dược đang ngày càng chứng minh vai trò quan trọng của mình trong nền công nghiệp dược phẩm như là một giải pháp an toàn thay thế cho
các thuốc hóa học tổng hợp (Mahesh and Satish, 2008; Nguyễn Thanh Hải và Bùi
cây thuộc họ Annonaceae đều có chứa các hoạt chất chống ung thư Các hoạt
chất được chiết xuất từ những bộ phận của cây Huyền diệp có tính kháng khuẩn,
chống viêm, loét, giải độc, bảo vệ gan, hạ huyết áp và kháng nấm tốt (Saleem et
al , 2005; Malairajan et al., 2008; Misra et al., 2010; Singh et al.,2012; Anzana Parvin et al., 2013)
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm giảm thiệt hại, giảm chi phí điều trị và khắc phục hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh viêm vú chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác dụng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết cây
Huyền diệp (Polyalthia longifolia var.pendula) và điều trị thử nghiệm bệnh viêm vú trên đàn bò sữa tại khu vực Gia Lâm – Hà Nội”
1.2 Mục tiêu của đề tài:
Nắm được thực trạng tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú trên địa bàn xã Phù Đổng huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Phân lập và đánh giá tỷ lệ các loài vi khuẩn có trong sữa bò bị viêm vú bò sữa
Trang 11Thử kháng sinh đồ với 02 chủng vi khuẩn Staphylococus aureus và
Streptococus spp phân lập từ sữa bò bị viêm vú
Đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết lá cây Huyền diệp sử dụng các dung môi khác nhau đối với vi khuẩn Staphylococus
aureus và Streptococus spp phân lập từ sữa bò mắc bệnh viêm vú
Dựa trên kết quả nghiên cứu khả năng diệt khuẩn in vitro, điều trị thử
nghiệm bò bị viêm vú sử dụng cao khô dịch chiết lá cây Huyền diệp
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Chứng minh một cách khoa học về khả năng diệt khuẩn của lá cây Huyền diệp Sơ bộ định tính được các nhóm chức có khả năng diệt khuẩn (kháng sinh thực vật) có trong lá cây Góp phần bổ sung cơ sở lý luận về tác dụng dược lý và ứng dụng trong dân gian của dược liệu lá cây Huyền diệp
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả của nghiên cứu này giúp ta hiểu rõ hơn về khả năng ứng dụng của
lá cây Huyền diệp trong điều trị bệnh do vi khuẩn Staphylococus aureus và
Streptococus spp phân lập từ sữa bò mắc bệnh viêm vú
Trên cơ sở của kết quả nghiên cứu có thể nghiên cứu điều trị thử nghiệm trên quy mô lớn Tiến tới ứng dụng dịch chiết lá cây Huyền diệp trong phòng và điều trị bệnh viêm vú bò nói riêng và vật nuôi nói chung trong thực tiễn, góp phần giảm thiểu sự tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi đồng thời hạn chế sự kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đề ra những biện pháp cụ thể nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển đàn bò sữa của địa phương cả về số lượng
và chất lượng, đồng thời đề tài giúp người chăn nuôi bò sữa có những kỹ thuật cơ bản trong công tác phòng và trị bệnh viêm vú, giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra góp phần sản xuất sữa sạch, an toàn cho người tiêu dùng, nâng cao năng suất của đàn bò sữa và thu nhập của người chăn nuôi
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi
1.1.1 Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày 30-4-2014 ra cảnh báo kháng thuốc kháng sinh là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Sau khi thu thập dữ liệu tại 114 quốc gia trên toàn cầu về tình trạng kháng thuốc, trong đó đặc biệt là kháng sinh, báo cáo của WHO nêu rõ mối đe dọa nghiêm trọng này không còn là
dự báo cho tương lai mà đang diễn ra ở mọi khu vực trên thế giới, có nguy cơ ảnh hưởng tới mọi người dân ở mọi lứa tuổi và các quốc gia khác nhau Theo Trợ
lý Tổng Giám đốc WHO, Keiji Fukuda, nếu không phối hợp hành động tức thời, thế giới sẽ đối mặt với một kỷ nguyên “hậu thuốc kháng sinh”, khi đó các bệnh truyền nhiễm thông thường hoặc những vết thương nhỏ trước đó có thể chữa trị được thì nay có thể gây chết người do kháng thuốc kháng sinh (WHO, 2014)
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi sinh vât, như sự sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng cách, không tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu, cũng như không chịu uống cho thật hết số thuốc như bác sĩ đã kê toa Ngoài ra việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi thú y, canh nông và ngư nghiệp cũng dự phần không nhỏ trong
sự hình thành của hiện tượng kháng kháng sinh Cuối cùng là vấn đề dùng các chất diệt khuẩn để chùi rửa quá thường xuyên, không đúng chỉ dẫn cũng có thể giúp sản sinh ra những dòng vi khuẩn có tính kháng thuốc (A report from the American academy of Microbiology, 2009)
Theo nghiên cứu của Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1999) đã tìm thấy chủng vi khuẩn kháng lại 11 loại kháng sinh, đồng thời cũng chứng minh khả năng di truyền tính kháng thuốc giữa các vi khuẩn thông qua plasmid
Theo nghiên cứu của Cù Hữu Phú và cs (1999), 80 - 90% vi khuẩn
Salmonella phân lập được kháng mạnh với Penicillin và Ampicillin
Trang 13Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (2000) khi nghiên cứu các chủng phân lập từ sữa
bò bị viêm vú cho thấy hầu hết các chủng phân lập được đều kháng lại nhiều loại kháng sinh như Chloramphenicol, Sulfadimethoxine, Tetracycline
Các chủng vi khuẩn Salmonella có độ mẫn cảm cao với Furazolidon (100%),
Chloramphenicol (87,5%), ít mẫn cảm với Penicillin (25%) và hoàn toàn kháng lại Tetracyclin (Đỗ Trung Cứ và cs., 2003)
Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của 106 chủng vi khuẩn phân lập được từ lợn con theo mẹ bị tiêu chảy ở một số tỉnh phía Bắc, Việt Nam, Đỗ Ngọc Thúy, (2002) đã thu được kết quả các chủng có xu hướng kháng mạnh với các loại kháng sinh thông thường dùng để điều trị đặc biệt với Streptomycin lên tới 88,68% Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn với trên 3 loại kháng sinh là khá phổ biến (chiếm 90,57%)
Theo số liệu giám sát trong năm 2012 tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung
ương, tỷ lệ kháng ampicilin của E.coli lên tới 81,4%; kháng
amoxicillin/clavunanic và ampicillin/sulbactam khoảng 40% Các kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ ba cũng bị kháng đến gần một nửa, và nhóm fluoro-quinolon cũng bị kháng khoảng 45%
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Phước (2014), E coli và Salmonella spp
phân lập từ phân chó bị bệnh đã kháng lại nhiều kháng sinh thông dụng, hiện
tượng đa kháng (multyresistance) đã xuất hiện Vi khuẩn E coli đã kháng lại cùng một lúc 6 loại kháng sinh, tương tự vi khuẩn Salmonella spp kháng lại 4
loại kháng sinh
Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Xuân (2014), vi khuẩn E coli và
Salmonella spp phân lập từ phân chó bị tiêu chảy đã có hiện tượng kháng với 4-
5 loại kháng sinh thông dụng cùng lúc (đa kháng multyresistance) ( E coli kháng
lại kháng sinh tetracyclin, doxycyclin, norfloxacin, ofloxacin và Salmonella spp
neomycin, kanamycin, tetracyclin)
1.1.2 Vấn đề tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi
Ngày nay, chất kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong ngành nông nghiệp như chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy hải sản, có tác dụng rất lớn là giúp cho
Trang 14vật nuôi trồng chống lại bệnh tật từ vi sinh vật Tuy vậy, chất kháng sinh như một con dao hai lưỡi Một mặt giúp sinh vật chông lại bệnh tật, mặt khác, có thể làm cho sinh vật xuất hiện phản ứng phụ, và đặc biệt là lượng chất kháng sinh tồn dư sinh vật có thể ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm, nhất là sức khỏe người tiêu dùng
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), trong đợt kiểm tra an toàn thực phẩm những tháng đầu năm 2014, cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều mẫu thịt có tồn dư kháng sinh vượt ngưỡng
Cụ thể, khi lấy ngẫu nhiên 60 mẫu thịt (30 mẫu thịt heo, 30 mẫu thịt gia cầm) từ
TP HCM và các tỉnh đem về giết mổ tại 2 cơ sở giết mổ lớn trên địa bàn thành phố, cơ quan chức năng phát hiện 13/30 mẫu thịt heo (tỉ lệ 43,33%) có nguồn gốc
từ Bình Dương, Bến Tre, Bình Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và 1/30 mẫu thịt gia cầm (3,33%) có hàm lượng kháng sinh sulfadimidin vượt giới hạn cho phép (Báo người Lao Động, 2014)
Kháng sinh tetracycline trong 290 mẫu thịt lợn trên thị trường thuộc các quận huyện nội, ngoại thành Hà Nội được xác định bằng phương pháp kiểm tra khả năng ức chế vi khuẩn trên đĩa thạch (agar inhibition test) với chủng Bacillus cereus (ACTT 11778) Các mẫu ghi ngờ được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (high-performance liquid chromatography; HPLC) 5.5% số mẫu nói trên cho kết quả dương tính (có tồn dư kháng sinh tetracycline) (Duong Van Nhiem, 2005)
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới
Thuốc phòng trị bệnh cho người và thú nuôi hầu hết được bào chế từ hai nguồn dược liệu và hóa chất Riêng thảo dược theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới đạt tới 20.000 loài Việc sử dụng thảo dược hiện không chỉ các nước Á Đông
mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ một lượng khá lớn Ở các nước có nền công nghiệp phát triển có tới 1/4 số thuốc có kê trong đơn đều chứa hoạt chất từ thảo dược Riêng ở Mỹ năm 1980 con số thuốc này đã có giá trị 8 tỷ USA (Viện
Trang 15dược liệu, 2005)
Trong những năm gần đây xu hướng thế giới dùng thuốc thảo dược tự nhiên (không tách hoạt chất) ngày càng nhiều Hiện có rất nhiều biệt dược, đông dược của Trung Quốc được tiêu thụ mạnh ở các nước châu Âu
Ngày nay dược liệu có vai trò sau:
+ Dược liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc bán tổng hợp một số hóa dược: Từ chất diosgenin của củ mài để bán tổng hợp lên thuốc steroid được
sử dụng nhiều trong lâm sàng
+ Nhiều hoạt chất quan trọng: quinin, emetin, strychnin, morphin, ajmalin, vincaleucoblastin,… đều phải chiết ra từ dược liệu vì chưa tổng hợp được
+ Dược liệu mở đường cho ngành công nghiệp hóa dược phát triển:
- Biết được công thức của ephedrin hoá dược đã ngưng tụ acetyl carbinol với methylamin để có ephedrin tổng hợp
L-1-phenuy-1 Dựa vào công thức của quinin trong vỏ canhL-1-phenuy-1 kiL-1-phenuy-1 na để tổng hợp rất nhiều dẫn chất trị ký sinh trùng sốt rét
- Dựa vào artemisinin của cây thanh hao hoa vàng, các dẫn chất artesunat, arteether, artemether được bán tổng hợp cũng để trị ký sinh trùng sốt rét (Hoàng Thị Tuyết Nhung, 2012)
Từ 1950-1980 thế giới đã thử tác dụng chống ung thư như: taxol (paclitaxe) của cây Taxus brevfolia Nutt, họ Taxaceae có tác dụng chữa ung thư buồng trứng
ở thời kỳ tiến triển Năm 1992 ở Mỹ, Canada và Pháp đã sử dụng taxol trên lâm sàng Hiện nay người ta đang nghiên cứu tổng hợp các dẫn chất mới từ taxol
(Kingston et al, 1990; Karpagam et al, 2009)
Các kết quả trên chỉ mới bước đầu thử nghiệm sàng lọc các loại thảo dược chưa xác định được thành phần nào trong thực vật có tác dụng trên virus và vi khuẩn Ngày nay, với kỹ thuật sàng lọc hoạt tính sinh học mới, hiện đại với tốc độ nhanh, lượng mẫu nhỏ, việc phát hiện các hoạt chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học mới là rất có triển vọng Sau khi phát hiện ra các chất có hoạt tính mới thì việc nghiên cứu chuyển hóa chúng thành dẫn xuất bằng nhiều con đường trong
đó có hóa tổng hợp (combinatorial chemistry) để thử hoạt tính sinh học vẫn là
Trang 16một lĩnh vực hấp dẫn (Trần Văn Sung, 2011)
Ahmed et al, (2014) sử dụng một số chiết xuất thảo dược từ các cây sầu đông (Aradirachta indica), bông Cận Đông (Gossypium berbaceum), bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) và keo (Aacacia catechu) để điều trị bệnh viêm tử cung
cho bò Các tác giả trên cho biết với các tính chất kháng nấm, kháng vi khuẩn, kháng virus và kháng viêm của các hoạt tính trong các chiết xuất từ các thảo dược trên, chúng đều có khả năng điều trị bệnh viêm tử cung cho bò Sử dụng chiết xuất từ tỏi và hormone PGF2α để điều trị bệnh viêm tử cung cho bò, Sarkar
et al, (2006) cho thấy tỉ lệ bò khỏi bệnh ở hai nhóm là tương đương nhau
Marquez et al, (2007) cho biết chiết xuất từ cây sim (Montanoa tomentosa) cho
hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa rất cao mà không làm ảnh hưởng
đến chức năng của buồng trứng Cui et al, (2014) cho biết dịch chiết từ cây ích mẫu (Herba Leonuri), đương qui (Angelicae Sinensis Radix), hồng hoa (Flos
Carthami ), cỏ gấu (Rhizoma Cyperi) và mộc dược (Myrrha) hòa tan trong cồn 70
làm tăng nhanh quá trình đào thải nhau thai ở bò bị sát nhau
Esparza-Borges and Ortiz-Márquez (1996) cho biết dịch chiết của tỏi (Allium
sativum, L ), khuynh diệp (Eucalyptus globules) và rau khúc (Gnaphalium
conoideum) có tác dụng rút ngắn thời gian động dục lại sau đẻ của bò bị viêm tử cung
Các chất chiết xuất từ cây rễ vàng (Rhodiola rosea), hương thảo (Rosmarinus
officinalis ) đều có tính chống oxi hóa cao (Zhang et al., 2013) Chúng ta biết
rằng trong quá trình viêm, các chất có tính chất oxi hóa được sinh ra làm trầm trọng thêm tác dụng có hại của viêm đối với tế bào tổ chức Vì thế nếu các chất chiết thảo dược trên có tác dụng chống oxi hóa thì chúng có thể có tác dụng tốt trong điều trị các quá trình viêm như viêm tử cung ở bò do tác dụng chống lại các chất oxi hóa sinh ra trong quá trình viêm
Một nghiên cứu khác cho thấy kim ngân hoa (honeysuckle), hoa mai (forsythia), bồ công anh (dandelion), hoa violet tokyo (Tokyo violet), ngải cứu (motherwort), đương qui (angelica), xuyên khung (chuanxiong), địa hoàng
Trang 17(rehmannia), hồng hoa (safflower), cam thảo (radix glycyrrhizae) có tác dụng là
tăng cường khả năng miễn dịch của các tế bào biểu mô tử cung của bò, do đó có
thể dùng để điều trị bệnh viêm tử cung (Du et al., 2010)
Tính đến năm 2010, có ít nhất 50 loại cây thảo dược đã được nghiên cứu ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản, chi tiết được miêu tả trong bài tổng quan của Citarasu (2010) Chiết xuất thảo dược đã được chứng minh rằng chúng có tác dụng trên cả hai đối tượng tôm và cá nuôi với các vai trò như kích thích tăng
trưởng (Chitra, 1995; Rani, 1999; Citarasu et al., 1998; 2002); kích thích ăn uống
và sinh sản (Babu, 1999; Mahesshapa, 1993 và Venketramalingam et al., 2007); kích thích miễn dịch (Edahiro et al., 1991; Minomol, 2005; và Sivaram et al., 2004); giảm hiện tượng stress (Citarasu et al., 1998; Hsieh et al., 2008); kháng
ký sinh trùng, kháng vi khuẩn (Shangliang, 1990; Immanuel et al., 2004); kháng nấm (Adiguzel et al., 2005; Chitmanat et al., 2005; và Khan et al., 2004) và kháng vi rút (Direkbusarakom et al., 1996a,b; Citarasu et al., 2006; và
Yogeeswaran, 2007)
Một bài viết tổng quan về thảo dược cho thấy có trên 40 loại thảo dược được
sử dụng để chống viêm, điều trị vết thương cho kết quả cao tại châu Phi Trong nghiên cứu này cũng cho thấy một số thảo dược được sử dụng nhiều là hoa hồng
(Acaena argentea), Aristotelia chilensis, Blechnum chilense, Francoa appendiculta, phỉ Chi Lê (Gevuina avellana) và đại hoàng Chi Lê (Laureliopsis
Trong một nghiên cứu sử dụng bột tỏi và metronidazole để điều trị bệnh viêm
âm đạo cho trên 120 phụ nữ từ 18-44 tuổi, các tác giả của công trình trên cho
Trang 18thấy chỉ số Amsel ở nhóm dùng tỏi giảm nhiều hơn so với nhóm dùng kháng sinh (70 và 48.3%), nhóm dùng tỏi cũng có ít tác dụng phụ hơn là nhóm dùng
metroniazole (Mohammadzadeh et al., 2014)
Ở một nghiên cứu khác cũng cho thấy quế (Cinnamomum zeylanicum), gừng (Zingiber officinale), nghệ (Curcuma longa), trà xanh (Camellia sinensis) đều
tăng cường khả năng miễn dịch tế bào trong điều trị bệnh viêm tử cung ở người (Harris and Vlass, 2015)
Nghệ (Curcuma longa) cũng có tác dụng tốt trong việc điều trị bệnh lạc nội
mạc tử cung nhờ khả năng ức chế estradiol (Zhang et al., 2013) Các chiết xuất từ
trà xanh, oải hương (Lavandula angustifolia), nguyệt quế (thyme), bạc hà (Mentha piperita) đều cho khả năng kháng khuẩn cao đối với Enterococcus
feralis, E.coli, Staphylococcus aureus, Candida albican ((Thosar et al., 2013)
Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế các phân tử thuốc mới, cũng như trong nghiên cứu mối tương quan Cấu trúc – Hoạt tính đang ngày càng phát triển Mặc dù đa số các công ty dược trên thế giới trong thời gian qua chưa đầu tư tích cực lắm cho việc nghiên cứu hóa học các hợp chất thiên nhiên Song, việc nghiên cứu hóa học các hợp chất thiên nhiên vẫn được đấy mạnh trong những thập niên vừa qua và chắc chắn sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược ở Việt Nam
Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao, có tới 2/3 diện tích đất tự nhiên trong nước là rừng, đồi núi và cao nguyên Theo Nguyễn Thượng Dong, Việt Nam có
10386 loài thực vật trong đó có 3830 loài có khả năng sử dụng làm thuốc Trong công nghiệp dược phẩm nhân y đã có 1340/5577 loại thuốc chiếm 24% được sản xuất từ dược liệu hay hoạt chất từ dược liệu như: berberin, palmatin, artemisinin (Nguyễn Thượng Dong, 2001) Nhân y sử dụng dược liệu với nhiều mục đích khác nhau: thức ăn thay thế, phòng trị các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, nội khoa, ngoại khoa, sản khoa, ung thư… với rất nhiều dạng thuốc khác nhau: thuốc sắc, thuốc cao, viên hoàn, viên nén…
Ngày nay, nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt, nhưng cơ chế tác dụng vẫn chưa được giải thích và chứng minh Xu hướng chung hiện nay là kết
Trang 19hợp Đông y và Tây y với phương châm vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh của cha ông ta bằng thuốc nam, vừa nghiên cứu khảo sát các tính năng tác dụng của cây thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi, 1999)
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực Đông dược, Y dược cổ truyền bên nhân y đã và đang thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới Các nhà khoa học nước ta đã chú ý đến việc sử dụng các loại thảo dược trong phòng và trị bệnh truyền nhiễm; bệnh ký sinh trùng; bệnh nội khoa; bệnh ngoại khoa; bệnh sản khoa,… Riêng lĩnh vực thú y, nghiên cứu về cây thuốc trong phòng trị bệnh cho vật nuôi còn ít và cũng chỉ giới hạn trong việc khai thác, áp dụng các bài thuốc cổ truyền
Về lĩnh vực thú y, các nghiên cứu sử dụng các kháng sinh thực vật trong nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn, đặc biệt bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu quả cao (Bùi Thị Tho, 1996) Theo Trần Quang Hùng (1995) trong thuốc lá, thuốc lào có chứa alkaloid thực vật – nicotin và nornicotin trừ được ngoại ký sinh trùng và côn trùng hại rau, cây công nghiệp Theo Lê Thị Ngọc Diệp (1999) cây
Actiso (Cynara Scolymus L) chứa hoạt chất có tác dụng chống viêm, lợi tiểu,
thông mật, bổ gan
Nghiên cứu tác dụng phòng trị bệnh lợn con phân trắng của các cây tỏi, tô
mộc, hành, hẹ và hoàng đằng Đặc biệt, tác giả còn cho thấy vi khuẩn E.coli
kháng lại kháng sinh thực vật của tỏi, hẹ lại chậm hơn rất nhiều so với các thuốc hoá học trị liệu khác: tetracyclin, neomycin,… Riêng mảng sử dụng các cây dược liệu: lá thuốc lào, thuốc lá, hạt na, vỏ rễ xoan, hạt cau, củ bách bộ, dây thuốc cá, hạt củ đậu… dùng để trị nội, ngoại ký sinh trùng thú y cũng đã thu được những kết quả nhất định (Nguyễn Văn Tý, 2002)
Kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung (2010), khi sử dụng dịch chiết cây Xuân hoa trong điều trị lợn con bị viêm ruột tiêu chảy tỷ lệ khỏi theo các công thức khác nhau đạt từ 87,51% đến 100%, thời gian khỏi bình quân là 2,3 – 3,08 (ngày)
Bùi Thị Tho (2003) đã nghiên cứu tác dụng của rễ thuốc cá trong phòng trị bệnh ngoại ký sinh trùng thú y cho kết quả tốt Nhóm tác giả trên cũng đã sản
Trang 20xuất thuốc dạng mỡ từ hạt cây củ đậu để điều trị bệnh ghẻ chó và ve kí sinh (Bùi Thị Tho và Nguyễn Mạnh Hiển, 2006; Bùi Thị Tho, 2007) Hơn nữa, việc sử dụng thảo dược điều trị bệnh, hạn chế tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi cũng đã được quan tâm từ lâu của nhóm nghiên cứu trên khi các tác giả trên
sử dụng bồ công anh ( Lactuca indica L.) chống tồn dư kháng sinh enrofloxacin
trong điều trị tiêu chảy ở gà (Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Thanh Hà, 2009) Ở một nghiên cứu khác, lá xuân hoa cho thấy có tác dụng điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con (Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung, 2010) Trong định hướng tiến tới
sử dụng kháng sinh thảo dược một cách rộng rãi trong chăn nuôi thì việc bảo quản sản phẩm kháng sinh thảo dược cũng có một vai trò then chốt, nhóm nghiên cứu trên cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian và điều kiện bảo quản đến tác dụng dược lý của dịch chiết củ Bách bộ (Bùi Thị Tho, 2004) Tác giả cho thấy nên thu dịch chiết trong vòng 24h sau khi thu hái Việc sử dụng kháng sinh thực vật từ tỏi và hẹ để điều trị các bệnh trên gia súc gia cầm cho thấy nó vừa cho hiệu quả cao, vừa ít bị kháng thuốc, thời gian phát sinh kháng thuốc chậm hơn so với kháng sinh tổng hợp và từ nấm, hơn nữa vi khuẩn lại nhanh tái mẫn cảm với kháng sinh thực vật hơn các thuốc hóa học trị liệu (Bùi Thị Tho, 2001) Tác giả Vĩnh Định và cs., (2002) cho biết thành phần của flavanon của lá cây đơn đỏ có chứa liquiritigenin
Nguyễn Hồng Loan (2010) công bố kết quả nghiên cứu sử dụng chất chiết xuất
từ cây hoàng kỳ (Astragalus membranaceus) để tăng cường khả năng đề kháng của
cá tra với bệnh mủ gan do nhiễm vi khuẩn Edwardsiella ictaluri Nguyễn Thành Tâm và cs (2012) nghiên cứu về tác dụng kháng khuẩn E ictaluri của dịch chiết từ
3 loại thảo dược, đó là Diệp hạ châu đỏ, Diệp hạ châu xanh và Bạch hoa xà Ngoài
ra vi khuẩn Streptococcus spp gây bệnh lở loét cũng được nghiên cứu điều trị bằng
hỗn hợp dịch ép từ củ tỏi và lá húng trên đối tượng cá trê lai (Nguyễn Thị Thanh, 2012)
Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2014a) cho biết, dịch chiết cây
mò hoa trắng tiêu diệt vi khuẩn Salmonella in vitro và cho kết quả điều trị cao
Trang 21đối với lợn con bị bệnh phân trắng Trong nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã sử dụng ethanol ở các nồng độ 35%, 70%, acetic 5% và aceton 70% để chiết xuất phytoncid từ thân, lá và rễ cây mò hòa trắng Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng, chiết xuất bằng ethanol nồng độ 35% cho dịch chiết có hiệu quả tiêu diệt vi khuẩn và điều trị bệnh lợn con hoa trắng cao nhất
Nhóm tác giả trên cũng thấy rằng dịch chiết từ quả lựu (Punica
gramatum) cho kết quả cao khi điều trị các bệnh giun sán cho gia súc (Nguyen
Thanh Hai et al., 2014a,b) Nhóm tác giả sử dụng ethanol 5% để chiết xuất
phytoncid từ quả lựu, dịch chiết được có thể tiêu diệt giun đũa lợn, sán dây ở lợn, giun đũa ở gà và sán lá ở gà
Các chiết xuất của tỏi gừng cũng được nhóm tác giả trên công bố có khả
năng tiêu diệt vi khuẩn E coli và Salmonella phân lập từ vịt bị tiêu chảy (Nguyen Van Thanh et al., 2014) Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng ethanol 5% và
acetic 5% để chiết xuất phytoncid từ tỏi và gừng Kết quả cho thấy phương pháp dùng acetic 5% cho dịch chiết có tính kháng khuẩn cao hơn dịch chiết thu được
từ phương pháp dùng ethanol 5%
Nhóm tác giả trên cũng nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết của ngưu tất
(Achyranthes Bidentata Blume), muồng trâu (Cassia Alata L ), phi tử (Embelia
Ribes Burn ), bìm bìm ( Ipomoea Hederacea Jacq), keo dậu (Leucaena Glauca
Benth ) và cà gai leo (Solanumtorvum Swartz ) lên quá trình nở của trứng kí sinh trùng Haemonchus contortus phân lập từ dê (Nguyen Van Thanh et al., 2015)
Các giả trên cho thấy muồng trâu và phi tử có tác dụng ức chế trứng nở của
Haemonchus contortus tốt nhất, trong khi ngưu tất có tác dụng tốt nhất lên sự chuyển động của ấu trùng Ở nồng độ 20%, chỉ có chất chiết bìm bìm, keo dậu là
có cả hai tác dụng vừa ức chế không cho trứng Haemonchus contortus nở và ức
chế sự chuyển động của ấu trùng
1.3 Cây Huyền diệp (Polyalthia longifolia var.pendula Hort.)
1.3.1 Nguồn gốc phân loại
Tên khoa học: Polyathia longifolia var Pendula Hort
Trang 22Tên thông thường: Huyền diệp, Hoàng nam
Thuộc họ Na: Annonaceae
Thuộc chi Nhọc: Polyalthia
Chi Nhọc (Polyalthia) là một chi lớn trong họ Na (Annonaceae), có khoảng
150 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á và miền bắc nước
Úc, số lớn các loài tập trung ở Đông Nam Á Ở việt Nam có 27 loài, phân bố khắp các vùng
1.3.2 Mô tả thực vật
Cây gỗ nhỡ, cao 5 - 15 m, phân cành sớm từ gốc, dài, cong rũ xuống, tán hẹp dạng thấp, che kín hết thân, xanh quanh năm Lá đơn mọc cách, trên cành gãy khúc, dạng thuôn dài hẹp, đầu nhọn, gốc tù, dài 8 - 20 cm, rộng 2 - 4 cm, màu xanh nhẵn cả hai mặt, mép lá nhăn nheo Gân bên không rõ Cuống lá dài 0,5 – 0,8 cm
Hình 1.1 Cây và các bộ phận của cây Huyền diệp
Ra hoa từ tháng hai đến tháng tư Hoa đơn, hoa hình ngôi sao, màu vàng chanh, cuống ngắn và mảnh Nhị đực nhiều Bầu có nhiều lá noãn
Hình thành quả vào tháng bảy, quả có hình trứng hoặc bầu dục dài 2 cm màu đen Quả mọc thành chùm, mỗi chùm từ 10 – 20 quả Ban đầu xanh sau chuyển màu tím hoặc đen khi chín
1.3.3 Thành phần hóa học
Từ dịch chiết methanol của cây Huyền diệp đã phân lập được một haliman diterpen mới, 3β,5β,16α - trihydroxyhalima - 13(14) - en - 15,16 - olit, và oxoprotoberberine alkaloid, (-) - 8 - oxopolyathiain trong đó có một số hợp chất có
Trang 23hoạt tính kháng một số dòng ung thư Dịch chiết n-hexan của vỏ cây Huyền diệp
đã phân lập được 9 hợp chất clerodan và ent - haliman diterpen mới là: 16 - hydroxycleroda - 4(18), 13 - dien - 16,15 - olit; axit 16 - oxocleroda - 4(18), 13E - dien - 15 - oic; cleroda - 4(18), - 13 - dien - 16,15 - olit; 16 - hydroxyl - ent - Halima - 5(10), 13 - dien - 16,15 - olit; axit 16 - oxo - ent - Halima - 5(10), 13E - dien - 15 - oic; ent - Halima - 1(10),13E - dien - 16,15 - olit; axit 16 - oxo - ent - halima - 5(10),13E - dien - 15 - oic; ent - Halima - 5(10),13 - dien - 16,15 - olit và ent - Halima - 5(10),13E - dien - 16,15 - olit cùng với 5 clerodan diterpen đã biết
Từ cây Huyền diệp, Chen et al.(2000) đã phân lập được 1 hợp chất A haliman
diterpen mới, 3β,5β,16α - trihydroxyhaliman - 13(14) - en - 15,16 - olide, và oxoprotoberberin alkaloid, (-) - 8 - oxopolyalthiain, cùng với 20 hợp chất đã biết, 16α - hydroxycleroda - 3,13 - dien - 15,16 - olit; axit 16 - hydroxycleroda - 3,13 - dien - 15 - oic; axit cleroda - 3,13E - dien - 15 - oic; axit 3,12E - lolavadien - 15 - oic - 16 - al; (4→2)- abeo - 16 (R và S)- 2,13Z - kolavadien - 15,16 - olit - 3 - al; axit labd - 13E - en - 8 - ol - 15 - oic; (-)- stepholidin, 1 - aza - 4 - methyl - 2 - oxo
- 1,2 - dihydro - 9,10 - anthracenedion; 5 - hydroxyl - 6 - methoxyonychin; 6 - hydroxyl - 7 - methoxyonychin; liriodenin; oxoxylopin; (-) - anonain; (-) - asimilobin; (-) - norboldin; (+) - norboldin; (-) - norpallidin; axit ρ - hydroxybenzoic; β - sitosterol và stigmasterol
Một clerodan diterpenoit là 16 - hydroxycleroda - 13 - en - 15,16 – olit - 3 -
on được phân lập từ vỏ cây Huyền diệp cùng với 23 hợp chất đã biết và các hợp chất phytosteroit
Trang 24Phân lập theo định hướng hoạt tính sinh học của dịch chiết methanol lá cây Huyền diệp cho thấy hoạt tính kháng 13 dòng Gram dương và 9 dòng Gram âm, hợp chất (3S, 4R) - 3,4,5 - rihydroxylpentanoic acid - 1,4 - lacton tạo ra hoạt tính trên Phân lập theo nghiên cứu định hướng hoạt tính sinh học của dịch chiết rễ cây Huyền diệp cho thấy hoạt tính kháng khuẩn mạnh, và người ta đã phân lập 3 hợp chất mới alkaloid pendulamin A, pendulamin B, và pendulin cùng với stigmasterol 3 - O - β - D - glucosid, allantoin và isoursulin
1.3.4 Tổng quan các nghiên cứu về tác dụng kháng vi sinh vật của cây Huyền diệp
Polyalthia longifolia đã được sử dụng trong các hệ thống truyền thống của y học để điều trị sốt, bệnh ngoài da, bệnh nhân tiểu đường và cao huyết áp, kích thích hô hấp và đặc trị làm hạ cơn số Các bộ phận của cây Huyền diệp
(Polyalthia longifolia) được sử dụng để điều trị sốt, bệnh lậu, hạ huyết áp, đái
đường và rong kinh, và đã được biết đến để được sử dụng như một loại thảo dược
khá thông dụng ở Ấn Độ (Nair et al., 2004; Jain et al., 2009)
Tại Ấn Độ, hạt của cây này đã được sử dụng để giải nhiệt (Raghunathan and Mitra, 1982) Chiết xuất vỏ thân cây và các alkaloid tách từ dich chiết cây
Polyalthia longifolia đã được chứng minh có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm tốt (Hasan, 1988) Dịch chiết nước của cây gây kích thích sự hồi tràng và tử cung cô lập, gây ức chế cơ tim, làm giảm huyết áp và giảm tần số hô hấp ở động vật thí nghiệm (Achari and Lal, 1992) Các chất chiết xuất dầu thô của những hạt của cây này cũng cho thấy hoạt động kháng khuẩn đáng kể (Sayeed, 1995) Vỏ cây cũng được sử dụng như một loại thuốc giải nhiệt khá thông dụng ở huyện Balasore của bang Orissa Vỏ thân cây được nghiền thành bột và trộn với bơ để điều trị bệnh lậu vùng Genitalial Ấn Độ Vỏ cây còn được sử dụng để điều trị bệnh viêm tử cung (Rosakutty, 2000) Nước sắc của lá và vỏ cây được sử dụng như trị cảm lạnh và ho khan Chất chiết xuất từ vỏ thân cây Huyền diệp còn được
sử dụng để chữa bệnh loét miệng (Raghunathan and Mitra, 2002) Nghiên cứu gần đây còn cho thấy trên cuống lá, rễ, vỏ rễ đã cho thấy tiềm năng kháng khuẩn
Trang 25cao và hoạt động hạ huyết áp đáng kể của cây Huyền diệp (Polyalthia longifolia) (Faizi et al., 2005)
Theo nghiên cứu của Thenmozhi and Rajeshwari (2010) trên vi khuẩn gây bệnh, dịch chiết lá cây Huyền diệp trong dung môi chloroform có tác dụng diệt
khuẩn in vitro tốt, đạt độ mẫn cảm cao theo tiêu chuẩn CLSI , đường kính vòng
vô khuẩn ≥ 20 mm Đường kính vòng vô khuẩn lần lượt đối với E coli là 24 mm, đối với vi khuẩn Salmonella spp là 21mm
Kết quả nghiên cứu của Anzana et al (2013) đối với E coli, dịch chiết của
lá cây Huyền diệp ở nồng độ 125 mg/ml trong 03 loại dung môi methanol,
chloroform và hexane đều có khả năng diệt khuẩn in vitro tốt, đều đạt độ mẫn cảm
cao theo tiêu chuẩn của CLSI với đường kính vòng vô khuẩn ≥ 20 mm Đường
kính vòng vô khuẩn của dịch chiết đối với vi khuẩn E coli biến đổi không nhiều từ
24,16mm (dung môi chloroform) đến 27,6mm (với dung môi là hexane)
Theo nghiên cứu của Tripta and Kanika (2011) dịch chiết cây Huyền diệp
trong 06 loại dung môi có tác dụng diệt khuẩn in vitro đối với vi khuẩn nhưng
đường kính vòng vô khuẩn biến đổi mạnh Khi sử dụng dung môi là chloroform
đường kính vòng vô khuẩn đạt 23,0 mm với Salmonella spp và chỉ đạt 20 mm đối với E coli nhưng vẫn đạt độ mẫn cảm cao
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải và cs (2014), dịch chiết lá cây huyền diệp có tác dụng diệt khuẩn in vitro cao đối với vi khuẩn phân lập từ phân vịt bị tiêu chảy Cao khô dịch chiết lá cây Huyền diệp sử dụng dung môi chloroform khi pha loãng ở nồng độ 0,2mg/ml vẫn còn tác dụng diệt khuẩn in vitro đối với E.coli và Salmonella spp phân lập từ phân vịt
Theo Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2014b), dịch chiết lá cây
Huyền diệp không chỉ có tác dụng diệt khuẩn in vitro mà còn có tác dụng trong
điều trị lâm sàng cho chó bị mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy
Theo những kết quả nghiên cứu trên, khả năng ứng dụng kháng sinh thảo dược nói chung và cây Huyền diệp nói riêng để phòng và điều trị bệnh trong Thú
y là có cơ sở khoa học và rất có tiềm năng
Trang 261.4 Bệnh viêm vú ở Bò sữa
Thực tế cho thấy, bệnh viêm vú chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong các bệnh thường gặp ở bò sữa, tình trạng viêm vú phi lâm sàng ở các đàn bò sữa tại các trung tâm bò sữa chiếm tỷ lệ khá cao, như 43,16% tại Trung tâm bò sữa và đồng
cỏ Ba Vì (Nguyễn Ngọc Nhiên và cs., 1997); 51,92% tại Trung tâm Giống bò Hà Nội (Trần Tiến Dũng, 1999) Bệnh này đã gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi do sữa phải xử lý, không sử dụng được Hơn nữa, nếu không phát hiện sớm, điều trị kịp thời và triệt để thì những lá vú sẽ teo đi, không đủ khả năng cho sữa, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sữa lứa đẻ sau, thậm chí có những con bò bị
loại thải ( Trương Quang và cs, 2008)
1.4.1 Khái niệm về bệnh
Viêm vú là phản ứng viêm của tuyến vú Sự viêm là phản ứng của các mô tiết sữa trong bầu vú với các tổn thương bề mặt cơ học hay các vi sinh vật xâm nhập vào vú Phần lớn các trường hợp viêm là do vi khuẩn xâm nhập Quá trình viêm có các mục đích như loại thải hay trung hòa các vi sinh vật xâm nhập; Hỗ trợ việc phục hồi các mô chấn thương do đó nó giúp cho vú trở lại trạng thái bình thường Triệu chứng của viêm là rất rộng, phụ thuộc vào mức độ phản ứng của biểu mô tuyến vú với tổn thương hay quá trình xâm nhiễm Từng trường hợp viêm
vú có thể xác định dựa trên mức độ trầm trọng và thời gian của quá trình viêm
1.4.2 Nguyên nhân gây bệnh viêm vú bò
Có rất nhiều nguyên nhân có thể gây ra bệnh viêm vú ở bò sữa Nguyên nhân xuất phát do chính bản thân bò sữa tuỳ thuộc vào cá thể của bò như bò có bầu vú quá to và dài dễ gây xây xát, lổ thông đầu vú to dễ rò rỉ, bò cao sản là những điều kiện để bộc phát bệnh
Các tác nhân ngoại cảnh cũng có tác động đến tỷ lệ mắc bệnh viêm vú ở bò sữa Tác nhân của bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi bò sữa như nhiệt độ, độ ẩm đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên tỷ lệ mắc bệnh viêm vú của bò sữa Mặt khác nhiệt độ cao, ẩm độ cao cũng là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh, các côn trùng mang tác nhân gây bệnh phát triển và từ đó gián tiếp gây bệnh Bệnh viêm vú xảy ra nhiều trên bò trong giai đoạn nuôi nhốt suốt trong chuồng
Trang 27hơn là trong giai đoạn chăn thả trên đồng cỏ Trong nuôi nhốt mà bò bị cột xích thì vết thương ở núm vú cao 2 - 5 lần so với nuôi nhốt mà bò được thả tự do Chuồng trại chật hẹp, nhất là nuôi nhốt tự do mật độ bò quá lớn, nền chuồng trơn trợt hay vách ngăn chuồng quá ngắn dễ dẫn đến gây tổn thương vú làm gia tăng bệnh viêm
vú Dinh dưỡng cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh Khẩu phần ăn cho bò sữa cần cung cấp đủ và cân bằng về năng lượng, protein, béo, chất xơ, khoáng (đồng, selenium, sắt), vitamin như vitamin A, E, C, D,… và β-caroten Thiếu những loại khoáng và vitamin này, bò giảm số lượng tế bào bạch cầu, giảm khả năng đáp ứng miễn dịch dẫn đến tăng tính nhạy cảm với những nguyên nhân gây viêm vú Vệ sinh chuồng trại, và kỹ thuật vắt sữa cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm vú ở bò,…
Vi sinh vật là nhóm nguyên nhân chính yếu gây bệnh viêm vú bò sữa, bao gồm nhiều tác nhân (Nguyễn Ngọc Nhiên và cs, 1999; Trương Quang và cs 2008)
Có trên 130 loài vi khuẩn khác nhau gây viêm vú bò sữa (Phạm Bảo Ngọc, 2002) Dựa vào nguồn gốc khu trú và tính chất lây lan, chúng được phân chia thành hai nhóm lớn gồm nhóm mầm bệnh gây viêm vú truyền lây và nhóm mầm bệnh môi trường Nhóm vi khuẩn gây bệnh viêm vú truyền lây đây là nhóm mầm bệnh sống kí sinh và nhân lên trong cơ thể vật chủ, đặc biệt là trong tuyến vú, xung quanh núm vú và bầu vú bị tổn thương Chúng thường gây viêm vú dạng tiềm ẩn, ít biểu hiện dấu hiệu lâm sàng Nhóm này phổ biến nhất là
Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae, ngoài ra còn có Mycoplasma spp và Corynebacteriumbovis Chúng lây lan từ bò này sang bò khác trong quá
trình vắt sữa thông qua máy vắt sữa, tay người vắt sữa, khăn lau vú hoặc truyền lây do bê con bú
Nhóm vi khuẩn có nguồn gốc từ môi trường, bao gồm những loài
Staphylococcus khác, Streptococcus uberis, S dysgalactiae, coliforms,
Pseudomonas spp Những vi khuẩn này sống ở lông, da bò và ngoài môi trường
Staphylococcus spp chiếm 5,4% trường hợp, trong đó S.aureus (vi khuẩn Gram +) là vi khuẩn gây bệnh mạnh và thường ở dạng cấp tính Vi khuẩn này xâm nhập và tấn công vào các tế bào nang và có tính kháng penicilline (có những
Trang 28chủng vi khuẩn có khả năng hình thành penicillinaza phân huỷ penicilline), vì vậy nó rất khó xử lý Bên cạnh đó, nó còn sản sinh ra các độc tố (coagulaza, hemolysine) gây co thắt mạch máu và hoại tử mô tế bào Trong các loại vi khuẩn
gây bệnh viêm vú, liên cầu khuẩn (Streptococcus) chiếm 86%, chủ yếu là
S.agalactiae, S dysgalactiae và S uberis S.agalactiae là vi khuẩn Gram + và chỉ phát triển được trên mô tuyến vú nhưng dễ bị khống chế và tiêu diệt trong khi đó
S dysgalactiae và S uberis có thể phát triển bên ngoài mô tuyến vú và khó loại trừ Ba loại này chủ yếu phát triển trong sữa và tấn công lớp tế bào bề mặt của
các ống dẫn sữa Coliforms là những trực khuẩn Gram âm như E.coli,
Enterobacter, Klebsiella có nguồn gốc từ phân Coliforms chỉ gây bệnh khi cơ thể giảm sức đề kháng Do điều kiện vệ sinh chuồng trại và vệ sinh vắt sữa kém,
vi khuẩn xâm nhập vào tuyến vú thông qua kênh đầu vú
Gây viêm vú truyền nhiễm cho bò sữa có 80% gây viêm vú là do
Streptococcus agalactiae và Streptococcus dysagalactiae (Nguyễn Ngọc Nhiên
và cs, 1999; Trần Tiến Dũng, 1999; Trương Quang và cs, 2008) Bệnh lan truyền chủ yếu do người vắt sữa, dụng cụ vắt sữa và ruồi Bệnh biểu hiện viêm vú, sưng
tụ máu, sữa màu xanh lợn cợn máu, vú teo dần Hai nguyên nhân này quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng một loài vi trùng gây bệnh nhưng sức đề kháng của cơ thể và tuyến vú con vật khác nhau nên có thể gây ra bệnh viêm vú khác nhau Ngược lại, những vi trùng khác nhau khi tác động lên bầu vú cũng có thể gây ra những triệu chứng giống nhau
Nấm men và nấm mốc là những vi sinh vật môi trường Chúng có ở khắp nơi trong môi trường và có cả trên cơ thể bò khỏe mạnh, bên trong và ngoài chuồng bò Bào tử nấm tồn tại trong không khí, chất lót chuồng, thức ăn Chúng
có thể gây bệnh viêm vú nếu nhốt chung một lượng lớn bò trong cùng một
chuồng quá chật chội
Tình trạng nhiễm bệnh do virus hướng thượng bì trên bò làm tổn thương da của núm vú cũng như bầu vú Chúng không phải là nguyên nhân trực tiếp gây viêm vú, nhưng bệnh làm da vú bị lở loét (tổn thương) và làm cho cơ thể vật chủ giảm sức đề kháng với bệnh Từ đó, những vi khuẩn cơ hội nhất là nhóm
Trang 29staphylococci và streptococci bám vào và nhân lên ở những vết thương và xâm
nhập vào tuyến vú, hậu quả gây viêm vú bò sữa
1.4.3 Chẩn đoán bệnh Viêm vú
Chẩn đoán lâm sàng bầu vú, sữa và dịch tiết trong sữa
Kiểm tra trên lâm sàng bầu vú và tính chất sữa là một trong các yếu tố để chẩn đoán viêm vú Đây là biện pháp đơn giản và ít tốn kém mà người chăn nuôi
có thể thực hiện Bằng biện pháp kiểm tra đơn giản, người chăn nuôi có thể phát hiện ra sớm bệnh viêm vú, nhằm giúp cho điều trị và tiên lượng hiệu quả trong khi điều trị
Kiểm tra bằng mắt nhìn: Người chăn nuôi quan sát sự đối xứng của các lá
vú gồm 2 lá vú trước (phải, trái), 2 lá vú sau (phải, trái); kích thước, hình dạng bầu vú, lá vú, núm vú; phía mặt ngoài da của bầu vú như độ căng, đàn hồi, nhăn nheo, chổ sưng chứa bọc mủ, máu, mục cóc, da sừng hóa và màu sắc của da bầu
vú (đỏ, hồng, trắng bóng,…); hình dạng các núm vú, đầu núm vú và lổ tiết sữa;
sự phát triển hệ thống mạch máu trên bầu vú; tình trạng và hình dạng của hạch lâm ba vú; kiểm tra các phần phụ như: viêm hạch lâm ba phía sau bầu vú, nhạy cảm ánh nắng; phần trước bầu vú như: phù, da có mủ, các mục cóc, hay các bọc máu; kiểm tra bên hông bầu vú như: phần sát đùi nóng, sưng, da đỏ hay có mủ Kiểm tra bằng biện pháp sờ nắn bầu vú: sờ nắn bầu vú được thực hiện khi
đã vắt hết sữa trong bầu vú ra, xác định được tình trạng của bầu vú như trạng thái, kích thước đều đặn và rắn chắc bầu vú; tình trạng bên trong ống dẫn sữa của núm vú (sừng hóa, dầy cứng, mềm mại); xoang sữa dưới gốc núm vú; di động giữa da vú với các phần mềm dưới da vú, xem độ đàn hồi, chắc chắn của da vú; kiểm tra các chùm mô tuyến vú và các nang, khối u trong bầu vú, các vùng thú bị đau hay vùng có nhiệt độ cục bộ cao; sự thay đổi về hình dáng và kích thước hạch sau vú
Sữa và dịch tiết được kiểm tra trên các cơ sở:
Màu sắc: sữa bình thường có màu trắng, sữa có màu hồng hay đỏ, màu
xanh của mủ khi viêm vú
Trang 30Mùi: mùi sữa có mùi đặc trưng dễ chịu và thay đổi khi bị viêm vú như: mùi trứng thối(vi khuẩn sinh mủ), mùi chua (vi khuẩn yếm khí), mùi chua của trái cây
(vi khuẩn E.coli)
Độ nhớt: tăng độ nhớt ở giai đoạn tiết sữa non hay cuối thời kỳ cho sữa Độ
nhớt thay đổi khi nhiễm trùng trong sữa hay lẫn mủ máu, dịch tiết viêm (mủ độn vón các cục sữa làm mất tính đồng nhất – kiểm tra qua dòng chảy trên nền đen)
Kiểm tra lượng sữa: giảm nhẹ đến mạnh tùy mức độ viêm vú lâm sàng hay
tiềm ẩn Khi lượng sữa trở lại bình thường là biểu hiện sự hồi phục bệnh
Chẩn đoán dựa trên các phản ứng sinh hoá
• Phát hiện sữa viêm bằng giấy chỉ thị màu
Giấy chỉ thị màu được sử dụng nhằm để xác định 1 hay nhiều lá vú bị viêm, xác định được vị trí cần điều trị Đây là một phương pháp đơn giản cho người sử dụng nhất là người chăn nuôi ít kinh nghiệm dựa trên nguyên tắc thay đổi độ pH của sữa bò bị viêm Hiện nay trên thị trường có nhiều công ty sản xuất giấy chỉ thị màu dùng cho chẩn đoán bệnh viêm vú Một loại giấy chỉ màu tương đối phổ biến là giấy chỉ thị màu có tên Bovivet (công ty Kruuse), là loại giấy thấm gồm 4 ngăn để xét nghiệm 4 lá vú Giấy được tẩm bromothymol, nitragine và đổi màu như sau:
pH từ 6.0 –7.6: màu xanh bromothymol phân giải thành màu vàng sang xanh
pH từ 6.4 –6.8: màu nitragine phân giải thành màu vàng sang xanh lục (sữa bình thường có độ pH từ 6,5 – 6,7)
Chú ý trong kết quả thử sữa: Các trường hợp sữa bị thay đổi do sinh lý sẽ bị sai lệch Bò khỏe mạnh cũng có thể thay đổi pH trong sữa theo giai đoạn tiết sữa Sữa đầu có tính acid hơn Cuối giai đoạn cho sữa thì độ pH của sữa bò cao hơn hay bằng 6,8 Viêm vú do Streptococcus agalactiae sẽ làm cho sữa chua do chuyển hóa đường lactoza thành acid lactic (sẽ có phản ứng âm tính giả)
Thao tác thử nghiệm
Bóp bỏ vài tia sữa đầu; sau đó, cho tia sữa lên ô giấy thử Tiếp tục thực hiện cho các núm vú khác Kết quả được đọc sau 1 –2 phút Bò khỏe - giấy thử có màu vàng lục (pH 6,5 – 6,7); Bò bệnh -giấy thử chuyển từ màu vàng lục sang
Trang 31màu xanh (pH~7) Nguyên nhân do lượng đường lactose giảm đi song song với lượng muối kiềm tăng lên trong sữa Sự tăng pH trong sữa là dấu hiệu của bệnh viêm vú
• Phương pháp thử cồn
Phương pháp này dựa vào nguyên tắc chất đạm trong môi trường acid sẽ
bị tủa bởi cồn Cồn được sử dụng là cồn 70-75 độ Tỷ lệ cồn và sữa: 1:1
Tiến hành: cho 2ml sữa vào 2ml cồn 70 độ chứa trong ống nghiệm, quan sát
trên thành ống nghiệm
Kết quả: Dung dịch đồng nhất là âm tính (không viêm vú); có mảng bám
lợn cợn trên thành ống nghiệm có thể bị viêm vú
• Phương pháp thử nghiệm Blue Methylen (Blue Methylen Test)
Phần lớn các vi sinh vật gây ô nhiễm sữa khi phát triển làm thay đổi hiệu thế oxy hoá khử Nếu cho chất màu vào sữa chất màu sẽ thay đổi, tuỳ theo thời gian đổi màu có thể ước tính độ nhiễm vi sinh của sữa
Dung dịch Blue Methylen pha như sau: Blue Methylen 5ml, nước cất vừa đủ 100cc tạo dung dịch Blue Methylen, ống nghiệm sấy tiệt trùng có nút đậy, Pipete 10ml và 1ml.Tiến hành thử: thử nghiệm trong điều kiện vô trùng, cho vào ống nghiệm 10ml sữa, Blue Methylene 1ml Nút ống lại cẩn thận, lắc nhẹ cho dung dịch trộn đều sau đó để vào tủ ấm 370C Sau mổi giờ lắc nhẹ 1 lần và xác định độ mất màu trong thời gian như sau: lúc vừa cho vào tủ ấm, sau 10 phút, sau 1 giờ, sau 3 giờ Nếu mất màu trước 15 phút: sữa nhiễm vi sinh rất nhiều; Nếu mất màu sau 15 phút đến 1 giờ: sữa bị nhiễm nặng; Nếu mất màu sau 1 giờ đến 3 giờ: sữa bị nhiễm nhẹ; Nếu mất màu sau hơn 3 giờ: sữa được coi như đạt tiêu chuẩn
Chẩn đoán dựa trên phương pháp thử CMT (Caliornia Mastitis Test) (Anri
và Kanameda, 2002)
Nguyên tắc của phướng pháp này là nhằm phát hiện bệnh viêm vú qua số lượng tế bào bạch cầu trong 1 ml sữa Tỷ lệ xét nghiệm: 1-1 (giữa dung dịch
CMT và sữa) Thao tác: lau sạch núm vú, lấy sữa trên từng lá vú cho vào đĩa Pétri
hay cốc đựng, lấy 2ml lượng vừa đủ để xét nghiệm Bơm 2ml thuốc thử CMT vào đĩa Pétri có chứa 2ml sữa Xoay tròn đĩa, đặt đĩa Pétri trên nơi hơi tối để quan sát, đọc kết quả ngay dựa trên sự đóng vón và thay đổi màu sắc của hổn hợp Thành
Trang 32phần hoá chất thuốc thử gồm: chất màu đỏ xẩm bromocrésol 1/10.000 và dung dịch teepol 10% Sự đông vón phụ thuộc vào mật độ các tế bào bạch cầu trong sữa với các mức độ đo lường tình trạng viêm nhiễm
Kết quả: - Bò mạnh khoẻ: dưới 300.000 tế bào/ ml; Bò bị nhiễm: trên
800.000 tế bào/ ml
Khi đọc kết quả cần các chú ý như sau: Kết quả âm tính hay nghi ngờ khi thử CMT thì phải xem xét và cân nhắc cẩn thận Kết quả âm tính cũng không có nghĩa hoàn toàn là không có bệnh Đây là phương pháp đọc kết quả có tính chủ quan người đọc và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác Khi để kết quả khá lâu có thể sẽ thấy âm tính giả vì gen trong đĩa bị biến mất Sử dụng sữa mới vắt cho kết quả chính xác hơn sữa bảo quản hơn 24 giờ Chú ý dụng cụ chứa sữa để thử và yếu tố nhiễm khuẩn bên ngoài gây acid hóa sẽ làm kết quả âm tính
Chẩn đoán dựa trên thiết bị thử sữa phát hiện viêm vú
Nguyên tắc hoạt động của máy là phát hiện sự thay đổi điện trở của sữa bò khi bò bị bịnh viêm vú tiềm ẩn Khi bò bị viêm vú tiềm ẩn, hàm lượng muối khoáng trong sữa sẽ tăng lên làm thay đổi điện trở của sữa
Cách sử dụng: bỏ một lượng sữa nhỏ vào cốc và bấm nút đo và chờ đọc kết
quả hiển thị trên màn hình của thiết bị
Kết quả:điện trở càng thấp khả năng bò bị viêm vú tiềm ẩn càng cao Bên
cạnh đó tỷ lệ béo trong sữa cũng ảnh hưởng đến kết quả Mức độ 300 là trung bình Thấp hơn là bò bắt đầu bị viêm vú tiềm ẩn
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm bộ môn Ngoại Sản Khoa Thú y,
Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học Thực vật Khoa CNSH, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, các nông hộ tại thôn (Phù Đổng I, Phù Đổng II, Phù Đổng III, Phù Dực I, Phù Dực II, Đổng Viên) thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Địa điểm thu mẫu dược liệu: vườn dược liệu Khoa Thú y – Học Viện Nông
2.2.2 Cao khô lá cây Huyền diệp
Mẫu lá cây Huyền diệp được thu hái từ tháng 08/2014 Mẫu lá đã được PGS.TS Bùi Thị Tho (giảng viên của Bộ môn Nội - Chẩn - Dược - Độc chất, Khoa Thú y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam) giám định.Thu hái lá bánh tẻ ở những cây trên 5 năm tuổi cách mặt đất lớn hơn 1,5 m Lá có hình mác dài, nhọn đầu, mặt
lá trơn bóng, mặt trên đậm hơn mặt dưới và không bị sâu Thu lá sạch vào những ngày khô ráo, khoảng từ 7 – 10 giờ sáng Lá tươi thu hái về được rửa dưới vòi nước sạch (2-3 lần) rồi rửa với nước cất, lá dược liệu được được sấy khô ở 400C
Lá khô được nghiền thành bột mịn (<0,5mm) Bột lá đựng trong túi nilon bảo quản trong bình hút ẩm
Bột lá huyền diệp được chiết với các dung môi bằng phương pháp ngâm chiết ở nhiệt độ phòng với cùng một tỷ lệ (20g bột lá khô/200ml dung môi), mỗi ngày được lắc đảo 2 lần Sau 72 giờ thu dịch chiết lọc qua vải màn và giấy lọc Whatman No.1 Thu dịch chiết đem cô quay hút chân không để loại bỏ hoàn toàn dung môi Tới khi khối lượng của bình cô quay không đổi đem cân để tính hiệu
Trang 34suất tách chiết của các dung môi Cao cô toàn phần đã loại bỏ hết dung môi bảo quản trong tủ mát 40C để thử hoạt tính và khả năng diệt khuẩn
2.2.3 Vi khuẩn nghiên cứu
+ Staphylococus aureus và Streptococus spp phân lập từ sữa bò bị viêm
vú được cung cấp từ phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Sinh học Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (LAS – NN54; ISO 17025:2005)
2.2.4 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất thí nghiệm
Thiết bị, dụng cụ
- Buồng cấy vô trùng, tủ sấy, tủ ấm, nồi hấp khử trùng, lò nung, bếp điện, bếp cách thủy, cân phân tích, máy nghiền, máy cô quay chân không,
- Các dụng cụ thủy tinh dùng trong quá trình thí nghiệm gồm có: bình tam
giác 100ml, 250ml, cốc thủy tinh loại 100ml, loại 250ml, pipet, đũa thủy tinh,
lọ đựng mẫu, giá thí nghiệm, bình đựng mức 10ml, 100ml…
- Các dụng cụ khác: giấy lọc, vải màn, phễu lọc
Hóa chất
Các dung môi chiết xuất: ethyl acetate, chlorofom, nước cất, ethanol, ether dầu Kháng sinh: Bột ampicillin và streptomycin sulfat nguyên chất; Giấy tẩm kháng sinh thông dụng như: ampicillin, penicillin, streptomycin, do công ty TNHH Nam Khoa cung cấp
Dung môi pha chất tan: Dimethyl sulfoxide (DMSO)
+ Môi trường Luria–Bertani (LB) dạng lỏng, được hấp tiệt trùng trong các
bình tam giác
+ Môi trường LB rắn, được hấp tiệt trùng để nguội tới 400- 500C, đổ vào đĩa petri có đường kính 10 cm, với độ dày là 4 ± 0,2 mm
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tình hình chăn nuôi bò sữa và tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội
- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú bò sữa