Theo Vũ Thị Hà Thanh 2013, trên phương diện xây dựng nông thôn mới, nguồn lực tài chính được hiểu là vốn bằng tiền, là khối lượng tiền cần huy động từ các quỹ khác nhau để đầu tư xây dựn
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
VŨ VĂN THẮNG
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN BẰNG TIỀN CHO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN TIÊN LỮ,
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
VŨ VĂN THẮNG
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN BẰNG TIỀN CHO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN TIÊN LỮ,
TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN VĂN SONG
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, xuất phát từ quá trình làm việc nghiêm túc dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Nguyễn Văn Song Nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, tin cậy, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương tôi thực tập và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam kết rằng các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Văn Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại Học viện Nông Nghiệp Hà Nội, đặc biệt trong thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài trường
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Ban giám hiệu Học viện Nông nghiệp Hà Nội, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TS Nguyễn Văn Song, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Uỷ ban nhân dân huyện Tiên Lữ, phòng Nông Nghiệp và PTNT huyện Tiên Lữ, các cán
bộ của UBND xã Cương Chính, Hưng Đạo, Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên và các bà con trong xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã khích lệ và ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2015
Học viên
Vũ Văn Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục biểu đồ ix
Danh mục hộp x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Những vấn đề lí luận liên quan đến nông thôn mới và huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới 5
2.1.1 Lý luận về huy động vốn bằng tiền 5
2.1.2 Lý luận về nông thôn mới 10
2.1.3 Nguồn huy động vốn bằng tiền 15
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn bằng tiền xây dựng nông thôn mới 16
2.2 Cơ sở thực tiễn về huy động vốn bằng tiền 19
2.2.1 Kinh nghiêm trên thế giới 19
2.2.2 Kinh nghiệm trong nước 24
2.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra từ tổng quan 29
Trang 6PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 31
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
3.1.2 Đăc điểm kinh tế - xã hội 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 42
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43
3.2.3 Phương pháp xử lí số liệu 44
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 44
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Tổng quan về thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 46
4.1.1 Công tác triển khai chương trình 46
4.1.2 Kết quả thực hiện các nội dung xây dựng NTM 48
4.2 Các hoạt động triển khai huy động vốn bằng tiền cho xây dựng NTM ở huyện Tiên Lữ 53
4.2.1 Xác định nhu cầu và xây dựng kế hoạch vốn cho xây dựng NTM tại huyện Tiên Lữ 53
4.2.2 Kết quả huy động vốn bằng tiền của huyện Tiên Lữ 55
4.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới huy động vốn bằng tiền cho xây dựng NTM tại huyện Tiên Lữ 72
4.3.1 Các chính sách của trung ương, tỉnh, huyện 72
4.3.2 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên 74
4.3.3 Tư tưởng, nhận thức về xây dựng nông thôn mới và năng lực điều hành của cán bộ địa phương 75
4.3.4 Trình độ dân trí và sự nhận thức rõ vai trò chủ thể của người dân 78
4.3.5 Điều kiện kinh tế của người dân 82
4.3.6 Sự tuyên truyền vận động của địa phương 86
4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên 90
Trang 74.4.1 Giải pháp thu hút và giải ngân vốn bằng tiền từ ngân sách nhà nước 91
4.4.2 Giải pháp huy động sự đóng góp từ người dân 93
4.4.3 Giải pháp khai thác quỹ đất, tạo vốn đầu tư xây dựng NTM 99
4.4.4 Giải pháp huy động vốn từ các nhà hảo tâm, tổ chức phi chính phủ, người con quê hương đang sinh sống, làm việc trên mọi miền tổ quốc 100
4.4.5 Giải pháp thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, HTX 101 PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
5.1 Kết luận 104
5.2 Kiến nghị 106
5.2.1 Với trung ương 106
5.2.2 Đối với tỉnh, huyện 106
5.2.3 Đối với xã và cộng đồng 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ : Ban chỉ đạo BCH : Ban chấp hành BHYT : Bảo hiểm y tế CNH : Công nghiệp hóa ĐVT : Đơn vị tính GDP : Thu nhập GTNT : Giao thông nông thôn GTSX : Giá trị sản xuất HĐH : Hiện đại hóa HĐND : Hội đồng nhân dân HTX : Hợp tác xã
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình KT-XH : Kinh tế - xã hội
MTTQ : Mặt trận tổ quốc MTQG : Mục tiêu quốc gia PTNT : Phát triển nông thôn NTM : Nông thôn mới PTNT : Phát triển nông thôn THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông
TM – DV : Thương mại – dịch vụ TTCN : Tiểu thủ công nghiệp UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tiên Lữ trong 3 năm (2011 – 2013) 34
3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Tiên Lữ 36
3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện qua các năm 39
4.1 Công tác tập huấn trên địa bàn huyện Tiên Lữ 48
4.2 Kế hoạch huy động vốn bằng tiền đầu tư xây dựng NTM huyện Tiên Lữ 54
4.3 Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng NTM huyện Tiên Lữ đến 2014 56
4.4 Tình hình khai thác quỹ đất tạo vốn 61
4.5 Kết quả huy động vốn bằng tiền của 3 xã 62
4.6 Kết quả huy động vốn bằng tiền từ nguồn ngân sách của 3 xã 63
4.7 Huy động nhân dân đầu tư, đóng góp tiền XD NTM 67
4.8 Tổ chức tầm nhìn thế giới và người con quê hương hỗ trợ xã Cương Chính 69 4.9 Trình độ học vấn và chuyên môn của lãnh đạo chủ chốt 3 xã 76
4.10 Nhận thức về trách nhiệm của người dân trong XD NTM 79
4.11 Quan điểm của người dân về sử dụng tiền đóng góp 80
4.12 Thu nhập chính của hộ dân trên địa bàn 3 xã 83
4.13 Mức đóng góp so với thu nhập của hộ dân 84
4.14 Quan điểm của người dân về đóng góp tiền cho XD NTM 85
4.15 Tỷ lệ số hộ dân đóng góp xây dựng NTM ở 3 xã 86
4.16 Số lần huy động người dân đóng góp XD NTM ở 3 xã 87
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4.1 Cơ cấu vốn bằng tiền đầu tư xây dựng NTM huyện Tiên Lữ 57 4.2 Sử dụng tiền đóng góp của nhân dân 81 4.3 Nhận thức của người dân về Chương trình XD NTM 89
Trang 11DANH MỤC HỘP
4.1 Hỗ trợ vốn bằng tiền từ ngân sách nhà nước 58
4.2 Tầm Quan trọng của người dân 66
4.3 Đóng góp của doanh nghiệp 75
4.4 Thực hiện Quy chế dân chủ 78
4.5 Quan điểm của cán bộ thôn và người dân 82
4.6 Điều kiện kinh tế của hộ dân ảnh hưởng đến mức đóng góp cho xây dựng NTM 85
4.7 Triển khai công tác tuyên truyền huyện Tiên Lữ 88
4.8 Vận động đóng góp của nhân dân 97
4.9 Công tác dồn điền, đổi thửa 99
Trang 12PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là Chương trình triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, Chương trình mục tiêu của Chính phủ, tỉnh Hưng Yên ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 10/5/2011 của Tỉnh ủy về Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020, định hướng đến 2030 Nghị quyết của Hưng Yên xác định 05 nhóm nhiệm vụ chính trong xây dựng nông thôn mới là: quy hoạch xây dựng nông thôn mới; phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; phát triển kinh tế và quan hệ sản xuất; phát triển văn hóa, xã hội, môi trường; xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội Tổng nguồn vốn đầu tư cho mỗi xã trong giai đoạn từ 2010 đến 2030 khoảng 90 tỷ đồng; trong đó: Vốn ngân sách và có nguồn gốc từ ngân sách 36 tỷ (40%), vốn tín dụng theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ (vốn do các hợp tác xã, doanh nghiệp và
hộ dân vay để phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng hạ tầng nông thôn) là 27 tỷ (30%), vốn của các hợp tác xã, doanh nghiệp là 18 tỷ đồng (20%), vốn của dân cư (dân góp xây dựng hạ tầng nông thôn, kinh phí do dân hiến đất, công lao động, kinh phí xây dựng nhà ở) là 9 tỷ đồng (10%) Mục tiêu đến năm 2020 có 60% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, năm 2030 có 100% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới (Nghị quyết 02-NQ/TU, 2011 ) Như vậy, theo kế hoạch về tổng vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới thì phần vốn bằng tiền đầu tư xây dựng nông thôn mới chiếm trên 90% tổng vốn đầu tư, tương dương trên 81 tỷ đồng mỗi xã
Huyện Tiên Lữ, trong nhiều năm qua, cùng với sự phát triển chung của tỉnh Hưng Yên, của cả nước, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đạt được thành tựu khá toàn diện: nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp ngày càng được nâng cao; nông thôn có bước khởi sắc, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung xây dựng, củng
cố và nâng cấp; đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được cải thiện;
Trang 13công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm thu được kết quả quan trọng; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Tuy nhiên, quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết, đó là: sự phát triển kiến trúc, văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn phần lớn còn tự phát, thiếu định hướng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và đổi mới cách thức sản xuất trong nông thôn còn chậm; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn chiếm tỷ trọng còn thấp; nông nghiệp phát triển thiếu bền vững; năng suất lao động thấp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống; y tế, giáo dục phát triển chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới Tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo còn cao, nông dân còn thiếu công ăn việc làm, thu nhập chưa ổn định; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm, nhưng nhìn chung còn cao hơn bình quân chung của tỉnh Tình hình đó đặt ra yêu cầu bức xúc phải tập trung tạo bước phát triển mới về nông thôn
Sau 4 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, huyện Tiên Lữ đã triển khai thực hiện việc huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới, tổng số kinh phí đầu tư cho xây dựng nông thôn mới là 321,6 tỷ đồng, bình quân mỗi xã được 18,9 tỷ đồng; đến hết năm 2014, mới có 02/14 xã đạt tiêu chí NTM, đây là 2 xã đã có cơ sở hạ tầng tốt, có nhiều tiêu chí đạt trước khi Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai và 2 xã này được chọn làm điểm của huyện nên được đầu tư nhiều hơn các xã còn lại Với kết quả 4 năm xây dựng nông thôn mới như vậy, có thể nhận định, việc hoàn thành Chương trình xây dựng NTM theo đúng kế hoạch đề ra là một thách thức lớn đối với 12 xã còn lại của huyện Mặt khác, trong số nguồn lực để đầu tư xây dựng nông thôn mới ở huyện Tiên Lữ, ngoài phần nhân dân hiến đất để giải phóng mặt bằng làm đường giao thông thì 100% là vốn bằng tiền, bao gồm cả vốn của Trung ương, của tỉnh hỗ trợ, nguồn của huyện, xã, nhân dân và các nhà hảo tâm đóng góp, hỗ trợ cho quê hương; như vậy, nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tiên Lữ có thể hiểu chính là vốn bằng tiền Vậy làm thế nào để huy động nguồn vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn? Các nguồn vốn bằng tiền được huy động và sử dụng như thế nào? Xuất phát từ lý do trên,
tôi chọn đề tài “Giải pháp huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn
mới ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên”
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng huy động vốn bằng tiền và xác định các yếu tố ảnh hưởng để đề xuất giải pháp huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
• Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về huy động vốn bằng tiền cho
xây dựng nông thôn mới;
• Đánh giá thực trạng huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên;
• Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên;
• Đề xuất giải pháp huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới
ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
• Vốn bằng tiền cho xây dựng NTM bao gồm những nguồn nào?
• Huyện Tiên Lữ đã thực hiện những hoạt động nào để huy động vốn bằng tiền cho xây dựng NTM?
• Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn bằng tiền của huyện
là gì?
• Giải pháp nào giúp huyện tăng cường huy động vốn bằng tiền cho xây dưng NTM?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
• Những vấn đề có tính lí luận và thực tiễn về vốn bằng tiền và huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới
• Giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
Trang 151.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi nội dung: Các vấn đề cơ sở lý luận, thực tiễn, thực trạng huy động vốn bằng tiền, các yếu tố ảnh hưởng tới việc huy động vốn bằng tiền cho
xây dựng nông thôn mới
1.4.2.2 Phạm vi không gian: trên địa bàn huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
1.4.2.3 Phạm vi thời gian: Các số liệu liên quan đến nông thôn mới tại huyện được thu thập chủ yếu từ năm 2011 đến năm 2014
Thời gian nghiên cứu đề tài từ 01/01/2015 – 15/9/2015
Trang 16PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Những vấn đề lí luận liên quan đến nông thôn mới và huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới
2.1.1 Lý luận về huy động vốn bằng tiền
2.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
a- Khái niệm vốn bằng tiền
Vốn- capital có nghĩa là tư bản Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về vốn Theo cuốn Kinh tế phát triển (Võ Tất Thắng, 2007) thì có hai loại vốn là vốn sản xuất và vốn đầu tư
Vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của một đơn vị kinh tế hay một quốc gia Trong thực tế, vốn bao gồm tiền mặt, tiền séc và hiện vật Vốn tiền mặt, tiền séc là khoản tích lũy từ thu nhập chưa được tiêu dùng Vốn hiện vật bao gồm các yếu tố vật chất như máy móc, thiết bị, nguyên liệu …
để bảo đảm cho quá trình sản xuất Vốn sản xuất lại được chia thành vốn cố định
và vốn tồn kho Vốn cố định bao gồm: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải … Vốn tồn kho bao gồm nguyên nhiên vật liệu, hàng sơ chế, hàng thành phẩm nhưng chưa tiêu thụ
Vốn đầu tư là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm việc thay thế, phục hồi, sửa chữa, phát triển mới các công trình kinh tế xã hội Vốn đầu tư nhằm bù đắp sự hao mòn các tài sản quốc gia trong quá trình sử dụng; tăng mới tài sản quốc gia, đồng thời bảo đảm tăng trưởng, phát triển kinh tế Vốn đầu tư cũng được chia làm 2 loại: đầu tư cho tài sản sản xuất và đầu tư cho tài sản phi sản xuất Vốn đầu tư cho sản xuất là chi phí dể thay thế tài sản cố định bị thải loại để tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm tài sản tồn kho Vốn đầu tư cho phi sản xuất chủ yếu là công trình công cộng, phúc lợi xã hội
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn
Trang 17bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận
sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ Tiền là một chuẩn mực chung
để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp
vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được
Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc Các trạng thái tồn tại của tiền bao gồm: Tiền mặt -
là khoản tiền mà các cá nhân, tổ chức giữ lại tại quỹ của mình; tiền gửi Ngân hàng
- là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức đang gửi tại Ngân hàng, kho bạc hay các công ty tài chính; tiền đang chuyển - gồm các khoản tiền nội tệ và ngoại tệ mà các cá nhân, tổ chức đã nộp cho ngân hàng, kho bạc nhà nước hay đã gửi qua bưu điện để chuyển cho ngân hàng, hoặc đã làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng để trả cho các tổ chức, cá nhân khác, nhưng vẫn chưa nhận được giấy báo nợ hay bảng kê của ngân hàng, hoặc giấy báo của kho bạc Theo quy định thì tiền đang chuyển bao gồm: Tiền mặt, séc chuyển thẳng vào ngân hàng, số tiền chuyển qua bưu điện tới ngân hàng hay đối tượng khác
Theo Vũ Thị Hà Thanh (2013), trên phương diện xây dựng nông thôn mới, nguồn lực tài chính được hiểu là vốn bằng tiền, là khối lượng tiền cần huy động từ các quỹ khác nhau để đầu tư xây dựng các hạng mục công trình như phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, các hình thức tổ chức sản xuất, văn hóa – xã hội – môi trường,
hệ thống chính trị nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn của nước ta
b- Khái niệm huy động vốn bằng tiền
Theo Đồng Minh Quân (2014) thì huy động vốn bằng tiền được hiểu là các biện pháp mà các chủ thể, nhà nước, các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế v.v
Trang 18triển khai, thực hiện với mục đích huy động nguồn lực tài chính với quy mô cần thiết, phải có để sử dụng vào các mục đích khác nhau như đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội v.v…
Để huy động vốn bằng tiền, các chủ thể, nhà nước, các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế v.v…cần phải triển khai đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều hình thức khác nhau, các hình thức chủ yếu đó là:
* Huy động trực tiếp
Đây là hình thức huy động từ các chủ thể (ngân sách nhà nước, chủ các nông hộ) để đầu tư vốn cho phát triển kinh tế Trong hình thức huy động này, quyền sở hữu vốn và sử dụng vốn gắn liền với nhau không tách rời Do huy động vốn bằng tiền từ các chủ thể nên rất chủ động trong sử dụng vốn, tuy nhiên theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nếu xét theo hiệu quả kinh tế xã hội thì do không tính chi phí vốn (lãi vay) nên nhiều khi vốn huy động trực tiếp sử dụng không hiệu quả, lãng phí
* Huy động gián tiếp
Đây là hình thức các chủ thể huy động từ các nguồn khác không phải của mình (ngân sách nhà nước vay của dân, các tổ chức tín dụng, vay nợ nước ngoài, nông hộ vay của tổ chức tín dụng v.v…) để đầu tư phát triển kinh tế xã hội Trong hình thức huy động này, quyền sở hữu vốn và sử dụng vốn được tách dời nhau Do huy động nguồn lực tài chính không phải từ chủ thể nên nhiều khi mất tính chủ động trong sử dụng vốn, tuy nhiên do có tính chi phí vốn (lãi vay) nên hầu hết nguồn lưc này được sử dụng tương đối hiệu quả
2.1.1.2 Các kênh huy động vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới
Theo quyết định số 800/QĐ-TTg- ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ thì có 04 kênh huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới là:
a- Huy động từ ngân sách nhà nước, gồm:
- Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án hỗ trợ
có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn, khoảng 23%;
- Vốn trực tiếp cho chương trình khoảng 17%, gồm:
Trang 19+ Hỗ trợ 100% từ ngân sách Trung ương cho: Công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm xã; xây trụ sở xã; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán
bộ hợp tác xã
+ Hỗ trợ một phần từ ngân sách Trung ương cho xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; phát triển sản xuất dịch vụ; nhà văn hóa thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản;
+ Mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương căn cứ theo tình hình điều kiện kinh tế xã hội và phù hợp với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ưu tiên cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối được ngân sách, địa bàn đặc biệt khó khăn và những địa phương làm tốt
b- Nguồn vốn tín dụng vay cho xây dựng NTM chiếm khoảng 30% kinh phí đầu
tư xây dựng nông thôn mới, gồm:
- Đối tượng là hộ gia đình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn,
cá nhân, chủ trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn nông thôn, các tổ chức
cá nhân cung ứng các dịch vụ phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi, tiêu thụ, chế biến sản phẩm nông nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn
- Các lĩnh vực được ưu tiên: sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, diêm, thủy sản; phát triển ngành nghề tại nông thôn; đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn; kinh doanh sản phẩm và dịch vụ phụ vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông – lâm – diêm – thủy sản trên địa bàn nông thôn
-Các cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác, chủ trang trại được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có đảm bảo bằng tài sản thế chấp với mức:
+Tối đa đến 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp
Trang 20+Tối đa đến 200 triệu đồng đối với hộ sản xuất ngành nghề và dịch vụ nông nghiệp
+ Tối đa 500 triệu đồng đối với chủ trang trại, tổ hợp tác xã
Người vay chỉ phải nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nguồn vốn tín dụng, vốn vay Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam để làm công trình xử lí môi trường
c- Huy động từ hợp tác xã, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp chiếm khoảng 20% kinh phí xây dựng nông thôn mới
Mô hình Hợp tác xã đã có từ rất lâu đời và hơn 100 năm nay nó vẫn khẳng định vai trò và vị trí của mình trong phát triển kinh tế hộ nói riêng và kinh
tế thôn bản nói chung Các thành viên trong hợp tác xã đều là người trong xã, giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm, rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Họ là những người nhanh nhạy nhất với các vấn đề phát triển Vì vậy họ sẵn sàng góp vốn cho xây dựng nông thôn mới nếu dự án có tính khả thi
Vốn các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn nông thôn hiện nay:
Để thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, các doanh nghiệp đóng vai trò không nhỏ Thực hiện chính sách đổi mới, cơ chế cởi mở nhằm kêu gọi đầu tư tài chính từ các doanh nghiệp trong địa phương, các doanh nghiệp có dự án ở địa phương vào xây dựng nông thôn mới với mục đích đầu tư kết cấu hạ tầng để mở rộng quy mô doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiêp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
d- Huy động từ cộng đồng
Quyết định số 695/QĐ – TTg của Chính phủ quy định chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương Nhân dân trong xã bàn bạc và quyết định mức đóng góp cụ thể cho từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân dân xã thông qua
Trang 21Vốn bằng tiền từ cộng đồng bao gồm phần tiết kiệm của người dân, phần tích lũy của các doanh nghiệp, các hợp tác xã, tổ chức kinh tế…
Theo Vũ Thị Hà Thanh (2013), vốn bằng tiền từ dân phụ thuộc vào thu nhập
và chi tiêu của các hộ gia đình; quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
- Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỉ lệ tiết kiệm thấp)
- Tập quán tiêu dùng của người dân
- Chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập
và các khoản đóng góp đối với xã hội
Đối với các hộ nghèo thay vì tiền có thể đóng góp bằng ngày công lao động, vật tư, cây giống…
2.1.2 Lý luận về nông thôn mới
2.1.2.1 Khái niệm về nông thôn
Hiện nay chưa có khái niệm nào chuẩn xác về nông thôn Theo Hoàng
Phê (1994) , nông thôn được định nghĩa là “Khu vực dân cư tập trung chủ yếu
làm nghề nông”
Ngoài ra còn có định nghĩa khác như: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lí bởi cấp hành
chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã (Đặng Kim Sơn, 2008)
Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu; “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”
Trang 22Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây
là chương trình mục tiêu quốc gia mang tính toàn diện, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực phát triển lâu dài, bền vững ở khu vực nông thôn, hướng đến “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Năm 2009, mô hình này được xây dựng thí điểm trên 11 xã Sau Quyết định
số 193/QĐTTg ngày 2/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng NTM, với mục tiêu từ nay đến năm 2011 sẽ cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước, làm cơ sở để đầu
tư xây dựng NTM thì NTM được xây dựng trên nhiều địa phương.Cho đến nay khái niệm NTM đã không còn mới mẻ với người dân nông thôn
Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển;
có sự đổi mới về tổ chức; vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vân dụng trên cả nước
Xây dựng NTM là tập hợp các chương trình phát triển nông thôn, mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm và tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm dịch vụ trong một thời gian xác định
và thỏa mãn các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn với các đặc trưng:
• Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng – xã
• Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của nông dân
• Người dân chủ động trong việc xây dựng kế hoạch phát triển, thu hút sự tham gia đầy đủ của các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được mục tiêu đề
ra có tính hiệu quả cao
• Việc thực hiện kế hoạch được dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của bản thân người dân, thay cho việc dựa vào hỗ trợ từ bên ngoài
• Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao
• Nguồn vốn từ bên ngoài được phân bổ và quản lí sử dụng có hiệu quả Mục tiêu xây dựng mô hình NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với
Trang 23phát triển nhanh công nghiệp dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã nông thôn ổn đinh, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tê –
xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công CNH – HĐH đất nước theo định hướng XHCN (Vũ Thị Hà Thanh, 2013)
Như vậy có thể quan niệm mô hình NTM là mô hình áp dụng theo các tiêu chí của chính phủ nhằm làm thay đổi bộ mặt của nông thôn ngày nay, tiếp cận với thời đại mới; xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp tiên tiến; phát triển nông thôn gắn với đô thị, xã hội nông thôn văn minh, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng cao
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:
- Quy hoạch về xây dựng nông thôn mới: gồm quy hoạch sử dụng đất và
hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường, phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
• Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 35% xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn ( các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa)
• Hoàn thiện hệ thống các công trình, đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 85% xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn
Trang 24• Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 50% số xã đạt tiêu chí và đến
2020 có 75% số xã đạt chuẩn
• Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc tiêu chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và đến 2020 có 75%
số xã đạt chuẩn
• Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến năm 2015 có 65%
số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn
• Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lơi trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 45% số
xã đạt tiêu chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên kiên cố hóa) Đến năm 2020 có 77% số
xã đạt chuẩn ( cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)
-Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập: Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế, tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu ứng dựng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông – lâm – nghiệp đồng thời bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng mỗi sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông
thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
-Giảm nghèo và an sinh xã hội gồm: Thực hiện có hiệu quả Chương trình
giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao ( Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và thực hiện các chương
trình an sinh xã hội
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
Trang 25- Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn: Tiếp tục thực Chương trình
mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, phấn đấu mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí
số 5 và14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới, đến năm 2015 có 45% xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn
- Phát y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn: Tiếp tục thực hiện
Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới
- Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn: Tiếp
tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới và thực hiện thông tin và truyền thông nông
thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Tiếp tục thực hiện
Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lí rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển
cây xanh ở các công trình công cộng…
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp
ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới, ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ đã đươc đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đôi ngũ cán bộ ở các vùng này, bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức
trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn: Ban hành nội quy, quy ước
làng xóm về trật tự, an ninh, phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu đồng thời điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật
tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
Trang 262.1.3 Nguồn huy động vốn bằng tiền
Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ đa dạng hóa việc huy động vốn để triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; đó là:
- Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn, bao gồm: Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo gồm: chương trình giảm nghèo; chương trình quốc gia về việc làm; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; chương trình phòng, chống tội phạm; chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình; chương trình phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh nguy hiểm và HIV/AIDS chương trình thích ứng biến đổi khí hậu; chương trình về văn hóa; chương trình giáo dục đào tạo; hỗ trợ đầu
tư trụ sở xã; hỗ trợ chia tách huyện, xã; hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi…; đầu tư kiên cố hóa trường, lớp học; kiên cố hóa kênh mương; phát triển đường giao thông nông thôn; phát triển cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, làng nghề…; vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của chương trình này, bao gồm cả trái phiếu Chính phủ (nếu có);
- Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình Hội đồng nhân dân tỉnh quy định tăng tỷ lệ vốn thu được
từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ đi chi phí) để lại cho ngân sách xã, ít nhất 70% thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới;
- Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ngân sách nhà nước hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật;
- Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do Hội đồng nhân dân xã thông qua;
Trang 27- Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư;
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng: Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được trung ương phân bổ cho các tỉnh, thành phố theo chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn và theo danh mục quy định tại Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ; vốn tín dụng thương mại theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn
- Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn bằng tiền xây dựng nông thôn mới
- Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước: Chương trình xây dựng NTM là quá trình chuyển đổi nông thôn truyền thống sang một xã hội nông thôn hiện đại, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu hướng phát triển chung của các nước trong khu vực và trên thế giới Đây là Chương trình đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, cần sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế - xã hội
và phải đầu tư trong khoảng thời gian tương đối dài hàng thập kỷ, nếu không có chính sách đầu tư của Nhà nước thì rất khó thực hiện Kinh nghiệm các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan … cho thấy chính phủ của
họ cũng đều có những chính sách đầu tư, hỗ trợ để đẩy nhanh xây dựng NTM Ở nước ta, Chính phủ cũng đã ban hành một loạt cơ chế, chính sách để huy động vốn cho Chương trình xây dựng nông thôn mới như: Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 695/QĐ-TTg, ngày 08/6/2012 về việc sửa đổi nguyên tắc cơ chế
hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; Nghị quyết số 02- NQ/TU, ngày 10/5/2011 của Tỉnh ủy
Trang 28Hưng Yên về Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2030
- Cơ chế huy động vốn trong xây dựng nông thôn mới
Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ cơ chế huy động vốn để xây dựng nông thôn mới bao gồm: vốn từ các chương trình, dự án
có mục tiêu quốc gia; vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật; các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân địa phương cho từng dự
án cụ thể; các khoản việc trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước…
-Chất lượng nguồn nhân lực trong xây dựng nông thôn mới
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố hàng đầu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, nguồn nhân lực là cán bộ địa phương, người dân, các cá nhân trong tổ chức có liên quan đến xây dựng nông thôn mới, người con của quê hương đang làm ăn, công tác ở các địa phương khác, các nhà hảo tâm, là nhân tố quan trọng, có đóng góp lớn về vật phải có biện pháp phát huy vài trò chủ thể của nhân dân địa phương, làm sao để người dân địa phương thấy được vai trò, trách nhiệm, quyền lợi của mình trong quá trình xây dựng nông thôn mới Cán bộ địa phân phải thấy được vai trò trung tâm của mình trong việc tập hợp nhân dân địa phương cùng chung vai gánh vác trách nhiệm, phát huy được lòng yêu quê hương của những người con xa quê, các nhà hảo tâm để tranh thủ nguồn lực cả về kinh nghiệm, trí tuệ và vốn bằng tiền
Tổ chức quá trình huy động vốn bằng tiền, quản lý vốn và thi công các công trình bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả, tạo được sự tín nhiệm của nhân dân, các cấp quản lý và những người có liên quan
- Điều kiện kinh tế hộ gia đình và tình hình phát triển kinh tế của địa phương
Hộ gia đình chính là đơn vị kinh tế có trách nhiệm vô hạn đối với những quyết định kinh tế của mình Nghị định số 66/HĐBT, ngày 02/3/1229; Luật doanh nghiệp 2005 đã khẳng định: chủ hộ có trách nhiệm vô hạn về vốn và kết quả sản xuất kinh doanh của mình, mặt khác nhà nước cũng có những chính sách
Trang 29tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với quy mô để hộ gia đình có thể chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và các hoạt động theo pháp luật Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, số hộ có các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ngày càng nhiều; quy mô kinh tế của các hộ gia đình ngày càng phát triển, ngày càng có nhiều các trang trại, gia trại trồng trọt, chăn nuôi với quy mô ngày càng lớn so với những năm trước; nhiều hộ gia đình tham gia các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
ở nông thôn Việc số lượng các hộ gia đình có các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như quy mô sản xuất, kinh doanh của các hộ ngày càng tăng là điều kiện thuận lợi để các hộ gia đình ở nông thôn có khả năng đóng góp vốn bằng tiền cho quá trình xây dựng nông thôn mới
Tình hình phát triển kinh tế của địa phương cũng là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nông thôn mới Một địa phương có điều kiện kinh tế phát triển thì người dân địa phương dễ kiếm việc làm và thu nhập của người lao động
sẽ cao hơn so với những địa phương có tình hình kinh tế kém phát triển hơn Người dân có việc làm, có thu nhập cao thì hộ gia đình cũng sẽ có thu nhập cao,
có diều kiện tốt để tham gia các khoản đóng góp bằng tiền cho địa phương Như vậy, trong xây dựng nông thôn mới, điều kiện kinh tế hộ gia đình và tình hình phát triển kinh tế của địa phương có tác động lớn đến việc huy động vốn bằng tiền của nhân dân để xây dựng nông thôn mới Những nơi kinh tế hộ gia đình phát triển, tình hình kinh tế của địa phương phát triển sẽ có điều kiện tốt hơn để huy động vốn bằng tiền trong dân cho xây dựng nông thôn mới, và ngược lại, kinh tế hộ gia đình kém hơn, tình hình kinh tế địa phương kém phát triển sẽ khó khăn vè vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới
- Lợi ích đạt được khi xây dựng nông thôn mới
Lợi ích là yếu tố quyết định cho mọi hành động Trong trường hợp xây dựng nông thôn mới, khi người nông dân nhìn thấy được lợi ích của mình trong
đó thì họ sẽ giành tâm huyết, thời gian và tiền bạc cho việc xây dựng nông thôn mới Lãnh đạo địa phương phải có trách nhiệm tuyên truyền, vận động để người
Trang 30nông dân thấy được những lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài trong việc đầu tư xây dựng nông thôn mới
Lợi ích đầu tiên và rễ nhận biết nhất khi đầu tư hệ thống giao thông nông thôn, giao thông và thủy lợi nội đồng đó là việc đi lại của người dân, tưới tiêu được thuận tiện, việc vận chuyển hàng hóa dễ dàng sẽ kích thích lưu thông hàng hóa, chi phí vận chuyển giảm, sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân Hệ thống cơ sở hạ tầng về điện, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, thông tin … được đầu tư nâng cấp sẽ tạo thuận lợi cho việc chăn sóc, rèn luyện sức khỏe, nâng cao dân trí, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ, từng bước tạo ra
bộ mặt nông thôn mới phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện Khi người nông dân hiểu
rõ được những lợi ích đó, họ sẽ tích cực, hăng hái đầu tư cả công sức và tiền bạc cho Chương trình xây dựng nông thôn mới
2.2 Cơ sở thực tiễn về huy động vốn bằng tiền
2.2.1 Kinh nghiêm trên thế giới
2.2.1.1 Trung Quốc
Theo nghiên cứu của Mai Thị Phương Thảo (2013), Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn có 1,2 tỷ dân, trong đó có hơn 900 triệu người sống ở nông thôn Dân số Trung Quốc chiếm 21% dân số thế giới, trong khi đó diện tích đất canh tác chỉ chiếm có 9% của thế giới Từ năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn theo hướng xây dựng nông thôn phát triển đồng bộ, toàn diện Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công an xã nhân dân, xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh,
là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển
từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực
Trang 31Để có vốn xây dựng, phát triển nông thôn, Trung Quốc rất tích cực tìm kiếm các khoản vay ưu đãi với mức lãi suất thấp từ các tổ chức kinh tế quốc tế
Hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nông thôn, đặc biệt xác định danh sách các doanh nghiệp cần ưu tiên phát triển tại từng vùng để hỗ trợ Xây dựng hệ thống tín dụng nhỏ kiểu Gramy Bank Băng la đét cho các vùng khó khăn; hỗ trợ, cổ vũ các địa phương phát triển các quỹ phát triển xã hội, lãi suất đựơc để tại địa phương Cho phép các ngân hàng tư nhân, hộ kinh doanh tín dụng thành lập và phát triển; qua đó, đã chính thức hóa kinh doanh tiền tệ, giảm cho vay nặng lãi ở nông thôn Các tổ chức, cá nhân có hơn 10 vạn nhân dân tệ sẽ đủ điều kiện để đăng kí kinh doanh tín dụng và được Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh tiền tệ Nhà nước khuyến khích các tổ chức xã hội, cá nhận thành lập các quĩ cho vay Chẳng hạn, thời điểm sản lượng lương thực giảm trong 5 năm liên tiếp, đến năm 2004, Trung Quốc đã thực hiện trợ cấp trực tiếp giống, mua máy móc, dụng cụ nông nghiệp, trợ cấp giá đảm bảo để nông dân trồng lương thực có lãi Hay khi giá vật tư nông nghiệp, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu… biến động, Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho vật tư sản xuất
Chính nhờ những chính sách hợp lý đã có tác động lớn đến việc huy động vốn để đầu tư xây dựng khu vực nông thôn của Trung Quốc Riêng năm trong
2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn tăng 8.5% so với năm trước, lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội, để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách Nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi, , một phần dùng để xây nhà
ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách Nhờ đó, đến năm 2010 nông thôn Trung Quốc có kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh Cụ thể: 95% số thôn
có đường bộ đến trung tâm thôn; 98.7% số thôn có điện; 97.6% số thôn có điện thoại; cải tạo và xây dựng mới 188.000 trạm y tế Chỉ tính trong 5 năm tài chính,
Trang 32Nhà nước Trung Quốc đã xây dựng và cải tạo 1.3 triệu km đường nông thôn, cải tạo 22.000 trường tiểu học và trung học nông thôn không an toàn Sau 30 năm phát triển, từ một nước nghèo, Trung Quốc đã trỗi dậy như một hiện tượng thần
kì của khu vực Châu Á và trên thế giới
Tuy nhiên,Trung Quốc quy định rất ngặt nghèo trong vấn đề thu hồi đất nông nghiệp Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước luôn duy trì 1.8
tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên Hiện ở Trung Quốc, nhiều địa phương thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, đã phải trả lại cho nông dân sản xuất nông nghiệp Đối với những khoản tiền thu được từ phát triển công nghiệp (sau khi lấy đất nông nghiệp) được chuyển về chính quyền thôn xã để hỗ trợ lại cho phát triển nông nghiệp Việc lấy đất nông nghiệp có thể thực hiện theo hình thức đất đổi đất, do chính quyền địa phương thực hiện trong quy hoạch, tùy thuộc vào chất lượng, vị trí đất như thế nào Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn Đồng thời, nước này cũng đang nghiên cứu để nông dân có thể dùng đất canh tác thế chấp ngân hàng vay vốn; giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn thực hiện chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Bên cạnh việc triển khai thực hiện các chính sách để tăng cường huy động vốn cho phát triển nông thôn, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ
Tổng kết kinh nghiệm 20 năm cải cách và phát triển nông nghiệp, nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ: “ Không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không
có sự sung túc của nhân dân”
Trang 332.2.1.2 Hàn Quốc: phát huy nội lực của nhân dân
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Hà Thanh (2013), Hàn Quốc xây dựng nông thôn mới từ cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, trong điều kiện GDP bình quân đầu người 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo Từ suy nghĩ đó, Hàn Quốc đã phát động phong trào Làng mới (SU) với 3 tiêu chí: cần
cù, tự lực vượt khó và hợp tác Mục tiêu của phong trào này là nhằm biến đổi
cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối
cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn
Để huy động nguồn vốn bằng tiền cho xây dựng nông thôn mới, Hàn Quốc có chủ trương phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ
ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép
Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Sự trợ giúp này của nhà nước chỉ giữ vai trò là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, người dân mới là chủ thể của phong trào, họ tự quyết định mức đóng góp cho các công trình,
dự án, tự quản lý, tổ chức thực hiện
Với các làm như vậy, chỉ trong 8 năm, từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi
Trang 34làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào Năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế
2.2.1.3.Thái Lan: Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, từ năm 1977 Thái Lan đã lựa chọn chiến lược xuất khẩu nông sản Chiến lược đó đặt mục tiêu làm cho những nông sản có ưu thế của Thái Lan với tính cách một nước nhiệt đới có thể chiếm lĩnh được thị trường thế giới bằng chính sản phẩm nông nghiệp đã kinh qua chế biến Công nghiệp chế biến được chọn là khâu đột phá để thực hiện chiến lược này Từ quan điểm đó, họ đã xúc tiến các hoạt động:
Một là, công nghiệp hoá nông nghiệp với nghĩa là làm cho nông nghiệp trở thành một khâu gắn chặt với công nghiệp làm hàng xuất khẩu và do đó phải phát triển các doanh nghiệp trong công nghiệp đảm nhận liên hiệp với nông dân tạo ra sản phẩm để chế biến có hiệu quả xuất khẩu cao
Hai là, để có được nền công nghiệp chế biến mạnh như vậy thì phải làm nông nghiệp theo một kiểu tổ chức khác Tổ chức đó như cách của Thái Lan (có
lẽ cũng là nước đầu tiên trong số các nước đang phát triển) là đi theo công thức 4 nhà: Nhà nước + nhà doanh nghiệp + nhà ngân hàng + nhà nông
Công thức của Thái Lan nhắm vào việc lập ra các doanh nghiệp kinh doanh nông sản xuất khẩu theo hướng cả 4 nhà đi từ đầu đến cuối của quá trình sản xuất Hình thức kết hợp linh động thay đổi theo từng loại công việc và sản
Trang 35phẩm, nhưng về nguyên tắc, thì cả 4 nhân vật này đều là chủ thể của quá trình sản xuất: Chính phủ địa phương chịu trách nhiệm tạo dựng cơ sở hạ tầng, nhất là đường xá, chọn các nông hộ có khả năng tham gia liên kết với doanh nghiệp ngay từ lúc đầu, chọn những làng xã nào để thực hiện dự án sản xuất; Ngân hàng
có trách nhiệm đầu tư vốn vào việc xây dựng các cơ sở chăn nuôi hoặc trồng trọt cho từng hộ nông dân đã được chọn; Doanh nghiệp chịu trách nhiệm cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Kết thúc quá trình sản xuất và tiêu thụ, lợi nhuận sẽ được chia cho 4 bên theo tỷ lệ thích hợp, chính phủ thu lợi qua thuế, ngân hàng thu lợi qua lợi tức cho vay, doanh nghiệp thu lợi qua lợi nhuận, nông dân thu lợi qua lợi nhuận và trừ dần các khoản đầu tư về thiết bị dài hạn Sau 5 - 7 năm, các thiết bị, nhà xưởng, máy móc đã đầu tư cho nông hộ sẽ
do nông hộ sở hữu hoàn toàn
Như vậy, nông hộ không bị lép vế như là người vay lãi ngân hàng hay mang nợ doanh nghiệp Do đó, cũng không xẩy ra tình trạng phải phạt nông dân khi họ không tôn trọng hợp đồng như có thể thấy ở các nơi khác Kết quả là Thái Lan có được một hệ thống các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nông nghiệp và
hệ thống các vùng kinh tế nông nghiệp chuyên môn hoá có quy mô hợp lý.Thái Lan đã có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu
vào sự liên kết này (Trần Thị Nhàn, 2013)
2.2.2 Kinh nghiệm trong nước
Theo Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tháng 5/2014, trong 3 năm (2011-2013) đã huy động được hơn 485 nghìn tỷ đồng Trong đó, ngân sách nhà nước (NSNN) chiếm 33,4% (vốn hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình chiếm 10,3% tổng vốn huy động cho Chương trình (gồm NSTW chiếm 1,1% và NSĐP các cấp là 9,2%), vốn lồng ghép 23,1%), vốn tín dụng 47,7%, vốn huy động từ các doanh nghiệp 6% và dân đóng góp chiếm 12,9%
Điểm nổi bật là các hình thức huy động được thực hiện khá đa dạng Đối với nguồn hỗ trợ từ ngân sách bao gồm các nguồn NSTW hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình; ngân sách tỉnh hỗ trợ (Bao gồm hỗ trợ trực tiếp từ nguồn chi sự nghiệp kinh tế trong dự toán ngân sách hàng năm; hỗ trợ qua cơ chế để lại số thu
Trang 36tại xã để xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ qua cơ chế để lại số thu tiền sử dụng đất cho các xã xây dựng nông thôn mới…); vốn lồng ghép từ các chương trình,
dự án Nguồn vốn tín dụng được huy động chủ yếu thông qua hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; Ngân hàng phát triển Việt Nam Vốn huy động từ doanh nghiệp được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức hỗ trợ tiền mặt hoặc sản phẩm của doanh nghiệp (như xi măng, sắt thép, gạch, ngói, ), tham gia đầu tư trực tiếp Các hình thức huy động từ cộng đồng bao gồm tiền mặt; hiện vật (như đất đai, hoa màu và các tài sản gắn liền với đất,…) ngày công lao động, và các hình thức xã hội hoá khác
Cơ chế huy động khá linh hoạt đã tạo sự chủ động cho các địa phương trong huy động nguồn lực Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách của Trung ương để ban hành thêm nhiều cơ chế, chính sách phù hợp với địa phương như chính sách cấp xi măng để dân tự làm đường (Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Ninh Bình), chính sách hỗ trợ lãi suất để khuyến khích nông dân vay chuyển đổi cơ cấu sản xuất (thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng) hoặc mua máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp (An Giang, Đồng Tháp, Thái Bình), chính sách phát triển mỗi làng một sản phẩm (Quảng Ninh) hay xây dựng cơ chế vốn mồi nhằm lôi cuốn, kích thích nguồn vốn huy động đóng góp từ các cá nhân, tổ chức kinh tế trên địa bàn (Đồng Nai, Thái Bình)…
Bên cạnh những kết quả tích cực kể trên, công tác huy động vốn xây dựng nông thôn mới còn nhiều khó khăn thách thức, như: Nguồn huy động từ doanh nghiệp còn hạn chế và có khoảng cách lớn nhất so với mục tiêu đề ra Nguồn ngân sách trực tiếp cho Chương trình cũng đạt thấp so với mục tiêu đề ra 17% Bên cạnh đó, nguồn NSTW bố trí cho Chương trình trong 3 năm qua còn chưa đảm bảo theo cam kết (mới đạt khoảng 30% so với kế hoạch phân bổ được Quốc hội thông qua cho cả giai đoạn 2011-2015), nguồn vốn hỗ trợ chuyển về còn chậm đã ảnh hưởng tới kế hoạch và tiến độ triển khai thực hiện Cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng và chưa quan tâm tới đặc thù từng địa phương Tại nhiều địa phương hiện mới chỉ tiến hành ghép vốn đối với các công việc, mục tiêu có cùng nội dung, trong khi điều này lại gây khó
Trang 37trong tổng hợp kết quả đạt được của từng dự án, chương trình từ việc ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn Một điểm đáng quan tâm
nữa là nguồn lực huy động từ dân cư có xu hướng tăng trong những năm đầu
thực hiện nhưng sau đó giảm mạnh Trong những năm đầu thực hiện, đóng góp của dân cư chủ yếu ở việc hiến đất và tài sản trên đất, nhưng những năm sau đó huy động từ dân cư sẽ giảm tương đối và chỉ tập trung ở hình thức đóng góp ngày công lao động và tiền mặt
Trên thực tế, xây dựng và phát triển nông thôn mới là một quá trình lâu dài và cần có một chiến lược, kế hoạch huy động nguồn lực cụ thể Theo đó, một trong những giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện tốt việc huy động nguồn lực cho Chương trình là NSTW cần đảm bảo nguồn lực thực hiện Chương trình theo cam kết cũng như đảm bảo nguồn vốn được cấp đúng thời gian để bảo đảm tiến độ thực hiện Chương trình; Đẩy nhanh việc thực hiện giải ngân nguồn vốn TPCP thực hiện Chương trình năm 2014 theo Quyết định 195/QĐ-TTg ngày 25/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ; rà soát lại các chương trình để tránh sự trùng lắp trong đầu tư, đảm bảo nguồn lực thực hiện Chương trình bởi thực tế hiện nay có nhiều CTMTQG, CTMT có nội dung, hoạt động trùng lắp với CTMTQG xây dựng nông thôn mới
Bên cạnh đó, cần tăng cường nguồn thu cho NSĐP thông qua việc xác
định lại nguồn thu phân cấp cho các địa phương trên cơ sở Luật NSNN sửa đổi
và thông qua việc rà soát xác định quỹ đất, tạo quỹ đất sạch để thực hiện đấu giá; tăng cường công tác đấu giá quyền sử dụng đất và thu hẹp đối tượng giao đất; đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Ngoài ra, một số giải pháp khác cũng cần được tiến hành đồng bộ để đảm
bảo thực hiện tốt việc huy động nguồn lực cho Chương trình là: Tập trung tháo
gỡ khó khăn, vướng mắc về tiếp cận tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn thông qua việc đơn giản hóa thủ tục hành chính về cho vay, nghiên cứu điều chỉnh linh hoạt đối tượng, phạm vi và điều kiện cho vay, tạo thuận lợi cho người dân trong vay vốn phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như đa dạng hóa sản phẩm tín dụng và phát triển bảo hiểm nông nghiệp; Quan tâm cải thiện môi
Trang 38trường đầu tư ở nông thôn thông qua tăng đầu tư từ NSNN cho phát triển cơ sở
hạ tầng, đặc biệt là ở các vùng khó khăn Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người dân nông thôn, gắn với nhu cầu thiết thực của người dân Từ đó nâng cao khả năng kinh tế của người dân nông thôn nhằm tăng mức đóng góp trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới; thực hiện tốt Chỉ thị 18/CT-TTg ngày 15/7/2014 về tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới và Công văn số 1447/TTg-KTN ngày 13/8/2014 về huy động vốn góp của dân để thực hiện CTMTQG xây dựng nông thôn mới, đảm bảo việc huy động vốn thực hiện Chương trình linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với từng địa phương; quan tâm tới vai trò của các tổ chức đoàn thể trong huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới Quan tâm thu hút sự hỗ trợ nguồn lực từ bên ngoài thông qua việc xây dựng công khai, kế hoạch về các dự án cụ thể theo từng năm để huy động nguồn lực cho xây dựng Chương trình nông thôn mới
Thực tế, sau 3 năm triển khai đã cho thấy, chủ trương xây dựng nông thôn mới là chủ trương quan trọng, hết sức đúng đắn, hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ Tới đây với sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, sự đồng tình, hưởng ứng tích cực của nhân dân cả nước, cũng như việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp kể trên, chương trình xây dựng nông thôn mới chắc chắn sẽ tiếp tục đạt được nhiều kết quả quan trọng, tích cực (Nguồn: Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, 2014)
Tại tỉnh Vĩnh Phúc, sau 3 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, tỉnh đã huy động đầu tư trên 10.920 tỷ đồng, vận động nhân dân đóng góp 483.676m2 đất và góp 94.479 ngày công lao động xây dựng các công trình nông thôn Đến hết năm 2013, có 20 xã đã về đích nông thôn mới, 45 xã đạt 10 –
17 tiêu chí, 47 xã đạt 5 – 9 tiêu chí, là tỉnh đứng thứ nhất cả nước về tỷ lệ tiêu chí
và đứng thứ 2 về số xã đạt chuẩn Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 17 triệu đồng năm 2011 lên trên 27 triệu đồng/người năm 2013; tỷ lệ
hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm 1,5 – 2% Toàn tỉnh đã cứng hóa 84% đường trục xã, 80,2% đường trục thôn, xóm; 24,5% đường giao thông nội đồng; kiên cố hóa 113 km kênh mương nội đồng; 100% số xã có lưới điện quốc gia với tỷ lệ hộ
Trang 39sử dụng điện thường xuyên, an toàn đạt 98% Mạng lưới chợ nông thôn được nâng cấp, xây mới góp phần phục vụ nhu cầu trao đổi, lưu thông hàng hóa, mở rộng thị trường và phục vụ đời sống nhân dân Trong 3 năm, Vĩnh Phúc có thêm
81 trường đạt chuẩn quốc gia, xây mới 935 phòng học kiên cố; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS, bổ túc, học nghề đạt 92% Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cán bộ, nhân dân được quan tâm, tỷ lệ người dân tham gia đóng bảo
hiểm y tế đạt 61,5% (UBND tỉnh Vĩnh Phúc, 2014)
Tỉnh Hưng Yên, qua 03 năm triển khai thực hiện Chương trình, tổng
nguồn vốn đã huy động khoảng 17.671,5 tỷ đồng để xây dựng NTM Trong
đó: Vốn trực tiếp cho Chương trình 1.208 tỷ đồng (vốn CTMTQG NTM trên 71 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách tỉnh 79,2 tỷ đồng, vốn ngân sách huyện + xã khoảng 1.057,8 tỷ đồng); vốn lồng ghép các chương trình, dự án 1.121,5 tỷ đồng; vốn huy động từ các doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ 1.612,6 tỷ đồng; vốn nhân dân đóng góp 12.606,9 tỷ đồng; vốn khác 1.122,5 tỷ đồng; các tổ chức, cá nhân đã vay gần 10.000
tỷ đồng từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại để đầu tư phát triển sản xuất,
nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân (UBND tỉnh Hưng Yên, 2014)
Từ những kết quả đạt được có thể thấy, Chương trình đã trở thành phong trào sâu rộng trong cả nước, huy động cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương vào cuộc và được sự hưởng ứng nhiệt tình với nhiều kỳ vọng của nông dân trong cả nước Chương trình bước đầu đã hình thành một số mô hình xây dựng nông thôn mới với những cách làm sáng tạo, rút ra được một số bài học kinh nghiệm hay trong tổ chức thực hiện như:
• Xây dựng nông thôn mới, điều quan trọng là nhận thức của cả hệ thống chính trị phải đồng bộ, chúng ta phải triển khai quyết liệt nhưng không thể nóng vội, vì đây là chương trình lâu dài, không chỉ đầu tư hạ tầng nông thôn là xong
mà chương trình đòi hỏi phát huy sức mạnh tổng lực, không chỉ nguồn lực về mặt vật chất mà cả về mặt tinh thần
• Không nên bàn quá nhiều về tiêu chí trong xây dựng NTM, mà hãy đi thẳng và nhìn thẳng vào thực tế, nghĩ cách làm sao cho sản xuất phát triển, thu nhập của nhân dân tăng lên cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện, đời sống văn
Trang 40hóa được nâng lên, trật tự an toàn xã hội bảo đảm, môi trường xanh - sạch - đẹp… đó mới là điều cần làm
• Phải để người dân là chủ thể chính, phải là người có vai trò chủ động trong phong trào xây dựng NTM
• Điều đầu tiên cần làm là thay đổi nhạn thức của mỗi người dân trong xây dựng NTM, đầu tư vào nông thôn mới cần có trọng tâm, góp phần cải thiện được hạ tầng nông thôn và cải thiện đời sống nông dân
• Cần đào tạo đội ngũ cán bộ địa phương có chuyên môn để xây dựng NTM có hiệu quả hơn
2.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra từ tổng quan
Nông thôn mới là một trong những chương trình phát triển được triển khai sâu rộng và ở nhiều địa phương và quốc gia trên thế giới Mỗi nước, mỗi vùng, địa phương có những đặc điểm về kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên khác nhau nên có những phương thức huy động nguồn vốn khác nhau Qua những tấm gương về huy động nguồn vốn đã đề cập trên chúng ta có thể đúc kết được để huy động được các nguồn vốn trong xây dựng NTM ở nước ta cần chú trọng đến:
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình,
dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào NTM, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án
Thứ hai, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Ví dụ ở Hàn Quốc đã thành lập hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên
cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân
tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình Ở xã Trực Nội, huyện Trực Ninh, tỉnh Ninh Bình và ở tỉnh bắc Giang cán bộ trong ban chỉ đạo xây dựng NTM cũng quán triệt xã hội hóa xây dựng NTM, huy động sự