Mục đích Đánh giá các tổ hợp lai giữa 2 dòng ngô nhập nội Mo17 và B73 với các dòng chọn tạo trong nước nhằm xác định khả năng kết hợp và tổ hợp lai triển vọng phục vụ sản xuất ngô và cả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
ĐỖ THỊ HỒNG
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI GIỮA DÒNG Mo17
VÀ B73 VỚI CÁC DÒNG NGÔ NHIỆT ĐỚI
TẠI QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
ĐỖ THỊ HỒNG
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI GIỮA DÒNG Mo17
VÀ B73 VỚI CÁC DÒNG NGÔ NHIỆT ĐỚI
TẠI QUẢNG NINH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS VŨ VĂN LIẾT
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của tôi, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hồng
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn thầy giáo GS.TS Vũ Văn Liết đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Nông học, Ban Quản lý đào tạo đã trực tiếp hoặc gián tiếp truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, các cán bộ Phòng Trồng trọt, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và người thân đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, bạn đọc và xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hồng
Trang 5MỤC LỤC
1.2.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 7 1.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Quảng Ninh 8
1.7 Nghiên cứu tương tác kiểu gen môi trường 16
1.8 Thành tựu chọn tạo giống ngô ưu thế lai 19
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 28
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Điều kiện thời tiết khí hậu của điểm nghiên cứu 30
3.2 Các giai đoạn sinh trường, phát triển của các THL trong thí nghiệm 31
3.3 Động thái tăng trưởng số lá và số lá cuối cùng 35
3.4 Đặc điểm màu sắc lá và chỉ số diện tích lá 37
3.5.Các chỉ tiêu hình thái cây của các giống ngô thí nghiệm 39
3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu 45
3.8 Khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ 51
3.8.1 Khả năng chống chịu sâu, bệnh của các THL ngô thí nghiệm 51
3.8.2.Khả năng chống đổ của các THL tham gia thí nghiệm 54
3.9.1 Kết quả nghiên cứu ưu thế lai về đặc tính nông học của các tổ hợp lai ngô 54
3.9.2 Kết quả nghiên cứu ưu thế lai về năng suất và các yếu tố cấu thành
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1.1 Năng suất, diện tích và sản lượng ngô toàn cầu giai đoạn 1990 - 2013 6
1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam từ 1990 đến 2013 8
1.3 Tình hình sản xuất ngô tại Quảng Ninh 9
1.4 Danh sách các giống ngô công nhận từ 2009 - 2012 22
3.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu vụ Thu Đông năm 2014 tại
3.2 Diễn biến một số yếu tố khí hậu vụ Xuân năm 2015 31
3.3 Thời gian sinh trưởng của các giống ngô thí nghiệm tại Hạ Long
3.5 Đặc điểm màu sắc lá và chỉ số diện tích lá 38
3.6 Động thái tăng trưởng chiều cao và chiều cao cuối cùng của các
3.7 Các chỉ tiêu hình thái cây của các giống ngô thí nghiệm 43
3.8 Một số tính trạng chất lượng của các giống ngô thí nghiệm 44
3.9 Hình thái bắp của các THL ngô tham gia thí nghiệm 47
3.10 Các chỉ tiêu về hạt và năng suất thực thu của các giống ngô 49
3.11 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống ngô thí nghiệm 53
3.12 ƯTL chuẩn về thời gian sinh trưởng,chiều cao đóng bắp, chiều
cao cây cuối cùng và số lá cuối cùng 54
3.13 ƯTL chuẩn về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 56
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.1 Động thái tăng trưởng số lá vụ Thu Đông 2014 36 3.2 Động thái tăng trưởng số lá vụ xuân 2015 37 3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các THL vụ Thu Đông 2014 40 3.4 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai vụ Xuân 42 3.5 Năng suất thực thu của các THL vụ Thu Đông 2014 và vụ Xuân 2015 50
Trang 10MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây ngô (Zea mays L) là một trong 3 cây lương thực quan trọng trong nền
kinh tế toàn thế giới Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta
sử dụng ngô làm lượng thực chính Không chỉ cung cấp lượng thực cho con người, ngô còn là nguồn thức ăn cung cấp cho chăn nuôi, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trên toàn thế giới (Tomov, 1984) Hiện nay 66% sản lượng ngô của thế giới được dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, trong đó các nước phát triển là 76% và các nước đang phát triển là 57% Tuy chỉ có 21% sản lượng ngô được dùng làm lượng thực cho con người nhưng nhiều nước vẫn coi ngô là cây lương thực chính, như: Mêxicô, Ấn Độ, Philippines
Giống ngô ưu thế lai được phát triển mạnh mẽ từ sau những nghiên cứu của Shull được công bố năm 1909 Năng suất và sản lượng ngô tăng lên nhanh chóng từ những năm 1970 đến nay Năng suất ngô trước những năm 1930 chỉ đạt 1,6 - 1,9 tấn/ha vì hầu hết các giống ngô được trồng là thụ phấn tự do Tiếp theo
là giống ngô lai kép, đưa năng suất ngô tăng lên 4,5 tấn/ha những năm 1960 đến
1970 Từ những năm 1970 đến nay, những giống ngô lai đơn phát triển đưa năng suất ngô lên trên 10 tấn/ha Năm 2013, năng suất ngô bình quân toàn cầu đạt 5,51 tấn/ha và sản lượng đã đạt 1016,4 triệu tấn/năm Năng suất bình quân cao nhất là
Mỹ đạt 7,7 tấn/ha Năng suất ngô của Việt Nam đạt 4,42 tấn/ha và sản lượng đạt 5,193 triệu tấn (FAOSTAT, 2014)
Các dòng ngô thuần vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong chọn tạo
giống ngô (Zea mays L.) của nhiều chương trình chọn giống ngô khác nhau Các
dòng thuần ngô đặc thù đã đóng vai trò nền tảng trong di truyền và chọn giống ở ngô
Hai dòng thuần được phổ biến rất rộng rãi ở Mỹ và các chương trình chọn tạo giống ngô trên thế giới là dòng Mo17 và B73 Dòng Mo17 do Đại học Missouri chọn tạo và phóng thích năm 1964 và B73 do Đại học Iowa State chọn tạo và phóng thích năm 1972 Các dòng khác như Wf9 do Đại học Purdue chọn
Trang 11tạo và phóng thích năm 1936, dòng Oh43 do Trung tâm Nghiên cứu và phát triển nông nghiệp OHIO chọn tạo và phóng thích năm 1949 Các dòng ngô này đã
được sử dụng cải tiến ngô của Mỹ trong suốt 50 năm qua (James et al., 2002)
Dòng thuần B73 và Mo17 hoặc phiên bản của chúng được sử dụng làm bố mẹ phổ biến nhất tạo giống ngô lai chín trung bình và muộn ở Trung và Nam Châu
Âu Bởi vì chúng quan trọng trong sản suất ngô lai (Stojakovic et al., 2007)
Sản xuất ngô ở nước ta thực sự đã có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai
ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới Nhờ việc sản xuất giống dễ dàng, giá giống rẻ, con lai có năng suất cao và thích ứng rộng, các giống lai không quy ước đã được người trồng ngô chấp nhận và nhanh chóng mở rộng diện tích Năm 1991, diện tích trồng giống ngô lai chưa đến 1% trên hơn 400 nghìn hecta trồng ngô, năm 2004 diện tích trồng ngô cả nước là hơn 990 nghìn ha, năng suất đạt 34,9 tạ/ha và sản lượng là 3,454 triệu tấn (Tổng cục thống kê, 2005), tỷ lệ diện tích trồng giống lai là 84% (Phạm Đồng Quảng, 2005; Trung tâm khuyến nông quốc gia, 2005) Diện tích, năng suất và sản lượng ngô tăng nhanh từ 1990 đến 2013 Diện tích từ 431,6 nghìn ha lên 1172,6 nghìn ha tăng 2,7 lần, năng suất từ 1,55 lên 4,42 tấn/ha tăng 2,8 lần và sản lượng từ 671 nghìn tấn lên 5193 nghìn tấn tăng 7,7 lần (FAOSTAT, 2014)
Nguồn gen ngô của từng Quốc gia, ngay cả Mỹ có nền di truyền hẹp, Do vậy để nâng cao năng suất ngô cần thiết khải thác nguồn gen nhập nội nhằm tăng
ưu thế lai, tăng khả năng thích ứng và chống chịu đang được quan tâm đặc biệt
và cần thiết cho các chương trình tạo giống ngô ưu thế lai Trên cơ sở hợp tác giữa Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam và Đại học Riverside, Hoa Kỳ, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh gía một số tổ hợp ngô lai giữa dòng Mo17 và
B73 với các dòng ngô nhiệt đới tại Quảng Ninh ”
Trang 122 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
2.1 Mục đích
Đánh giá các tổ hợp lai giữa 2 dòng ngô nhập nội Mo17 và B73 với các dòng chọn tạo trong nước nhằm xác định khả năng kết hợp và tổ hợp lai triển vọng phục vụ sản xuất ngô và cải tiến tăng đa dạng di truyền các dòng thuần của Việt Nam
2.2 Yêu cầu
+ Đánh giá sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai trong điều kiện tỉnh Quảng Ninh
+ Đánh giá khả năng chống chịu đồng ruộng của các tổ hợp lai
+ Đánh giá năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lại + Xác định tổ hợp lai triển vọng
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài đánh giá được khả năng kết hợp giữa nguồn vật liệu nhập nội và các dòng phát triển trong nước Nhận biết tiềm năng của dòng tiêu chuẩn thế giới Mo17 và B73 trong điều kiện Việt Nam và nâng cao nguồn gen trong nước
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy từ việc đánh giá một số đặc điểm nông sinh học và năng suất của các giống ngô lai có thể xác định tổ hợp lai phù hợp với những điều kiện sinh thái của từng vùng
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng Khả năng thích ứng của giống với các điều kiện sinh thái rất khác nhau Vì vậy muốn phát huy hiệu quả tối đa của giống, cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá khả năng thích ứng cũng như tiềm năng năng suất của các giống mới trước khi đưa ra sản xuất đại trà, từ đó tìm ra những giống thích hợp nhất đối với từng vùng sinh thái.Ngày nay sản xuất ngô muốn phát triển theo hướng hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải có các biện pháp hữu hiệu như thay thế các giống cũ, năng suất thấp bằng các giống mới năng suất cao, chống chịu tốt Đặc biệt là ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, sử dụng giống có khả năng chống chịu tốt, cho năng suất cao sẽ góp phần phát huy hiệu quả kinh tế của giống, đồng thời góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số
Trong công tác chọn tạo giống cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng, việc tạo ra những dòng, giống có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận là cần thiết Sau khi chọn tạo ra bất kỳ một dòng, giống mới nào thì công việc khảo nghiệm và đánh giá các đặc tính nông sinh học của các giống mới
đó được xem là một khâu quan trọng trước khi đưa vào sản xuất đại trà Việc đánh giá biểu hiện của một số giống thường bắt đầu từ việc đánh giá các đặc tính sinh học, đánh giá sự sinh trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất lợi, phân tích mối tương quan giữa một
số chỉ tiêu đến năng suất cây trồng
Viện Nghiên cứu Ngô - Trường Đại học Nông nghiệp Vân Nam, Trung Quốc đã nghiên cứu chọn tạo được nhiều giống ngô năng suất và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu giống cho sản xuất trong và ngoài nước Một số giống đã phổ biến trong sản xuất như: Xundan No 7, Gengyuann135, Jingeng No 1, Yunfeng
88, Yunda No 1, Gengyuann 11, Yunda No 14, AS-3, Makmur-3, Makmur-1, Makmur-7, Makmur-2, Makmur-6, AS-2, AS-7 Năng suất trung bình của các
Trang 14giống ngô này từ 100 - 120 tạ/ha Hiện nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục lai tạo đưa
ra sản xuất những bộ giống ngô lai mới năng suất cao phù hợp từng vùng sinh thái Trong những năm gần đây, việc chọn tạo và đưa vào thử nghiệm vào sản xuất những giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định và thích nghi với những vùng sinh thái khác nhau là vấn đề rất quan trọng góp phần đưa nhanh các giống ngô tốt vào sản xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất, sản lượng ngô
Đảng và Chính phủ ta rất quan tâm đến vấn đề nhập nội giống Các giống ngô nhập nội như: C.P888, C.P999, C.P989, CP3Q, G49, B9698, C919 Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước, trong những năm qua
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã xét công nhận được nhiều giống ngô lai mới, các giống này đã phát huy hiệu quả tốt trên đồng ruộng
1.2.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô (Zea mays L.) được trồng trên 96,5 triệu ha ở các nước đang phát triển
(FAOSTAT, 2004) Có hàng triệu người trên thế giới sử dụng ngô làm lương thực Ngô cung cấp khoảng 15 - 56% tổng lượng calo cho con người ở khoảng 25 quốc gia đang phát triển Sự tiêu thụ ngô bình quân đầu người dặc biệt cao ở Đông, Nam Phi và Trung Mỹ, ngô cũng quan trọng đối với một số nước nghèo ở Tây Phi, Châu
Á, Nam Mỹ Theo ước tính của FAO, ở Châu Phi ngô cung cấp ít nhất 1/5 tổng lượng calo và 17- 60% protein hàng ngày cho con người ở 12 quốc gia
Ngô vừa là cây lương thực vừa là cây thức ăn cho gia súc chính vì thế diện tích và sản lượng ngô trên thế giới tăng không ngừng, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu Những năm 1990, năng suất ngô trung bình của thế giới chỉ xấp xỉ 36,8 tạ/ha, đến năm 2013 tăng gấp hơn 1,5 lần (đạt 55,1 tạ/ha), sản lượng tăng từ 483 triệu tấn lên 1016,44 triệu tấn (gấp 2,1 lần) (FAOSTAT, 2014)
Trang 15Bảng 1.1 Năng suất, diện tích và sản lượng ngô toàn cầu
giai đoạn 1990 - 2013
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
so với năm 2011 nguyên nhân là do năng suất ngô giảm 4,08% (năng suất bị ảnh hưởng của việc biến đổi khí hậu trên toàn cầu đã tác động không nhỏ tới năng suất của cây trồng) Diện tích, năng suất và sản lượng ngô thế giới tăng mạnh sau hơn
50 năm từ 1961 đến 2013 Năm 2013, diện tích ngô thế giới đạt mức 184.192.053
ha, cao gấp 1,75 lần, năng suất 5,5 tấn/ha, cao gấp 2,8 lần, sản lượng đạt 1.016,7 triệu tấn, cao gấp gần 5 lần so với năm 1961 (FAOSTAT, 2014)
Trang 161.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ngô được đưa vào trồng ở nước ta từ cuối thế kỷ 17 đã trở thành cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa gạo Đây cũngà cây trồng chính để phát triển ngành chăn nuôi và được trồng trên những điều kiện sinh thái khác nhau của cả nước Năng suất ngô nước ta trước đây rất thấp so với năng suất ngô thế giới, do sử dụng giống ngô địa phương và áp dụng kỹ thuật canh tác lạc hậu, bên cạnh đó do truyền thống sản xuất lúa nước lâu đời nên những năm trước cây ngô chưa được chú trọng phát triển mà mãi đến năm 1973 mới có những chính sách phát triển ngô ở Việt Nam (Trần Hồng Uy, 2001) Từ giữa những năm 1980 trở lại đây, nhờ hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc
tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần đưa năng suất lên gần 1,5 tấn/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô ở nước ta thực sự đã có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai
ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới
Cùng với các giống ngô lai nhập nội thông qua các công ty đa quốc gia như Syngenta, Monsanto, CP-Group , hiện nay ở Việt Nam đã lai tạo, chọn lọc thành công nhiều giống ngô lai mói có ưu thế về năng suất, chất lượng tạo nên
sự đa dạng về giống ngô lai, giúp cho người trồng ngô có nhiều sự lựa chọn phù hợp với thực tế sản xuất
Thực tế sản xuất những năm gần đây các giống lai trong nước như LVN4, LVN10 ; giống nhập nội như CP888, CP999 của tập đoàn CP-Group đã phát huy mạnh ở những vùng thâm canh, tạo bước đột phá về năng suất (LVN61 đã đạt 120 tạ/ha) Như vậy chỉ trong khoảng thời gian 5 năm, từ 2005 ngô lai đã có
sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và năng suất, từ đó làm tăng đáng kể sản lượng ngô của Việt Nam
Nhờ việc sản xuất giống dễ dàng, giá giống rẻ, con lai có năng suất cao
và thích ứng rộng, các giống lai không quy ước đã được người trồng ngô chấp
Trang 17nhận và nhanh chóng mở rộng diện tích Năm 1991, diện tích trồng giống ngô lai chưa đến 1% trên hơn 400 nghìn hecta trồng ngô, năm 2004 diện tích trồng ngô cả nước là hơn 990 nghìn ha, năng suất đạt 34,9 tạ/ha và sản lượng là 3,454 triệu tấn (Tổng cục thống kê, 2005), tỷ lệ diện tích trồng giống lai là 84% (Phạm Đồng Quảng, 2005) Diện tích, năng suất và sản lượng ngô tăng nhanh
từ 1990 đến 2013 Diện tích từ 431,6 nghìn hecta lên 1172,6 nghìn hecta (tăng 2,7 lần), năng suất từ 1,55 lên 4,42 tấn/ha (tăng 2,8 lần) và sản lượng từ 671 nghìn tấn lên 5193 nghìn tấn (tăng 7,7 lần)
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam
từ 1990 đến 2013
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
1.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Quảng Ninh
Quảng Ninh là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo Quảng Ninh có nhiều khu kinh tế, trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực Năm 2010, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 7 ở Việt Nam
Trang 18Quảng Ninh có quỹ đất dồi dào với 601.000 ha, trong đó 50.364 ha đất nông nghiệp đang sử dụng; 146.019 ha đất lâm nghiệp với nhiều diện tích đất có thể trồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi; khoảng gần 20.000 ha có thể trồng cây ăn quả
Để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển chăn nuôi, cây ngô được coi
là một trong những cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh… Cây ngô được trồng 3 vụ trong năm vụ đông xuân và vụ xuân, vụ thu đông trên tất cả các loại đất: đất rẫy, gò đồi, đất phù sa ven sông Những năm gần đây Quảng Ninh đã chuyển đổi cơ cấu giống, sử dụng các giống ngô lai năng suất cao như: LVN10, LVN11, LVN12 và một số giống ngô nhập nội như: Bioseed 9698, DK999, NK4300 vào sản xuất Tình hình sản xuất ngô tại Quảng Ninh được trình bày qua bảng 1.3
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất ngô tại Quảng Ninh
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2013 và năm 2014)
Qua bảng số liệu cho thấy tình hình sản xuất ngô ở Quảng Ninh đã có nhiều dịch chuyển Nếu như năm 2009 diện tích trồng ngô của Quảng Ninh là 6,3 nghìn ha với năng suất 35,9 tạ/ha và sản lượng đạt 22,6 nghìn tấn Đến năm 2013 diện tích trồng ngô của Quảng Ninh có chiều hướng giảm rõ rệt chỉ còn 4,4 ha, nhưng đến năm 2014 được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh cũng như của ngành về chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên diện tích trồng ngô được mở rộng và cao nhất từ trước đến nay 17,4 ha, tăng lên đến 11,1 nghìn ha Năng suất ngô có xu hướng tăng mạnh mẽ do đưa những giống mới có năng xuất cao vào sản xuất (năm 2009 năng suất đạt 35,9 tạ/ha đến năm 2014 năng suất đạt 38,6 tạ/ha)
Trang 19Bên cạnh đó nhu cầu sử dụng ngô làm thức ăn chăn nuôi là vấn đề cấp thiết, đặc biệt đối với những vùng chăn nuôi trung tập, các trang trại và các hộ gia đình chăn nuôi với qui mô lớn Chúng ta đang phải nhập khẩu nguyên liệu để chế biến thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi, chủ yếu là ngô, đỗ tương, hàng năm chúng ta phải chi ra hàng tỷ đô la để nhập khẩu các loại nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến thức ăn công nghiệp Hiện nay với 10 đơn vị chăn nuôi tập trung trên đã tiêu thụ hết khoảng 64% tổng lượng ngô sản xuất hàng năm của toàn tỉnh Trong khi đó, hiện tại ngô được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu được mua từ các đại lý phân phối, nhập nội và công ty chế biến thức
ăn chăn nuôi; Thông qua các đại lý hoặc các tư thương ngoài tỉnh thu mua gom lại, sấy khô rồi cung cấp cho các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi, như: Công ty
CP Group, Proconco và AFC Hải Dương, thu mua chế biến (lượng ngô được thu gom chủ yếu ở các Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu)
Trong khi đó điều kiện phát triển cây ngô ở Quảng Ninh lại rất thuận tiện Đất đai khí hậu phù hợp với nhiều giống ngô cao sản hiện có tại Việt Nam, năng suất luôn ổn định từ 5-7 tấn/ha, thời vụ gieo trồng thì đa dạng có thể làm được 3 vụ/năm Bà con nông dân miền núi có truyền thống trồng ngô từ lâu đời hiểu rõ cách chăm sóc, bón phân và phòng trừ sâu bệnh hại, giá ngô trên thị trường luôn
ổn định từ 7.000- 7.500đ/1kg, thế nhưng diện tích ngô của Quảng Ninh vẫn còn rất thấp so với tiềm năng
1.3 Nguồn gốc và đa dạng nguồn gen ngô
Các nhà Di truyền học và nhà nghiên cứu thực vật vĩ đại nhất của thế kỷ
XX, đã đóng góp học thuyết Trung tâm phát sinh thực vật Trung tâm sơ cấp thứ
IV của ông đưa ra là Nam Mexico và Trung Mỹ Teosinte trong trung tâm này tiến hóa và thuần hóa thành ngô trồng được mô tả ở thời kỳ thuộc địa Mexico và Francisco Hernandez Boncalo (1515/1517 - 1578) và cây teosinte được báo cáo lần đầu năm 1570 Sau đó, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và ngô trong hệ
thống phân loại tự nhiên thuộc chi Zea Các nhà thực vật học thế kỷ XIX và đầu
thế kỷ XX bắt đầu nghiên cứu mối quan hệ tiến hóa của Teosinte đến ngô trồng, nghiên cứu trong nhiều năm từ 1700 đến 1990 và từ 1990 đến nay
Trang 20Tổng số mẫu nguồn gen đã được đánh giá là trên 27.000 (bao gồm cả vật liệu tạo giống) Nguồn gen thuộc tập đoàn hoạt động ở châu Mỹ đang bảo tồn tại Argentina, Bolivia, Brazil, Colombia, CIMMYT, Cuba, Ecuador, Guatemala, Mexico, Peru, Paraguay và Venezuela Những cá thể được bảo tồn nguồn gen quan trọng ở Mỹ (NCGRP - Ft Collins; NCRPIS - Ames, Iowa) Ước tính trước đây (thế giới cổ đại Old World - trước thám hiểm Columbus ) số mẫu nguồn gen 20.000 đến 40.000, hầu hết những mẫu nguồn gen này đại diện của con cháu các loài dại, giống thụ phấn tự do hoặc giống lai (Brandolini, 1970; Taba, 1997)
Ở Việt Nam, ngô di thực vào muộn hơn (ước tính khoảng 300 năm trước đây), trong quá trình biến đổi do tương tác giữa kiểu gen và môi trường, chọn lọc của con người hàng trăm năm qua và do nhập nội giống và vật liệu di truyền những năm gần đây Những điều kiện đó tạo nên sự đa dạng, loài phụ ngô và đa dạng nhất là ngô răng ngựa, ngô đá và ngô nếp Mỗi loài phụ có nhiều biến chủng khác nhau hình thành ở các địa phương, các dân tộc tạo nên sự đa dạng cao của các giống ngô địa phương Nhập nội nguồn gen làm tăng sự đa dạng của nguồn gen thụ phấn tự do, dòng, vật liệu tạo giống và giống ngô ưu thế lai ở Việt Nam (Vũ Văn Liết 2003, 2006, 2011)
1.4 Chọn tạo giống ngô ưu thế lai
Chọn giống ngô ưu thế lai phát triển mạnh mẽ trên thế giới từ những năm 1940, sau những nghiên cứu và công bố của George năm 1909, ông viết
“trong những năm qua tôi đã mô tả một loạt các thí nghiệm với ngô Ấn Độ và
đi đến kết luận (i) thông thường một ruộng ngô thể hệ các cá thể nói chung tạo
ra từ phép lai rất phức tạp; (ii) sự suy thoái là do kết quả của tự thụ phấn” Ông đưa ra phương pháp phát triển dòng thuần trong tạo giống ngô lai (A pure-line method in corn breeding) và trở thành phương pháp tiêu chuẩn phát triển dòng thuần tạo giống ngô lai trên thế giới Diện tích, năng suất và sản lượng ngô ưu thế lai của Mỹ tăng nhanh sau năm 1908 và 1909, đặc biệt là sau khi George, nhà chọn giống người Mỹ, công bố một công trình với tiêu đề “ Sự tổ hợp của một ruộng ngô” Những nghiên cứu của ông đã tạo ra sự khởi đầu khai thác ưu thế lai ở cây trồng, đây thực sự là một bước nhảy vĩ đại của di truyền học
Trang 21(James Crow, 1998) Nghiên cứu của Shull (1909) đã chỉ ra rằng những dòng ngô thuần suy giảm năng suất và sức sống, nhưng khi lai hai dòng thuần tạo ra
ưu thế lai có năng suất cao và quần thể lai rất đồng nhất Phương pháp của ông đưa ra đã trở thành phương pháp tiêu chuẩn phát triển dòng thuần trong chọn tạo giống ngô ưu thế lai
1.5 Nghiên cứu phát triển dòng thuần
Dòng thuần B73 và Mo17 hoặc phiên bản của chúng được sử dụng làm bố
mẹ phổ biến nhất tạo giống ngô lai chín trung bình và muộn ở Trung và Nam
Châu Âu Bởi vì chúng quan trọng trong sản suất ngô lai, Stojakovic et al (2007)
đã lai những dòng này để cải tiến những dòng thuần đang có Con lai được tự phối đến thế hệ S6 bằng chọn lọc phả hệ Phân tích năng suất hạt của tổ hợp lai giữa B73 và các dòng nghiên cứu lấy Mo17 làm tester, và các tổ hợp lai giữa các dòng nghiên cứu với Mo17 và B73 làm tester Theo dõi đánh giá chiều dài bắp,
số hàng hạt và khối lượng 1000 hạt Chọn lọc lại dòng B73 và Mo17 biểu hiện biến động mạnh những tính trạng này Nhận biết 3 trong 19 tổ hợp lai thử với B73 và Mo17 biểu hiện năng suất cao hơn ở mức có ý nghĩa (P<0.05) so với chỉ lai giữa hai dòng chuẩn B73 x Mo17 Trong các dòng có nguồn B73 có 1 dòng lai với Mo17 có năng suất cao hơn đối chứng ở mức có ý nghĩa Một số con cái
tự phổi biểu hiện đặc điểm tính trạng tốt hơn bố mẹ gốc B73 hoặc Mo17
Steven Eichten et al.(2011) nghiên cứu các dòng đẳng gen từ Mo17 và
B73 để tìm hiểu cấu trúc di truyền ở ngô cho rằng sự tái tổ hợp các dòng thuần
ngô (Zea mays ssp mays), hai dòng thuần Mo17 và B73 đã được sử dụng rộng
rãi để khám phá locus tính trạng số lượng điều khiển rất nhiều tính trạng hình thái và cũng là một nguồn vật liệu để lập bản đồ di truyền mật độ cao Hai dòng này đã được sử dụng để tạo một bộ dòng đẳng gen (near - isogenic lines - NILs) có những vùng chuyển gen nhỏ trong cả hai nền di truyền Phương pháp phân tích kiểu gen mới sử dụng điểm của kiểu gen qua 7.000 locus trong 100 dòng NIL của B73 và 50 dòng NIL của Mo17 Đây là quần thể mang gen ngoài được chuyển vào phủ phần lớn genome ngô Bộ dòng NIL này đóng vai trò giảm dị hợp trên cơ sở phả hệ và sự giảm dị hợp này làm tăng thêm ở vùng tâm
Trang 22động có khả năng tái tổ hợp thấp Sử dụng quần thể này để phát hiện và cố định locus tính trạng số lượng thông qua phân tích phương sai chiều cao cây
Sản xuất ngô lai ở Mỹ trên cơ sở phát triển và lai giữa các dòng thuần, từ nhưng năm 1920 các nhà tạo giống ở Mỹ đã phát triển hơn 600 dòng thuần công
cộng, một số dòng đến nay không sử dụng nữa (Zuber and Darrah, 1985; Gerdes et
al., 1994) Hầu hết các dòng thuần sử dụng trong các chương trình tạo giống chung chọn 2 hoặc 3 chu kỳ từ các dòng hoặc quần thể tổng hợp có nguồn từ lai giữa các dòng thuần (Baker, 1984) Mặc dù vậy, các dòng thuần phát triển trước đây không
sử dụng trong sản xuất hạt lai ở Mỹ, nhưng chúng vẫn được sử dụng rất rộng để phát triển dòng thuần mới, nghiên cứu di truyền và làm vật liệu thử KNKH cho nhiều chương trình tạo giống ngô (Smith and Gracen, 1993) Dòng thuần ngô từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài nước Mỹ đã chỉ ra rằng các dòng thuần vô cùng quan trọng cho chọn tạo giống ngô lai Một khảo sát được thực hiện vào cuối những năm 1970 đến giữa những năm 1980 về các dòng thuần chỉ ra rằng một số dòng thuần vẫn tiếp tục đóng vào vào tạo giống ngô lai thương mại ở Mỹ Ví dụ, B73 và Mo17 sử dụng khoảng 28% tổng số giống lai trồng ở Mỹ năm 1979, nhưng giảm xuống 12,8% như của hạt giống của 2 dòng này năm 1985 (Zuber and Darrah, 1980; Darrah and Zuber, 1985)
Dòng Mo17 do Đại học Missouri chọn tạo và phóng thích năm 1964 và B73 do Đại học Iowa State chọn tạo và phóng thích năm 1972 (Troyer, 1999) Các dòng khác như Wf9 do Đại học Purdue chọn tạo và phóng thích năm 1936, dòng Oh43 do Trung tâm Nghiên cứu và phát triển nông nghiệp OHIO chọn tạo
và phóng thích năm 1949 Các dòng ngô này đã được sử dụng cải tiến ngô của
Mỹ trên 50 năm qua
Baker (1984), của Pioneer Hi - Bred international, Inc, báo cáo và xác định rằng có 7 tổ hợp lai phổ biến nhất ở Mỹ là:
1) B73 × Mo17
2) A632 × H993H95
3) Mo17 × A634
4) B73 × PA91
Trang 23ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bảo tồn nguồn vật liệu di truyền cho công tác tạo giống ngô ưu thế lai
Chọn giống chu kỳ lai trở lại và và thế hệ F2 đã trở thành ưu thế trong
chương trình phát triển dòng thuần trong công nghiệp (Zea mays L.) ở Mỹ Lấn át
và liên kết đã được nhận biết có thể là một hạn chế chọn lọc từ F2 và lai trở lại các tác giả đã nghiên cứu xác định mức độ quan trọng của lấn át gen trong một tổ hợp lai ưu tú và xác định thế hệ phù hợp cho bắt đầu phát triển dòng thuần Con cái thế hệ thứ 6 của con cái phát triển từ hai bố mẹ; P1 (B73) và P2 (B84), thế hệ F2 của [(B73 × B84) F2]; thế hệ BCP1 của [(B73 × B84) × B73]; thế hệ BCP2 của [(B73 × B84) × B84]; và 8 thế hệ F2-Syn (thể hệ F2 giao phối ngẫu nhiên qua 8 thế hệ) Con cái lai thử bằng lai ngẫu nhiên các cây S9 của mỗi thế hệ với dòng thuần Mo17 là cây thử 100 con lai của F2 × Mo17 và F2-Syn 8 × Mo17 và 50 con lai BCP1 × Mo17 và BCP2 × Mo17, cũng như bố mẹ lai thử được thu hoạch Thí nghiệm đánh giá tại 4 địa phương trong năm 1990 và 3 địa phương năm
1991 Ảnh hưởng lấn át gen là có ý nghĩa với tính trạng năng suất và độ ẩm hạt
và khoảng 21 và 18% phương sai trung bình các thế hệ Phương sai di truyền và
hệ số di truyền của năng suất hạt xắp xếp là F2-Syn 8 > F2> BCP1> BCP2 Dưới cường độ chọn lọc thấp (a = 20%), xếp loại các thế hệ là BCP22> F2>> F2-Syn 8
> BCPI Dưới cường độ chọn lọc cao (a = 1%), xếp loại là F2> F2-Syn 8 > BCP2> BCP1 Sự lựa chọn giữa F2 và lai trở lại làm nguồn quần thể cơ bản, các tác giả gợi ý rằng tiến bộ rất hạn chế nếu giao phối ngẫu nhiên F2 trước khi chọn lọc và
tự phối (Kendall Lamkey et al., 1994)
Trang 241.6 Nghiên cứu khả năng kết hợp
Đa dạng di truyền hiệu ứng cộng giữa các ngô thương mại (Zea mays L.)
ưu thế lai có thể tăng năng suất hơn và giảm bớt sự dễ tổn thương di truyền Nhập nguồn gen nước ngoài vào chương trình tạo giống sẽ tăng nền tảng di truyền từ các dòng thuần thương mại ưu tú 10 quần thể ngô do Trung Quốc chọn tạo và các dong thuần của Mỹ đã được đánh giá bằng phân tích diallel của Griffing về KNKH của năng suất hạt, chống đổ, chiều cao bắp, thời gian ra hoa
và chống sâu đục thân ngô Châu Âu (ECB; Ostrinia nubilalis Hu¨bner) để ước
lượng ưu thế lai của chúng khi các nguồn gen nhập nội từ Mỹ vào chương trình tạo giống KNKH chung năng suất hạt lớn nhất là quần thể Mo17 Syn.(H14)C5, một quần thể cải tiến bằng chọn lọc chu kỳ half-sib sử dụng US13 làm tester Năng suất hạt KNKH riêng lớn nhất là tổ hợp Mix 2 Trung Quốc x Mo17 Syn.(H14)C5 đổ thân hơn tổ hợp B73 x Mo17 và đối chứng Pioneer Brand 3394 Bởi vì tiềm năng năng suất cao và đặc tính nông sinh học khác trung bình đến tốt của KNKH Mix 2 Trung Quốc đã chọn là quần thể tốt nhất cho chọn lọc KNKH riêng lớn nhất của nó ảnh hưởng với vật liệu Lancaster phổ biến trong các chương trình tạo giống, biểu hiện tiềm năng cải tiến hơn Không phát hiện chống chịu ECB ở nguồn gen Trung Quốc (2 môi trường trong 01 năm) số với đối
chứng Pioneer Brand 3184 (Max Glover et al., 2005)
Các nhà tạo giống đều nhấn mạnh cần mở nền di truyền nguồn gen ngô để đảm bảo nhận được di truyền tiếp tục và hạn chế rủi ro của nền tảng di truyền hẹp (Eberhart, 1971; Darrah and Zuber, 1986; Mungoma and Pollak, 1988) Nhỏ hơn 1% các giống ngô thường mại của Mỹ là nguồn nhập nội và nguồn gen nhập nội nhiệt đới chỉ là phần rất nhỏ trong đó Rất nhiều đánh giá và chuyển gen nhập nội và nguồn gen nhiệt đới vào giống sử dụng thông thường và dòng thuần ưu tú của chương trình cải tiến ngô toàn thế giới Nhưng tác các allel có lợi từ nguồn gen nhập nội rất khó khăn vì nguồn gen nhập nội như vậy thường không thích
nghi (Max et al., 2005)
Nhận biết các dòng thuần bố mẹ để phát triển các giống ngô lai ưu tú là một bước khá tốn kém về kính phí và thời gian của một chương trình tạo giống
Trang 25ngô Đánh gia mối quan hệ giữa GD và biểu hiện ưu thế lai của con lai, khả năng kết hợp riêng (SCA), ưu thế lai trung bình (MPH) của 140 cặp lai về năng suất hạt trong 3 năm và 2 địa phương ở Iran Kết quả nhân thấy có tương quan dương giữa
GD và biểu hiện của con lai F1 giá trị SCA và MPH đều ở mức có ý nghĩa 1% (0.39** và 0.28**) Các vật liệu thử có ảnh hưởng rất lớn, vật liệu thử Mo17 có giá trị cao tương quan giữa GD và ưu thế lai là 0.54**, SCA là 0.61** và MPH là 0.61** của F1 so với bố mẹ, dòng B73 có giá trị này thấp hơn Mặc dù vậy GD giữa bố mẹ tương quan có ý nghĩa đến năng suất của con lai F1
Các công cụ di truyền dự đoán năng suất là cần thiết cho thành công của bất
kỳ chương trình chọn tạo giống ngô ưu thế lai nào Mục tiêu này, hiện nay các nghiên cứu hiện nay thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng di truyền,
ưu thế lai, khả năng kết hợp riêng (SCA) và năng suất để dự đoán tiềm năng của
tổ hợp lai F1 của ngô Các tác giả thực hiện thí nghiệm đồng ruộng gầm 10 dòng thuần và 45 con lai của chúng trong 3 năm Phương sai kiểu gen có ý nghĩa cao nhận thấy qua phân tích phương sai Điều này khẳng định rằng các dòng bố mẹ
có mức độ đa dạng di truyền cao Khoảng cách di truyền trên cơ sở ma trận khoảng cách ở clit vector chuẩn cho thấy rằng các dòng B1-12, B1-15, B1-12 và B1-34 là tổ hợp bố mẹ đa dạng nhất Phân tích hệ số tương quan cho thấy có mối tương quan dương chặt giữa năng suất, ưu thế lai và SCA Khoảng cách di truyền giữa bố mẹ cũng có tương quan dương với năng suất và ưu thế lai những mối quan hệ yếu với độ lớn r = 0.1059 và r = 0.1104 Mặc dù vậy liên kết giữa khoảng cách di truyền và SCA tương quan dương ở mức có ý nghĩa Những phát hiện trong nghiên cứu này chứng minh rằng đa dạng di truyền SCA cao hơn là rất quan trọng, trong khi ưu thế lai và SCA hiệu quả để dự đoán tổ hợp lai F1 tốt nhất ở ngô (Praveen Singh, 2014)
1.7 Nghiên cứu tương tác kiểu gen môi trường
Hiểu biết về tương tác kiểu gen và môi trường (GE) có ý nghĩa rất quan trọng trong các chương trình chọn giống cây trồng Tương tác kiểu gen và môi trường đặc biệt có ý nghĩa với các tính trạng số lượng như năng suất có thể tác
Trang 26động đến kết quả chọn lọc các kiểu gen ưu tú trong cả hai lĩnh vực là cải tiến giống cây trồng và giới thiệu giống cây trồng mới ra sản xuất Phân tích thống kê truyền thống của các thí nghiệm năng suất cung cấp thông tin rất hạn chế hoặc không xem xét đến tương tác kiểu gen và môi trường Mô hình phân tích thống
kê những ảnh hưởng cộng tính chính và tương tác đa chiều (AMMI - Additive Main Effects and Multiplication Interaction) phối hợp hai thành phần là cộng tính
và đa chiều của hai cấu trúc số liệu đưa vào tính toán hiệu quả hơn để nhận biết phương thức tương tác Tổng hợp kết quả phân tích trên đồ thị biplot có thể nhóm các kiểu gen trên cơ sở tương đồng phản ứng của các kiểu gen khác nhau
và mức độ ổn định của kiểu gen qua các môi trường Mô hình phân tích AMMI
có thể sử dụng để xác định cấu trúc tương tác kiểu gen và môi trường trên cơ sở các số liệu thí nghiệm giống ở đa môi trường
Môi trường không những ảnh hưởng đến năng suất ngô mà ảnh hưởng cả
đến khả năng kết hợp Betran et al (2002) đã đánh giá 17 dòng ngô trắng nhiệt
đới thuần có mặt trong lai diallen các dòng và con lai đã được đánh giá ở 12 môi trường bất thuận và không bất thuận Biểu hiện ưu thế lai ở môi trường hạn lớn hơn và nhỏ hơn ở điều kiện đạm thấp Bộ Marker DNA nhận biết 81 locus
sử dụng là chỉ thị 17 dòng ngô Mức độ đa dạng di truyền cao với 4,65 allen/locus và giá trị thông tin đa hình ở phạm vi 0,11 đến 0,82 Vùng genome
và các locus tính trạng số lượng (QTL) cho chịu hạn biểu hiện ở mức độ đa dạng di truyền thấp hơn Khoảng cách di truyền trên cơ sở số liệu marker RFLP sắp xếp các dòng thuần phù hợp với thế hệ phả hệ của chúng Tương quan được tìm thấy giữa khoảng cách di truyền và khả năng kết hợp riêng, ưu thế lai trung bình (MPH) và ưu thế lai thực (HPH) khả năng phối hợp riêng tương quan chặt với khoảng cách di truyền và tương quan chặt hơn khi điều kiện bất thuận
Trang 27Ánh sáng là yếu tố quan trọng cho sinh trưởng và phát triển của cây ngô, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích lũy chất dinh dưỡng và ảnh hưởng đến
độ dài quá trình sinh trưởng Theo phản ứng ánh sáng, cây ngô thuộc nhóm cây trồng ngắn ngày Điều này được khẳng định bởi thí nghiệm tiến hành tại Uruguay với 40 giống ngô, qua đó có một số giống không cho bắp ở điều kiện ngày dài Tuy nhiên, do tác động trong quá trình cải thiện đã tạo ra một số giống ngô thích nghi cho những vùng phía Bắc với điều kiện ngày dài Từ kết quả của
61 thí nghiệm năm 1927 ở Viện cây trồng Leningrad được tiến hành ở các vùng địa lý khác nhau
Một yếu tố quan trọng hơn độ dài chiếu sáng đó là cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng Khi nghiên cứu mối tương quan giữa năng suất ngô và bức
xạ mặt trời, để có năng suất ngô cao cần thiết các giờ chiếu sáng của mặt trời so với tổng lý thuyết là 55 - 64% vào tháng 5; 45 - 54% vào tháng 6 và 55 - 74% vào tháng 7, 8 và 9 Độ dài chiếu sáng dưới 55% vào các tháng 7 - 9 sẽ làm giảm năng suất ngô dưới mức bình thường
Nghiên cứu xác định tương tác kiểu gen và môi trường của các giống ngô lai tạo ra từ các dòng ngô trong hệ thống lai không cân đối Thí nghiệm thực hiện ở
ba địa phương qua 2 năm, như vậy mỗi địa Phương có 2 môi trường và địa phương là 6 môi trường Phân tích số liệu năng suất sử dụng mô hình AMMI và phân tích hồi quy (SREG) Kết quả trình bày trên đồ thị biplot chỉ ra rằng mô hình phân tích AMMI cho hiệu quả tốt nhất để phân tích tương tác kiểu gen và môi trường ở ngô
Mục đích nghiên cứu của các tác giả là xác định tương tác kiểu gen và môi trường và xác định biến động của môi trường đến các giống ngô ưu thế lai Trong
và giữa hai môi trường lớn của bang Paraná và các nhóm môi trường phù hợp biểu hiện của giống và xác định địa Phương phù hợp nhất cho chọn lọc ở địa Phương ở mùa vụ chính Các thí nghiệm thực hiện trong mùa vụ chính của năm 2003/2004 tại
6 địa Phương là: Campo Largo (CL), Ponta Grossa (PG), Fazenda Rio Grande (FZ), Londrina (LD), Centenário do Sul (CS) and Palotina (PL) Ảnh hưởng của địa
Trang 28phương (L), môi trường lớn (ME), các địa phương trong môi trường lớn (WME), giống ngô lai (H), và các tương tác (H x L), (H x ME), (H x WME) ở mức có ý nghĩa trong nghiên cứu của các tác giả ở mức 0,1% Hai nhóm hình thành tương phản với vùng môi trường lớn: (CL, FZ) và (PG, CS, LD) PL là loại trừ cả hai Điều kiện trung bình của bang, môi trường ngô có năng suất cao nhất cũng là môi trường
phù hợp cho chọn lọc (Francisco Terasawa et al., 2008)
Các tác giả đánh giá 17 giống ngô lai ở 4 địa Phương trong 2 năm 2005
và 2006 trong điều kiện có tưới ở Thổ Nhĩ Kỳ Phân tích phương sai cho thấy bình phương trung bình của môi trường (E), kiểu gen (G) và tương tác kiểu gen
và môi trường (GEI) là có ý nghĩa cao và tính được là 74,7 và 19 % công thức phối hợp của tổng bình phương Để xác định ảnh hưởng của GEI đến năng suất hạt, số liệu được phân tích GGE biplot Giống ngô lai G16 có thể đề xuất là giống cho năng suất cao nhất ở các địa Phương thí nghiệm Chỉ có địa Phương Yenisehir là đại diện tốt nhất của tất cả các địa Phương thí nghiệm và là điểm khảo nghiệm để xác định các giống ngô lai khuyến cáo cho năng suất trong nghiên cứu này Kết quả sử dụng năng suất hạt/cây thay cho năng suất hạt/ô trong chương trình chọn giống ngô ưu thế lai có thẻ tốt hơn với các công ty
giống (Fatma Aykut Tonk et al., 2011)
1.8 Thành tựu chọn tạo giống ngô ưu thế lai
Nghiên cứu chọn tạo và đưa ngô lai vào sản xuất là một thành tựu khoa học nổi bật đối với nền nông nghiệp thế giới, nhờ đó tạo bước tiến nhảy vọt về năng suất ngô thế giới Giống lai được đánh giá là có tính chất quyết định trong việc tăng năng suất ngô, nó góp phần giải quyết nạn đói ở các nước đang phát triển vùng châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh Nhờ những tiến bộ trong việc nghiên cứu ứng dụng
ưu thế lai vào việc tạo giống ngô đã cải thiện đáng kể khả năng chống chịu của giống như chịu hạn, chống đổ, kháng với một số sâu bệnh chính và đặc biệt có thể trồng ở mật độ cao Hiện nay, do những ưu việt của giống lai mà các nước đang phát triển có xu hướng sử dụng giống lai tăng
Trang 29Việc nghiên cứu và sử dụng ngô lai ở Châu Âu bắt đầu muộn hơn ở Mỹ khoảng 20 năm nhưng cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhờ ứng dụng các giống lai có năng suất tăng đột biến ở nhiều nước như Israel (160 tạ/ha), Bỉ (122 tạ/ha), Chi Lê (110 tạ/ha)
Công tác nghiên cứu lai tạo giông ngô những năm gân đây đã bước sang giai đoạn mới, đó là ứng dụng công nghệ sinh học vào chọn tạo giống Theo Clive James (2010), đánh giá: Những nghiên cứu, thống kê hàng chục năm qua của Cơ quan dịch vụ quốc tế về khuyến khích ứng dụng công nghệ sinh học nông nghiệp (ISAAA) cho thấy lọi ích thiết thực của cây trồng biến đổi gen đối với việc tăng sản lượng và thu nhập, bảo vệ đa dạng sinh học, môi trường và khí hậu cũng như những lợi ích kinh tế xã hội khác Tổng giá trị tăng thêm từ năm 1996 -
2008 đạt 52 tỷ USD, trong đó 50 % nhờ giảm chi phí sản xuất, còn lại nhờ tăng sản lượng thêm 167 triệu tấn Hiện nay đã có 25 nước trên thế giới canh tác cây trồng CNSH với diện tích trồng cây CNSH tính đến năm 2009 trên toàn cầu là
134 triệu ha, tăng 7 % so với năm trước Trong giai đoạn 1996 - 2009 các nước đang phát triển tăng nhanh diện tích trồng cây CNSH hơn các nước phát triển, chiếm tới 46 % tổng diện tích và dự đoán vượt 50 % vào năm 2015
Về nghiên cứu cây ngô biến đổi gen, năm 1996 ngô biến đổi gen được đưa vào sản xuất ở một số nước trên thế giới, đến nay diện tích không ngừng tăng lên Theo thống kê của ISAAA (2010), năm 2005 có khoảng 14 % diện tích ngô thế giới
là giống chuyển gen Năm 2009 diện tích ngô biến đổi gen toàn cầu là 42 triệu ha,
chiếm khoảng 26 % diện tích ngô, trong đó được trồng tập trung chủ yếu ở các nước
như Mỹ 29,9 triệu ha, Achentina 2,1 triệu ha, Nam Phi 1,9 triệu ha, Canada 1,17 triệu ha Hiện nay trên thế giới có khoảng 63 giống ngô biến đổi gen chịu hạn; thay đổi thành phần dinh dưỡng trong hạt; kháng sâu; kháng thuốc trừ cỏ Mặc dù ngô biến đổi gen và sản phẩm của chúng hiện đang còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau song được dự báo nó sẽ có vai trò to lớn trong tương lai
Trong nghiên cứu và chọn tạo giống ngô có hàm lượng protein cao (QPM) thì Mỹ và Trung Quốc là những quốc gia đầu tiên nghiên cứu và chọn tạo thành
Trang 30công trong lĩnh vực này Hiện nay những quốc gia này đã có nhiều nguồn vật liệu phong phú để phát triển mạnh giống ngô lai giàu dinh dưỡng
Sau những thành công của Mỹ và Trung Quốc trong việc chọn tạo các giống ngô QPM, rất nhiều nước trên thế giới như Braxin, Mêhicô, Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu, phát triển các giống ngô lai giàu dinh dưỡng và bước đầu đã chọn tạo được một số giống QPM khá triển vọng
Những nghiên cứu về ngô lai của Việt Nam đã được khỏi động từ những năm 1970 của thế kỷ trước nhưng chỉ thực sự bắt đầu có hiệu quả vào đầu thập niên 90 bằng việc tạo ra hàng loạt các giống lai không quy ước, rồi một loạt các giống lai quy ước
Giai đoạn chọn tạo các giống lai không quy ước diễn ra vào đầu những năm 90 thông qua Chương trình ngô Việt Nam và kết quả đã tạo ra một loạt giống lai không quy ước như LS3, LS5, LS6, LS7 đã góp phần làm thay đổi một bước về năng suất và sản lượng ngô của nước ta ở thời điểm đó Quá trình này giống như cuộc diễn tập cho các nhà tạo giống và nông dân sản xuất ngô làm quen với công tác chọn tạo và sản xuất giống lai quy ước đáp ứng cao hơn đòi hỏi của sản xuất Tiếp tục Chương trình ngô Việt Nam về nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai, cùng với sự hợp tác Quốc tế chúng ta đã tạo ra nhiều giống lai quy ước đạt năng suất, chất lượng không thua kém các giống lai nhập nội như: LVN4, LVN5, LVN12, LVN23
Công tác chọn tạo giống ngô lai ở nước ta dần có những tiến bộ, từ quy trình tạo dòng thuần đã được tiến hành theo phương pháp tự phối đến sử dụng công nghệ nuôi cấy bao phấn Nhờ vậy hiện nay chúng ta có hàng trăm dòng ngô thuân với xuất xứ và thời gian sinh trưởng khác nhau, làm cơ sở chọn tạo ra giống lai năng suất cao Song song với chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, hướng nghiên cứu giống ngô giàu protein, giống chống chịu với điều kiện bất thuận (bất thuận sinh vật và phi sinh vật) cũng được quan tâm đầu tư
Trang 31Bảng 1.4 Danh sách các giống ngô công nhận từ 2009 - 2012
2010 11
Max07, MB68, Thịnh ngụ số
10, DK9955, LVN146, NK6326, Pioneer Brand 30T60, DK 8868, Wax50, Pioneer Brand P3110WE, MX6
14
Ngô lai HN45, Ngô lai NK6654, Ngô lai HK4, Ngô lai NK72, Ngô nếp Victory 924, Ngô nếp thơm dẻo 926, Golden Sweeter 93, SSC131, CP333, Pioneer brand 30K95, DK9901, King 80, Milky 36
2011 14
Nếp lai sọc lá 17, Nếp lai Terminator 1.0, SB099, LVN092, LVN81, GS8 (LVN154), LVN111, NK7328, CP555, AG69, DK6919, 30T60, Nếp lai P3110WE, B265
8
LVN146, Nếp lai tím dẻo 926, Nếp lai Victory 924, Nếp lai HN88, TF222, NK6326, Nếp lai Wax50, DK8868
2012 14
, Nếp lai Max one, Pioneer brand P4296, Pioneer brand P4199, Nếp lai số 5, Nếp lai
số 9, Đường lai 20, VS 36, LVN 102, AK 5443, SSC
7830, MN-1, Ngô nếp Tím ngọt 099, Ngô nếp lai Dẻo ngọt 367, Ngô đường lai Golden Cob
6
SSC 2095, MX6, NK 7328, DK
6919, LVN 66, DSSC 131
Trang 32Hiện nay trong nước có nhiều cơ quan, tổ chức tham gia nghiên cứu chọn tạo giống ngô gồm các Viện (Viện Nghiên cứu Ngô, Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam), Trung tâm nghiên cứu, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, nhiều công
ty (Công ty cổ phần giống cây trồng miền Bắc, Công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam, Công ty cổ phần giống cây trồng Trung ương)
Kết quả hằng năm cho ra đời nhiều tổ hợp lai, nhiều dòng triển vọng cũng như giống mới đáp ứng một phần không nhỏ nhu cầu sản xuất trong nước Trong giai đoạn từ 2006 đến nay đã có nhiều giống ngô được công nhận từ sản xuất thử đến chính thức cung cấp giống cho sản xuất tại các địa phương trên toàn quốc Kết quả công nhận giống giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2009 trình bày trong Bảng 1.4
Về ứng dụng công nghệ sinh học vào công tác chọn tạo giống ngô ở Việt Nam tuy mới chỉ bắt đầu trong khoảng 10 năm trở lại đây nhưng đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ Việt Nam đã tham gia vào mạng lưới công nghệ ngô vùng Châu Á nhằm đẩy nhanh ứng dụng công nghệ sinh học vào chương trình chọn tạo giống với các nội dung chính: Phân tích đa dạng di truyền tập đoàn nguyên liệu, phân nhóm ưu thế lai; chuyển gien O-paque 2 quy định tính trạng ngô chất lượng protein cao vào ngô thường; xây dựng bản đồ gen chịu hạn cho ngô
Gần đây, nhiều giống ngô biến đổi gen kháng sâu, chịu thuốc trừ cỏ được một số công ty nước ngoài nghiên cứu và đưa vào trồng thử nghiệm tại Việt Nam như NK66BT11 kháng sâu đục thân, NK66GA21 chịu thuốc trừ cỏ Glyphosate, bắp MON 89034 mang gen kháng sâu bộ cánh vảy
Tóm lại: Thực trạng sản xuất, nhu cầu và những khó khăn thách thức của
sản xuất ngô trong nước cũng như vùng trung du miền núi phía Bắc; những thành tựu to lớn trong công tác nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và Việt Nam; năng suất vượt trội của giống ưu thế lai đã và đang được ứng dụng ngày một rộng rãi trong sản xuất, nhất là những lợi thế của giống lai đáp ứng thực tiễn sản xuất cho nhiều vùng sinh thái địa lý ở nước ta; điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng trung du miền núi đã làm tiền đề (cơ sở khoa học và thực tiễn) cho chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn đóng góp một phần cho công tác chọn tạo giống ngô lai mới cho vùng trung du Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Bắc
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu gồm 10 tổ hợp ngô lai giữa Mo17 và B73 với các dòng thuần chọn tạo trong nước, 01 giống lai trồng phổ biến ở địa phương Bioseed
9698 làm đối chứng như bảng sau
Ký hiệu
tổ hợp
lai (THL)
Ký hiệu cặp lai
Dòng
mẹ Nguồn gốc Dòng bố Nguồn gốc
9698 (đ/c)
Việt Nam
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian: Thí nghiệm trong 2 vụ Thu Đông 2014 và vụ Xuân 2015, từ tháng 10/2014 - tháng 6/2015
- Địa điểm: Phường Hà Phong - TP Hạ Long - Quảng Ninh
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá sinh trưởng phát triển của các THL tham gia thí nghiệm
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các THL tham gia thí nghiệm
- Đánh giá khả năng chống chịu của các THL tham gia thí nghiệm
Trang 34- Đánh giá năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của các THL tham gia thí nghiệm
- Xác đinh tổ hợp lai triển vọng và khuyến nghị sử dụng các THL
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD theo phương pháp của Gomez (1984) trong cả 2 vụ, diện tích ô thí nghiệm 10m2, 3 lần nhắc lại, khoảng cách trồng hàng x hàng 70 cm, cây x cây là 25 cm, chiều dài ô thí nghiệm 10m và rông là 1 m, trồng hai hàng/ô
Thí nghiệm gồm 11 công thức và 3 lần nhắc lại
2.4.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi (Theo QCVN01-56: 2011/BNNPTNT
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô)
+ Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển ( theo dõi 10 cây/ô)
- Ngày gieo
- Ngày mọc: ngày có trên 50% số cây có bao lá mầm lên khỏi mặt đất (mũi chông)
- Gieo đến 3 - 4 lá
Trang 35- Gieo đến 7 - 9 lá
- Gieo đến trỗ cờ khi có 50% số cây trỗ cờ
- Gieo đến phun râu khi có 50 % số bắp trên ô phun râu
- Gieo đến chín (khi có 75% số bắp có lá bi đã khô râu thâm và khô)
- Tổng thời gian sinh trưởng từ gieo đến chín
+ Theo dõi sinh trưởng phát triển
- Số mẫu theo dõi 10 cây/ô, theo dõi 10 ngày 1 lần đo
- Động thái tăng trưởng chiều cao: đo từ mặt đất đến đỉnh lá cao nhất
- Chiều cao cây cuối cùng đo từ mặt đất đến đỉnh cờ khi trỗ hoàn toàn
- Chiều cao đóng bắp: đo từ gốc sát mặt đất đến mắt đốt đóng bắp trên cùng (bắp thứ nhất)
- Động thái tăng trưởng số lá: đếm số lá 10 ngày một lần bằng đánh dấu lá bằng bút xóa
- Số lá cuối cùng được xác định đến khi trỗ cờ hoàn toàn
- Diện tích lá được đo theo chiều dài vuốt lá và chiều rộng (ở phần rộng nhất) ở thời kỳ trỗ cờ Diện tích lá (S) được tính theo công thức S = L x W x 0,7; trong đó L là chiều dài lá, W là chiều rộng và 07 là hệ số qui đổi diện tích lá
Chỉ số diện tích lá (LAI) tại thời điểm theo dõi được tính theo công thức LAI = Diện tích lá (m2)/Diện tích đất (m2)
+ Theo dõi một số tính trạng chất lượng
3: Hơi hở: Lá bi bao không chặt đầu bắp
4: Hở: Lá bi không che kín bắp để hở đầu bắp
5: Rất hở: Bao bắp rất kém đầu bắp hở nhiều
Trang 36- Dạng hạt: đánh giá hạt ở 1/3 giữa bắp: Đá, Bán đá, Bán răng ngựa, Răng ngựa
• Theo dõi năng suất và và các yếu tố cấu thành năng suất
- Tổng số cây/m2, số cây 1 bắp, 2 bắp, không có bắp trên ô: theo dõi trước khi thu hoạch
- Số bắp/cây ( tổng số bắp trên ô chia cho số cây trên ô)
- Chiều dài bắp (cm) Đo từ đầu bắp đến mút bắp, đo 10 bắp
- Chiều dài đuôi chuột (đoạn bắp không có hạt), đo 10 bắp
- Đường kính bắp (cm) Đo ở giữa bắp, đo 10 bắp
- Số hàng/bắp, đếm trên 10 bắp
- Khối lượng 1000 hạt (g)
+ Khối lượng 1000 hạt (g): ở độ ẩm 14%, cân 2 mẫu, mỗi mẫu 500 hạt, chênh lệch giữa 2 lần cân nhỏ hơn 5% là chấp nhận được, đo độ ẩm hạt lúc đếm hạt rồi quy về khối lượng hạt ở ẩm độ 14%
- Năng suất thực thu (NSTT, tạ/ha) thu cả ô quy ra ha
• Đánh giá khả năng chống chịu đồng ruộng
- Khả năng chống đổ: Đếm các cây bị nghiêng một góc bằng hoặc lớn hơn
30 độ so với chiều thẳng đứng của cây
- Sâu hại và khả năng chống chịu
Trang 37
2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
+ Phân tích giá trị ưu thế lai chuẩn cho các tính trạng
+ Thời gian sinh trưởng
Trang 38+ Chiều cao cây
Trong đó F1 là trung bình của THL, S là trung bình của giống lai đối chứng, Hs
là ưu thế lai tiêu chuẩn
Kết quả thí nghiệm phân tích phương sai ANOVA, phân tích hệ số biến động (cv%) phân tích sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD0,05) phần mềm sử dụng IRRISTAT ver 5.0
Bón thúc lần 2 khi cây 7 - 9 lá toàn bộ số phân còn lại
• Chăm sóc và quản lý thí nghiệm
Thời vụ gieo trồng, xới vun, làm cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh theo quy trình thâm canh ngô của Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện thời tiết khí hậu của điểm nghiên cứu
Cây ngô là cây lương thực quan trọng được trồng rộng khắp trên thế giới, những thích nghi chính ở những vùng ấm hơn và vùng ẩm của á nhiệt đới Sinh trưởng phát triển của cây ngô do di truyền điều khiển nhưng chịu tác động mạnh của môi trường đối với tất cả các tính trạng đã được nhiều nghiên cứu công bố Các giống ngô lai phản ứng rất khác nhau với điều kiện môi trường Bởi vì chọn lọc trên cơ sở năng suất không phải luôn luôn phù hợp khi tương tác kiểu gen và môi trường ở mức có ý nghĩa Ngoài ra sử dụng phương pháp phân loại tổng hợp
là một lựa chọn khi thí nghiệm đa môi trường Ông cũng cho rằng tương tác kiểu gen và môi trường của thí nghiệm đa môi trường được xem là phản ứng khác nhau của các kiểu gen qua các môi trường khác nhau Trong nghiên cứu đánh giá
10 THL tại Quảng Ninh, trong hai vụ là Thu Đông 2014 và Xuân 2015 có điều kiện thời tiết như trình bày tại bảng 3.1 và 3.2
Bảng 3.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu vụ Thu Đông năm 2014 tại
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ninh)
Số liệu cho thấy nhiệt độ bình quân trong các tháng tại vùng thí nghiệm dao động trong khoảng từ 16 - 280C, cao nhất là tháng 9, sau đó giảm dần đến tháng 1 năm 2015, điều đó ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của các giống ngô tham gia thí nghiệm
Trang 40Tổng số giờ nắng trong các tháng có sự khác nhau rõ rệt, số giờ nắng cao nhất vào tháng 9 và tháng 10, điều này thuận lợi cho cây ngô phát triển thân lá, tăng chiều cao, sau đó số giờ nắng giảm dần vào các tháng tiếp theo, do đó đã ảnh hưởng đến khả năng kết hạt, kéo dài thời gian chín của hạt
Độ ẩm không khí trong các tháng tại khu vực thí nghiệm biến đổi không nhiều, dao động từ 75,5 - 85,5%
Nhìn chung, thời tiết vụ Thu Đông năm 2014 diễn biến thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng, phát triển
Bảng 3.2 Diễn biến một số yếu tố khí hậu vụ Xuân năm 2015
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ninh, 2015
Số liệu tại Bảng 3.2 cho thấy nhiệt độ bình quân các tháng tại khu vực thí nghiệm dao động từ 18 - 28,50C, thấp nhất vào tháng 3 và tăng dần tới tháng 6,
so với nền nhiệt độ trung bình các năm trước, nhiệt độ trung bình các tháng 2 và
3 thấp, điều này ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển ở giai đoạn cây con và phát triển thân lá, kèo dài thời gian sinh trưởng của cây, tuy nhiên ở các tháng 5
và 6 nhiệt độ tăng nên thuận lợi cho cây thụ phấn, hình thành hạt
Tổng số giờ nắng trong các tháng 2 và 3 rất thấp, điều này không thuận cho quang hợp và sinh trưởng của cây trồng, ẩm độ không khí trong các tháng không có sự sai khác nhau nhiều, trung bình từ 84,5 - 87,5%
3.2 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các THL trong thí nghiệm
Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây trồng nói chung, ngô nói riêng
do di truyền điều khiển, nhưng chịu tác động lớn của môi trường Nghiên cứu các giải đoạn sinh trưởng phát triển của giống nhằm nhận biết khả năng thích ứng của giống với điều kiện môi trương nghiên cứu Các giai đoạn sinh trưởng phát triển là