BÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụngBÀI THUYẾT TRÌNH vật liệu xây dựng Sơ lược quá trình sản xuất các loại gạch thông dụng
Trang 1BÀI THUYẾT TRÌNH
SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT CÁC
LOẠI GẠCH THÔNG DỤNG
Trang 23.4.1 Sản xuất gạch xây
• Gạch xây là loại vật liệu gốm phổ biến thông dụng
nhất, có công nghệ sản xuất đơn giản Công nghệ sản xuất gạch gồm 5 giai đoạn:
• 1.Khai thác nguyên liệu
• 2.Nhào trộn
• 3.Tạo hình
• 4.Phơi xấy
• 5.Nung và làm nguội ra lò
Trang 31 Khai thác nguyên liệu:
Trước khi khai thác cần phải loại bỏ 0,3 - 0,4m lớp đất trồng trọt ở bên
trên Việc khai thác có thể bằng thủ công hoặc dùng máy ủi, máy đào, máy cạp
Đất sét sau khi khai thác được ngâm ủ trong kho nhằm tăng tính dẻo và độ đồng
đều của đất sét
Trang 42.Nhào trộn đất sét:
• Quá trình nhào trộn sẽ làm tăng tính dẻo và
độ đồng đều cho đất sét giúp cho việc tạo
hình được dễ dàng Thường dùng các loại máy cán thô, cán mịn, máy nhào trộn, máy một
trục, 2 trục để nghiền đất
Trang 53.Tạo hình:
• Đểtạo hình gạch người ta thường dùng máy
đùn ruột gà Trong quá trình tạo hình còn
dùng thiết bị có hút chân không đểtăng độ đặc
và cường độcủa sản phẩm
Trang 72.Nung: Nhiệt độ đến 1000 – 1050 0 C, đây là quá trình biến đổi của các thành phần khoáng tạo ra sản phẩm có cường độ cao, màu sắc đỏ hồng
Trang 83.Làm nguội: Quá trình làm nguội phải từ từtránh đột ngột để tránh nứt tách sản phẩm, khi ra lò nhiệt độcủa gạch khoảng 50 – 55 0 C.
Theo nguyên tắc hoạt động, lò nung gạch có hai
loại: Lò gián đoạn và lò liên tục
Trong lò nung gián đoạn gạch được nung thành mẻ, loại này có công suất nhỏ, chất lượng sản phẩm thấp Trong lò liên tục gạch được xếp vào, nung và ra lò liên tục trong cùng một thời gian, do đó năng suất cao mặt khác chế độnhiệt ổn định nên chất lượng sản
phẩm cao Hai loại lò liên tục được dùng nhiều là lò
vòng (lò hopman) và lò tuy nen
Trang 93.4.2 Sản xuất ngói:
Kỹ thuật sản xuất ngói cũng gần giống như sản xuất gạch Nhưng do ngói có hình dạng phức tạp, mỏng, yêu cầu chất lượng cao, không sứt mẻ, nứt vỡ, ít thấm ), nên kỹ thuật sản xuất ngói có một số yêu cầu khác
gạch Nguyên liệu dùng loại đất sét có độ dẻo cao, dễ chảy Đất không chứa tạp chất cacbonat Trong sản
xuất ngói có thể dùng 15 - 25% phụgia cát, 10 - 20%
phụ gia samốt
Trang 10• Gia công nguyên liệu và chuẩn bị phối liệu
được thực hiện chủyếu theo phương pháp
dẻo và cũng có thể theo phương pháp bán khô
và cả phương pháp ướt (khi trong nguyên liệu
có lẫn tạp chất) Gia công và chuẩn bị phối liệu
kỹ hơn nhằm làm cho độ ẩm đồng đều hơn và phá vỡ tối đa cấu trúc của nguyên liệu đất sét bằng cách ngâm ủ dài ngày hơn
Trang 11Trước khi tạo hình phải tạo ra những viên galet trên máy ép lentô, rồi ủ để độ ẩm đồng đều sau
đó mới tạo hình ngói từ những viên gạch galét
Ngói được sấy trong các nhà sấy tự nhiên (các nhà kho sấy có giá phơi) hay sấy nhân tạo (trong các thiết bịsấy phòng, sấy tunen, sấy băng
chuyền giá treo) Để tránh nứt nẻ cho sản phẩm, ngói được sấy theo chế độ sấy dịu Khi nung
ngói, nhiệt được nâng lên từ từ, nung lâu hơn, làm nguội chậm hơn
Trang 123.4.3 Sản xuất gạch ốp lát (ceramic):
• Nguyên liệu chủ yếu trong sản xuất gạch gốm ốp lát là loại đất sét chất lượng cao, có nhiệt độ kết khối thấp, khảnăng liên kết cao và có khoảng kết khối rộng (không nhỏhơn 80-
100 o C, có thể đến 200 o C) Vềthành phần khoáng, đất sét tốt nhất là caolinit-thuỷmica (hàm lượng mi ca lớn, thạch anh thấp), các loại đất sét caolinit-montmôrilonit (hàm
lượng montmôrilonit tới 20%, hàm lượng thạch anh thấp không đáng kể) cũng là nguyên liệu đểsản xuất sản phẩm
sứ vệsinh cao cấp và gạch gốm ốp lát (quy định trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6300 : 1997)
•
Trang 13Ngoài đất sét, trường thạch cũng là nguyên liệu thiết yếu đóng vai trò là chất chảy Khi nóng chảy trường thạch tạo ra pha thuỷtinh hoà tan một phần thạch anh, bao bọc và gắn các tinh thể tạo nên độ bền cần thiết cho vật liệu Khi làm
nguội từ pha lỏng này, mulit thứ sinh hình kim sẽkết dính tạo nên cốt cho vật liệu Theo TCVN
6598 : 2000 trường thạch làm xương cần phải
đảm bảo một số chỉ tiêu về hàm lượng silic
đioxit, nhôm oxyt, kiềm oxyt và sắt oxyt
Trang 14• Thạch anh là phụ gia gầy, có tác dụng làm giảm độco sấy, co nung, làm tăng các mao mạch
thúc đẩy quá trình sấy bán thành phẩm Nó là thành phần tạo nên kết cấu của xương
Trang 151280 0 C với thời gian của mỗi chu kỳ nung từ 60 - 70 phút
Granite là loại gạch đồng chất (từ đáy đến bề mặt viên gạch
cùng chất liệu), độ bóng của gạch là do mài chứ không phải
tráng men như gạch gốm sứ tráng men, vì vậy gạch rất bóng nhưng không trơn, kích thước chính xác giúp cho việc ốp lát được dễ dàng Theo tiêu chuẩn TCVN 6883 : 2001 loại gạch này phải đạt các yêu cầu theo bảng 3-10 và 3-11.
Trang 163.4.5 Sản xuất gốm sứ
• 1 - Khâu làm đất (thấu đất): Trước hết, phải chọn
đất sét và đất cao lanh loại tốt Sau đó, đất được
tinh luyện qua nhiều công đoạn để lấy được đất tốt nhất sử dụng vào làm gốm Đất sét khi khai thác cũn nguyờn tảng, thường bị rắn nên phải tưới nước cho
no rồi dùng mai thái mỏng, loại bỏ tạp chất, dùng chân nhào thật kỹ rồi đắp thành từng đống lớn, thái
đi thái lại nhiều lần tạo nên đất có độ mịn, dẻo
Công đoạn này gọi là luyện đất hay thấu đất.
Trang 172 - Tạo hình sản phẩm (chuốt gốm): Cú 3 phương
pháp tạo hỡnh chớnh là: Tạo hình trờn bàn xoay, tạo hình bằng khuôn và nặn đắp bằng tay Có sản phẩm được tạo bởi sự kết hợp của cả 3 phương pháp trên.
- Tạo hình trên bàn xoay: Đất luyện kỹ vừa độ dẻo, nặn thành dây dài to bằng cổ tay, người thợ chuốt ngắt từng đoạn, khoanh trũn giữa bàn xoay, chân phải đạp bàn, hai tay chuốt Mọi sản phẩm to, nhỏ, dày, mỏng đều do hai bàn tay điều khiển, không có khuôn mẫu nhất định, kích thước từng cỡ do mực mắt, có sai lệch nhưng không
đáng kể Tạo hình bằng bàn xoay, thường dùng để sản
xuất những sản phẩm gốm có kích thước lớn như: Chum,
lọ, bình, âu
Trang 18- Tạo hình bằng khuôn: Qua khai quật đó tìm
thấy một số khuôn gốm tại di tích Chu Đậu (Nam Sách), Hợp Lễ (Bình Giang) là bằng chứng chắc
chắn của kỹ thuật này Phương pháp tạo hình
bằng khuôn thường dùng để sản xuất các loại sản phẩm có khối lượng lớn như: Bát, đĩa, chén
- Tạo hình bằng phương pháp đắp nặn bằng
tay: Đây là kỹ thuật ra đời sớm nhất, thô sơ nhất
ở các di tích gốm sứ cổ Hải Dương Kỹ thuật nặn bằng tay được thể hiện rõ ở các con kê, đinh gốm, bao nung, lon, vại, các loại con giống, tượng
Trang 193 - Trang trí hoa văn: Sản phẩm gốm được
trang trí hoa văn bằng nhiều phương pháp như:
- Vẽ trên gốm (vẽ trên men và vẽ dưới men): Sản phẩm gốm sau khi tráng men rồi trang trí hoa văn được gọi là vẽ trờn men; Trang trí hoa văn trước rồi tráng men sau gọi là vẽ dưới men
Kỹ thuật này chủ yếu được ứng dụng trong
phương pháp làm gốm thời Lê - Nguyễn
Trang 20- Cắt gọt và khắc vạch: Sản phẩm gốm sau khi
chuốt xong được phơi nắng, khi nào đất se cứng thỡ tiến hành sửa, gọt, cạo nhẵn theo đúng ý muốn Các chi tiết khác như: Quai, tai hoặc trang trí các hình động vật nổi, hoa lá cũng được
thực hiện ở giai đoạn này Khắc vạch là phương pháp trang trí hoa văn chủ yếu của gốm thời tiền
sử Người thợ gốm vẽ hoặc khắc vạch trực tiếp lên xương gốm sau đó đem nung
Trang 21• - In hoa văn bằng khuôn: Một số sản phẩm gốm có hoa văn khắc chìm vào xương gốm được thực hiện bằng phương pháp in khuôn
Kỹ thuật này được áp dụng nhiều trong
phương pháp làm gốm thời Lý - Trần, điển
hình là các sản phẩm gốm men ngọc và gốm men hoa nâu
Trang 224 - Tráng men: Có nhiều cách tráng men khác
nhau như: Phun men, dội men lên bề mặt sản phẩm gốm có kích thước lớn Nhúng men, quét men đối với loại sản phẩm gốm có kích thước nhỏ Nhưng
thông dụng nhất vẫn là phương pháp kìm đúc: Tức
là tráng men bên trong sản phẩm trước, tráng men bên ngoài sau Dùng gáo dừa múc men rót vào bên trong sản phẩm, lắc sao cho đều, tráng men bên
ngoài thì cầm sản phẩm nhúng vào thựng đựng men cho men lỏng kín bề mặt sản phẩm Ngoài ra còn sử
dụng phương pháp "quay men" hoặc "đúc men"
Trang 23Quay men là hình thức tráng men bờn trong
và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, tức là cầm sản phẩm cần tráng men một tay đỡ một tay
quay vào thùng men gọi là quay men Đúc men, tức là chỉ tráng men bên trong lòng sản phẩm Cách tráng men thiên biến vạn hoá tuỳ thuộc
vào kích thước của sản phẩm, có sản phẩm sử dụng cùng một lúc nhiều cách tráng men
Trang 24• 5 - Nung đốt: Đây là công đoạn quan trọng
quyết định sự thành công hay thất bại của một
mẻ gốm Có nhiều loại lò được sử dụng nhưng phổ biến là lò cóc và lò bầu Qua khai quật các
di tích gốm cổ ở Hải Dương, chưa phát hiện
thấy lò nung gốm nguyên vẹn Tại các di tích
gốm Chu Đậu (Nam Sách), Cậy (Bình Giang)
đó phát hiện được một số đáy lò, chủ yếu là lò cóc
Trang 25- Phương pháp nung gốm bằng lò cóc: Đây là
kiểu lò gốm cổ nhất được sử dụng một cách phổ biến Lò đắp bằng đất đã qua lửa như gạch non (chiếm 80%), đập nhỏ, nhào với đất thịt, đắp cao dần lên theo hình bầu dục, chiều dài gấp 3 chiều rộng, kích thước trung bình là 5m x 1,7m, cao
khoảng 1,5m
Trang 26Phía đầu lò có một cửa trung bình 70cm x 70cm Khi nung phải nấp thật kín cửa để tránh bị mất nhiệt ảnh hưởng đến sản phẩm Cuối lò có hai ống khói, cao trên 3m Nhiên liệu nung gốm bằng lò cóc chủ yếu là củi gỗ và một phần than
đá Nhiệt độ trong lò lên tới trên 1.000oC
Trang 27- Phương pháp nung gốm bằng lò cóc: Đây là kiểu lò gốm cổ nhất được sử dụng một cách phổ biến Lò đắp bằng đất đã qua lửa như gạch non (chiếm 80%), đập nhỏ, nhào với đất thịt, đắp cao dần lên theo hình bầu dục, chiều dài gấp 3 chiều rộng, kích thước trung bình là 5m x 1,7m, cao
khoảng 1,5m Phía đầu lò có một cửa trung bình 70cm x 70cm
Trang 28• Khi nung phải nấp thật kín cửa để tránh bị mất nhiệt ảnh hưởng đến sản phẩm Cuối lò có hai ống khói, cao trên 3m Nhiên liệu nung gốm
bằng lò cóc chủ yếu là củi gỗ và một phần than
đá Nhiệt độ trong lò lên tới trên 1.000oC