TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA HÓA HỌC NGUYỄN THỊ DUNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN, HÀM LƯỢNG CÁC LỚP CHẤT LIPID TRONG LIPID TỒNG MỘT SÓ LOÀI THÂN MỀM BIỂN VIỆT NAM KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ DUNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN, HÀM LƯỢNG CÁC LỚP CHẤT LIPID TRONG LIPID TỒNG MỘT SÓ LOÀI THÂN MỀM
BIỂN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên n g à n h : H óa học hữu cơ
Người hướng dẫn khoa học
THS ĐẶNG THỊ PHƯƠNG LY
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận với đề tài: “Nghiên cứu thành phàn, hàm lượng các lớp chất lipid trong lipid tổng một số loài thân mềm biển Việt Nam” được thực hiện tại phòng Hóa sinh hữu cơ - Viện Hóa học các Họp chất thiên nhiên - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn GS TS Phạm Quốc Long và Ban lãnh đạo Viện Hóa học các Họp chất thiên nhiên - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo điều kiện cho em được học tập và sử dụng các thiết bị của viện để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp của mình
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Đặng Thị Phương Ly, cùng các anh (chị) phòng Hóa sinh hữu cơ - Viện Hóa học các Họp chất thiên nhiên đã giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp tại đây
Em xin cảm ơn các thầy, cô ừong Khoa Hóa học - Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình dạy dỗ và chỉ bảo em ừong suốt 4 năm học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Dung
Trang 3MUC LUC• •
MỞ Đ Ầ U 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QU AN 3
1.1 Sơ bộ về Thân mềm .3
1.2 Phân loại động vật Thân mềm .6
1.2.1 Phân ngành Song kinh (Amphineura) .6
1.2.2 Phân ngành vỏ liền (Conchífera) 7
1.3 Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học động vật thân mềm 8
1.4 Lipid, các lớp chất lipid .9
1.5 Phương pháp xác định hàm lượng các lớp chất lipid sử dụng phần mềm xử lí hình ảnh SORBFIL 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C Ú Ư 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Dụng cụ, hóa chất 18
2.2.1 Dụng c ụ 18
2.2.2 Hóa c h ấ t 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Phương pháp chiết lipid tổ n g 18
2.3.2 Phương pháp phân tích thành phần và hàm lượng các lớp chất ừong lipid tổ n g 19
2.3.3 Phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học dịch chiết lipid tô n g 20
a Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào 20
b. Đánh giá hoạt tính kháng v s v kiểm đ ịn h 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LU Ậ N 21
Trang 43.1 Hàm lượng lipid tổ n g 21
3.2 Phân tích thành phàn và hàm lượng các lớp chất trong lipid tổng 24
3.3 Thử nghiệm hoạt tính sinh học dịch chiết lipid tổng 16 mẫu thân mềm nghiên c ứ u 30
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤ LỤC 35
Trang 5DANH MUC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1.Các lớp chất lipid trong sinh vật biển 12Bảng 2.1 Danh sách các mẫu và hình ảnh thân mềm nghiên cứu 16Bảng 3.1 Hàm lượng lipid tổng của 16 mẫu thân m ềm 21Bảng 3.2 Thành phần và hàm hượng các lớp chất lipid trong lipid tổng
mẫu thân mềm nghiên cứu 26Bảng 3.3 Hoạt tính gây độc tế bào của mẫu dịch chiết các loài thân m ềm 30 Bảng 3.4 Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của mẫu dịch chiết các
loài thân mềm 31
Biểu đồ 3.1 Hàm lượng lipid tổng trong mẫu thân mềm nghiên cứu 23Biểu đồ 3.2 Hàm lượng các lớp chất trong lipid tổng 27
Trang 6DANH MUC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức cơ thể của các nhóm Thân mềm (Theo Storer) 3
Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo vạt áo và vỏ ngoài của Thân mềm (theo Dogel) 4
Hình 1.3 Một số kiểu lưỡi bào (radula) của Chân bụng (Theo Hickman) 6
Hình 1.4 Cấu tạo phân tử lipid 10
Hình 1.5 Cấu tạo lipid ừên cơ sở glyxerol 11
Hình 1.6 Cấu tạo lipid ừên cơ sở sphingozin 11
Hình 3.1 Sắc ký lớp mỏng lipid tổng các mẫu thân mềm nghiên cứu 25
Hình 3.2 Tính toán hàm lượng các lớp chất trong lipid tổng bằng phần mềm Sorbfil TLC Videodensitometer, Krasnodar, Russia 26
Trang 7DANH MUC CHỮ VIẾT TẮT
ATCC American Type Culture Collection
Trang 8MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có đường bờ biển dài trên 3.260km (không kể bờ các đảo) và vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2 Biển Việt Nam có trên 3.000 hòn đảo, phân bố tập trung ở ven bờ Tây Bắc Vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh - Hải Phòng) Một số đảo ven bờ miền Trung và Tây Nam bộ và hai quàn đảo ngoài khoi là quần đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nằng và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa Bên cạnh đó, địa hình nước ta phức tạp chạy dọc ven biển và 112 cửa sông chính đổ trực tiếp ra biển điều này đã tạo nhiều đầm, phá, cửa sông, vũng vịnh, các ao đầm thuộc vùng triều Đây là tiềm năng rất lớn cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản ở vùng ven biển Việt Nam nói chung và động vật thân mềm biển nói riêng Theo Jorgen Hyllenberg (2003), trong hệ sinh thái biển có khoảng 2200 loài động vật thân mềm thuộc 700 giống của 200 họ [1] Trong đó, hiện nay ở nước ta có khoảng hơn 25 loài khác nhau có thể đưa vào nuôi trồng ở các vùng ven biển Hàng năm, sản lượng nuôi trồng và đánh bắt loài này lên đến hàng chục nghìn tấn và đã đóng góp một phần ngân sách không nhỏ cho ngành thủy sản nói riêng và nền kinh tế quốc gia nói chung Vì vậy việc nuôi trồng và phát triển loài động vật nhuyễn thể rất được quan tâm và đầu tư theo quy hoạch của bộ Thủy sản [2]
Ngành thân mềm không những giữ vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái mà còn có giá trị kỉnh tế, y học, dược học Trên 80 loài có giá trị kinh
tế cao, chủ yếu tập chung ở họ Sò (Arcidae), Ngao (Vereridae), Phi (Psammobiidae), Bào ngư (Halitidae), Hàu (Ostreidae), Vẹm, Tu hài , đây cũng là những đối tượng được nuôi trồng rộng rãi phục vụ nhu cầu trong nước
và xuất khẩu [1]
Thành phần hóa học của thân mềm có chứa nhiều họp chất có hoạt tính
Trang 9sinh học cao, trong đó lipid là một thành phàn quan trọng Việc nghiên cứu thành phần hóa học của thân mềm sẽ tạo điều kiện cho việc định hướng khai thác và sử dụng các nguồn hoạt chất sinh học, ứng dụng vào các sản phẩm phục vụ đời sống và phát triển kinh tế biển.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên nên tôi chọn đề tài khóa luận tốt
nghiệp là: “Nghiên cứu thành phần, hàm lượng các lớp chất lipid trong lỉpỉd tổng một sổ loài thân mềm biển Việt Nam Các kết quả thu được đóng góp cho bộ cơ sở dữ liệu về lipid các mẫu sinh vật biển Việt Nam và là cơ sở cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn về hóa học lipid của loài sinh vật này
Mục tiêu của đề tài:
- Thu nhận lipid tổng, xác định hàm lượng lipid tổng;
- Xác định thành phần và hàm lượng các lóp chất lipid ừong lipid tổng trong 16 mẫu thân mềm
- Thử hoạt tính sinh học: hoạt tính gây độc tế bào và hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định dịch chiết lipid tổng 16 mẫu thân mềm
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Sơ bộ về Thân mềm
Ngành động vật Thân mềm (Mollusca) hay còn gọi là nhuyễn thể hay
thân nhuyễn bao gồm nhiều loài khác nhau, có thể có vỏ đá vôi che chở, chi xệp sau ngành Chân khớp về số lượng các giống, loài và cá thể [3] Động vật thuộc ngành này thích nghỉ với những môi trường sống khác nhau cả nước mặn, nước ngọt và ừên cạn Động vật Thân mềm có những nét đặc trưng riêng về cấu trúc cơ thể Đó là sự phân hoá của biểu bì ở phần thân để hình thành vạt áo bao phủ thân, tiếp đó hỉnh thành xoang áo chứa cơ quan áo đảm nhận một số chức phận quan trọng Lớp áo có thể tiết ra vỏ canxi hay gai phủ trên bề mặt cơ thể Hình thành cơ quan lưỡi gai (lưỡi bào) đặc trưng để nạo và cuốn thức ăn cấ u trúc cơ thể được chia thảnh 3 phần là đầu, thân và chân, mức độ phát triển của các phần tuỳ thuộc vào từng nhóm khác nhau Hầu hết
cơ thể động vật Thân mềm có đối xứng 2 bên, riêng nhóm Chân bụng (ốc) có hiện tượng mất đối xứng [4]
Hình 1.1 Sơ đồ tỗ chức cơ thể của các nhổm Thân mềm (Theo storer)
Từ ừái sang phải: lớp v ỏ một tấm (Mônplacophora); Song kinh(Amphineura); Chân thùy (Scaphopoda); Chân rìu (Pelecypoda); Chân bụng (Gastropoda) và Chân đầu (Cephalopoda) ANTERIOR: Phần trước cơ thể;
POSTERIOR: Phần sau cơ thể; M: Miệng; A: Hậu môn
Trang 11Cơ thể động vật Thân mềm thường được chia thành 3 phần là phần đàu, phần thân và phần chân Lớp biểu bì của phần thân hình thành nên áo (hay được gọi là vạt áo) Từ ngoài vào ữong, áo gồm có 3 lớp rõ ràng là biểu bì ngoài, lớp mô liên kết và trong cùng là lớp biểu bì trong Biểu bì của áo (lớp
tế bào ngoài) hình thành nên vỏ bọc cơ thể với độ dày và cấu trúc khác nhau Ngoài cùng của vỏ là lớp sừng (conchyolin = periostracum) mỏng, tiếp đến là lóp caxin gồm các tỉnh thể hình lăng trụ khá dày, trong cùng là lóp xà cừ mỏng hơn Khoảng trống giữa vạt áo và nội quan được gọi là xoang áo, trong
đó thường có cơ quan hô hấp, cơ quan cảm giác, lỗ sinh dục, bài tiết, hậu môn (hình 1.2) Các cơ quan này được gọi chung là phức họp cơ quan áo của động vật thân mềm
1
2 'ĩ Vỏ
L Vai á
Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo vạt áo và vỏ ngoài của Thân mềm (theo Dogel)[4]
1 Lóp sừng (conchyolin); 2 Lớp lăng trụ canxỉ; 3 Lcrp xà cừ; 4 Biểu bì
ngoài của áo; 5 Lớp mô liên kết; 6 Biểu bì trong
Các kiểu vận động khác nhau của động vật Thân mềm biến đổi theo mức
độ phát triển của phần chân Nhìn chung mức độ phát triển và vị trí tương đối của các phần cơ thể có biến đổi ở mỗi lớp khác nhau Mặc dù cơ thể không phân đốt nhưng vẫn biểu hiện về sự sắp xếp phân đốt của các cơ quan Ví dụ như ở Song kinh có vỏ và vỏ một tấm thì đầu không phát triển, khoang áo chỉ
là 2 rãnh bên chân, biểu hiện sự phân đốt ở lớp vỏ, ở cấu tạo hệ thần kinh Lớp Chân bụng có phần thân xoắn chóp làm cơ thể mất đối xứng và chỉ thích
Trang 12nghi với đời sống bò chậm trên giá thể Chân rìu hay (Hai mảnh vỏ) có 2 vỏ khớp vào nhau nhờ răng và dây chằng ở mặt lưng, phần đầu tiêu giảm, thích nghi với đời sống chui rúc ừong bùn, cát Chân thùy (hay Chân xẻng) có vỏ dạng ống, phàn đàu tiêu giảm để thích nghi với đời sống chui trong bùn Chân đầu có phần chân chuyển thành tua đầu, hình thành phễu phun nước từ xoang
áo Phần đầu phát triển, vỏ chuyển vào trong thành tấm nâng đỡ, cấu trúc cơ thể thuôn dài thích nghi với đời sống săn mồi tích cực Nội quan của Thân mềm có những thay đổi để phù hợp lối sống Thể xoang của Thân mềm tiêu giảm nhiều, chỉ còn lại một phần quanh tim (được gọi là xoang bao tim) và phần bao quanh tuyến sinh dục (xoang sinh dục) Phần còn lại giữa các nội quan có mô liên kết lấp đầy Có ý kiến cho rằng Thân mềm chỉ phát triển ở mức độ xoang giả (pseudocoelum), tuy nhiên nhiều dẫn liệu cho thấy xoang
cơ thể của thân mềm chính là thể xoang tiêu giảm Thân mềm có hệ tuần hoàn
hở (máu không chảy hoàn toàn trong mạch), nhưng lại có tim có cấu tạo khá hoàn chỉnh Ở mực tim có một tâm thất và 2 hay 4 tâm nhĩ) Hệ bài tiết là dạng biến đổi của hậu đơn thận Hệ thần kỉnh theo kiểu bậc thang kép (ở nhổm thân mềm cổ) hay dạng hạch phân tán Hệ tiêu hoá có cơ quan đặc trưng là lưỡi gai (radula) Cơ quan hô hấp là lược mang (ctenidia) [1]
Lưỡi gai (lưỡi bào - radula) (hình 1.3) là cấu trúc đặc trưng của động vật Thân mềm, cấu tạo là một khối kitin hay prôtein lát thành dưới của thực quản, mặt trên lưỡi gai có nhiều dãy răng kitin Phần gốc của lưỡi gai có các tế bào sinh ra phần lưỡi gai bị bào mòn do qúa trình tiêu hoá Hoạt động của lưỡi gai được điều khiển bởi các chùm cơ co và duỗi và lưỡi gai có thể thò ra ngoài cạo và cuốn thức ăn là thực vật vào miệng Sự sắp xếp của các gai trên lưỡi gai là đặc điểm chẩn loại quan trọng [1],
Trang 13¿ S S & ¿ísìi
ổ s ẩ i £253 ứ s ã
A
Hình 1.3 Một số kiểu lưỡi bào (radula) của Chân bụng (Theo Hickman)
A Busycon carỉca; B Murex regius; c Cypraea tigris; D Elysia
viridis; E Scaphander
1.2 Phân loại động vật Thân mềm
Động vật Thân mềm khá phong phú về thành phần loài và nơi sống Hiện nay đã biết khoảng 130.000 loài, trong số đó có 35.000 loài đã hoá thạch Phần lớn sống ở biển, một số sống ở nước ngọt Phân loại thân mềm chủ yếu dựa vào sơ đồ cấu tạo cơ thể, sự thích ứng với các lối sống khác nhau Động vật thân mềm được chia làm 2 phân ngành, 7 lớp [4]
1.2.1 Phân ngành Song kinh (Amphỉneura)
Đặc trưng của động vật Song kỉnh là chưa có vỏ liền thành một khối mà chỉ là các mảnh rời nhau hay chỉ là các gai Ngành này có khoảng 600 loài, sống ở biển, bám vào đá, cơ thể giẹp, đối xứng 2 bên, giác quan kém phát triển và có nhiều đặc điểm phân đốt Được chia làm 2 lớp là Song kinh có vỏ
và Song kinh không có vỏ [4]
Lóp Song kinh có vỏ (.Loricata) Hiện nay đã biết khoảng 800 loài đang
sống và 100 loài hoá thạch
Lóp Song kinh Không có vỏ (Aplacophora) hay Rãnh bụng
(Solenogastres) Hiện nay đã biết khoảng 300 loài, cơ thể hình giun, kích
thước bé (dưới 10 mm) Phần lớn sống ở đáy biển sâu, trong bùn lầy xen lẫn với các vùng có thủy tức là thức ăn của chúng
Trang 141.2.2 Phân ngành vỏ liền (Conchífera)
Đặc trưng của nhóm động vật Thân mềm này là cơ thể được bọc ừong một vỏ kín (một mảnh hay 2 mảnh) Phần thân nhô cao lên (được gọi là khối hay bao nội tạng) Chia làm 5 lớp là v ỏ một tấm, Hai mảnh vỏ, Chân bụng, Chân thùy (Chân xẻng) và Chân đầu [4]
Lớp vỏ một tấm (Monoplacophora) trước đây chỉ biết đến động vật
thuộc lớp này qua hoá thạch (tìm thấy hoá thạch ở các kỷ Cambri, Silua và Đevon), đến năm 1952 mới gặp loài Neopilina galatheae sống ở ven bờ Thái Bình Dương gần Mê Hi Cô, nơi có độ sâu 5.000m Từ đó đến nay đã phát hiện được 19 loài đang tồn tại, tất cả đều ở đáy biển sâu ừên 2.000m Kích thước thay đổi, loài lớn nhất là Neopilina galatheae dài tới 37mm và loài bé nhất là Micropilina amtzi dài không hon lmm [4]
Lớp Chân bụng (Gastropoda) động vật Chân bụng chiếm tới gần 80%
tổng số loài của động vật Thân mềm (có khoảng 90.000 loài) Hiện nay đã biết khoảng 75.000 loài đang sống và 15.000 loài đã hoá thạch Phần lớn động vật Chân bụng sống ở biển, một số sống ở nước ngọt, ở cạn hay chuyển sang đời sống ký sinh [4]
Lớp Chân rìu (Pelecypoda) = Hai mảnh vỏ (Bivalvia) = Mang tấm
(Lamellibrachia) số loài hiện sống (8.000 loài) ít hơn nhiều so với các loài hoá thạch (12.000 loài), trong đó chủ yếu sống ở biển, còn ở nước ngọt chỉ chiếm (10 - 15%) [4]
Lớp Chân thùy = Chân búa = Chân xẻng (Scapoda) hoá thạch tìm thấy
của các đại diện thuộc lớp này xuất hiện muộn hơn (khoảng 450 triệu năm), lớp này có khoảng 300 loài Cơ thể đối xứng 2 bên, vỏ dạng ống nhỏ dần về phía một đàu và thủng cả 2 đầu Chân thùy sống chui rúc trong bùn [4]
Lóp Chân đầu (Cephalopoda) có khoảng 6.000 hiện sống và 7.000 loài
hoá thạch Phần lớn chân đầu bơi giỏi, sống ở biển Cơ thể có đối xứng hai bên [4]
Trang 151.3 Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học động vật thân mềm
Đã có một số nghiên cứu về thành phần hóa học và các chất hoạt tính sinh học phân lập từ đối tượng thân mềm Berg, Krzynowek, Alatalo và Wiggin
(1985) nghiên cứu thành phần sterol và axit béo của loài Codakỉa orbicularis
cho thấy trong thịt của chúng chứa 74,8% nước, 1,1% mỡ, 2,9% tro Hàm lượng cholesterol là 20,6 mg/100g, chiếm 44,5% tổng của sterol [10]
Theo Đông y, thịt của các loài thân mềm có tính giãn mạch, làm mạch tuần hoàn ngoại vi, phổi và tạng phủ, làm tăng sức dẻo dai của gân cốt cơ bắp, kích hoạt các chức năng sinh sản, giải độc, giải nhiệt, giải khát, có lợi cho tóc, móng
và sinh dục Ngoài giá trị hàm lượng đạm cao trong mô thịt với thành phần các axit amin tự nhiên thiết yếu như: taurine, lysine, methionine; thịt của chúng còn chứa hàm lượng lipid và các axit béo đa nối đôi với hoạt tính sinh học cao có vai trò quan trọng đối với cơ thể sống như EPA (axit eicosapentaenoic); DHA (axit docosahexaenoic), [11] Động vật thân mềm có tới trên 100.000 loài khác nhau, trong đó các nhà khoa học đã tách chiết ra được các họp chất kháng virut và vi khuẩn từ các loài sò, trai, ốc [6] Các loài vẹm không chỉ là nguồn protein dồi dào và rẻ tiền dành cho con người và động vật nuôi mà còn chứa một loạt các chất có hoạt tính sinh học có giá trị vô cùng to lớn đối với khoa
học y dược Dịch chiết từ vẹm xanh ấn độ {Perna vỉrỉdỉs) đã được xác nhận
có khả năng kháng virut cúm gia cầm (inluenza), kháng herpes và virut viêm gan [7] Đã từ lâu ở nước Australia người ta nhận thấy rằng bộ tộc du mục Maori sống gần biển với nguồn thực phẩm từ biển dồi dào hầu như rất ít mắc bệnh viêm khớp so với các bộ tộc Maori sống trong đất liền [13] B R
Lawson và cộng sự đã xác định dịch chiết từ vẹm xanh New Zealand Pema canaliculus thể hiện khả năng chống viêm nhiễm cao với hiệu quả tương
đương loại thuốc kháng viêm không chứa steroid (NSAIDs) Dịch chiết giàu
Trang 16lipid của loài vẹm xanh này còn có khả năng ngăn chặn sự phát hiển của bệnh viêm đa khớp do tá dược gây ra Bệnh nhiễm trùng luôn là một vấn đề nan giải trong thực tiễn y học Hiện tượng nhiễm trùng vết thương, đặc biệt là các vết thương nằm sâu trong cơ thể do các loài vi khuẩn khác nhau là mối lo ngại lớn Hơn nữa nhiều chủng vi khuẩn có khả năng tạo ra sức đề kháng bằng cách đột biến với thuốc kháng sinh, trong khi đó các loại kháng sinh hầu hết
có phổ tác dụng rất hẹp đối với các loài vi khuẩn Vì vậy ngày càng có nhu càu cấp thiết là phải tạo ra loại thuốc cho phép bảo vệ chống lại đồng thời các loại vi sinh vật gây bệnh khác nhau và được sản xuất với giá cả phải chăng Các phân đoạn polypeptit với khối lượng khác nhau được tìm thấy trong các dịch chiết từ một số loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ đặc biệt là vẹm xanh, có hoạt tính cao chống lại một phổ rộng các virut (kể cả vimt cúm gia cầm), vi khuẩn và protozoa Các phân đoạn polypeptit đặc biệt này được đặc trưng bởi khả năng liên kết đặc thù sinh học với axit sialic khi có mặt các ion Ca2+, ít nhất với một phân tử đường amin trong nhóm axit sialic Axit béo không no (PUFA) được phát hiện mới đây từ các loài vẹm xanh có hoạt tính sinh học mạnh hơn 300 lần eicosapentaenoic axit (EPA), đặc biệt hoạt tính chống viêm nhiễm Các PUFA được tìm thấy trong dịch chiết vẹm xanh thể hiện hoạt tính kháng viêm nhiễm rất cao và không có phản ứng phụ mặc dù
đã được thử nghiệm trên hàng ngàn bệnh nhân
1.4 Lipid, các ỉớp chất lipid
Lipid (có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ - hipos nghĩa là mỡ hay là chất
béo) là những hợp chất hữu cơ tự nhiên rất phổ biến trong tế bào các cơ thể sống, trong động vật, thực vật và vi sinh vật Chúng có thành phàn hoá học và cấu tạo khác nhau nhưng có tính chất chung là không hoà tan trong nước mà thường hoà tan trong các dung môi hữu cơ như: ete, clorofom, benzen, ete dầu hỏa [9] Lipid là hợp phàn cấu tạo quan trọng của các màng sinh học tế
Trang 17bào, là nguồn cung cấp năng lượng (37,6.106 J/kg), nguồn cung cấp các vitamin A, D, E, F, K và F cho cơ thể sống [9].
Trong tự nhiên, những hợp chất thuộc về lớp chất lipid tồn tại rất đa dạng như: các hydrocacbon bậc cao, các ancol, các aldehyde, các axit béo, các dẫn xuất của chúng như glyceride, sáp, phospholipid, glucolipid, sulíolipid [12] Lipid có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau, tuy nhiên cấu tạo lipid thường có chung một nguyên tắc ừong thành phần phân tử lipid bao gồm hai phần: đầu phân cực ưa nước và đuôi hydrocacbon kị nước (hình 1.4) Hai phần của phân
tử lipid được liên kết với nhau bởi mắt xích liên kết ở giữa Thường người ta dùng nguồn gốc tự nhiên của mắt xích liên kết, giữa phần phân cực và phần không phân cực để làm cơ sở phân loại lớp chất lipid [8] Theo đó, lipid có hai dạng glycerolipid là các dẫn xuất của glycerol và sphingolipid là dẫn xuất của sphingosine
Đầu phân cực ưa nước Mắt xích liên kết
Đuôi hydrocacbon kị nước
Hình 1.4 Cấu tạo phân tử lipid
Lipid thường được chia làm 2 nhóm chính là lipid đơn giản và lipid phức tạp: lipid đơn giản là este của axit béo và ancol, bao gồm triacylglycerol (dầu,
mỡ thực vật), sáp, sterol; lipid phức tạp là trong phân tử của chúng ngoài acid béo và ancol còn có các thành phần khác như: gốc acid phosphoric, cholin, saccharide, ví dụ như glycolipid và phospholipid [9]
Trong thực tế đa phần lipid tồn tại dưới dạng este của glyxerol (1) với các axit béo (gọi là glyxeride), khi mà cả ba nhóm hydroxyl (OH) của
Trang 18glyxerol đều được este hóa thì gọi là triglyxeride hoặc là triaxylglyxerol (2), công thức cấu tạo chung (hình 1.5):
1 c h 2 o h CHZ -OCOR 2
3 c h 2 oh
2 R2OCO»-C— H
3 CH2 OCOR3
Glyxerol (1) Triglyxeride (2)
Hình 1.5 Cấu tạo lipid trên cơ sở glyxerol
Nhóm chất lipid khác cũng phân bố rộng rãi trong lớp màng tế bào, đặc biệt ở não là các sphingolipid, chúng được cấu tạo trên cơ sở liên kết nhómamin của sphingosine (3) với các axit béo Các sphingolipid đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn tín hiệu và nhận biết tế bào, chúng có tác động đặc biệt vào mô thần kinh Một trong những dẫn xuất phổ biến trong động vật biển là ceramide (4) và có công thức cấu tạo mô tả ở hình 1.6 [9]
Trang 19c Parrish (2013) đã chia các lớp chất lipid trong sinh vật biển thành 3 nhóm:
nhóm A là những lớp chất ít phân cực nhất như các hydrocacbon, các ester
đơn giản (sáp, ester của sterol ); nhóm B gồm các lớp chất có độ phân cực
trung bình như các ester phức tạp (triacylglycerol, diacylaglycerol ), các axit
béo tự do, các họp chất rượu, sterol; nhóm c gồm các lớp chất phân cực nhất
và phức tạp nhất như các pigment, monoacylglycerol, glycolipid, phospholipid [12] (bảng 1.1)
Bảng l.l.C ác lớp chất lipid trong sinh vật biển
Steryl ester
O
Cholesterylpalmitate
Tripalmitin
Trang 20\ Jfcc-o-CHs
"H ^ :h ”
Trang 21Trong dịch chiết lipid tổng của các đối tượng thân mềm biển và một số sinh vật biển khác như san hô, da gai , các lớp chất lipid chính được xác định đó là hydrocacbon, sáp, monoalkyldiacylglycerol, triacylglycerol, sterol, lipid phân cực (glycolipid, phospholipid)
1.5 Phu’O'ng pháp xác định hàm lượng các lóp chất lỉpỉd sử dụng phần mềm xử lí hình ảnh SORBFIL
Sử dụng phần mềm xử lý hình ảnh để đo mật độ quang học là một trong những phưomg pháp thuận tiện nhất để tính toán định lượng đối với sắc
ký lớp mỏng (TLC) Để thực hiện, người ta sử dụng phép đo mật độ trên bản mỏng TLC đã được scan bằng một chùm tia sáng có bước sóng cụ thể để tính toán theo hình ảnh hiển thị của sắc ký đồ Ưu điểm của phương pháp này chính là thao tác không quá phức tạp và tốc độ xử lý nhanh
Phần mềm Sorbfil (được sản xuất bởi Công ty Sorbpolimer) có thể xử
lý được bất kỳ một TLC nào, nhìn thấy trong ánh sáng ban ngày hoặc ánh sáng tia cực tím với bước sóng 254 hoặc 365 nm Hình ảnh của bản mỏng thu được sau khi scan hoặc chụp ảnh bằng máy ảnh kỹ thuật số sẽ được chuyển ra máy tính Căn cứ vào hình ảnh thu được, phép đo mật độ sẽ tính toán kích thước và cường độ của những vệt màu và sẽ thể hiện lượng chất tại vết đó Chương trình Sorbfil sẽ tính toán thành phần tỉ lệ phần trăm của các chất trong hỗn họp và nồng độ các chất ữong mẫu Khả năng tái hiện của phép đo
là 98%, trong khi độ lệch chuẩn tương đối của khu vực sắc ký nhỏ hơn 4%, không vượt quá giá trị cho phép Các kết quả tính toán (đồ thị, bảng), văn bản ghi chú, thậm chí cả hình ảnh sắc kí phổ, có thể được lưu lại và in ra trong báo cáo
Tính đơn giản và độ chính xác cao, khả năng tái phân tích khi cần thiết
và kết quả đáng tin cậy của phần mềm này giúp nó có thể được sử dụng trong các phòng thí nghiệm một cách phổ biến, mà không đòi hỏi phải thay đổi
Trang 22phương pháp phân tích TLC hiện có Phần mềm Sorbíil đã được sử dụng rộng rãi để thay thế một số phương pháp truyền thống xác định hàm lượng các lớp trong một hỗn hợp vốn mất nhiều thời gian, tỉ mỉ và phải sử dụng nhiều dung môi độc hại Phần mềm Sorbíil đã nhận được giấy chứng nhận Gosstandart của Nga RU.C.31.001.A số 6488 , đăng ký N° 23965-02 trong sổ đăng ký nhà nước về đo lường [13].
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 16 mẫu thân mềm được trình bày trong bảng2.1 Mau được thu tại Hạ Long trong năm 2015, được định tên khoa học bởi PGS.TS Đỗ Công Thung - Viện Tài nguyên Môi trường biển Hải Phòng, và lưu trữ tiêu bản tại Viện Tài nguyên Môi trường biển Hải Phòng, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam
Bảng 2.1 Danh sách các mẫu và hình ảnh thân mềm nghiên cứu
Trang 245 TM-5
Fam Veneridae
Venus (Periglypta) lacerata (Hanley)
Con Sang Ü /í‘'ó • ’ ^ 20
6 TM-6
Fam Veneridae
Venus (Periglypta) pucrpera (Linné)
7 TM-7
Turbinidae
Lunella coronata granulata (Gmelin)
12 TM-12
Turbinidae
Lunella coronata granulata (Gmelin)