1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4

67 637 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chủ động nắm kiến thức của môn học một cách tích cực, sáng tạo, góp phàn hình thành phương pháp và nhu càu tự học, tự phát hiện, tự giải quyết trong các tình huống có vấn đề đặt ra trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ĐỖ HUYỀN TRANG

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYÉT VẤN ĐÊ TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC LỚP 4

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học PGS TS NGUYỄN NĂNG TÂM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới

sự hướng dẫn của thày giáo PGS.TS Nguyễn Năng Tâm Sự hướng dẫn nhiệt tình song rất nghiêm túc của thày trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều trong cách tiếp cận một vấn đề mói Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, lòng kính trọng sâu sắc nhất đối với thầy

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã giúp đỡ động viên, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2016

Tác giả

Đỗ Huyền Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Năng Tâm

Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tôi đã kế thừa những thành quả khoa học của các nhà khoa học, nhà giáo dục với sự trân trọng và biết ơn Tôi xin cam đoan rằng các thông tin được trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2016

Tác giả

Đỗ Huyền Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa h ọ c 3

5 Phương pháp nghiên cứ u 3

6 Ý nghĩa của nghiên cứ u 3

7 Những vấn đề sẽ bảo v ệ 3

8 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học hình học cho học sinh lớp 4 5

1.1.1 Một sổ vẩn đề về phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vẩn đ ề 5

1.1.2 Mục tiêu, đặc điếm, nội dung dạy học hình học lớp 4 15

1.1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 4 19

1.2 Thực tiễn về dạy học hình học lớp 4 22

1.2.1 Thực tiễn việc dạy học hình học cho học sinh lớp 4 22

1.2.2 Thực tiễn học hình học của học sinh lớp 4 23

1.2.3 Nhận thức của giáo viên Tiểu học với việc dạy học hình học lớp 4 theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề 24

Chương 2 MỘT SỐ B Ệ N PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀO DẠY HỌC HÌNH HỌC LỚP 4 25

Trang 6

2.1 Nguyên tắc xây dựng hoạt động dạy học hình học lớp 4 theohướng phát hiện và giải quyết vấn đ ề 26

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học 26 2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng 26 2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học 27 2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự thắng nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kì năng, ìa xảo và tính mần dẻo của quá trình tư duy trong dạy học 28 2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người dạy và vai trò tích cực, tự giác, độc lập của học sinh 29

2.2 Quy trình thiết kế hoạt động dạy học theo hướng phát hiện và giảiquyết vấn đ ề 30

2.2.1 Quy trình thiết kế hoạt động dạy học hình học lớp 4 theo hướng phát hiện và giải quyết vẩn đề 30 2.2.2 Ví dụ minh họa 40

2.3 Yêu cầu, chú ý khi vận dụng phương pháp dạy học phát hiện vàgiải quyết vấn đề trong dạy học nội dung hình học lớp 4 562.4 Ưu điểm, hạn chế của việc vận dụng phương pháp dạy học pháthiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4 58KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vai trò của giáo dục trong tình hình phát triển của xã hội

Đất nước ta đang bước vào thòi kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực trí tuệ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hóa đang là một thách thức với nước ta, đòi hỏi nhà nước và ngành giáo dục phải có một chiến lược phát triển nhân tài Trong hệ thống giáo dục, giáo dục tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực

và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

1.2 Vai trò của môn Toán trong trường Tiểu học

Toán là môn học cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản ban đầu

về các phép tính, số học và các hình học cơ bản Trong chương trình Tiểu học cùng với Tiếng Việt, môn toán giữ vai trò quan trọng trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của bậc học, bước đầu phát triển tư duy, khả năng suy luận logic đồng thời phát triển ở các em khả năng giải quyết vấn đề, chủ động sáng tạo

1.3 Vai trò của nội dung hình học trong chương trình

Nội dung hình học trong chương trình môn toán ở Tiểu học là mảng kiến thức tương đối trừu tượng và khó đối với học sinh Tiểu học Việc giải quyết vấn đề liên quan tới nội dung hình học giúp học sinh bước đầu tiếp xúc được với các biểu tượng hình học cơ bản cũng như tính chất của các hình tiên cơ sở trực giác và thử nghiệm

1.4 Sự cần thiết của việc đỗi mới phương pháp dạy học

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền giáo dục nước nhà, chương trình giáo dục Tiểu học đã tiến hành đổi mới toàn diện Nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới của môn Toán đặc biệt hơn là nội dung hình học, người giáo viên phải thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học sao cho học sinh là người

Trang 8

chủ động nắm kiến thức của môn học một cách tích cực, sáng tạo, góp phàn hình thành phương pháp và nhu càu tự học, tự phát hiện, tự giải quyết trong các tình huống có vấn đề đặt ra trong bài học Từ đó học sinh chiếm lĩnh nội dung bài học, môn học.

1.5.Sự cần thiết của việc vận dụng phương pháp day học phát hiện và giải quyết vẩn đề trong dạy học hình học lớp 4

Trong mắt học sinh Tiểu học có biết bao điều mới lạ về thế giới xung quanh vói muôn vàn hình khối khác nhau mà học sinh muốn tìm hiểu và lí giải Và nhu cầu đó sẽ được đáp ứng phần nào khi các em học nội dung hình học trong môn Toán lớp 4

Tuy nhiên, việc giảng dạy chương trình môn Toán lớp 4 hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Giảng dạy vẫn theo một lối mòn chưa có sự đổi mới hiệu quả Vì thế học sinh đang trong tình ừạng học tập thụ động, phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động của giáo viên Học sinh chưa tự nắm vững được tri thức cho mình, kiến thức sách vở thì nhiều nhưng kiến thức xã hội còn hạn chế.Xuất phát từ thực tiễn, cũng như lòng ham muốn học hỏi, nghiên cứu tôi

đã quyết định chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4” để nhằm giải quyết và khắc phục thực tiễn trên

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và việc vận dụng phương pháp dạy học phát hiện

Trang 9

và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4.

- Tìm hiểu thực tiễn về việc dạy học hình học lớp 4

- Tìm hiểu quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học hình học lớp 4

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

- Chương trình, nội dung hình học trong môn toán lớp 4

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Quá trình dạy học hình học lớp 4 theo phương pháp dạy học phát hiện

và giải quyết vấn đề

4 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng tốt phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học hình học lớp 4 và tìm ra được các giải pháp rèn luyện kĩ năng đó thì có thể phát triển năng lực Toán học cho học sinh Tiểu học

5 Phương pháp nghiền cứu

- Nghiên cứu lý luận

- Điều tra, quan sát

- Tổng kết kinh nghiệm

- Thu thập thông tin và phân tích dữ liệu

6 Ý nghĩa của nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận về phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

Trang 10

quyết vấn đề vào dạy học.

- Lý luận và thực tiễn của việc dạy học PH và GQVĐ ừong dạy học hình học ở lớp 4

- Quy trình vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn

đề cho học sinh trong dạy học hình học ở lớp 4

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, khóa luận được trình bày có hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện

và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4

Trang 11

N Ộ IDUNG Chương 1

C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học hình học cho học sinh lớp 4

1.1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Theo quan niệm của một số nhà giáo dục khác thì “vấn đề” được hiểu là

hệ thống các câu hỏi hoặc yêu cầu hoạt động mà chủ thể chưa có thuật giải để giải đáp để giải đáp câu hỏi hoặc chưa thực hiện được thuật giải Theo những cách định nghĩa trên ta thấy rõ bản chất của vấn đề là luôn tồn tại những câu hỏi, hoạt động mà chưa có thuật giải và cần phải giải quyết

Những phân tích ừên đây giúp ta có cái nhìn toàn diện về khái niệm vấn

đề từ đó đi đến thống nhất như sau: “Vẩn đề là những câu hỏi hoặc yêu cầu

chưa có cách để giải đáp hoặc chưa thực hiện được thuật giải cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết”.

b Tĩnh huống gợi vẩn đề {tình huống có vẩn đề)

Theo Rubinstein: “Tư duy chỉ xuất hiện khỉ tình huống có vẩn đề” hay

nói cách khác đặc trưng của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chính là

“tình huống có vấn đề” Có rất nhiều quan điểm cho rằng: “tình huống gợi

Trang 12

vẩn đề (tình huống có vấn đề) là một tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biển đổi đổi tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn cỏ Quan điểm này lí giải đầy đủ về khái niệm cũng

như đặc điểm của tình huống có vấn đề Tuy nhiên để thấy được rõ nét bản chất cũng như đặc điểm của tình huống có vấn đề thì một tình huống có vấn

đề cần thỏa mãn ba điều kiện sau:

Thứ nhất, tình huống có vấn đề càn phải tồn tại một vấn đề Đây là vấn

đề trung tâm của tình huống Tình huống phải chứa đựng một mâu thuẫn, đó

là mâu thuẫn giữa trình độ kiến thức sẵn có của bản thân với yêu cầu lĩnh hội kiến thức, kĩ năng mới Hay nói cách khác, tình huống có vấn đề là tình huống

mà học sinh phải nhận ra được có ít nhất một phàn tử nào đó của khách thể

mà học sinh chưa có thuật giải và cũng chưa có cách để tìm phần từ đó

Thứ hai, tình huống có vấn đề cần phải gợi nhu cầu nhận thức Trong đó,

tình huống có vấn đề cần chứa đựng một vấn đề tạo ra sự ngạc nhiên, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của học sinh Hay nói cách khác là phải gợi nhu cầu nhận thức ở học sinh làm cho học sinh thấy cần thiết phải giải quyết vấn đề Chẳng hạn, tình huống phải bộc lộ sự khiếm khuyết về nhận thức, kĩ năng để học thấy cần thiết phải tự chiếm lĩnh tri thức để lấp đầy khoảng trống ấy nhằm tự hoàn thiện hiểu biết của mình bằng cách tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh Nếu tình huống đưa ra nhưng không khoi gợi ở học sinh nhu cầu cần phải tìm hiểu, họ cảm thấy xa lạ và không liên quan gĩ đến mình thi đó cũng không được gọi là tình huống có vấn đề

Thứ ba, tình huống có vấn đề cần phải khơi gợi được niềm tin vào bản

thân Tình huống có vấn đề phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh,

nó không được vượt quá tầm hiểu biết của học sinh vì nếu như vậy thì học

Trang 13

sinh sẽ cảm thấy hoang mang, chưa sẵn sàng tham gia vào giải quyết vấn đề Nếu tình huống đưa ra quá dễ, học sinh không càn suy nghĩ mà có thể giải quyết được vấn đề thì yêu cầu giờ học không được thỏa mãn Tình huống có vấn đề cần khơi dậy ở học sinh khả năng tìm tòi, vận dụng kiến thức sẵn có để tìm ra cách giải quyết Khi đó, học sinh sẽ tận lực huy động vốn kiến thức, kĩ năng sẵn có liên quan đến vấn đề của bản thân để giải quyết vấn đề đặt ra Qua đó tạo cho học sinh niềm tin vào bản thân, đó chính là yêu cầu quan trọng của tình huống có vấn đề.

c Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vẩn đề

Từ những năm 1960, giáo viên đã làm quen với thuật ngữ: “dạy học nêu vấn đề” xuất phát từ thuật ngữ “Orixtric” hay còn gọi là phương pháp phát kiến, tìm tòi, nhưng cho đến nay nó vẫn chưa được vận dụng thành thạo Có ngưòi cho rằng, “dạy học nêu vấn đề” là giáo viên đưa ra vấn đề và học sinh giải quyết Do đó đề nghị thay đổi “nêu vấn đề” bằng “gợi vấn đề” Thực ra, trước hết càn phải tập dượt cho học sinh khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống trong học tập hoặc trong thực tiễn Vì vậy ngày nay, người ta có

xu hướng sử dụng thuật ngữ “dạy học giải quyết vấn đề” hoặc “dạy học đặt

và giải quyết vấn đề” hoặc “dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”

Trong quá trình học tập của học sinh luôn tồn tại những mâu thuẫn, đó là mẫu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ với trình độ nhận thức, kinh nghiệm sẵn có của bản thân Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên tạo ra cho học sinh những tình huống

có vấn đề (tạo mâu thuẫn) Phương pháp này dựa trên nguyên tắc tính tích cực, tự giác, độc lập, nhận thức của học sinh bởi vậy nó khơi dậy được động

cơ học tập của học sinh

Theo M.I.Mackmutov PPDH PH & GQVĐ được hiểu là: ‘Tạo ra một

chuỗi các tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh nhằm

Trang 14

độc lập giải quyết các vẩn đề học tập đó là thực chất của quá trình dạy học giải quyết vẩn đ ề” Tuy nhiên, theo quan điểm của V.O.Kon thì “D H P H & GQVĐ là dạy học dựa trên sự điều khiển quá trình học sinh độc lập giải quyết các bài toán thực hành hay lí thuyết” Hay theo các tác giả của cuốn

giáo trình: “Giáo dục học Tiểu học” thì pp DH PH & GQVĐ được hiểu là một hoạt động có chủ định của giáo viên bằng cách đặt vấn đề học tập và tạo

ra các tình huống có vấn đề, hướng dẫn học sinh học tập nhằm diễn đạt và giải quyết các vấn đề học tập, tạo điều kiện cho sự lĩnh hội các tri thức mói và cách thức hành động mới hình thành năng lực sáng tạo ở học sinh

Như vậy ta có thể định nghĩa: “PP D H P H & GQVĐ là PPDH trong đó

giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vẩn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện lã năng và đạt được những mục đích học tập khác ”.

1.1.1.2 Bản chất, đặc điểm của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vẩn đề

a Bản chất

Bản chất của pp DH PH & GQVĐ được thể hiện rất rõ nét khi tìm hiểu

về nhiệm vụ của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học GQVĐ Trước hết, trong quá trình dạy học GQVĐ giáo viên thường có bốn nhiệm vụ chủ yếu Đó là, thứ nhất giáo viên cần phải xây dựng, tạo ra các tình huống có vấn

đề Tiếp theo, giáo viên cần tổ chức và hướng dẫn cho học sinh phát hiện ra các tình huống có vấn đề trong bài học Từ đó, giáo viên tổ chức, hướng dẫn cho học sinh giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài học Và cuối cùng, giáo viên cần phải khái quát hóa, hệ thống hóa lại những kiến thức, kĩ năng mà học sinh mà học sinh đưa ra ừong quá trình giải quyết vấn đề Hay nói các khác, trong quá trình dạy học PH & GQVĐ, giáo viên giữ nhiệm vụ, tổ chức, hướng

Trang 15

Chính vì vậy, bản chất của pp DH PH & GQVĐ là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh, trong đó dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên, học sinh nắm được tri thức mói và cách thức hoạt động trí tuệ mói thông qua quá trình tự lực giải quyết các tình huống có vấn đề.

Trang 16

phát hiện vấn đề một cách tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của chính bản thân ngưòi học Giáo viên là ngưòi xác nhận kiến thức, thể chế hóa kiến thức cho học sinh Thông qua đó, học sinh lĩnh hội được tri thức mới, rèn luyện kĩ năng và mục tiêu học tập khác Phương pháp dạy học này khác hẳn về nguyên tắc so với phương pháp dạy học giảng giải - minh họa.

Có rất nhiều nhận xét về đặc điểm của pp DH PH & GQVĐ, tuy nhiên ta

có thể tổng kết lại ở ba đặc điểm chính như sau:

Thứ nhất, trong dạy học PH & GQVĐ học sinh được đặt vào tình huống

có vấn đề do giáo viên tạo ra chứ không tiếp thu kiến thức một cách thụ động

do người khác áp đặt lên mình Hay nói cách khác, thứ mà giáo viên đưa ra cho học sinh trong giờ học không phải là kiến thức sẵn có, mà lại tình huống

có vấn đề buộc học sinh phải tự mình vượt qua, giải quyết để rút ra kiến thức cho mình

Thứ hai, để giải quyết các tình huống có vấn đề học sinh cần phải hoạt

động tự giác, tích cực, chủ động, tận lực huy động tất cả kiến thức đã biết để giải quyết vấn đề đặt ra, chứ không phải là tiếp thu kiến thức một cách thụ động theo thói quen “thầy giảng, trò ghi”, “thầy đọc, trò chép” Thông qua những hoạt động yêu cầu của giáo viên, học sinh tham gia xây dựng vấn đề, giải quyết vấn đề Học sinh là chủ thể sáng tạo ra hoạt động

Thứ ba, mục tiêu dạy học GQVĐ không chỉ làm cho học sinh nắm được tri

thức mới tìm được trong quá trình tham gia GQVĐ mà còn giúp học sinh nắm được phương pháp đi tới tri thức đó, và biết cách vận dụng phương pháp đó vào các quá trình như vậy Học sinh biết khai thác từ một bài toán đã biết để giải quyết một bài toán mới, biết vận dụng quy trình cho những bài toán cùng dạng.Như vậy đặc điểm của PPDH PH & GQVĐ là đặt học sinh vào tình huống có vấn đề để các em hoạt động tự giác, tích cực huy động tất cả kiến thức đã biết để giải quyết vấn đề

Trang 17

1.1.1.3 Các mức độ dạy học phát hiện và giải quyết vẩn đề

Dựa vào mức độ độc lập của học sinh ttong quá trình dạy học PH & GQVĐ người ta phân chia PP DH PH & GQVĐ theo bốn mức độ sau:

Thứ nhất, đây là mức độ đầu tiên của quá trình dạy học PH & GQVĐ, ở

mức độ này, giáo viên là người đưa ra tình huống có vấn đề và đưa ra cách giải quyết còn học sinh chú ý vào cách giải quyết của giáo viên Từ đó, học sinh thực hiện giải quyết vấn đề theo cách mà giáo viên đưa ra dưói sự quan sát, hướng dẫn của giáo viên Và cuối cùng giáo viên đánh giá, nhận xét quá trình thực hiện của học sinh Đây là mức độ mà tính độc lập của học sinh được thể hiện ở mức thấp nhất

Thứ hai, giáo viên nêu vấn đề và gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết

vấn đề Sau đó các em sẽ thực hiện dưói sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên khi cần Kết quả của quá trình này được đánh giá bởi cả giáo viên và học sinh Với mức độ này, thoạt đầu ta thấy nó gần giống như dạy học theo phương pháp vấn đáp Tuy nhiên hai cách này lại không đồng nhất với nhau Điều quan trọng trong pp DH PH & GQVĐ là đưa ra tình huống có vấn đề, đây chính là sự khác biệt của phương pháp này với phương pháp vấn đáp

Thứ ba, ở mức độ này, giáo viên đóng vai trò là ngưòi cung cấp thông tin

tạo tình huống có vấn đề Từ đó, học sinh nhận dạng phát biểu vấn đề nảy sinh cần giải quyết Trong mức độ này, người đưa ra tình huống có vấn đề không phải là giáo viên mà là học sinh Đây là mức độ cao hơn so với hai mức độ trước Khi đưa ra tình huống có vấn đề, học sinh sẽ tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn các giải pháp để giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề và kết quả được đánh giá bỏi cả giáo viên và học sinh Tính chủ động, độc lập của học sinh được phát huy khá cao ở mức độ này

Thứ tư, Đây là mức độ cao nhất của quá trình dạy học PH & GQVĐ Ở

Trang 18

mức độ này, học sinh tự lực phát hiện ra vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng Từ đó, các em lựa chọn các vấn đề cần giải quyết,

tự đề xuất ra các giả thuyết và xây dựng kế hoạch giải quyết sau đó học sinh

tự đánh giá hiệu quả của quá trình PH & GQVĐ Học sinh phát huy được tối

đa tính chủ động, độc lập, sáng tạo ở mức độ này

Thông thường, người ta mói chỉ vận dụng dạy học PH & GQVĐ ở mức

độ thứ nhất và hai Tuy nhiên để phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, ta cần phải cố gắng thực hiện dạy học GQVĐ ở mức độ ba

và bốn

1.1.1.4 Quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nhận xét và quy trình tổ chức dạy học theo phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Trước hết, theo quan điểm của Giáo sư Nguyễn Bá Kim, quy trình dạy học PH & GQVĐ gồm bốn bước được thể hiện như sau:

Bước ỉ: Phát hiện và thâm nhập vấn đề

- Từ tình huống gợi vấn đề, học sinh suy nghĩ, tìm tòi

- Học sinh giải thích và chính xác hóa tình huống

- Học sinh phát hiện vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó

Bước 2: Tìm giải pháp

Ở bước này, học sinh sẽ tìm cách giải quyết vấn đề, việc này thường được thực hiện theo sơ đồ sau:

Trang 19

Khi phân tích vẩn đề, cần làm rõ mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần

tìm (dựa vào những tri thức đã học liên tưởng tới những kiến thức thích hợp) Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm chiến lược giải quyết vấn đề thông

qua đề xuất vồ thực hiện hướng giải quyết vấn đề Ở giai đoạn này, học sinh

cần phải thu thập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức, sử dụng những phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán như hướng đích, suy lạ về quen, đặc bỉệt hốa, chuyển qua những trường hợp suy biến, tương tự hốa, khái quát hốa, xem xét những mối liên hệ phụ thuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lù i Phương hướng giải quyết có thể được điều chỉnh khi cần thiết Kết quả của việc đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề là hình thành được giải

pháp Sau khỉ hình thành giải pháp cần phải kiểm tra tính đúng đắn của giảỉ

Trang 20

pháp Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay, còn nếu giải pháp sai thì lặp lại từ

khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm ra giải pháp đúng Sau khi đã tìm ra một giải pháp học sinh có thể tìm thêm các giải pháp khác và so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lý nhất

Bước 3: Trình bày giải pháp

Học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát hiện vấn đề cho tói giải pháp Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì không cần phát biểu lại vấn đề

Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp

Ở bước này, giáo viên và học sinh tìm hiểu khả năng ứng dụng của giải pháp Từ đó, đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể

Theo đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học quá trình dạy học PH & GQVĐ gồm những bước sau:

Bước 1: Phát hiện vấn đề

Bước 2: Tìm hiểu vẩn đề

Bước 3: Xác định lược đồ giải quyết

Bước 4: Tiến hành giải quyết vấn đề, đưa ra lời giải

Bước 5: Phân tích, khai thác lời giải

Theo PGS.TS Vũ Hồng Tiến, cấu trúc bài học, hoặc một phần bài học theo PP DH PH & GQVĐ gồm những bước sau:

Bước 1: Đặt vẩn đề

Trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra nhằm nhận biết vấn đề Trong dạy học thì đó là đặt học sinh vào tình huống có vấn đề vấn đề cần được trình bày rõ ràng còn gọi là phát biểu vấn đề

Bước 2: Giải quyết vấn đề đặt ra

Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án khác nhau để giải quyết vấn đề Để tìm ra cách giải quyết vấn đề cần so sánh, liên hệ với những cách

Trang 21

giải quyết tương tự đã biết cũng như tìm các phương án giải quyết mới Khi

có khó khăn hoặc không tìm ra phương án giải quyết thì cần trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại việc nhận biết và hiểu vấn đề Sau khi tìm ra các phương án giải quyết càn phải tiến hành phân tích, so sánh và đánh giá xem

có thực hiện được việc giải quyết vấn đề hay không Nếu có phương án có thể giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu Khi đã tìm ra phương

án thích họp, cần tiến hành giải quyết vấn đề đặt ra

Bước 3: Ket luận

Sau khi giải quyết xong vấn đề, cần đi đến kết luận về tính khả thi của giải pháp, từ đó giúp các em nắm vững được giải pháp và vận dụng tương tự để giải quyết các vấn đề khác nhau mà các em gặp phải trong quá trình học tập

1.1.2 Mục tiêu, đặc điểm, nội dung dạy học hình học lớp 4

1.1.2.1 Vai trò của việc dạy học hình học lớp 4

Trong chương trình Toán lớp 4, có một số nội dung dạy học các yếu tố hình học liên quan đến việc hình thành các kĩ năng ban đầu về các hình học Khái niệm về góc (góc nhọn, góc vuông, góc tù, góc bẹt), hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, hình bình hành, hình thoi, Tuy nội dung dạy học hình học không đóng vai trò trọng tâm trong chương trình Toán

4, thời lượng của các tiết dạy chỉ chiếm 10% trong thời lượng giảng dạy môn Toán lớp 4 Nói như vậy, không có nghĩa là nội dung dạy học hình học không

có vai trò gì trong chương trình Toán 4 mà nó được cấu trúc họp lý, đan xen

và hỗ trợ học tốt cho các mạch kiến thức khác Nội dung dạy học hình học được bổ sung, hoàn thiện, khái quát hóa, hệ thống hóa các kiến thức về hình học đã học, phù hợp với giai đoạn học tập mới ở lớp 4

Nội dung dạy học hình học hỗ trợ “hạt nhân số học” và các mạch kiến thức khác ừong chương trình Toán 4 Chẳng hạn, khi học sinh vận dụng công thức tính chu vi, diện tích vào các hình, học sinh được củng cố cách tính giá

Trang 22

tri của biểu thức có chứa chữ Khi giải các bài toán có nội dung hình học các

em được củng cố về kĩ năng thực hiện các phép tính trên các số đo đại lượng hoặc đổi đơn vị đo đại lượng Mặt khác, học sinh được củng cố cách giải, trình bày bài toán có lời văn

Dạy học nội dung hình học lớp 4 góp phần củng cố kiến thức toán học, phát triển năng lực thực hành, năng lực tư duy, phát huy được sự nỗ lực của học sinh do tìm tòi khám phá Đây là nội dung quan trọng góp phàn gắn học

đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống

1.1.2.2 Mục tiêu dạy học hình học lớp 4

a v ề kiến thức

Hình học lớp 4 giúp hình thành ở học sinh các biểu tượng về góc, góc nhọn, góc tù, góc bẹt, hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song Học sinh biết được một số đặc điểm về cạnh, góc của hình bình hành, hình thoi

b v ề kĩ năng

Học sinh biết nhận dạng hình bình hành, hình thoi theo các đặc điểm về yếu tố góc, cạnh của hình đó Bên cạnh đó, hình học lớp 4 còn giúp các em nhận dạng về các loại góc, biết vẽ hai đường thẳng song song, hai đường thẳng vuông góc, và vẽ hình bình hành, hình thoi, biết tính chu vi diện tích của hình bình hành, hình thoi Các em có được những kĩ năng cơ bản về cắt, ghép hình

Trang 23

Tóm lại, việc dạy học hình học trong chương trình toán 4 cung cấp đầy

đủ cho các em về kiến thức, kĩ năng, thái độ, giúp các em có thêm hành trang

để vững bước ừên con đường chiếm lĩnh tri thức sau này

1.1.2.3 Đặc điểm, nội dung dạy học hình học lớp 4

Trong chương trình Toán lớp 4, hình học chiếm một thời lượng khá nhỏ Tuy nhiên, việc dạy học hình học đã cung cấp cho các em các kiến thức cơ bản về các góc (góc nhọn, góc tù, góc bẹt), hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, giói thiệu về hình bình hành, hình thoi, thực hành vẽ hình vuông, hình chữ nhật, tính diện tích hình bình hành, hình thoi

Toàn bộ nội dung về các yếu tố hình học trong chương trình Toán lớp 4 là

17 tiết học riêng (bao gồm 7 tiết dạy bài mới và 10 tiết thực hành ôn tập) Và các bài tập về yếu tố hình học được xen kẽ họp lý vói các mạch kiến thức khác Vói thời lượng và lượng kiến thức khá khiêm tốn phù họp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 4 Các nội dung hình học lớp 4 có những đặc điểm sau: Nội dung dạy học hình học lớp 4 đã bổ sung, hoàn thiện và có tính khái quát hóa, hệ thống hóa các kiến thức về hình học đã học phù họp với đặc điểm của giai đoạn học tập mới Chẳng hạn, ở lớp 3 học sinh đã được học về góc vuông, thì lên lớp 4 các em được học tiếp về các góc không vuông là góc nhọn, góc tù, góc bẹt Từ đó, khái niệm về góc được mở rộng hơn, học sinh biết được quan hệ giữa các góc, góc nhọn bé hơn góc vuông, góc tù lớn hơn góc vuông, và góc bẹt bằng hai lần góc vuông Khi học về hình tứ giác, học sinh biết được hệ thống các hình từ giác như hình vuông, hình chữ nhật, hình bình hành, hình thoi với các đặc điểm như yếu tố, cạnh, góc, đỉnh của mỗi hình và được xét trong mối quan hệ giữa các hình vói nhau, từ “hình ảnh” cụ thể đến khái quát hơn Hay khi học về cách tính diện tích hình bình hành, hình thoi, học sinh được làm quen vói cách xây dựng (hình thành) quy tắc mới bằng cách dựa vào quy tắc tính diện tích hình chữ nhật đã biết bằng cách cắt ghép hình

Trang 24

Hơn nữa, nội dung hình học trong chương trình Toán lớp 4 còn có cấu trúc họp lý, sắp xếp đan xen vói các mạch kiến thức làm nổi rõ mạch kiến thức số học và hỗ trợ học tốt các mạch kiến thức khác, phù họp với từng giai đoạn học tập của học sinh Ví dụ như khi nói về các bài toán có nội dung hình học (tính diện tích hình bình hành, hình thoi) đã đề cập đến nhiều đơn vị đo đại lượng như xăng - ti - mét, đề - xi - mét, mét, cùng với các phép tính số học được thực hiện trên đại lượng đó Sau khi học sinh được học về các biểu thức có chứa chữ (số học), các quy tắc tính diện tích, chu vi các hình được khái quát thành công thức chữ, nên khi thực hiện các công thức đó để tính chu

vi, diện tích các hình, học sinh được cũng cố kĩ năng tính giá trị của biểu thức

có 2, 3 chữ đã học

Nội dung dạy học hình học lớp 4 đã thể hiện đúng mức độ yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng phù họp với trình độ chuẩn của mạch kiến thức đó Đồng thời cíăng quan tâm tới việc phát triển năng lực cá nhân học sinh như hình thành trí tưởng tượng không gian (nhận dạng hình thoi, hình bình hành), phát triển tính hệ thống hóa, khái quát hóa (xây dựng quy tắc tính diện tích hình bình hành, hình thoi từ quy tắc tính diện tích hình chữ nhật bằng cách cắt, ghép hình, sau đó khái quát quy tắc thành các công thức có chứa chữ).Trong chương trình Toán lớp 4, nội dung dạy học hình học theo hướng tăng cường các bài luyện tập, thực hành Qua hoạt động thực hành học sinh được rèn các kĩ năng vẽ hình (bước đầu làm quen với toán dựng hình) như vẽ hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, vẽ hình chữ nhật, hình vuông với kích thước đã cho, hoặc kĩ năng gấp hình, cách ghép hình khi xây dựng công thức tính diện tích hình bình hành, hình thoi Học sinh cũng được làm nhiều bài toán hình học có nội dung thực tế gắn liền với độ dài, diện tích các hình trên mặt đất, tính diện tích mảnh vườn, khu đất Nội dung dạy học dành cho luyện tập, thực hành chiếm 70% nội dung dạy học hình học lớp 4

Trang 25

1.1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 4

Học sinh Tiểu học thường là những trẻ có độ tuổi từ 6 - 11, 12 tuổi, Đây

là lứa tuổi đầu tiên đến trường trở thành học sinh và có các hoạt động chủ đạo Trẻ em lứa tuổi Tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là chính sang hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo Ở lứa tuổi này, hoạt động học tập của các em được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5 Nếu ở giai đoạn lớp 1, 2, 3 hoạt động học tập của các em mới chỉ là làm quen, bước đầu thì ở giai đoạn sau các em được đi sâu vào tìm hiểu kiến thức Đó là sự chuyển biến rất quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan ừọng của lứa tuổi này Nó được thể hiện rõ nét qua đặc điểm của học sinh lớp 4

1.1.3.1 Đặc điểm sinh lý

Ở độ tuổi lớp 4, các em có sự thay đổi rõ rệt về mặt cơ thể, tốc độ phát triển chiều cao vào trọng lượng cơ thể tiếp tục tăng, hệ xương còn nhiều mô sụn, hệ tim mạch phát triển và đang dần hoàn thiện Trọng lượng não của học sinh lóp 4 đã gần bằng não người lớn Khả năng phân tích tổng họp của vỏ não đang phát triển, mối tương quan giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế cũng thay đổi Quá trình ức chế trở lên mạnh hơn trước nhưng quá trình hưng phấn vấn chiếm ưu thế hơn

So với giai đoạn lớp 1, 2, 3 thì giai đoạn này đang diễn ra sự kiện toàn đáng kể về hệ cơ, xương, hoạt động tim mạch trở nên tương đối ổn định, các quá trình thần kinh, hưng phấn và ức chế cân bằng nhiều hơn Những đặc điểm về thể chất nêu trên hoàn toàn đảm bảo để học sinh lớp 4 có thể thích ứng được với hoạt động học tập ở nhà trường Tiểu học

1.1.3.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4

Học sinh lớp 4 bước vào giai đoạn thứ hai tiểu học là một cấp độ phát triển của học sinh với những đặc điểm tâm lý đặc trưng Các quá trình tâm lý được hình thành và phát triển ở học sinh có tác động qua lại lẫn nhau

Trang 26

a Đặc điểm chú ý

Đối với học sinh lớp 4, chú ý không chủ định vẫn phát triển, những gì mang tính mới lạ hấp dẫn thì dễ dàng làm xuất hiện ở học sinh chú ý không chủ định Tuy nhiên, ở giai đoạn này chú ý có chủ định đã hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ Nếu học sinh ở các lớp trước (giai đoạn lớp 1, 2, 3) chú ý có chủ định chưa phát triển bền vững và còn non yếu thì ở giai đoạn này chú ý có chủ định đã hoàn thiện và bền vững Các em đã biết chú ý vào nội dung cơ bản của tài liệu, đồng thòi bắt đầu hình thành sự phân phối chú ý nghĩa là vừa nghe giảng, vừa nhìn bảng, vừa ghi bài Mặc dù vậy, chú ý của các em vẫn thường hướng ra bên ngoài, hướng vào hành động vật chất, khả năng chú ý bên trong còn yếu

b Đặc điểm tri giác

Học sinh lớp 4 khi tri giác ít gắn liền vói tính tổng thể thì tri giác phân tích được hình thành và phát triển mạnh mẽ Ở giai đoạn này, tri giác của học sinh gắn liền với xúc cảm nghĩa là sự vật, hiện tượng gây được cảm xúc thì học sinh tri giác tốt hơn Các loại tri giác không gian, thời gian, vận động con người đã hình thành và phát triển mạnh, khả năng tri giác không gian, thời gian hoặc các vật có kích thước lớn tăng lên rõ rệt so với học sinh ở các lớp trước Từ đó vốn biểu tượng của học sinh tăng lên đáng kể so với giai đoạn trước Với đặc điểm này, ở độ tuổi lớp 4, khả năng tri giác về hình học cũng tăng lên, thuận lọi cho các em khi tham gia học về nội dung hình học trong chương trình môn toán lớp 4

c Đặc điểm trí nhớ

Trí nhớ từ ngữ, trừu tượng ở học sinh phát triển tốt hơn ở giai đoạn trước

do vốn ngôn ngữ của các em đã phong phú hơn, tư duy trừu tượng đã phát triển hơn Tuy nhiên, loại trí nhớ này còn phải dựa vào các hình ảnh trực quan Học sinh lớp 4 tuy trí nhớ dài hạn đã bắt đầu phát triển nhưng trí nhớ

Trang 27

ngắn hạn vẫn còn chiếm ưu thế Do yêu càu của hoạt động học tập ngày càng cao nên trí nhớ có chủ định ở học sinh lớp 4 phát triển hơn hẳn so vói giai đoạn trước.

d Đặc điểm tư duy

Ở học sinh lớp 4, tư duy trừu tượng đang dần dần chiếm ưu thế, nghĩa là học sinh tiếp thu khái niệm từ các khái niệm đã biết được thay thế bằng ngôn ngữ kí hiệu Tuy nhiên tư duy trừu tượng ở giai đoạn này vẫn phải dựa vào tư duy cụ thể Khả năng khái quát và suy luận của học sinh phát triển hơn Các

em đã biết căn cứ vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để khái quát thành khái niệm và không chỉ suy luận từ nguyên nhân ra kết quả mà còn suy luận được từ kết quả ra nguyên nhân

e Đặc điểm nhu cầu nhận thức

Đối với học sinh lớp 4, nhu càu nhận thức được hình thành và phát triển mạnh Nếu như ở các lớp dưới học sinh chỉ có nhu cầu tìm hiểu từng sự vật hiện tượng cụ thể thì ở giai đoạn này học sinh có nhu cầu tìm hiểu nguyên nhân, quy luật của sự vật hiện tượng Nghĩa là học sinh không chỉ có nhu cầu tìm hiểu cái đó mà còn muốn biết tại sao lại có cái đó

f Đặc điểm tình cảm

Học sinh lớp 4 dễ xúc cảm hay xúc động, khó làm chủ được cảm xúc của mình do quá trình hưng phấn ở các em mạnh hơn quá trình ức chế, các phẩm chất ý chí đang hình thành và còn yếu Tình cảm của các em chưa ổn định, chưa bền vững, xuất hiện nhiều tình cảm mới, chưa có tâm trạng kéo dài như người lớn Tình bạn của các em dễ thiết lập, dễ tan vỡ nhưng cũng

dễ làm lành với nhau Sở dĩ như vậy là do cảm xúc của các em đã hình thành nhưng chưa có quá ừình liên kết, trải nghiệm nên chưa ổn định Vì thế giáo dục tình cảm cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng đối với người giáo viên Tiểu học

Trang 28

g Đặc điểm tưởng tượng

Ở học sinh lớp 4, tưởng tượng đã phát triển mạnh và phong phú hơn so với các lớp trước Tưởng tượng của các em dần gắn liền với hiện thực hơn

và phản ánh thực tế khách quan một cách đầy đủ đúng đắn hơn Trí tưởng tượng sáng tạo đang dần hình thành và phát triển do các em đã biết cách dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình ảnh tưởng tượng mang tính trừu tượng, khái quát cao

Như vậy đặc điểm tâm lý của học sinh lóp 4 đang dần hoàn thiện so với giai đoạn trước nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động học tập

1.2 Thực tiễn về dạy học hình học lóp 4

1.2.1 Thưc tiễn vỉêc day hoc hình hoc cho hoc sinh lớp 4

Trong dạy học người giáo viên đã nhận thức được sự càn thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng được phố biến rộng rãi ở các trường Tiểu học Đặc trưng của phương pháp dạy học mới là coi người học làm trung tâm của quá trình dạy học còn giáo viên là người tổ chức hướng dẫn hoạt động của học sinh, giúp học sinh huy động tối

đa vốn kiến thức, sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình một cách tích cực, tự giác để chiếm lĩnh tri thức mới và vận dụng các tri thức đó một các sáng tạo vào các hoạt động thực hành luyện tập để rèn luyện kĩ năng mới

Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, người giáo viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn và còn một số tồn tại trong việc dạy học nội dung hình học lớp 4, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học Việc giảng dạy nội dung hình học lớp 4 hiện nay vẫn còn theo một lối mòn, chưa có sự đổi mói hiệu quả Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là giảng giải - minh họa, thuyết trình, Vì vậy việc đổi mới phương pháp giảng dạy trên thực tế gần như là không có Hơn nữa, ở giáo viên chưa có “lối mòn tư duy” để so sánh và cải tiến nên trong dạy học nhiều khi việc sử dụng các phương pháp dạy học vẫn chưa hợp lý,

Trang 29

nhuần nhuyễn và linh hoạt Giáo án giảng dạy các bài học về hình học lớp 4 thường là áp đặt nguyên si trong sách giáo viên, vì vậy chưa có sự linh hoạt, đổi mới phù hợp với từng vùng miền và từng đối tượng học sinh cụ thể Những vấn đề vướng mắc của giáo viên thì chưa được giải đáp hợp lý Khi dạy các tiết thực hành vẽ, cắt, ghép hình, giáo viên chưa có sự hướng dẫn tỉ

mỉ, theo dõi và giúp đỡ học sinh khi các em gặp khó khăn nên học sinh chưa

áp dụng được vào thực tế

Ví dụ như bài “Diện tích hình thoi” giáo viên thường cho học sinh cắt ghép hình thoi thành hình chữ nhật sau đó hình thảnh quy tắc tính diện tích hình thoi Tuy nhiên, việc thực hành cắt ghép hình của học sinh yếu nên giáo viên thường đưa ra ngay quy tắc tính cho học sinh, sau đó bắt các em học thuộc

Như vậy, việc dạy học hình học lớp 4 hiện nay vẫn còn khá nhiều bất cập, cần phải đổi mới về phương pháp, quan niệm giảng dạy của giáo viên một cách họp lý và toàn diện

1.2.2 Thục tiễn học hình học của học sinh lớp 4

Học sinh lớp 4 đã có được các kĩ năng cơ bản như cắt, ghép, gấp hình Tuy nhiên, các em mới chỉ biết hoạt động theo mẫu, thu nhận thông tin một cách máy móc, chưa có sự sáng tạo Vì vậy, việc tiếp thu kiến thức của các

em còn chưa tích cực, thụ động Kiến thức thu được chưa sâu, chưa hiểu rõ bản chất của vấn đề Học sinh mới chỉ biết sử dụng các quy tắc một cách máy móc, chưa vận dụng linh hoạt trong luyện tập thực hành để hình thành kĩ năng, kĩ xảo Hầu hết học sinh lớp 4 đều có sách giáo khoa và đồ dùng học tập đầy đủ nhưng việc khai thác nội dung học tập chưa linh hoạt Học sinh còn lúng túng khi thực hành một số thao tác vẽ cơ bản như vẽ thừa (thiếu) nét,

vẽ các góc còn chưa chính xác Nguyên nhân là do nhận thức của học sinh còn hạn chế Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa có sự uốn nắn, sửa sai khi học sinh thực hiện Vì vậy việc học hình học đối với học sinh

Trang 30

lớp 4 trở nên khó khăn và không hiệu quả Những khó khăn này dẫn đến tình trạng học sinh nắm các biểu tượng hình học không chắc chắn làm hạn chế việc học hình học ở lớp ttên và vận dụng vào thực tế chưa thực sự hiệu quả Chính vì vậy việc thay đổi phương pháp giảng dạy cũng như cách học tập hình học lớp 4 là vô cùng cần thiết.

1.2.3 Nhận thức cửa giáo viên Tiểu học với việc dạy học hình học lớp 4 theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề

Hầu hết giáo viên Tiểu học đều đã được nghe nói, biết đến pp DH PH & GQVĐ Tuy nhiên, việc sử dụng nó sao cho hợp lý thì chỉ có một số ít giáo viên nắm được Phần lớn các thầy cô đều áp đặt nguyên si quy trình cũng như

lý luận dạy học PH & GQVĐ vào dạy học hình học lớp 4 mà chưa có sự đổi mới hiệu quả để phù hợp vói từng bài dạy Hơn nữa, do giáo viên còn chưa nắm vững lý luận dạy học PH & GQVĐ nên việc vận dụng vào dạy học khá lệch lạc, chưa thực sự phát huy được hiệu quả giảng dạy Nhiều khi giáo viên

sử dụng phương pháp PH & GQVĐ vào dạy học kết họp với các phương pháp khác, việc sử dụng các phương pháp khác quá nhiều, trong khi sử dụng phương pháp PH & GQVĐ lại quá ít, nên không làm nổi bật được hiệu quả của phương pháp này Một số giáo viên đã sử dụng họp lý phương pháp này vào dạy học nhưng lại chỉ phát huy phương pháp ở mức độ 1, 2 mà chưa phát huy hiệu quả tốt được ở các mức độ tiếp theo

Chính vì vậy, việc bổ sung kiến thức về lý luận cũng như kĩ năng vận dụng pp DH PH & GQVĐ vào dạy học hình học lớp 4 là vô cùng cần thiết

Nó giúp cho quá trình dạy học hình học lớp 4 được giảng dạy một cách hiệu quả hơn, đưa học sinh trở thành chủ thể chiếm lĩnh tri thức cho mình và giáo viên giữ vai trò tổ chức và hỗ trợ

Trang 31

Nếu như ở giai đoạn lớp 1, 2, 3 hoạt động học tập của các em chỉ là bước đầu làm quen thì sang giai đoạn lớp 4, 5 các em được đi sâu vào tìm hiểu kiến thức Ở giai đoạn này đặc điểm của học sinh lóp 4 đang dần hoàn thiện so với giai đoạn trước nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao.Việc dạy học hình học lớp 4 hiện nay vẫn còn khá nhiều bất cập, cần phải đổi mới về phương pháp, quan niệm giảng dạy của giáo viên một cách họp lý và toàn diện Vì vậy việc vận dụng PPDH PH & GQVĐ ừong dạy học hình học lớp 4 là vô cùng càn thiết.

Trang 32

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀO DẠY HỌC

HÌNH HỌC LỚP 4 2.1 Nguyên tắc xây dựng hoạt động dạy học hình học lớp 4 theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học

Phương pháp dạy học là cách thức con ngưòi sử dụng để đạt được mục đích đề ra Như vậy, tùy từng nội dung bài học, trình độ nhận thức của học sinh cũng như cơ sở vật chất của nhà trường mà giáo viên ương mỗi giờ lên lớp có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau để đạt được mục tiêu bài học Đối với phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề các vấn đề mà giáo viên đưa ra có thể vô cùng phong phú Vì vậy việc đảm bảo mục tiêu của bài học là một nguyên tắc cần thiết để giới hạn các vấn đề không vượt quá phạm vi của bài học cũng như không vượt quá trình độ nhận thức của học sinh

Trong quá trình dạy học, việc thực hiện tốt nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học còn giúp cho giáo viên và học sinh có cái nhìn cụ thể nhất về đích đến của bài học Đó là sau bài học học sinh học được gì, rèn luyện được kĩ năng gì, Đối với việc dạy học hình học lớp 4, việc đảm bảo nguyên tắc này là vô cùng cần thiết, vì nó giúp cho giáo viên có thể đưa ra tình huống, vấn đề hợp

lý, cụ thể, không lan man từ đó học sinh đưa ra các giải quyết phù họp với nội dung bài học Vì vậy bám sát mục tiêu bài học là một nguyên tắc cần thiết trong quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng

Đảm bảo nguyên tắc này trong dạy học là phải vận dụng nội dung, phương

Trang 33

pháp, hình thức dạy học nhằm thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của mọi thành viên trong lớp, đồng thời phải quan tâm đến từng cá nhân người học, đảm bảo mọi người đều có thể phát triển ở mức tối đa so với khả năng của mình.

Khi dạy học cần phải nắm vững đặc điểm chung của cả lớp, đặc điểm riêng của từng em về các mặt, nhất là về năng lực nhận thức và động cơ, thái

độ học tập Khi thực hiện hoạt động dạy học theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề thì giáo viên cần phải thường xuyên nắm tình hình lĩnh hội của học sinh để có thể kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình cũng như của học sinh, nhất là học sinh yếu kém Đối với các đối tượng học sinh có trình độ học tập khác nhau, giáo viên cần cá biệt hóa việc dạy học Cụ thể đối với phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4, đối với từng đối tượng học sinh cụ thể mà giáo viên đưa ra các mức độ giải quyết vấn đề khác nhau Đối với các học sinh yếu kém, mức độ phát hiện và giải quyết vấn đề có thể chỉ dừng lại ở mức độ 1,2 Tuy nhiên, đối với các học sinh khá, giỏi thì mức độ này có thể tăng lên mức độ 3 hoặc có thể tối đa là mức độ 4

Nguyên tắc này còn yêu cầu ở giáo viên, trong quá trình thiết kế hoạt động dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cần phải xem xét trình độ học tập của học sinh để từ đó đưa ra các hoạt động hợp lý, phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của quá trình dạy học Nếu thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ về mặt trí tuệ cũng như toàn bộ nhân cách của học sinh nói chung Ngược lại, nếu không tuân thủ nguyên tắc này, hoạt động phát hiện và giải quyết vấn đề quá khó hoặc quá dễ sẽ không phát huy được tính tự giác, tích cực làm việc, kìm hãm hứng thú phát hiện, tìm tòi của học sinh

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, phải làm cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với những sự vật hiện tượng, hay các hình ảnh của chúng từ

Ngày đăng: 02/02/2017, 21:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình và nói rõ  đó là góc nhọn,  góc tù - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
Hình v à nói rõ đó là góc nhọn, góc tù (Trang 50)
Hình  có  hai  cặp  cạnh  đối  diện  song  song và bằng nhau. - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
nh có hai cặp cạnh đối diện song song và bằng nhau (Trang 51)
Hình  thành  công  thức  tính  diện  tích - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
nh thành công thức tính diện tích (Trang 52)
Hình bình hành? - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
Hình b ình hành? (Trang 53)
Bảng trình bày lòi giải. - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
Bảng tr ình bày lòi giải (Trang 54)
Hình bình hành. - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
Hình b ình hành (Trang 55)
Hình  thoi.  Hôm  nay  cô  và  các  em  sẽ - Lắng nghe. - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
nh thoi. Hôm nay cô và các em sẽ - Lắng nghe (Trang 56)
Hình thoi. - Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học hình học lớp 4
Hình thoi. (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w