Đặc biệt, thiếu những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới sự cam kết lựa chọn điểm đến cũng như lòng trung thành của du khách trên cơ sở so sánh giữa hai điểm đến tươ
Trang 1CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
- Sự cần thiết về lý luận
Các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào những nhóm yếu tố tác động
nhất định vào sự lựa chọn điểm đến hoặc một quyết định nào đó của du khách
Trong khi thiếu những nghiên cứu mang tính tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới
cam kết lựa chọn điểm đến cũng như lòng trung thành của du khách, đặc biệt là
sự ảnh hưởng của các nguồn/kênh thông tin truyền thông tới toàn bộ quá trình
nhận thức, đánh giá và đưa ra quyết định lựa chọn điểm đến Đặc biệt, các yếu tố
tác động được đánh giá trong mô hình tiến trình diễn biến tâm lý trong khoa học
hành vi ra quyết định thông qua vệc kiểm tra các quyết định của mỗi cá nhân, tập
trung vào quá trình nhận thức trước khi du khách đưa ra quyết định cuối cùng
Với những nghiên cứu trong nước hoặc những nghiên cứu về hành vi
người tiêu dùng du lịch trong nước hoặc đề cập tới các điểm đến tại Việt Nam;
các nghiên cứu gần đây thiên về việc đánh giá sự hài lòng và lòng trung thành
của du khách đối với một điểm đến cụ thể Như vậy, các nghiên cứu hành vi hay
đánh giá của du khách dựa trên một điểm đến với nét đặc thù nhất định Trên cơ
sở đó đề xuất các chiến lược thu hút khách du lịch cũng như xây dựng thương
hiệu điểm đến Vì thế có thể khẳng định đối với các điểm đến tại Việt Nam cũng
như việc gắn với hành vi của du khách nội địa; nghiên cứu thực nghiệm này là
nghiên cứu đầu tiên đề cập tới khía cạnh so sánh và tìm ra nhóm yếu tố tác động
tới điểm đến gắn với loại hình du lịch
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng việc hiểu hành vi của
người tiêu dùng du lịch và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm
đến đóng vai trò vô cùng quan trọng, giúp các nghiên cứu hàn lâm cũng như các
nhà quản lý điểm đến lý giải, dự đoán và có những ứng xử phù hợp với đối
tượng khách mà họ hướng đến Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đề cập một
cách bao quát các yếu tố đặc điểm cá nhân của du khách, đặc trưng của điểm
đến, nguồn thông tin và các đặc trưng liên quan đến sự lựa chọn điểm đến hiện
tại và dự định của du khách trong tương lai Đặc biệt, thiếu những nghiên cứu về
mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới sự cam kết lựa chọn điểm đến cũng
như lòng trung thành của du khách trên cơ sở so sánh giữa hai điểm đến tương
ứng với hai loại hình du lịch là du lịch văn hóa và du lịch biển tại Việt Nam
- Sự cần thiết về thực tiễn
Thực tiễn cho thấy, chìa khóa để dẫn đến thành công của ngành du lịch
chính là sự tăng trưởng của lượng khách du lịch đến (Quách Phương Giang,
2013) Việt Nam được đánh giá là nước có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong đó đặc
biệt là du lịch (Bennet, 2009) Du lịch nội địa được xem là mảnh đất tiềm năng
và mang lại nhiều đóng góp lớn lao cho sự phát triển về kinh tế cũng như văn
hóa – xã hội của một quốc gia; nó là chìa khóa thúc đẩy sự liên kết và hội nhập
thông qua những kết nối giữa các điểm đến (Cooper và cộng sự, 1993) Với sự
tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Việt Nam, thu nhập của người dân ngày
càng được cải thiện, du lịch đã trở thành nhu cầu đối với một bộ phận khá lớn
các hộ gia đình và cá nhân trong nước Cách để giải quyết các vấn đề trên đó
chính là phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ du lịch Trong đó, việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch góp phần vào việc giúp các nhà quản
lý doanh nghiệp du lịch đưa ra những chiến lượng đúng đắn vào phù hợp cho từng điểm đến cụ thể với những đặc trưng và nét riêng có của từng điểm đến được lựa chọn
Với ý nghĩa thực tế của việc nghiên cứu hành vi lựa chọn điểm đến đối với các điểm đến cụ thể, cùng với sự thiếu hụt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến sự lựa chọn điểm đến của du khách; tác giả chọn
đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn điểm đến của người dân Hà
Nội: nghiên cứu trường hợp điểm đến Huế, Đà Nẵng” để thực hiện luận án
của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là góp phần nâng cao khả năng thu hút và làm thỏa mãn đối tượng khách du lịch là người dân Hà Nội đến với các điểm đến có đặc trưng phát triển loại hình du lịch văn hóa và du lịch biển (thông qua việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới sự lựa chọn điểm đến Huế và
Đà Nẵng của du khách)
Mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Hệ thống hóa và lựa chọn những yếu tố tác động đến sự lựa chọn điểm
đến du lịch của du khách; trên cơ sở đó xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết (2) Phân tích tổng hợp và đo lường mức độ tác động của các yếu tố tác động đến
sự lựa chọn cũng như hành vi dự định của khách du lịch nội địa đối với 2 điểm đến là Huế và Đà Nẵng (3) Đề xuất các giải pháp đáp ứng nhu cầu của khách du lịch là người dân Hà Nội khi chọn điểm đến Huế, Đà Nẵng nói riêng và những điểm đến có đặc trưng loại hình du lịch văn hóa và du lịch biển nói chung
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để làm đầy những khoảng trống về lý thuyết cũng như đáp ứng được tính cấp thiết của thực tiễn; dựa trên hành vi tiêu dùng du lịch của người dân Hà Nội, nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Các nhóm yếu tố khác nhau về động cơ bên trong, cảm nhận về điểm đến, nguồn thông tin về điểm đến ảnh hưởng như thế nào tới thái độ, sự cam kết lựa chọn điểm đến du lịch của người dân Hà Nội?
Câu hỏi 2: Các nhóm yếu tố khác nhau về động cơ bên trong, cảm nhận về điểm đến, nguồn thông tin về điểm đến ảnh hưởng như thế nào tới thái độ, lòng trung thành với điểm đến du lịch của người dân Hà Nội?
Câu hỏi 3: Có sự khác nhau hay không về các nhóm yếu tố ảnh hưởng tới
sự lựa chọn điểm đến đặc trưng với loại hình du lịch văn hóa và điểm đến đặc trưng với loại hình du lịch biển?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ bản chất giữa các yếu tố (nguồn thông tin về điểm đến, động
cơ bên trong, cảm nhận của du khách về điểm đến, thái độ đối với điểm đến) với hành vi lựa chọn điểm đến du lịch
Trang 2Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nguồn khách: đối tượng được điều tra được giới hạn trong
phạm vi là người dân Hà Nội Nghiên cứu thu thập số liệu dựa trên phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (phân chia theo 12 quận nội thành Hà Nội)
Về không gian điểm đến du lịch: Thành phố Huế và Thành phố Đà Nẵng
Về thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2013 đến 2016, thời gian lấy
số liệu điều tra thứ cấp từ năm 2015 đến 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính nhằm xây dựng và hoàn thiện bảng câu
hỏi phỏng vấn, nhận diện các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới thái độ, sự cam
kết cũng như lòng trung thành của khách đối với điểm đến du lịch
Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng nhằm thu thập thông tin, phân tích dữ
liệu, kiểm định mô hình bằng các phương pháp như phân tích nhân tố khám phá,
Cronbach Alpha, phân tích mô hình cấu trúc
6 Đóng góp của luận án
Thứ nhất, sự đóng góp về mặt lý thuyết của nghiên cứu là xây dựng mô
hình về mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến thái độ, sự cam kết lựa chọn
cũng như lòng trung thành của du khách đối với điểm đến Đặc biệt, nét mới của
mô hình lý thuyết là tìm ra quy luật hành vi giữa hai quyết định lựa chọn điểm
đến du lịch văn hóa và du lịch biển Các quyết định lựa chọn điểm đến cũng được
xét trên hai đối tượng khách chưa từng tới điểm đến (cam kết sẽ tham quan điểm
đến) và du khách đã tới điểm đến (dự định quay trở lại và giới thiệu cho người
khác) Kết quả nghiên cứu sẽ làm phong phú thêm các lý thuyết liên quan đến
hành vi người tiêu dùng du lịch nói chung và hành vi lựa chọn đểm đến nói riêng
Thứ hai, luận án kết hợp hai loại mô hình khá mới trong nghiên cứu về
hành vi người tiêu dùng nói chung và hành vi người tiêu dùng du lịch nói riêng
là mô hình cấu trúc và mô hình tiến trình hành vi Việc áp dụng mô hình nghiên
cứu này giúp kiểm tra hiệu quả và chính xác mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào
(biến kích thích) và yếu tố đầu ra (kết quả phản ứng) Không những vậy, mô hình
còn thể hiện cơ chế hay tiến trình diễn biến tâm lý trong khoa học hành vi ra
quyết định thông qua vệc kiểm tra các quyết định của mỗi cá nhân, tập trung vào
quá trình nhận thức trước khi du khách đưa ra quyết định cuối cùng
Thứ ba, sự đóng góp về mặt phương pháp thống kê thể hiện ở việc sử
dụng đồng thời hai phương pháp định tính (phỏng vấn sâu du khách và chuyên
gia, phỏng vấn nhóm tập trung) và phương pháp định lượng (sử dụng phương
pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và
mô hình cấu trúc tuyến tính SEM) Mô hình nghiên cứu của luận án thể hiện
được cơ chế diễn biến tâm lý một cách logic trong tiến trình ra quyết định lựa
chọn điểm đến với điểm xuất phát là sự tác động của các nguồn thông tin Mô
hình này thể hiện được diễn biến các bước lý giải hành vi của người tiêu dùng
du lịch Việc sử dụng các phương pháp hiện đại nhằm khuyến khích và là tài
liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu quan tâm áp dụng
Thứ tư, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp cho các nhà quản lý các
điểm du lịch có những thông tin chính xác và hiểu biết sâu sắc hơn về thái độ
cũng như hành vi của du khách, qua đó có những biện pháp thúc đẩy và lôi kéo
du khách đến với các điểm du lịch trong nước bằng cách đưa ra những chiến lược, chính sách thích hợp nhằm khai thác triệt để những thế mạnh của các điểm
du lịch
7 Bố cục của luận án
Không kể chương mở đầu và kết luận, luận án được kết cầu thành bốn chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu về các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, đề xuất và kiến nghị
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN
1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.2 Các mô hình về hành vi người tiêu dùng du lịch và sự lựa chọn điểm đến
Hành vi tiêu dùng du lịch là những hành vi liên quan đến quá trình tiêu dùng du lịch, nó được biểu hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng và đánh giá các sản phẩm dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu nào đó của khách du lịch Theo tác giả Trần Minh Đạo (2012), hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi sản phẩm Bản chất của hành vi người tiêu dùng là một quá trình phức tạp bởi nó xuất phát
từ những yếu tố tâm lý bên trong Khi áp dụng vào trong du lịch, quá trình này trở nên phức tạp hơn bởi tính vô hình của sản phẩm du lịch cũng như tính gián đoạn và tích lũy trong khi tiêu dùng (Correia và cộng sự, 2007) Việc nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng là nghiên cứu cách thức mà người tiêu dùng đưa ra quyết định để sử dụng nguồn lực sẵn có của mình như tiền bạc, thời gian đến việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân (Kotler, 2000) Tiến trình ra quyết định tiêu dùng của du khách là một chuỗi phức tạp của các quyết định như lựa chọn điểm đến nào, tham quan ở đâu, tham quan cái
gì, khi nào đi du lịch, đi với ai, đi bao lâu, chi phí khoảng bao nhiêu (Woodside and Lysonski, 1989; Woodside and MacDonald, 1994; Hyde, 2008; Oppewal và cộng sự, 2015) Trong đó, sự lựa chọn điểm đến là một trong những quyết định quan trọng của chuyến đi, nó được các nhà nghiên cứu lựa chọn căn cứ vào vị trí địa lý để đến tham quan và du lịch (Kim và cộng sự, 2012; Byon and Zhang, 2010) Khi nghiên cứu hành vi chọn điểm đến du lịch của khách cần trả lời ba câu hỏi: (1) tại sao du khách tới nơi đó?, (2) du khách tới nơi đó để làm gì?, và (3) người ta đến nơi đó bằng cách nào?
Các lý thuyết về hành vi lập kế hoạch thường được sử dụng trong các mô hình nghiên cứu lý thuyết để dự đoán hành vi cũng như dự định chọn điểm tham quan của du khách (Jalilvand và cộng sự, 2012; Prayag, 2008) Mô hình trung tâm của lý thuyết hành vi thể hiện rằng hành vi của con người sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể dựa vào sự kích thích của các yếu tố tham khảo và các nguồn lực
Trang 3cần thiết Điều đó có nghĩa hành vi là phản ứng của cá nhân khi bị một (một số)
yếu tố nào đó trong môi trường kích thích Các yếu tố bên ngoài và tình trạng
bên trong gộp thành một tình huống và tiến trình ứng xử để thích ứng có định
hướng nhằm giúp cá nhân thích nghi với hoàn cảnh (Lam and Hsu, 2005; Ajzen,
1991) Trong nghiên cứu này sự cam kết lựa chọn điểm đến thể hiện bằng các
mức độ sẵn lòng tới điểm đến trong tương lai ở những mức độ cam kết khác nhau;
lòng trung thành đối với điểm đến thể hiện bằng dự định quay trở lại tham quan
điểm đến và giới thiệu cho những người khác về điểm đến đó
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến du lịch
Kết quả nghiên cứu từ các tài liệu cho thấy các tác nhân tới quyết định
chọn điểm tham quan rất đa dạng và phức tạp Hầu hết các nghiên cứu đề cập
đến các yếu tố bên trong (yếu tố cá nhân), và yếu tố bên ngoài (yếu tố môi
trường) Rất nhiều tác giả dựa vào cách tiếp cận của Crompton (1979) khi chia
các yếu tố ảnh hưởng thành yếu tố thúc đẩy (Push motives); nhóm thứ hai là
các yếu tố kéo (Pull motives) Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu chỉ đề cập đến một
nhóm yếu tố hay một vài yếu tố nhất định tùy thuộc vào mục đích và bối cảnh
nghiên cứu
Luận án tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn điểm đến từ mô
hình tổng quát về động cơ đi du lịch của Crompton (1979), mô hình các yếu tố
ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến của mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới sự
lựa chọn điểm đến của Woodside and Lysonski (1989), Um and Crompton
(1991, 1992) và Hill (2000) Trong đó các yếu tố ảnh hưởng được chia làm 2
nhóm chính là các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài (nguồn thông tin, văn
hóa, gia đình, lối sống và đặc trưng của điểm đến) và các yếu tố thuộc cá nhân
du khách (động cơ, tính cách, kinh nghiệm đi du lịch tới điểm đến) Sự ảnh
hưởng của các yếu tố diễn ra trước thời điểm du khách lựa chọn điểm đến cuối
cùng cho chuyến đi của mình và luận án xét cả hai trường hợp du khách đã từng
tới điểm đến và chưa bao giờ tới điểm đến Luận án phân tích yếu tố động cơ
của du khách gồm (i) động cơ đẩy chính là động cơ bên trong hay đặc điểm cá
nhân gắn với du khách, (ii) động cơ kéo hay đặc trưng của điểm đến thông qua
cảm nhận của du khách Ngoài ra, các yếu tố khác như nguồn thông tin về điểm
đến, thái độ đối với điểm đến được xem xét trong mối quan hệ giữa các yếu tố
trong tiến trình ra quyết định lựa chọn điểm đến cũng như lòng trung thành của
du khách đối với điểm đến
1.3.1 Động cơ đi du lịch
Sự lựa chọn điểm đến du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác
nhau (Tezak và cộng sự, 2013) và động cơ đi du lịch là một trong số đó Những
động cơ thúc đẩy quá trình này thay đổi dựa vào nét khác biệt ở mỗi cá nhân và
những đặc trưng mà điểm đến mang lại (Tezak và cộng sự, 2010) Luận án tiếp
cận động cơ đi du lịch dựa trên mô hình động cơ đẩy-kéo của Crompton (1979)
và được Hsu và cộng sự (2009) cụ thể hóa như sau: động cơ đẩy bao gồm 4
yếu tố (tâm lý như rời khỏi nơi cư trú, khẳng định bản thân ; vật chất như nghỉ
ngơi thư giãn, chữa bệnh ; tương tác xã hội như thăm bạn bè, kết bạn ; và nhu
cầu khám phá, tìm hiểu về văn hóa, lịch sử ), động cơ đẩy gồm 2 yếu tố (hữu
hình – đặc trưng của điểm đến như điều kiện phục vụ tại điểm đến, giá cả, các dịch vụ ; và vô hình như hình ảnh thương hiệu điểm đến những kỳ vọng về những lợi ích khác)
1.3.2 Nguồn thông tin về điểm đến
Thông tin về điểm đến du lịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng cho cả khách du lịch, nhà quản lý điểm đến và cũng cho cả ngành công nghiệp du lịch (Nicoletta and Servidio, 2012) Việc tìm kiếm thông tin được xem là yếu tố có tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn điểm đến sự lựa chọn điểm đến du lịch (Jacobsen and Munar, 2012) Các nguồn thông tin có thể bao gồm cả thông tin bên trong và thông tin bên ngoài; hay thông tin phi chính thức từ người thân bạn
bè và chính thức từ các tờ rơi áp phích của công ty cũng như tổ chức du lịch (Molina and Esteban, 2006) Luận án chia nguồn thông tin mà khách hàng tiếp cận để lựa chọn điểm đến là thông tin chính thức (Thông tin từ cơ quan quản lý du lịch cấp Quốc gia và địa phương, thông tin quảng cáo từ các công ty du lịch – những thông tin này có thể trên các phương tiện truyền thông điện tử hoặc phi điện tử), nguồn thông tin truyền miệng (Thông tin truyền miệng trực tiếp – WOM
và gián tiếp E-WOM từ bạn bè, người thân) và nguồn từ kinh nghiệm của bản thân du khách
1.4 Mô hình nghiên cứu lý thuyết và giả thuyết
Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu, nghiên cứu sinh đã tìm ra khoảng trống
lý thuyết về hành vi lựa chọn điểm đến của du khách như sau: một là, có ít các
nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố ảnh hướng tới sự lựa chọn điểm đến mà
chỉ tập trung vào một hoặc một vài nhóm yếu tố riêng lẽ; hai là, không nhiều các
nghiên cứu áp dụng mô hình cấu trúc SEM để xét mối quan hệ đa hướng đồng thời của các yếu tố cũng như cơ chế diễn biến tâm lý trong quá trình ra quyết định, trong khi phần lớn các bài nghiên cứu áp dụng phân tích theo mô hình hồi
quy; ba là, việc so sánh độc lập hành vi lựa chọn điểm đến gắn với hai loại hình
du lịch văn hóa và du lịch biển chưa được nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu này là mô hình tổng quát về động cơ đi du lịch của Crompton (1979), mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến của Woodside and Lysonski (1989), Um and Crompton (1991, 1992) và Hill (2000) Dựa vào những khoảng trống lý thuyết, cùng với những gợi ý của các nhà nghiên cứu cũng như tầm quan trọng của việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến của du khách, luận án lựa chọn nhóm các yếu tố thuộc về đặc điểm nhân khẩu học, động cơ đi du lịch, và nguồn thông tin về điểm đến cũng như xác định hai điểm đến Huế và Đà Nẵng khi phỏng vấn du khách
1.4.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên cơ sở lý thuyết vừa đề cập, tác giả xin đề xuất mô hình nghiên cứu
dự kiến tổng quát như hình 1.9 Các mô hình dành cho các đối tượng nghiên cứu
là những du khách chưa từng tới du lịch tại điểm đến (Hình 1.11) và mô hình dành cho những du khách đã từng tham quan điểm đến (Hình 1.12) Các yếu tố cũng như thang đo cụ thể sẽ được phân tích tổng hợp và hiệu chỉnh (nếu có) sau khi có kết quả điều tra thực tế
Trang 4Hình 1.10 Mô hình nghiên cứu lý thuyết
Động cơ nội tại
(Động cơ khám phá, thư giãn, tương tác với xã hội, thể chất…)
Hanlan and Kelly (2005),
Molina và cộng sự (2010);
Nicoletta and Servidio
(2012), Tasci and Gartner
(2007), Beerli and Martin
(2004)
Jacobsen and Munar (2012), Hyde (2008), Um and Crompton (1992)
Jacobsen and Munar (2012), Hyde (2008), Um and Crompton (1992)
Jacobsen and Munar (2012),
Mutinda and Mayaka (2012),
Kiralova and Pavliceka (2015)
Chen and Tsai (2007), Sonmez and Sirakaya (2002), Baloglu (2001), Gartner (1993), Naoi (2003), Yoon and Uysal (2005)
Chen and Tsai (2007), Prayag (2008), Woomi and Soocheong (2008), Jalilvand và cộng sự, (2012)
Hill (2000)
Ajzen (1991), Jalilvand and Samiei (2012), Decrop (2006),
Um and Crompton (1990), Lee (2007)
Dalen (1989), Gonza´lez and Bello (2002), Hsieh và cộng sự (1993), Muller (1991), Pitts and Woodside (1980), Shih (1986), Gartner (1993), Kim and Lee (2002), Moutinho (1987) Sirakaya và cộng sự (1996)
Nguồn thông tin về
điểm đến (Nguồn chính
thống, truyền miệng,
kinh nghiệm của bản
thân)
Cảm nhận về điểm đến (Giá trị tài nguyên,
điều kiện phục vụ du lịch, dịch vụ, giá cả…)
Thái độ đối với điểm đến
Sự lựa chọn điểm đến (Cam kết lựa
chọn, lòng trung thành)
Trang 5Mô
hình
Giả
Mô
hình 1 HA1.1a/b Nguồn thông tin chính thống/nguồn thông tin truyền miệng tác động tích cực tới cảm nhận của du khách về
điểm đến
HA1.2a/b Nguồn thông tin chính thống/nguồn thông tin truyền
miệng tác động tích cực tới thái độ của du khách đối với điểm đến
HA1.3a/b Nguồn thông tin chính thống/nguồn thông tin truyền
miệng tác động tích cực tới động cơ bên trong của du khách
HA1.4a/b Nguồn thông tin chính thống/nguồn thông tin truyền
miệng tác động tích cực tới sự cam kết lựa chọn điểm đến của du khách
HA2.1 Cảm nhận của du khách về điểm đến tác động tích cực tới
thái độ của du khách đối với điểm đến
HA2.2 Cảm nhận của du khách về điểm đến tác động tích cực tới
sự cam kết lựa chọn điểm đến
HA3.1 Động cơ bên trong của du khách tác động tích cực tới thái
độ của du khách đối với điểm đến
HA3.2 Động cơ bên trong của du khách tác động tích cực tới sự
cam kết lựa chọn điểm đến
HA4 Thái độ đối với điểm đến tác động tích cực tới sự cam kết
lựa chọn điểm đến của du khách
Mô
hình 2
HB1.1 Kinh nghiệm du lịch tới điểm đến tác động tích cực tới
cảm nhận của du khách về điểm đến
HB1.2 Kinh nghiệm du lịch tới điểm đến tác động tích cực tới
thái độ của du khách đối với điểm đến
HB1.3 Kinh nghiệm du lịch tới điểm đến tác động tích cực tới
động cơ bên trong của du khách
HB1.4 Kinh nghiệm du lịch tới điểm đến tác động tích cực tới
lòng trung thành của du khách đối với điểm đến HB2.1 Cảm nhận của du khách về điểm đến tác động tích cực tới
thái độ của du khách đối với điểm đến
HB2.2 Cảm nhận của du khách về điểm đến tác động tích cực tới
lòng trung thành của du khách đối với điểm đến HB3.1 Động cơ bên trong của du khách tác động tích cực tới thái
độ của du khách đối với điểm đến
HB3.2 Động cơ bên trong của du khách tác động tích cực tới lòng
trung thành của du khách đối với điểm đến HB4 Thái độ đối với điểm đến tác động tích cực tới lòng trung
thành của du khách đối với điểm đến
Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 2016
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 2.2 Phương pháp chọn mẫu và địa bàn nghiên cứu
Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu của luận án là người dân hiện đang sống tại địa bàn Hà Nội, Việt Nam Mục tiêu của việc chọn mẫu là đảm bảo chọn đúng quy trình nhằm chọn được số mẫu có thể đại diện cho đối tượng nghiên cứu Mẫu của nghiên cứu chính thức dựa trên phương pháp chọn mẫu xác suất,
cụ thể là sự kết hợp của phương pháp chọn mẫu phân tầng (Stratifed sampling)
và phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện (Convenient random sampling) giúp cho mẫu đảm bảo tính đại diện mỗi nhóm – cụ thể là phân theo đơn vị hành chính cấp Quận tại Hà Nội Việc lựa chọn người dân hiện đang sống tại 12 quận nội thành Hà Nội làm đối tượng điều tra nghiên cứu bởi các lý do sau: (1) người dân
P 3
P1: Tổng quan lý thuyết P2: Nghiên cứu sơ bộ P3: Nghiên cứu chính thức
Điều tra khoảng chính thức (n=938)
Phân tích độ tin cậy
EFA
CFA
SEM
Xóa những biến số có độ tương quan thấp (<0.4)
Xóa những nhân tố có ý nghĩa thấp (<0.5)
Kiểm tra sự đo lường của
mô hình
Kiểm tra mô hình lý thuyết
P 2
Sửa bảng hỏi định lượng
Xây dựng mô hình lý thuyết
Bảng hỏi định lượng dự kiến
Bảng hỏi chính thức
Thiết kế câu hỏi định tính và phỏng vấn sâu (n=20)
Phỏng vấn chuyên gia, hiệu chỉnh thang đo
Trang 6Hà Nội khá đông, vì thế đảm bảo được tính liên hệ hay nhân rộng kết quả
nghiên cứu cho các vùng miền khác tại Việt Nam; (2) cư dân nội thành Hà Nội
có cơ cấu đa dạng trong độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ, thu nhập, trong đó trình
độ và thu nhập bình quân của người dân khá cao nên họ có nhiều kinh nghiệm đi
du lịch; (3) nguyên quán của người dân Hà Nội khá đa dạng nên tính cách, văn
hóa, hành vi, lối sống của người dân rất phong phú và thể hiện được cả tính đặc
trưng lẫn tính cách vùng miền trong việc lựa chọn điểm đến du lịch; (4) mật độ
dân số cao, khoảng cách địa lý không xa và khả năng tiếp cận với người được
phỏng vấn dễ dàng
Thứ hai, tác giả lựa chọn điểm đến Huế và Đà Nẵng để định hướng người
dân Hà Nội khi hỏi về hành vi lựa chọn điểm đến của họ bởi những lý do cụ thể
như sau: (1) sự xem xét các yếu tố tác động phải đặt trong bối cảnh của một điểm
đến nhất định; (2) khoảng cách và chi phí đi lại cũng như sự thuận tiện trong việc
di chuyển từ Hà Nội tới Huế, từ Hà Nội tới Đà Nẵng không có nhiều sự khác biệt;
(3) Huế và Đà Nẵng là hai điểm đến đặc trưng với hai loại hình du lịch văn hóa
và du lịch biển – đây là 2 loại hình du lịch đặc trưng của du lịch tại Việt Nam
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu chính thức
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Tổng thể mẫu nghiên cứu chính thức của luận án là người dân tại 12 quận
thuộc nội thành Hà Nội Nghiên cứu thu thập mẫu dựa trên cách tiếp cận ngẫu
nhiên có phân tầng theo đơn vị hành chính là 12 Quận thuộc nội thành Hà Nội
Số mẫu đưa vào phân tích chính thức là 938
3.2 Kết quả nghiên cứu định lượng mô hình cấu trúc
3.2.1 Đánh giá sơ bộ thang đo
- Động cơ bên trong (DC)
Yếu tố động cơ bên trong hay động cơ bên trong được áp dụng trong
nghiên cứu định lượng chính thức gồm 16 thang đo được kí hiệu là HDC đối với
điểm đến Huế và DNDC đối với điểm đến Đà Nẵng Kết quả phân tích
Cronbach’s Alpha cho thấy độ tương quan giữa các biến trong mỗi nhóm là khá
cao (0.831 đối với điểm đến Huế và 0.838 đối với điểm đến Đà Nẵng) Cụ thể
các thang đo được xem xét để loại bỏ là HDC2, HDC3, HDC6, HDC11,
DNDC1
- Cảm nhận về điểm đến (hình ảnh điểm đến - DD)
Yếu tố động cơ bên ngoài hay chính là đặc trưng của điểm đến được áp
dụng trong nghiên cứu định lượng chính thức gồm 18 thang đo được kí hiệu là
HDD đối với điểm đến Huế và DNDD đối với điểm đến Đà Nẵng Kết quả phân
tích Cronbach’s Alpha cho thấy độ tương quan giữa các biến trong mỗi nhóm là
khá cao (0.775 đối với điểm đến Huế và 0.858 đối với điểm đến Đà Nẵng) Cụ
thể các thang đo được xem xét để loại bỏ là HDD11, HDD18, DNDD15
- Nguồn thông tin về điểm đến (TT)
Yếu tố thông tin về điểm đến được áp dụng trong nghiên cứu định lượng
gồm nguồn thông tin chính thống (CT), nguồn thông tin truyền miệng (TM) và
kinh nghiệm (KN) du lịch tới điểm đến Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thấy độ tương quan giữa các biến trong mỗi nhóm thỏa mãn tiêu chuẩn điều kiện Cronbach’s Alpha >0.7 (0.904, 0.883, 0.887 lần lượt với nguồn thông tin chính thống, truyền miệng, kinh nghiệm đối với điểm đến Huế và 0.908, 0.880,
0.895 đối với điểm đến Đà Nẵng)
3.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 3.2.2.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA đối với điểm đến Huế
So với cách xác định nhóm các yếu tố dựa trên cơ sở tổng quan lý thuyết,
số liệu điều tra về hành vi lựa chọn điểm đến Huế và các yếu tố ảnh hưởng cho thấy có sự thay đổi đối với yếu tố động cơ bên trong, cảm nhận về điểm đến và kinh nghiệm du lịch của bản thân Cụ thể, về động cơ đi du lịch đến Huế, du khách cho rằng, họ mong muốn đến Huế bởi: (1) động cơ bên trong bao gồm: động cơ tâm lý (muốn nghỉ ngơi, khám phá, tìm hiểu về điểm đến) và động cơ giao lưu; (2) cảm nhận về điểm đến được chia nhóm bao gồm: giá trị của tài nguyên, điều kiện phục vụ du lịch tại điểm đến, và các dịch vụ tại điểm đến Ngoài ra, kinh nghiệm du lịch của bản thân đối với điểm đến bỏ đi thang đo HKN1 Các yếu tố còn lại vẫn được giữ nguyên thang đo như cơ sở lý thuyết đã trình bày
Bảng 3.9 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA của các yếu tố ảnh
hưởng tới sự lựa chọn điểm đến Huế Thang đo
Yếu tố
Đặt tên mới
Cronba ch’s Alpha
nguyên tại điểm đến
.923 HDD2 855
HDD16 855 HDD7 849 HDD6 835 HDD17 764 HDD5 747
lý muốn khám phá điểm đến
.883
tin chính thống
.904
Trang 7Thang đo Yếu tố Đặt tên mới Cronba
phục vụ du lịch tại điểm đến
.932
tin truyền miệng
.883
du lịch của bản thân
.899
tại điểm đến
.820
lý muôn giao lưu
.784
với điểm đến
.773
(Nguồn: kết quả nghiên cứu của tác giả, 2016) 3.2.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA đối với điểm đến Đà Nẵng
So với cách xác định nhóm các yếu tố dựa trên cơ sở tổng quan lý thuyết,
số liệu điều tra về hành vi lựa chọn điểm đến Đà Nẵng và các yếu tố ảnh hưởng
cho thấy có sự thay đổi đối với yếu tố động cơ bên trong, cảm nhận về điểm đến
của du khách Cụ thể, về động cơ đi du lịch đến Đà Nẵng, du khách cho rằng, họ
mong muốn đến đây bởi: (1) động cơ bên trong bao gồm: động cơ tâm lý khám
phá, động cơ tâm lý thư giãn và động cơ tâm lý mong muốn giao lưu và gần gũi
với gia đình; (2) cảm nhận về điểm đến được chia nhóm bao gồm: giá trị của tài
nguyên, điều kiện phục vụ du lịch tại điểm đến, và các dịch vụ tại điểm đến Các
yếu tố còn lại vẫn được giữ nguyên thang đo như cơ sở lý thuyết đã trình bày
Bảng 3.11 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA của các yếu tố ảnh
hưởng tới sự lựa chọn điểm đến Đà Nẵng
Alpha
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
chính thống
.908 DNTTCT3 849
DNTTCT2 843 DNTTCT5 837 DNTTCT4 794 DNTTCT1 622
nghiệm du lịch của bản thân
.895
tài nguyên tại điểm đến
.845
thông tin truyền miệng
.880
tâm lý muốn giao lưu
.859
vụ tại điểm đến
.864
tâm lý
.855
Trang 8Thang đo Yếu tố Đặt tên Cronbac
phá điểm đến
phục vụ du lịch tại điểm đến
.803
tâm lý muốn thư giãn
.729
với điểm đến
.902
(Nguồn: kết quả nghiên cứu của tác giả, 2016)
Căn cứ vào kết quả phân tích nhân tố khám phá, mô hình nghiên cứu lý
thuyết gồm mô hình 1 và mô hình 2 được xây dựng ở chương 1 được hiệu chỉnh
nhằm phù hợp với số liệu điều tra khảo sát thực tế và phản ánh đúng tâm lý cũng
như hành vi người tiêu dùng du lịch là người dân Hà Nội Cụ thể được thể hiện
qua hình 3.1 và 3.2
3.2.3 Phân tích nhân tố khẳng định CFA
Đối với cả hai điểm đến 2 mô hình dành cho khách chưa tới và đã từng
tới điểm đến Huế và Đà Nẵng, kết quả cho thấy các giá trị và các chỉ tiêu đo
lường độ phù hợp đạt ở mức cao Điều này chứng tỏ mô hình nghiên cứu hoàn
toàn phù hợp với dữ liệu điều tra thị trường Ngoài ra, kết quả phân tích nhân tố
khẳng định cho thấy hệ số tải hay giá trị trọng số nhân tố chuẩn hóa đều đạt giá
trị >=0.5 Thêm vào đó, các thang đo đều đạt độ tin cậy tổng hợp CRR rất tốt
(>=0.7) và các giá trị phương sai trích VE>=0.5 Kết quả này cho thấy các thang
đo sử dụng trong nghiên cứu này đạt độ tin cậy và độ hội tụ cao
3.2.4 Phân tích mô hình cấu trúc SEM và kiểm định các giả thuyết
3.2.4.1 Mô hình cấu trúc SEM
Dựa vào các giá trị và các chỉ tiêu đo lường các mô hình 1.1, 1.2 và 2 của
hai điểm đến Huế và Đà Nẵng nhìn chung thỏa mãn so với thông số tiêu chuẩn
Điều này chứng tỏ các mô hình hoàn toàn phù hợp với dữ liệu điều tra thị trường
3.2.4.2 Kết quả kiểm định giả thuyết
Kết quả kiểm định giả thuyết được thể hiện và so sánh thông qua các hình
tổng hợp của mô hình 1.1, 1.2 và mô hình 2 Cụ thể các kết quả sẽ thể hiện mối
quan hệ giữa các biến và thể hiện được cơ chế diễn biến tâm lý cũng như hành
vi của du khách
đ đ i
iể đ
iể đ
đ đ i
iể đ
iể đ
Trang 9Ghi chú: Những kết quả không gạch chân là của điểm đến Huế, những kết quả gạch chân và in nghiêng là kết quả của điểm đến Đà Nẵng
Hình 3.8 Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết mô hình 1.1
Động cơ thư giãn Động cơ khám phá
Động cơ giao lưu
.141***
.267***/.008 ns
-.044 ns /.116***
.497***
.613***
Nguồn thông tin
chính thống
Thái độ đối với điểm đến
Sự cam kết lựa chọn điểm đến
Giá trị tài nguyên Điều kiện phục vụ du lịch Dịch vụ tại điểm đến
.123**
.023 ns
.172***/.200***
.060 ns /.171***
-.042 ns /.216***
.075*/.216***
.058 ns /.140**
.194***
.243***
.050 ns
.193***
.066*
.145***
.113**/.092**
.239***/.022 ns
.122***
-.007 ns
.142***
.427***
.280***
.123**/.148***
.267***/.146***
034 ns
18
Ghi chú: Những kết quả không gạch chân là của điểm đến Huế, những kết quả gạch chân và in nghiêng là kết quả của điểm đến Đà Nẵng
Hình 3.9 Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết mô hình 1.2
Động cơ thư giãn Động cơ khám phá
Động cơ giao lưu
.120***
.048 ns /.216***
-.048 ns /.199***
.529***
.540***
Nguồn thông tin
truyền miệng
Thái độ đối với điểm đến
Sự cam kết lựa chọn điểm đến
Giá trị tài nguyên Điều kiện phục vụ du lịch Dịch vụ tại điểm đến
.154***
.120**
.070*/.395***
.118** /.351***
-.043 ns /.241***
.108**/.148***
.058 ns/.073*
.203***
.210***
.052 ns
.190***
.055 ns
.119***
.121**/.109**
.313***/.036 ns
.112***
-.002 ns
.156***
.456***
.276***
.011ns/-.021 ns 033 ns/.059 ns
.031 ns
Trang 10Mô tả tổng hợp kết quả nghiên cứu:
(1) Nét chung của hai điểm đến là giá trị tài nguyên của điểm đến đều tác động tới thái độ, cam kết lựa chọn và lòng trung thành đối với điểm đến Huế và
Đà Nẵng Kết quả này cho thấy giá trị của tài nguyên chính là giá trị cốt lõi, là sức hút chính của du khách khi quyết định lựa chọn điểm đến này thay vì một điểm đến khác
(2) Nguồn thông tin về điểm đến ảnh hưởng không giống nhau đối với du khách khi họ lựa chọn điểm đến Huế và Đà Nẵng Đối với điểm đến Huế, nguồn thông tin chính thống ảnh hưởng mạnh mẽ tới hình ảnh của điểm đến, tạo động
cơ thúc đẩy du khách có phát sinh nhu cầu du lịch tới Huế Ngược lại, đối với điểm đến Đà Nẵng, thông tin truyền miệng lại đóng vai trò quan trọng, tác động tới sự cảm nhận của du khách về điểm đến, thái độ cũng như hành vi cam kết lựa chọn của du khách
(3) Những thông tin có được từ kinh nghiệm du lịch của bản thân tới điểm đến mặc dù ảnh hưởng tới sự cảm nhận của du khách về điểm đến cũng như động cơ bên trong của du khách, nhưng không ảnh hưởng tới lòng trung thành của du khách (4) Sự cảm nhận của du khách đối với điểm đến bao gồm giá trị tài nguyên, điều kiện phục vụ và dịch vụ tại điểm đến ảnh hưởng tới thái độ, sự cam kết lựa chọn cũng như lòng trung thành của du khách đối với điểm đến Đà Nẵng Trong khi đó, chỉ có giá trị tài nguyên của điểm đến ảnh hưởng tới thái độ
và cam kết lựa chọn điểm đến Huế Ngoài ra, du khách khi đề cập tới điểm đến
Đà Nẵng rất coi trọng xem xét điều kiện phục vụ tại điểm đến như cơ sở hạ tầng, điều kiện về môi trường như thời tiết, tính an toàn của điểm đến và sự thân thiện của cư dân địa phương, sự sẵn có của các dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ về đêm (5) Về động cơ bên trong của du khách, nhìn chung du khách mong muốn được thỏa mãn nhu cầu khám phá và thư giãn khi tới Huế và Đà Nẵng, đặc biệt
là động cơ khám phá ảnh hưởng mạnh mẽ tới thái độ cũng như sự cam kết lựa chọn 2 điểm đến này Tuy nhiên, yếu tố này không ảnh hưởng tới lòng trung thành của du khách đối với điểm đến Huế và ảnh hưởng không nhiều tới lòng trung thành đối với điểm đến Đà Nẵng Ngược lại, nhóm yếu tố động cơ bên trong đặc biệt ảnh hưởng tới thái độ và lòng trung thành với điểm đến Đà Nẵng Đặc biệt là mong muốn nghỉ ngơi, thư giãn, nâng cao sức khỏe, tận hưởng cảm xúc tuần trăng mật và giao lưu với bạn bè cũng như gắn kết tình cảm gia đình
Hình 3.11 Mô phỏng sự ảnh hưởng của các yếu tố tới sự lựa chọn điểm đến
Huế và Đà Nẵng