LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học-Công nghệ Thực phẩm, trong thời gian thực tập tốt nghiệp, em đã tiến hành thực hiện đề tài:
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành/ngành : Công nghệ sinh học
Thái Nguyên, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui Chuyên ngành/ngành: Công nghệ sinh học
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học-Công nghệ Thực phẩm, trong thời gian thực tập tốt nghiệp, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Thử nghiệm sản xuất phân bón
từ phụ phẩm Biogas bằng phương pháp làm khô qua hệ thống lò sấy và đánh giá sơ bộ hiệu quả trên một số loại cây trồng ngắn ngày ”
Sau thời gian tham gia nghiên cứu thực hiện đề tài, đến nay em đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới: ThS Dương Mạnh Cường, Khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn tới ThS Vi Đại Lâm đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên để em có tự tin trong học tập và thực tập tốt nghiệp
Dù đã cố gắng nhiều, xong bài khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô cùng toàn thể các bạn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả !
Thái nguyên, tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Phạm Đức Cảnh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Hàm lượng N, P, K có trong phụ phẩm biogas 10
Bảng 2.2: Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước xả biogas 11
Bảng 3.1: Bố trí công thức đánh giá sơ bộ với một số loại cây trồng 21
Bảng 3.2: Bố trí công thức với phụ phẩm biogas đã được sấy khô 23
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của phụ phẩm biogas và phân bón hóa học NPK đến khả năng nảy mầm 27
Bảng 4.2: Chiều cao cây cải ngồng HN888 ở các lần nhắc lại 28
Bảng 4.3: Chiều dài cây bí đỏ siêu ngọn Tân Nông và các lần nhắc lại 30
Bảng 4.4: Chiều dài cây bí đỏ ăn ngọn Tre Việt 30
Bảng 4.5: Khối lượng phụ phẩm biogas khi sấy khô ở 105oC 33
Bảng 4.6: Bố trí công thức sau khi phụ phẩm đã được sấy khô ở 105oC 34
Bảng 4.7: Bố trí công thức phụ phẩm làm khô trực tiếp 35
Bảng 4.8: Kết quả theo dõi sau khả năng nảy mầm khi gieo hạt 35
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây cải canh mơ lùn Hoàng Mai số 1 36
Bảng 4.10: Chiều cao cây cải canh mơ lùn Hoàng Mai số 1 ở các lần nhắc lại 36
Bảng 4.11: Hàm lượng đạm tổng số trong các mẫu đất 40
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ chiều cao cây cải ngồng HN888 29
Hình 4.2: Chiều cao cải ngồng sau 45 ngày 29
Hình 4.3: Biểu đồ chiều dài cây bí đỏ siêu ngọn Tân Nông 31
Hình 4.4: Biểu đồ chiều dài bí đỏ ăn ngọn Tre Việt 32
Hình 4.5: Sâu hại ảnh hưởng đến cây trồng 33
Hình 4.6: Phụ phẩm biogas trước và sau khi làm khô 34
Hình 4.7: Biểu đồ chiều cao cây cải canh mơ lùn Hoàng Mai số 1 tại thời điểm 20 ngày 38
Hình 4.8: Biểu đồ chiều cao cây khi được bón phân của 2 phương pháp làm khô khác nhau 39
Hình 4.9: Mẫu trước và sau khi chuẩn độ 40
Trang 6PTNT : Phát triển Nông thôn
RNA : Ribonucleic acid
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
VSV : Vi sinh vật
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 3
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 4
1.3 Ý nghĩa của đề tài 4
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 4
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tế 4
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cở sở khoa học 5
2.1.1 Tổng quan về phân bón 5
2.1.2 Khái quát về biogas 8
2.1.3 Vai trò nitơ đến cây trồng 12
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng của một số loại cây trồng 14
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
2.2.2 Tình hình nghiên trên thế giới 19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 20
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 20
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
Trang 83.4.1 Đánh giá sơ bộ ảnh hưởng của biogas và phân bón hóa học đến
cây trồng 21
3.4.2 Thiết lập quy trình sấy khô phụ phẩm bằng hệ thống lò sấy trong các khoảng thời gian khác nhau 22
3.4.3 So sánh ảnh hưởng của phụ phẩm sấy ở nhiệt độ cao và phụ phẩm làm khô trực tiếp 23
3.4.4 Xác định hàm lượng Nitơ trong các mẫu đất 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đánh giá sơ bộ ảnh hưởng hỗn hợp phụ phẩm biogas và phân hóa học đến cây trồng 27
4.1.1 Ảnh hưởng hỗn hợp phụ phẩm biogas và phân hóa học đến khả năng sinh trưởng của các loại cây 27
4.1.2 Ảnh hưởng hỗn hợp phụ phẩm biogas và phân hóa học đến chiều dài cây 28
4.2 Khối lượng khô phụ phẩm biogas sau khi sấy khô ở các khoảng thời gian 33 4.3 So sánh ảnh hưởng của phụ phẩm sấy ở nhiệt độ cao và phụ phẩm làm khô trực tiếp 34
4.3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng nảy mầm 35
4.3.2 Ảnh hưởng phân bón đến chiều cao cây 36
4.3.3 So sánh với công thức sử dụng với phương pháp làm khô trực tiếp 38
4.4 Xác định hàm lượng Nitơ trong các mẫu đất 39
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong nông nghiệp hiện nay phân bón là yếu tố không thể tách rời Phân bón là thức ăn của cây trồng, có vai trò rất quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất, bảo vệ cây trồng và nâng cao độ phì nhiêu của đất
Các sản phẩm phân bón chia làm hai loại:
Phân vô cơ hay phân hóa học: là các loại phân có chứa yếu tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng (vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật lý, hóa học Hiện nay phân hóa học được sử dụng nhiều trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, không phải tất cả lượng phân bón trên được cho vào đất, được phun trên lá… cây sẽ hấp thụ hết để nuôi cây lớn lên từng ngày Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực nông hóa học ở Việt Nam, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt từ 30-45%, lân từ 40-45% và kali từ 40-50%, tùy theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân bón… Như vậy, còn 60-65% lượng đạm tương đương với 1,77 triệu tấn urê, 55-60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe lân
và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl) được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng Trong số phân bón cây không sử dụng được, một phần còn được giữ lại trong các keo đất là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho vụ sau; một phần bị rửa trôi theo nước mặt và chảy vào các ao, hồ, sông suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt; một phần bị trực di (thấm rút theo chiều dọc) xuống tầng nước ngầm và một phần bị bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá trình phản nitrat hóa gây ô nhiễm không khí… Như vậy gây ô nhiễm môi trường của phân bón trên diện rộng và lâu dài của phân bón
là việc xảy ra hàng ngày hàng giờ của vùng sản xuất nông nghiệp
Trang 10Phân hữu cơ: bao gồm các loại phân có nguồn gốc là sản phẩm hữu cơ, như các loại phân chuồng, phân xanh, thân lá cây trồng được dùng để bón ruộng tận dụng các nguồn chất thải là biện pháp hiệu quả và kinh tế trong giải quyết ô nhiễm chất thải hữu cơ vào đất hoặc nguồn nước từ sản xuất nông nghiệp Trong các giải pháp được đặt ra thì làm phân hữu cơ là giải pháp đơn giản, hiệu quả và mang lại nhiều thuận lợi nhất (Thambirajah, 1993) Phân hữu cơ là những vật liệu có hoạt tính sinh học cao là kết quả của quá trình phân huỷ chất hữu cơ dưới những điều kiện được kiểm soát Phân hữu cơ được sử dụng nhằm cải thiện tính chất đất và cung cấp dưỡng chất cho cây trồng Bón phân hữu cơ mang lại nhiều lợi ích cho đất, trong cải thiện chất lượng đất trên vùng đất bạc màu, lượng chất hữu cơ thấp do canh tác liên tục Bón phân hữu cơ sẽ giúp tăng lượng chất hữu cơ có ý nghĩa trong đất (Mark, 1995) Theo nghiên cứu của Mark bón 10 tấn phân hữu cơ trên 1ha đất với độ sâu 10cm lớp đất mặt có 1% chất hữu cơ sẽ làm tăng lượng chất hữu cơ trong đất lên khoảng 25%
Nghiên cứu về việc ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ và vô cơ với năng suất bắp và tính chất hóa học đất trên một vùng trồng bắp ở Kenya cho thấy năng suất bắp đạt cao nhất 5,4 – 5,5 tấn/ha đối với nghiệm thức có bón phân hữu cơ so với nghiệm thức đối chất chỉ đạt 1,5 tấn/ha qua bảy vụ trồng Sau hai năm thí nghiệm tổng lượng carbon và đạm trong đất được cải thiện rõ rệt (Daniel, 2000)
Nằm trong thành phần phân hữu cơ hiện nay phân bón từ phụ phẩm biogas đang và sẽ trở thành một yếu tố chính, theo Ho Thi Lan Huong (2002) cho biết: phong trào xây dựng các hầm biogas qui mô gia đình, trang trại và ở các hộ chăn nuôi gia súc ở nước ta đang được phát triển Biogas hiện chủ yếu được dùng thay thế chất đốt, kết quả khá tích cực về cả hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường Nguồn biogas nhận được từ các hầm khí sinh học đã cung
Trang 11cấp nhiên liệu phục vụ việc đun nấu, giảm được hiện tượng chặt phá rừng làm chất đốt ở nông thôn Nguồn khí này có thể được dùng làm nhiên liệu cho động cơ để dẫn động các máy công tác như: bơm nước, máy xay xát, máy lạnh góp phần tiết kiệm chi phí năng lượng, giảm giá thành sản xuất, góp phần tích cực vào việc cải thiện đời sống cho người dân Hiệu quả của hầm ủ biogas mang lại rất lớn, ngoài việc xử lý tốt chất thải chăn nuôi, chất cặn từ hầm ủ còn được dùng làm phân bón cho cây trồng Tuy nhiên, một thực tế cho thấy các công trình hầm biogas mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng khí gas để phục vụ chất đốt, thắp sáng mà chưa tận dụng hết những lợi ích của công trình biogas có thể mang lại Trong đó, việc sử dụng nguồn phụ phẩm: bã thải, nước xả của hầm để bón cho cây trồng là một nguồn lợi phân bón hữu cơ chưa được sử dụng Do các loại phụ phẩm này tồn tại ở thể lỏng và đặc, dẫn đến hạn chế trong việc bảo quản và vận chuyển Ở nhiều cơ sở chăn nuôi quy
mô lớn, việc dư thừa phụ phẩm biogas và thiếu hướng giải quyết phù hợp đang là một thách thức và trở ngại lớn.Vì vậy, nhằm mục đích sử dụng triệt để phần phụ phẩm biogas để tạo ra các sản phẩm phân hữu cơ với khả năng tăng năng xuất cây trồng Xuất pháy từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài:
“Thử nghiệm sản xuất phân bón từ phụ phẩm biogas bằng phương pháp làm khô qua hệ thống lò sấy và đánh giá sơ bộ hiệu quả trên một số loại cây trồng ngắn ngày”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá phân bón hữu cơ từ phụ phẩm biogas
- Xây dựng phương pháp làm khô phụ phẩm
- Bước đầu đánh giá hiệu quả của phân bón hữu cơ từ phụ phẩm biogas
đã được sấy khô đối với một số nhóm cây trồng ngắn ngày
Trang 121.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Thu thập phụ phẩm biogas và thiết lập quy trình sấy khô
- Xác định công thức phẩm biogas phù hợp cho một số loại rau
- Kiểm tra, đánh giá để xác định tính ảnh hưởng của phụ phẩm biogas đến khả năng sinh trưởng và phát triển của một số loại rau
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Kết qủa là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về việc xử
lí phụ phẩm biogas làm phân bón trong trồng trọt
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tế
Kết quả góp phần xử lí, sử dụng nguồn phụ phẩm biogas và hạn chế được lượng phân hóa học giúp giảm thiểu lượng ô nhiễm môi trường
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cở sở khoa học
2.1.1 Tổng quan về phân bón
Cây trồng có thể sinh trưởng và phát triển bình thường ngày cả khi không được bón phân Nhưng để đạt được năng suất, ổn định thì sử dụng phân bón được xem là giải pháp hữu hiệu nhất Thực tế sản xuất cho thấy, một giống cây trồng nào đó dù có tiềm năng năng suất cao bao nhiêu đi chăng nữa nhưng không được chăm bón tốt, được gieo trồng trong điều kiện khí hậu thuận lợi và nhất là không được bón phân một cách cân đối và hợp lí thì cũng khó đạt được mức năng suất như mong muốn Điều này thể hiện rõ ở các quốc gia mà ở đó trình độ thâm canh cũng như khả năng đầu tư của người sản xuất còn hạn chế Chính vì vậy mà nhu cầu sử dụng phân bón ở các quốc gia này ngày một tăng Bón phân cân đối và hợp lí sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng nông sản Việc bón thừa hay thiếu chất dinh dưỡng đều làm giảm chất lượng nông sản của tất cả các loại cây trồng và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người
và gia súc (Trần Thị Thu Hà, 2009)
2.1.1.1 Tác động phân hóa học đến môi trường
Với sự ra đời của phân bón hóa học, năng suất và sản lượng cây trồng tăng vượt bậc mà minh chứng cụ thể đó là cuộc cách mạng xanh diễn ra vào nữa sau thế kỷ thứ XX Tuy nhiên việc sử dụng lâu dài phân hóa học mà không bổ sung các nguồn phân hữu cơ hay việc lạm dụng chúng quá mức nhằm nâng cao năng suất và tạo ra những sản phẩm đẹp mắt đã để lại nhiều
hệ lụy cho môi trường và sức khỏe người tiêu dùng và đây là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng thoái hóa đất mà nhiều người vẫn lầm tưởng rằng nó có khả năng cải tạo đất
Trang 14Phân hóa học là các loại muối khoáng có chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây Các loại phân vô cơ thường dùng là phân đạm, lân, kali, phân hỗn hợp, phân trung lượng, vi lượng và các loại phân bón lá
Ta biết lượng hấp thu của rễ thực vật tương đối nhỏ và mỗi loài thì có một nhu cầu dinh dưỡng riêng, việc bón quá nhiều phân hoá học sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa mà thực vật không thể hấp thu hết và chúng lưu lại trong đất, qua phân giải chuyển hoá chúng biến thành những hợp chất gây nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông Cùng với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng thì tình trạng ô nhiễm đất ngày càng nghiêm trọng
Theo Dương Thị Oanh (2014): “đối với loại phân đạm vô cơ (N)- một loại phân mang lại hiệu quả rõ rệt nhất cho năng suất cây trồng nhưng cũng dễ gây ô nhiễm cho môi trường đất do tồn dư của nó Phần lớn nitrat phân bón
dư thừa được giữ lại trong đất, chúng ngấm xuống nước ngầm dưới dạng
NO3- Trong môi trường đất, nó làm tăng tính chua vì dạng acid HNO3 rất phổ biến Ngoài ra, nếu trong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối thì đạm sẽ chuyển từ NH4-
sang NO3-, khi vào cơ thể người NO3
sẽ chuyển sang dạng NO2-, gây hại cho tim, phổi và gan Một dạng phân hóa học khác cũng gây ô nhiễm môi trường đất là phân lân, với lượng lân cao, sẽ gây chua cho môi trường sinh thái đất Mặt khác các dạng phân hóa học đều là các muối của acid (hoặc là muối kép hoặc là muối đơn) Vì vậy khi hòa tan thường gây chua cho môi trường đất Trong phân supe lân thường có 5% acid
tự nhiên Riêng lượng acid do H2SO4 nào cũng làm cho môi trường đất bị chua thêm Mặt khác sự tích lũy cao các hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ lí tính Đất nén chặt độ co trương kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà nông dân gọi là đất trở nên chai cứng, tính thông khí kém đi, vi sinh vật ít đi vì hóa chất hủy diệt vi sinh vật”
Trang 15Bên cạnh đó, các loại phân vô cơ còn chứa một số kim loại nặng, các kim loại này tích lũy trong đất làm đất bị nhiễm độc, đồng thời khi được cây trồng hấp thụ, nó sẽ tích lũy trong sản phẩm Người và gia súc dùng sản phẩm chứa các kim loại này lâu ngày sẽ bị nhiễm độc
Phân vô cơ có nhiều tác dụng, là yếu tố cần thiết cho thâm canh tăng năng suất Tuy nhiên, điều quan trọng là phải sử dụng đúng kỹ thuật biết kết hợp với các loại phân bón hữu cơ khác nhằm đạt được năng suất cây trồng cao nhất, góp phần làm hạn chế và ngăn ngừa tình trạng đất bị ô nhiễm, thoái hóa và bạc màu
2.1.1.2 Tác động phân hữu cơ đến môi trường
Phân hữu cơ có tên gọi như vậy vì trong đó thành phần hữu cơ là cơ bản nhất Hiện nay phân hữu cơ được chia làm 4 loại:
- Phân hữu cơ truyền thống: chúng được tạo ra từ nguồn nguyên liệu và cách xử lý truyền thống Nguồn nguyên liệu đấy có thể là chất thải của vật nuôi, là phế phẩm trong nông nghiệp, là phân xanh
- Phân hữu cơ sinh học: có nguồn nguyên liệu hữu cơ (có thể có thêm than bùn) được xử lý và lên men theo một quy trình công nghiệp với sự tham gia của một hay nhiều chủng vi sinh vật
- Phân hữu cơ vi sinh: có nguồn nguyên liệu và quy trình công nghiệp như phân hữu cơ sinh học nhưng có một hoặc nhiều chủng vi sinh vật vẫn còn sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đất
- Phân hữu cơ khoáng: là phân hữu cơ sinh học được trộn thêm phân vô cơ Bón phân hữu cơ làm tăng năng suất cây trồng Kết quả nghiên cứu khoa học trong rất nhiều năm của các viện, trường, cũng như kết quả điều tra kinh nghiệm của các hộ nông dân cho thấy, năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế cao, ổn định ở những nơi có bón tỷ lệ N hữu cơ và N vô cơ cân đối với tỷ lệ N tính từ hữu cơ chiếm khoảng 25-30% tổng nhu cầu của cây trồng Ước tính do
Trang 16bón phân hữu cơ năng suất cây trồng đã tăng được 10-20% Nếu tính riêng về thóc do bón phân hữu cơ (chủ yếu là phân chuồng) đã đạt khoảng 2,5-3,0 triệu tấn thóc/năm Bón phân hữu cơ còn làm giảm bớt lượng phân khoáng cần bón
do phân hữu cơ có chứa các nguyên tố di dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng Theo Bùi Huy Hiền (2010b): “bón chất hữu cơ sẽ cải thiện được các tính chất vật lý đất, hóa học và sinh học của đất; đồng thời hạn chế mức độ độc hại của một số nguyên tố như: nhôm (Al), sắt (Fe); giảm bớt sự cố định lân trong đất dưới tác dụng kết hợp Al3+, Fe3+ dưới dạng phức chất; nâng cao
sự hoà tan lân ở dạng phốt phát sắt hoá trị ba dưới tác dụng khử ôxy Bón phân hữu cơ có tác dụng làm giảm rửa trôi, giảm bốc hơi của phân đạm bón vào Do đó, hiệu quả sử dụng của phân đạm vô cơ tăng lên”
2.1.2 Khái quát về biogas
Biogas hay khí sinh học là hỗn hợp khí được tạo ra nhờ quá trình lên men các chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí Do có thành phần chính là khí methane (CH4) nên khí sinh học có thể cháy được và sinh ra nhiệt năng Biogas có thể được tạo ra bằng cách lên men kỵ khí các chất thải trong chăn nuôi nhờ sử dụng các hệ thống ống nối và bể chứa phù hợp Sự tăng trưởng của vi khuẩn tùy thuộc vào loại phân sử dụng và điều kiện nhiệt độ Có 2 nhóm vi khuẩn trong bể biogas là: nhóm vi khuẩn phân giải cellulose và nhóm
vi khuẩn sinh khí methan
- Nhóm vi khuẩn phân giải cellulose: Những vi khuẩn này đều có enzym cellulose Chúng phân giải cellulose trong điều kiện kị khí cho ra CO2, H2 và một số chất tan trong nước như sản phẩm trung gian Các chất này đều được dùng để dinh dưỡng hoặc dùng cho nhóm vi khuẩn sinh khí methane
- Nhóm vi khuẩn sinh khí methane: mỗi loài vi khuẩn methane chỉ có thể
sử dụng một số chất nhất định Do đó việc lên men kị khí bắt buộc phải sử dụng nhiều loài vi khuẩn methane Điều kiện cho các vi khuẩn methane phát
Trang 17triển mạnh là phải có lượng CO2 đầy đủ trong môi trường, có nguồn nitơ (khoảng 3,5 mg/g bùn lắng), tỷ lệ C/N = 1:20
- Trong quá trình lên men kỵ khí các loài vi sinh vật gây bệnh bị tiêu diệt không những do nhiệt độ mà còn do tác động tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có mức độ kỵ khí, tác động của các sản phẩm trao đổi chất, tác động cạnh tranh dinh dưỡng… Mức độ tiêu diệt các các vi sinh vật gây bệnh trong quá trình kỵ khí từ 80 đến 100%
Bằng cách lên men kỵ khí sản sinh ra một hỗn hợp khí từ sự phân hủy những hợp chất hữu cơ dưới tác động của vi khuẩn kỵ khí Quá trình này được chia làm 2 giai đoạn:
Biogas đã được ứng dụng ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam trong những năm qua nhằm mục đích xử lý chất thải chăn nuôi và tạo ra nguồn nhiên liệu cho đun nấu và thắp sáng Trong quá trình sản xuất khí biogas, những phụ phẩm như nước xả và bã cặn được sinh ra Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những thành phần dinh dưỡng quan trọng trong phụ phẩm biogas Do
Trang 18vậy, có thể được sử dụng làm phân bón cho cây trồng, tạo nguồn cung cấp phân hữu cơ quan trọng cho cây (Hoàng Kim Giao, 2011)
2.1.2.1 Thành phần phụ phẩm biogas
Phụ phẩm biogas là sản phẩm ở dạng lỏng và rắn của quá trình phân giải
cơ chất phụ phẩm biogas gồm 3 phần là nước xả, bã cặn và váng Trong đó 93% nước, 7% chất khô trong đó 4,5% là hợp chất hữu cơ và 2,5% là các chất
vô cơ Thành phần chính của phụ phẩn khí sinh học:
- Những chất hữu cơ ở thể rắn (chất mùn)
- Các chất dinh dưỡng dễ hòa tan (có đặc tính phân bón và tác dụng cải tạo đất)
- Các nguyên tố vi lượng (Cu, Zn, Fe, Mn…)
- Những tế bào mới hình thành trong quá trình phân giải
Thành phần của phụ phẩm biogas phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nạp Hàm lượng NPK trong đó thường rất khác nhau và phụ thuộc vào nguyên liệu nạp và tỷ lệ pha loãng nguyên liệu (Hoàng Kim Giao, 2011) Ở Việt Nam, nguyên liệu nạp chủ yếu là chất thải lợn, phân trâu bò, phân người
và phân gia cầm Các chất dinh dưỡng N, P, K có hàm lượng dao dộng trong bảng sau:
Bảng 2.1: Hàm lƣợng N, P, K có trong phụ phẩm biogas
N (g/l) P2O5 (g/l) K2O (g/l) Nước xả 0,077 – 0,85 0,05 – 0,24 0,097 – 1,22
(Nguồn: Hoàng Kim Giao, 2011)
Các nghiên cứu cũng đưa ra kết quả phân tích về một số chỉ tiêu về hàm lượng kim loại nặng trong nước xả khí sinh học:
Trang 19Bảng 2.2: Hàm lượng một số kim loại nặng trong nước xả biogas
Pb (mg/l) As (mg/l) Hg (mg/l) Cd (mg/l) Phân tích của
Viện chăn nuôi
+ Nước xả: là loại phân bón có tác dụng nhanh, chứa nhiều chất dinh dưỡng hòa tan trong nước nên cây trồng dễ hấp thu khi tưới nước xả cho cây, hiệu quả của chất dinh dưỡng cao
+ Bã cặn: gồm các nguyên tố dinh dưỡng, các hợp chất hữu cơ và các chất hấp thu nhiều yếu tố dinh dưỡng có hiệu quả
Cho đến nay, phụ phẩm biogas đã được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp như dùng làm phân bón cho cây trồng với những lượi ích sau:
+ Cải tạo đất: Phụ phẩm khí sinh học chứa nhiều chất hữu cơ nên khi sử dụng lâu dài cho đất sẽ có tác dụng cải thiện khả năng canh tác của đất, tăng hoạt
Trang 20động của hệ vi sinh vật đất thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ, tăng cường
và duy trì độ phì nhiêu của đất, cải thiện cấu trúc và tính chất lí học của đất + Tăng năng suất cây trồng: Sử dụng phụ phẩm sẽ làm tăng khả năng sinh trưởng và phát triển từ đó làm cho năng suất cây trồng tăng
+ Hạn chế sâu bệnh: Bón phụ phẩm biogas có thể kìm hãm, hạn chế một
số loại sâu bệnh Nếu trộn phụ phẩm với một lượng nhỏ thuốc trừ sâu sẽ làm tăng hiệu quả thuốc trừ sâu, hiệu quả nhanh do đó giảm bớt lượng thuốc trừ sâu bón cho cây trồng, hạn chế độc hại, ô nhiễm môi trường
- Sử dụng phụ phẩm khí sinh học làm thức ăn bổ sung cho lợn: Chứa 1 lượng nhất định axit amin, vitamin, axit hữu cơ, các chất khoáng… là các chất dinh dưỡng cần thiết cho gia súc và hầu hết vi trùng hiếu khí gây bệnh và trứng giun sán trong nước xả đã bị tiêu diệt Ngoài ra phụ phẩm còn chứ nhiều enzyme có tác dụng tăng tính thèm ăn, tăng hiệu quả chuyển hóa thức
ăn của vật nuôi
- Sử dụng phụ phẩm biogas làm thức ăn nuối cá: Phụ phẩm biogas giàu nitơ, photpho và kali dễ hấp thụ cho các loài tảo làm thức ăn cho cá Phụ phẩm này chỉ chứa một lượng nhỏ chất hữu cơ, do đó không làm tăng hàm lượng CO2 trong nước, gây cho cá chết như khi bón phân tươi
2.1.3 Vai trò nitơ đến cây trồng
Nitơ chỉ thường chiếm 1-5% khối lượng khô của thực vật Tuy nhiên, đối với thực vật nói chung và cây trồng nói riêng, nitơ có vai trò sinh lý đặc biệt quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất Nitơ có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng, đến hoạt động sinh lý của cây
Nitơ là nguyên tố đặc thù của protein mà protein lại có vai trò cực kì quan trọng đối với cây trồng Protein là thành phần chủ yếu tham gia cấu trúc nên hệ
Trang 21thống chất nguyên sinh trong tế bào, cấu tạo nên hệ thống màng sinh học, các bào quan trong tế bào Protein là thành phần bắt buộc của các enzyme
Nitơ có trong thành phần của acid nucleic (DNA và RNA) Ngoài chức năng duy trì và truyền thông tin di truyền, acid nucleic đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp protein, sự phân chia và sự sinh trưởng của tế bào
Nitơ là thành phần quan trọng của Chlorophyl (diệp lục): là chất quyết định hoạt động quang hợp của cây, cung cấp chất hữu cơ cho sự sống của các sinh vật trên trái đất
Nitơ tham gia vào thành phần của ADP, ATP có vai trò quan trọng trong trao đổi năng lượng của cây
Nitơ tham gia vào thành phần của một số phytohormone (hormone thực vật) có nhiệm vụ điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển của cây có liên quan đến ánh sáng như phản ứng quang chu kì, sự nảy mầm, tính hướng quang Tuy nhiên cây rất nhạy cảm với nitơ, nitơ có tác dụng hai mặt đến năng suất cây trồng, nếu cây trồng thừa hay thiếu nitơ đều có hại
Thừa nitơ: khác với các nguyên tố khác, việc thừa nitơ có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất ở cây trồng Thời kỳ sinh trưởng của cây kéo dài, cây hô hấp mạnh hơn quang hợp, lượng gluxit tiêu hao nhiều hơn lượng tích trữ, lượng tinh bột trong cây giảm Cây sinh trưởng quá mạnh, thân lá tăng nhanh mà mô cơ giới kém hình thành nên cây rất yếu, dễ lốp đổ, giảm năng suất nghiêm trọng và có trường hợp không
có thu hoạch Đồng thời cây có sự tích lũy alkaloid và glucozit làm cho có vị đắng, nếu là rau quả thì khó ăn, kém ngon và dễ bị hư hỏng
Thiếu nitơ: thiếu N cây sinh trưởng kém, chlorophyll không được tổng hợp đầy đủ, lá vàng, đẻ nhánh và phân cành kém, sút giảm hoạt động quang hợp và tích lũy, giảm năng suất Cây không đủ đạm thường ra hoa sớm nhưng
Trang 22hoa thưa, ít hình thành được quả hoặc quả bé, phẩm chất kém Tùy theo mức
độ thiếu đạm mà năng suất giảm nhiều hay ít Trong trường hợp có triệu chứng thiếu đạm thì chỉ cần bổ sung phân đạm là cây sinh trưởng và phát triển bình thường
Nếu cây trồng được cung cấp đủ lượng nitơ, cây mọc nhanh cho nhiều thân, lá có màu xanh đậm đẹp do có nhiều diệp lục, hiệu suất quang hợp tăng Đồng thời, cây sinh trưởng tốt giúp đồng hóa chất dinh dưỡng mạnh và cây trồng cho năng suất cao (Lê Viết Phùng, 1987)
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng của một số loại cây trồng
Mỗi loại cây trồng sẽ có những đặc tính sinh trưởng trong các thời kì và từng giai đoạn khác nhau (Lù Thị Lìu, 2007)
có răng không đều Cụm hoa chùy dạng ngù ở ngọn gồm nhiều đầu hoa, mỗi đầu có 20 hoa, hình môi màu vàng Xà lách có thể trồng được quanh năm nhưng vụ thu đông cho năng suất cao hơn
- Rau cải:
Gieo từ tháng 8 đến tháng 11 hay gieo từ tháng 2 đến tháng 6 Thời gian sinh trưởng từ 25 đến 30 ngày Cây cải ngọt có thể gieo hạt thẳng hoặc gieo ở vườn ươm rồi cấy Chọn đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ có độ pH 5,5 - 6,5 Cải ngọt là cây ngắn ngày, rất cần nước để sinh trưởng, do vậy cần phải giữ ẩm thường xuyên Cây thường bị các loại sâu bệnh hại chính như: các loại rệp, bọ
Trang 23nhảy, sâu xám, sâu tơ, sâu xanh, bệnh thối nhũn Dùng các loại thuốc sau để phòng trừ: Sherpa 25EC hoặc thuốc trừ sâu sinh học Bt để diệt trừ sâu
- Bắp cải:
Cải bắp là loại rau chủ lực trong họ Thập tự, trồng trong vụ đông xuân ở các tỉnh phía bắc, miền trung và Tây nguyên Là loại cây hai năm: năm thứ nhất sinh trưởng thân lá, năm sau qua giai đoạn xuân hoá, sau đó mới ra hoa, kết quả
Cải bắp thuộc nhóm rau có nguồn gốc ôn đới, nhiệt độ xuân hoá (nhiệt
độ cần thiết để phân hoá mầm hoa) là 1-100
C trong khoảng 15-30 ngày tuỳ thời gian sinh trưởng của giống Do vậy, trong quá trình sinh trưởng, khi gặp điều kiện này, cây sẽ ra hoa, kết quả ngay ở năm đầu
Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng có
bộ rễ chùm phát triển nên chịu hạn và chịu nước hơn su hào và su lơ
Đặc biệt ở cải bắp khả năng phục hồi bộ lá khá cao Các thí nghiệm cho thấy, khi cắt 25% diện tích bề mặt lá ở giai đoạn trước cuốn bắp, năng suất vẫn đạt 97-98% so với không cắt Điều đó khẳng định việc phun thuốc hoá hoá học trừ sâu tơ lứa 1 trong nhiều trường hợp là không cần thiết
Hạt cải bắp nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ 18-200C Cây phát triển thuận lợi nhất ở 15-180C
Phát sinh từ vùng Địa Trung Hải, cải bắp thuộc nhóm cây ưa ánh sáng ngày dài nhưng cường độ chiếu sáng yếu Do vậy, trong điều kiện vụ đông xuân ở nước ta, cây cải bắp thường rút ngắn thời gian sinh trưởng so với vùng nguyên sản
Độ ẩm thích hợp là từ 75-85%, ẩm độ không khí khoảng 80-90% Đất quá ẩm (trên 90%) kéo dài 3-5 ngày sẽ làm rễ cây nhiễm độc vì làm việc trong điều kiện yếm khí
Trang 24Cải bắp ưa đất thịt nhẹ, cát pha, tốt nhất là đất phù sa bồi, có độ pH= 6,0 Do có lượng sinh khối lớn nên cải bắp yêu cầu dinh dưỡng cao Các nhà chuyên môn đã tính toán, để có năng suất 80 tấn/ha, cải bắp đã lấy đi của đất 214kg đạm, 79kg lân, 200kg kali, tức là tương đương với 610kg đạm urê, 400kg supe lân, 500kg clorua kali Vì vậy, phải đảm bảo lượng phân bón sao cho cây có trạng thái tốt, chống đỡ sâu bệnh và cho năng suất cao
5,6 Su hào:
Cây su hào thuộc họ Thập tự Thân của cây phát triển phình to thành củ khí sinh, trong chứa nhiều chất dinh dưỡng Có thể chịu nóng hơn cây cây bắp cải 2-3oC Vì vậy su hào có thể trồng sớm hoặc muộn hơn cải bắp
Ở nước ta su hào thường có 2 giống: su hào dọc trung và su hào dọc đại
Su hào dọc trung (hay su hào dọc nhỡ): củ tròn, to, mỏng vỏ, cọng và phiến lá to hơn loại su hào dọc tăm Điển hình là su hào Hà Giang Thời gian sinh trường 90 – 105 ngày
Su hào dọc đại (su hào bánh xe): củ to, hơi dẹt, vỏ rất dày, cọng và phiến
lá rất to, dày Thời gian sinh trưởng 120 – 130 ngày Đặc trưng là su hào Tiểu Anh Tử (Trung Quốc) hoặc Thiên Anh Tử (Nhật Bản)
Su hào có thể gieo 2 vụ: vụ chính gieo tháng 9 đến hết tháng 10 và vụ muộn gieo tháng 11
Su hào thường hay bị sâu phá hoại, đặc biệt là rệp rau: chúng tập trung ở phần nõn củ và lá non mới nhú để chích hút làm cho các bộ phận này bị teo
đi, su hào không lớn được Phải phát hiện cứu thời và dùng dipterec 1/1600 để phun trừ
Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của từng giống, từng vụ và thấy mặt củ
đã bằng, lá non ngừng sinh trưởng thì thu hoạch: kéo dài thêm sẽ già, nhiều
xơ, giảm phẩm chất
Trang 25- Cải ngồng HN888:
Cải ngồng là loại cải có thân non, màu xanh mướt, thường mộc vỏng lên phiến lá xòe ra hình cánh quạt Cải ngồng HN888 là giống cải ngồng được cải tiến, cho năng suất và chất lượng thu được rất cao Kháng bệnh tốt, có thể trồng được quanh năm vì dễ thích nghi điều kiện tự nhiên, sức sinh trưởng và phát triển vượt trội, tỉ lệ nảy mầm >85% và có độ sạch >98% Cải ngồng có rất nhiều chất dinh dưỡng gồm chất xơ, beta caroten, vitamin nhóm A, B, C,
K cùng nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết tốt cho cơ thể
Đất trồng cải ngồng khá quan trọng, đất phải đảm bảo được hàm lượng các chất dinh dưỡng nuôi cây, đất sạch mầm bệnh, không có cỏ dại hay sâu bệnh sinh sống Nên chọn đất mùn, tơi xốp để trồng cây có độ pH 6 – 6,5 Đất thịt thì trộn thêm đất cát hoặc đất phù sa Tốt nhất nên chọn tribat để trồng, loại đất được sản xuất từ vỏ xơ dừa xay nhuyễn trộn với đất nuôi trùn đỏ được
xử lí sạch mầm bệnh, giàu chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng phát triển Cải ngồng có thể trồng quanh năm nhưng vụ chính là vụ đông xuân
Trang 262.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay trong nước có một số nghiên cứu về sử dụng phụ phẩm biogas
để làm phân bón cho một số loại cây trồng Các nghiên cứu đánh giá phụ phẩm lỏng được bón trực tiếp nhằm tận dụng được nguồn phụ phẩm như: Một số nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Bộ NN và PTNT (2003) tiến hành nghiên cứu về việc sử dụng chất thải lỏng khí sinh học làm phân bón cho rau Kết quả trong 1m3 phân khí sinh học có 0,23 –0,25 kg N; 0,08-0,58 P2O5; 0,10-0,93 kg K2O và một số chất dinh dưỡng trung lượng, vi lượng Hàm lượng nitrat trong lá rau thấp hơn so với công thức bón phân của người dân cũng như công thức chỉ bón NPK và năng suất tăng 7-25%
Bộ môn Nông hóa–VSV, khoa Đất và Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp I (2004) nghiên cứu về việc sử dụng phân khí sinh học đặc làm phân bón cho lúa Kết quả bón phân khi sinh học đặc cho lúa mùa có tác dụng lâu bền hơn so với phân chuồng Cùng một lượng bón 10 tấn/ha hay thấp hơn
là 7,5 tấn/ha năng suất lúa đều cao hơn hoặc tương đương với mức bón 10 tấn/ha với phân chuồng
Nghiên cứu của Ngô Quang Vinh, Chu Trung Kiên (2010) nghiên cứu nước xả khí sinh học làm phân bón cho rau cải Trong nghiên cứu kết quả cho thấy không có mẫu nước xả nào đáng lo ngại về trứng giun đũa Các nguyên
tố kim loại nặng và vi sinh vật đều ở mức an toàn khi tưới rau Hàm lượng các nguyên tố N: 16,9-122 ppm, P: 44,9-59,3 ppm, K: 93-100 ppm Sau qúa trình nghiên cứu cải xanh tăng từ 39,33-47,47 tấn/ha, xà lách tăng từ 27,5 đến 32,92 tấn/ha
Nghiên cứu của Bùi Thị Nga và công sự (2014) nghiên cứu phân hữu cơ bùn cống và trồng thử nghiệm trên rau xà lách Kết quả việc bón phân hữu cơ bùn cống thải kết hợp với phân hóa học NPK 16-16-8 cho năng suất cao hơn nghiệm thức bón hoàn toàn phân hóa học, dao động 2,13-3,2 kg/m2 Việc kết
Trang 27hợp phân hữu cơ bùn cống thải với phân hóa học NPK 16-16-8 cho năng suất cao đạt lợi nhuận 134,2% so với đối chứng
Tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ dừng ở mức độ đánh giá trực tiếp mà chưa có biện pháp làm khô phụ phẩm giúp quá trình sử dụng và vận chuyển dễ dàng hơn
2.2.2 Tình hình nghiên trên thế giới
Tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, kết quả điều tra của Diekow và cộng
sự (2005) cho thấy: tình hình sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp ủ thành phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp tăng dần Khoảng 77% nông dân
sử dụng, 60% sản phẩm phụ của cây trồng vụ trước cho các cây trồng vụ sau, 18% hộ nông dân sử dụng 90% sản phẩm phụ cho cây trồng vụ sau
Phụ phẩm biogas là một loại phân bón tốt cho cây trồng và cải thiện độ phì nhiêu đất và sản lượng các loại cây trồng Theo Lavinia Maria E Warnars, Hivos (2014), sử dụng thường xuyên phụ phẩm còn tốt hơn so với thường xuyên sử dụng phân chuồng và làm giảm lượng phân bón hóa học vào đất Kết quả cho thấy năng suất trung bình khi thu hoạch cây trồng tăng 25%
về sản lượng
Theo Lennart de Groot, Anne Bogdanski (2013), phụ phẩm biogas được coi như vàng nâu vì nhưng lợi ích mà nó đem lại như có tác dụng cải thiện cấu trúc đất, kích thích sự tăng trưởng của tảo trong ao nuôi vịt và cá
Ở Peru, Garfi et al (2011) tiến hành thử nghiệm phụ phẩm biogas, hỗn hợp phụ phẩm biogas với phân chuồng, phân chuồng trên khoai tây Kết quả cho được sản lượng khoai tây với phụ phẩm biogas tăng 27,5%, với phân chuồng tăng 15,1%, và với hỗn hợp là 10,3%
Trang 28PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng
- Phụ phẩm biogas từ chất thải chăn nuôi Trang trại chăn nuôi lợn nhà
ông Nguyễn Anh Tuấn, làng Soi Vàng, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Phân bón lót hóa học NPK 5.10.3 Lâm Thao
- Một số loại cây trồng ngắn ngày
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phân bón từ phụ phẩm biogas làm khô bằng hệ thống lò sấy lên một số loại cây trồng ngắn ngày tại: Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực Phẩm , Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ 14/11/2015 đến 14/05/2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Đánh giá sơ bộ ảnh hưởng hỗn hợp biogas và phân hóa học tới khả năng sinh trưởng của cây trồng
- Nội dung 2: Thiết lập quy trình sấy khô phụ phẩm bằng hệ thống lò sấy trong các khoảng thời gian khác nhau
- Nội dung 3: So sánh ảnh hưởng của phụ phẩm sấy ở nhiệt độ cao và phụ phẩm làm khô trực tiếp
- Nội dung 4: Phân tích hàm lượng Nitơ trong đất sau quá trình thử nghiệm