1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu

43 456 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Môi trường tự nhiên bao gồm các thành phần của tự nhiên như địa hình, địa chất, đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật,… • Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với

Trang 1

The Project Adaptation to climate change through the promotion of biodiversity in Bac Lieu province

DỰ ÁN

TRONG MÔN GDCD TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - TỈNH BẠC LIÊU

Trang 2

Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người và sự phát triển của xã hội loài người Việc bảo vệ môi trường hiện đang là một trong những vấn đề quan tâm mang tính toàn cầu của nhân loại.

Ở nước ta, môi trường và bảo vệ môi trường được Đảng và Nhà nước quan tâm Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 thánh 10 năm 2001 phê duyệt Đề án “Đưa các nội dung môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” Bởi lẽ, nhà trường không chỉ là nơi triển khai nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho một lượng học sinh và cán bộ, giáo viên rất đông đảo mà còn là một khâu có

ý nghĩa rất quan trọng trong việc truyền tải những thông tin về giáo dục bảo vệ môi trường cho các thành viên khác trong xã hội.

Việc giáo dục bảo vệ môi trường qua các môn học ở các trường phổ thông là quá trình hình thành, phát triển cho học sinh nhận thức và có thói quen quan tâm đến môi trường, nhất là môi trường nơi các em đang sinh sống Thông qua đó, hình thành cho các em thái độ, ý thức đúng đắn và các kĩ năng cần thiết để có những hành động hài hòa với môi trường trong đời sống hằng ngày, giúp các em có đủ năng lực hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp với các cá nhân khác hay tập thể để tìm ra giải pháp cho các vấn đề môi trường hiện tại và ngăn chặn những vấn đề môi trường có thể xảy ra trong tương lai, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Giáo dục bảo vệ môi trường là một hợp phần trong nội dung hoạt động của Dự án GIZ - “Thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua thúc đẩy đa dạng sinh học tỉnh Bạc Liêu” Được sự hỗ trợ của Dự án, nhóm tác giả - các điều phối viên của Dự án đã tiến hành biên soạn bộ tài liệu tham khảo “Giáo dục bảo vệ môi trường

trong các môn học Địa lí, Sinh học, Giáo dục công dân - tỉnh Bạc Liêu” theo hướng tích hợp nội dung

giáo dục bảo vệ môi trường gắn liền với thực tiễn ở địa phương, dùng cho các trường phổ thông trong tỉnh Nội dung của bộ tài liệu đề cập tới những kiến thức và kĩ năng cơ bản về môi trường, tình hình môi trường Việt Nam và môi trường tỉnh Bạc Liêu, các địa chỉ và nội dung tích hợp sát với nội dung của Dự án, có tính chất định hướng phương thức thực hiện với các hình thức và phương pháp tích hợp hiệu quả.

Cấu trúc của tài liệu bao gồm các phần nội dung chính sau:

Phần thứ nhất: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

• Một số kiến thức cơ bản về môi trường

• Tình hình môi trường Việt Nam hiện nay

• Vài nét nổi bật về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Bạc Liêu

• Diễn biến môi trường tỉnh Bạc Liêu

• Một số biện pháp khai thác hợp lí tài nguyên và BVMT ở Bạc Liêu.

• Một số vấn đề về giáo dục bảo vệ môi trường tỉnh Bạc Liêu

Phần thứ hai: GIÁO DỤC BVMT TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN SINH HỌC, ĐỊA LÍ, GDCD Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG - TỈNH BẠC LIÊU

• Mục tiêu

• Chương trình tích hợp giáo dục BVMT tỉnh Bạc Liêu trong môn học

• Phương thức tích hợp giáo dục BVMT tỉnh Bạc Liêu trong môn học

• Một số bài soạn minh họa.

Bộ tài liệu này được biên soạn với sự tham vấn và góp ý của các chuyên viên sở ngành liên quan, các nhà

sư phạm và nhiều giáo viên có kinh nghiệm của tỉnh Bạc Liêu Hy vọng, nó sẽ là tài liệu hữu ích đối với các giáo viên hiện đang giảng dạy bộ môn Địa lí, Sinh học, GDCD ở các trường phổ thông trong tỉnh.

Mặc dù đã rất cẩn trọng và có nhiều cố gắng trong quá trình biện soạn tài liệu, song cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những nhận xét và ý kiến đóng góp quí báu của các bạn đồng nghiệp để nội dung của bộ tài liệu này được hoàn thiện hơn.

Bạc Liêu, tháng 7 năm 2011

Các tác giả

Trang 3

I MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ MÔI TRƯỜNG

1 Định nghĩa

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên

và vật chất nhân tạo bao quanh con

người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản

xuất, sự tồn tại, phát triển của con người

và sinh vật” (Điều 3, Luật Bảo vệ môi

trường năm 2005)

Môi trường sống của con người theo

nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên

và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản

xuất của con người như tài nguyên thiên

nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng,

cảnh quan, quan hệ xã hội Theo nghĩa

hẹp thì môi trường sống của con người

chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố

xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng

cuộc sống của con người như diện tích

nhà ở, nước sạch, điều kiện vui chơi, giải

trí, chất lượng bữa ăn

Môi trường sống của con người được

phân thành: Môi trường tự nhiên và môi

trường xã hội

• Môi trường tự nhiên bao gồm các thành

phần của tự nhiên như địa hình, địa chất,

đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật,…

• Môi trường xã hội là tổng thể các

mối quan hệ giữa con người với con

người, định hướng hoạt động của

con người theo khuôn khổ nhất định,

tạo thuận lợi cho sự phát triển, làm

cho cuộc sống của con người khác

với các sinh vật khác Môi trường xã

hội được thể hiện cụ thể bằng các

luật lệ, thể chế, quy định

Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các yếu tố do con người tạo ra như: nhà

ở, các phương tiện đi lại, công viên,…

Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường như: lớp học, phòng thí nghiệm, sân chơi, vườn trường, thầy giáo, cô giáo, học sinh, nội quy của trường, các tổ chức

xã hội như Đoàn, Đội

2 Các chức năng cơ bản của môi trường

a) Môi trường là không gian sinh sống của con người và thế giới sinh vật

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người cần một khoảng không gian nhất định

để phục vụ cho các nhu cầu sống như:

không khí để thở, nước để uống, nhà để

ở, đất để sản xuất, lương thực và thực phẩm, vui chơi, giải trí,… Theo tính toán, trung bình mỗi người mỗi ngày cần 4m3

không khí sạch để hít thở, 2,5 lít nước để uống; một lượng lương thực, thực phẩm

đủ để sản sinh ra khoảng 2.000 - 2.400 calo năng lượng nuôi sống bản thân

Chức năng này đòi hỏi phải có khoảng không gian thích hợp cho mỗi người, được tính bằng m2 hay ha đất đai để ở, sinh hoạt và sản xuất của con người

b) Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người

Để tồn tại và phát triển, con người đã tác động vào các hệ thống tự nhiên để tạo

ra của cải vật chất, năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất Thiên nhiên là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, các nguồn vật chất cần thiết phục vụ cho đời sống con người

Các nguồn tài nguyên này bao gồm:

• Rừng tự nhiên: Tạo độ phì nhiêu cho đất, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp gỗ củi, dược liệu và duy trì sự cân bằng sinh thái,…

• Nguồn nước: Cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, thủy hải sản, năng lượng, giao thông đường thủy và là cảnh quan cho du lịch,…

• Động vật và thực vật: Cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm,…

• Khí hậu: Gồm không khí, nhiệt độ, ánh sáng mặt trời, gó, mưa,… không thể thiếu được trong sự sống của con người và động, thực vật

• Các loại khoáng sản: Than, dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, đồng,… cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt,…

c) Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải của đời sống và sản xuất

Trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, con người đã thải các chất thải vào môi trường

Chất thải dưới tác động của các vi sinh vật

và các yếu tố môi trường khác như nhiệt độ,

độ ẩm, không khí,… sẽ bị phân hủy, biến đổi

từ phức tạp thành đơn giản, từ những thứ

bỏ đi thành các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng và nhiều sinh vật khác, làm cho các chất thải trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số, do

đô thị hóa, công nghiệp hóa, lượng chất thải vào môi trường ngày càng nhiều và phần lớn không qua xử lý, dẫn đến ở nhiều nơi, nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường

Vai trò của môi trường trong quá trình này được thực hiện qua:

• Biến đổi lý - hóa: Pha loãng, phân hủy hóa học nhờ ánh sáng; hấp thụ; tách chiết các vật thải và độc tố

• Biến đổi sinh - hóa: Khử các chất độc bằng con đường sinh hóa thông qua các chu trình vật chất của Nitơ, Cac-bon, hấp thụ các chất dư thừa,…

• Biến đổi sinh học: Vai trò của vi sinh vật trong quá trình này là rất quan trọng, chúng phân giải, tổng hợp và làm biến đổi chất của các thành phần tự nhiên

d) Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

• Cung cấp thông tin về lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển của loài người: các hiện vật, di chỉ được con người phát hiện, giúp giải thích được nhiều bí ẩn diễn ra triong quá khứ Khi kết nối giữa những sự kiện của hiện tại với quá khứ, con người sẽ

dự đoán được những sự kiện xảy ra trước đây và trong tương lai

• Cung cấp các chỉ thị mang tính chất tín hiệu để báo động sớm các hiểm họa đối với con người và các sinh vật sống trên Trái Đất Nhiều sinh vật do phản ứng sinh lý của cơ thể với những biến đổi của điều kiện tự nhiên đã thông báo sớm cho chúng ta những sự cố như bão, động đất, núi lửa,…

• Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng nguồn vốn gen sinh vật; các hệ sinh thái tự nhiên

và nhân tạo, cảnh quan thiên nhiên …Phần thứ nhất

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Trang 4

3 Thành phần của môi trường

a) Thạch quyển

Thạch quyển là toàn bộ lớp vỏ của Trái

Đất và phần trên cùng của lớp Manti (đến

độ sâu khoảng 100 km) dưới đáy Đại

Dương được cấu tạo bởi các vật chất ở

trạng thái cứng rắn

Lớp trên cùng của thạch quyển là tầng

đá trầm tích do các vật liệu vụn, nhỏ bị

nén chặt tạo thành Khi lớp trên cùng của

tầng này tiếp xúc với khí quyển và sinh

quyển tạo thành lớp vật chất mềm, xốp

được gọi là thổ nhưỡng (đất) Các thành

phần chính của đất gồm: các khoáng

chất: 40%, nước: 35%, không khí: 20%,

mùn và các loại sinh vật (chất hữu cơ):

5% Đất là tư liệu sản xuất độc đáo, là

nguồn tài nhiên vô giá mà tự nhiên đã

ban tặng cho con người Đất mang trên

mình nó các hệ sinh thái và là giá đỡ để

con người tác động vào các hệ sinh thái

tạo nên các nền văn minh, đảm bảo cho

sự tồn tại và phát triển của nhân loại

Trong vỏ Trái Đất chứa đựng nhiều tài

nguyên khoáng sản Khoáng sản được

sử dụng trực tiếp trong công nghiệp hoặc

có thể lấy ra từ đó kim loại và khoáng vật

dùng cho các ngành công nghiệp

b) Thủy quyển

Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất

được bao phủ bởi nước, tương đương

với 361 triệu km2 Nước rất cần cho tất

cả các sinh vật sống trên Trái Đất và là

môi trường sống của nhiều loài sinh vật

Nước tồn tại ở 3 thể: rắn (băng, tuyết),

lỏng và hơi nước

Theo tính toán, tổng lượng nước là

1386.106km3 Nhưng nước ngọt rất ít,

chỉ chiếm 2,5%, mà hầu hết lại tồn tại ở

thể rắn (băng, tuyết chiếm 2,24%); lượng

nước ngọt mà con người có thể sử dụng

được lại còn ít ỏi, chỉ chiếm 0,26% tổng

lượng nước

Dân số tăng nhanh cùng với quá trình

công nghiệp hóa, đô thị hóa, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi toàn cầu Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống

vệ sinh an toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước sinh hoạt xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới

c) Khí quyển

Khí quyển là lớp vỏ không khí bao bọc xung quanh Trái Đất Khí quyển được phân chia thành các tầng: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng giữa, tầng ion (tầng nhiệt) và tầng ngoài (tầng khuếch tán)

Phần lớn khối lượng của khí quyển tập trung ở các tầng thấp: tầng đối lưu và tầng bình lưu (khoảng 5.105 tấn)

Tầng đối lưu là tầng thấp nhất của khí quyển, chiếm khoảng 80% khối lượng không khí của khí quyển, có nhiệt độ giảm dần từ +400C ở lớp không khí sát mặt đất tới tới -500C ở trên cao Ranh giới trên của tầng đối lưu trong khoảng

7 - 8km ở hai cực và 16 - 18 km ở vùng xích đạo Ở tầng này, không khí chuyển động theo chiều thẳng đứng, tập trung nhiều nhất lượng hơi nước, bụi và xảy ra các hiện tượng thời tiết chính của khí hậu như mây, mưa, bão,…

Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu Ranh giới trên của tầng bình lưu dao động trong khoảng độ cao 50km Nhiệt độ không khí tăng dần từ -560C ở phía dưới lên tới -20C ở trên cao Trong tầng bình lưu, ở

độ cao khoảng 25km, có một lớp không khí giàu khí ôzôn (O3) thường được gọi là tầng ôzôn Tầng ôzôn có chức năng như một lá chắn của khí quyển, bảo vệ cho Trái Đất khỏi những ảnh hưởng độc hại của tia tử ngoại từ Mặt Trời chiếu xuống

Trong tầng bình lưu luôn tồn tại quá trình hình thành và phân hủy khí ôzôn Hoạt động công nghiệp và sinh hoạt của con

người thải ra nhiều loại khí có khả năng phân hủy ôzôn làm cho có chỗ lớp ôzôn

bị mỏng đến mức chiều dày chỉ còn vài

cm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và các loài sinh vật khác

Không khí đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và thế giới sinh vật

Các thành phần chính của không khí bao gồm nitơ, ôxy, hơi nước và một số loại khí trơ cũng tham gia vào mọi quá trình xảy ra trên Trái Đất Hiện nay tình trạng ô nhiễm không khí đang thật sự gây hại cho

sự sống trên bề mặt Trái Đất

d) Sinh quyển

Sinh quyển là một hệ thống tự nhiên động, rất phức tạp Nó bao gồm động, thực vật, các hệ sinh thái Sự sống trên

bề mặt Trái Đất được phát triển chính là nhờ vào tổng hợp các mối quan hệ tương

hỗ giữa các sinh vật với môi trường, tạo thành dòng liên tục trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng mà chúng

ta thường gọi là các chu trình sinh địa hóa như chu trình nước, chu trình cac-bon, chu trình nitơ, chu trình phospho,

Nhờ hoạt động của các chu trình này mà vật chất được chu chuyển, sinh vật sống được và tồn tại trong một trạng thái cân bằng động, giúp cho chúng ổn định và phát triển

II TÌNH HÌNH MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế -

xã hội trong những năm qua đã làm thay đổi xã hội Việt Nam Chỉ số tăng trưởng kinh tế không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế chưa đảm bảo cân bằng với việc bảo vệ môi trường Vì vậy, môi trường Việt Nam đã xuống cấp, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Đảng và Nhà nước ta đã đề ra

nhiều chủ trương, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường được các cấp, các ngành và đông đảo các tầng lớp nhân dân quan tâm và bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ Tuy vậy, việc bảo vệ môi trường ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới Nhìn chung, môi trường nước ta vẫn đang có xu hướng tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có lúc, có nơi đã đến mức báo động

1 Về đất đai

Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 331.314 km2 (theo Wikipedia org, 2008) Phần đất liền là 31,2 triệu ha (chiếm 94,5% diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ

58 trong tổng số 200 nước trên thế giới Nhưng vì số dân đông (năm 2006 là 84.156.000 người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159/200 quốc gia và bằng 1/6 mức bình quân của thế giới Mặc dù diện tích trên đầu người thấp nhưng diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn lớn, tính đến năm

2006 là khoảng 5,28 triệu ha, trong đó 5 triệu ha là đất đồi núi bị thoái hóa nặng.Diện tích đất canh tác trên đầu người có

xu hướng giảm Chất lượng đất không ngừng bị giảm do xói mòn, rửa trôi Đất nghèo kiệt dinh dưỡng do các quá trình, thoái hóa hóa học đất, khô hạn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, lầy hóa, ngập úng, ô nhiễm do chất thải, do sử dụng phân hóa học và do chất độc hóa học Hậu quả nghiêm trọng của thoái hóa đất là mất khả năng sản xuất của đất, dẫn đến cạn kiệt tài nguyên động, thực vật và giảm đất nông nghiệp trên đầu người, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Bảng 1 Diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam qua các năm

Bình quân đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10 0,11

Trang 5

2 Môi trường rừng

Sự đa dạng về địa hình, sự phân hóa khí

hậu tạo cho nước ta có nhiều loại rừng:

rừng lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng tràm, rừng ngập mặn,…

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của

nước ta Rừng có vai trò điều hòa khí hậu,

bảo vệ đất, giữ nước ngầm và là nơi lưu

giữ các nguồn gen quý giá Tuy nhiên,

độ che phủ rừng của Việt Nam trong

3 Về nước

Việt Nam có lượng mưa lớn, hệ thống sông hồ dày đặc nên tài nguyên nước mặt khá phong phú Tổng lượng nước trung bình hàng năm là 880 tỉ m3 Tuy vậy, do nằm ở cuối hạ lưu các con sông

Mê Công, sông Mã, sông Cả và sông Hồng nên lượng nước được hình thành trong lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng

325 tỉ m3 trên năm Điều đó dẫn tới khả năng thiếu nước, đặc biệt là trong mùa khô khi các quốc gia thượng nguồn sử dụng nước nhiều, nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam Hơn nữa, lượng mưa phân bố không đều theo thời gian trong năm và giữa các vùng, nên ở các tỉnh trung du Bắc Bộ, các tỉnh Trung Bộ và Tây Nguyên thường xảy ra hạn hán

Dân số tăng, các hoạt động kinh tế gia tăng và công tác quản lý chưa tốt khiến tài nguyên nước ở Việt Nam đang bị sử dụng quá mức và ô nhiễm Chỉ số lượng nước trên đầu người năm 1943 là 16.64

m3/người, nếu số dân tăng lên 150 triệu người thì chỉ số chỉ còn 2.467m3/người/

năm, xấp xỉ các quốc gia hiếm nước

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2001: Trong thời gian gần đây,

ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng khan hiếm nước Nhiều nơi thuộc Trung Bộ đã

có biểu hiện tình trạng hoang mạc hóa, vùng ven biển có quá trình mặn hóa và muối hóa Ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số vùng khác đã xảy ra tình trạng căng thẳng về nước Các thành phố như Hà Nội, TP

Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Việt Trì, Biên Hòa,… nước đã bị ô nhiễm tới mức ng-hiêm trọng Môi trường nước ở một số dòng sông như sông Cầu (ở Bắc Bộ), sông Thị Vải, sông Sài Gòn, sông Vàm

Cỏ Đông (ở Nam Bộ) đã bị ô nhiễm nặng

Nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm môi trường nước là do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đã

xả trực tiếp vào nguồn nước mặt Việc sử dụng hóa chất trong sản xuất công, nông

Bảng 2 Diễn biến diện tích rừng qua các năm

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tính đến tháng 12 năm 2005)

thời gian dài có xu hướng giảm Những năm gần đây, các hoạt động trồng rừng được coi trọng, diện tích rừng có được tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục giảm sút

nghiệp cũng đang làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm

4 Về không khí

Ở vùng núi và nông thôn nước ta, nhìn chung, môi trường không khí còn chưa

bị ô mhiễm (trừ một số làng nghề và các khu vực gần khu công nghiệp, đường giao thông)

Kết quả quan trắc cho thấy, hầu hết các

đô thị Việt Nam đều bị ô nhiễm bụi Nhiều

đô thị bị ô nhiễm bụi trầm trọng tới mức báo động Nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các đường giao thông lớn đều vượt trị số tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần Trường hợp cá biệt, gần nhà máy gạch và bia ở Thị xã Lào Cai vượt 5 lần Nơi bị ô nhiễm lớn nhất là khu dân cư gần các Nhà máy Xi măng Hải Phòng; Nhà máy VICASA (TP Biên Hòa); Khu công nghiệp Tân Bình (TP Hồ Chí Minh); Nhà máy tuyển than Hòn Gai (TP Hạ Long)

5 Đa dạng loài và sự suy giảm các loài tự nhiên

Việt Nam là một trong những nước có đa dạng sinh học cao thứ 16 trên thế giới, về các loài sinh vật, do sự phong phú về các dạng địa hình, khí hậu Qua các tài liệu điều tra cơ bản, tới nay đã có các con số thống kê sau đây

Hình 2 Nước thải xả xuống sông Thị Vải(nguồn: dantri.com.vn)

Hình 1 Rừng Cúc Phương ở tỉnh Ninh Bình (nguồn: Internet)

Trang 6

Thực vật: Tổng kết các công bố về hệ

thực vật Việt Nam, đã ghi nhận có 13.894

loài thực vật, trong đó 2.400 loài thực vật

bậc thấp, 11.494 loài thực vật bậc cao,

14 loài cỏ biển, 151 loài rong biển (Bộ Tài

nguyên và Môi trường, 2010) Hệ thực

vật Việt Nam không có họ đặc hữu và chỉ

có khoảng 3% số chi là đặc hữu

Động vật ở cạn: Hiện nay đã xác định

được 307 loài giun tròn (Nematoda) trên

cạn, 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc,

200 loài giun đất (Oligochaeta), gần

800 loài động vật khác, 150 loài ve giáp

(Acartia), 113 loài bọ nhảy (Collembola),

trên 7.750 loài côn trùng (lnsecta), 260

loài bò sát (Reptilia), 162 loài ếch nhái

(Amphibia), 840 loài chim (Aves), 312

loài và phân loài thú trên cạn (Mammalia).

Vi sinh vật: Đã ghi nhận 7.500 loài, trong

đó có hơn 2.800 loài gây bệnh cho thực

vật, 1.500 loài gây bệnh cho người và gia

súc, hơn 700 loài vi sinh vật có lợi

Sinh vật nước ngọt: Có khoảng 1.438

loài vi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành; trên

800 loài động vật không xương sống;

1.028 loài cá nước ngọt Trong đó, đáng

lưu ý là riêng họ cá chép (Cyprinidae)

có 79 loài thuộc 32 giống, một phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam với một giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học Trong thành phần giáp xác, có tới

10 giống với 39 loài tôm, cua, 4 giống với

52 loài trai, ốc lần đầu tiên được mô tả tại Việt Nam Điều đó thể hiện tính đặc hữu rất cao của động vật thủy sinh nước ngọt của Việt Nam

Sinh vật biển: Đến nay, đã phát hiện

được trên 11.000 loài sinh vật sống trong vùng biển Việt Nam Trong đó, có 6.300 loài động vật đáy; 2458 loài cá với trên

100 loài cá kinh tế; 653 loài rong biển;

657 loài động vật nổi; 537 loài thực vật nổi; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển;

25 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước

Bảng 3 Số lượng các loài bản địa và các loài đặc hữu của Việt Nam

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010)

Tỷ lệ số loài đặc hữu và loài bản địa khá cao Đây là nguồn bảo tồn gen, giống mang nhiều đặc tính tốt, quý hiếm, đặc trưng của nước ta

Bên cạnh tính đa dạng cao của các loài sinh vật trong các hệ sinh thái, thì sự giảm sút ngày càng nhiều các cá thể, các loài trong tự nhiên là vấn đề đáng báo động

ở Việt Nam Về mức độ suy thoái, Việt Nam được xếp vào nhóm 15 nước hàng đầu thế giới về số loài thú, nhóm 20 nước hàng đầu về số loài chim, nhóm 30 nước hàng đầu về số loài thực vật và lưỡng cư

Trong số 248 loài ưu tiên bảo tồn trong chương trình đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học của Quỹ đối tác về các hệ sinh thái (CEPF) cho khu vực Đông Dương, Việt Nam có số loài được ưu tiên cao nhất với 131 loài

Theo lUCN, ở Việt Nam, số loài bị đe dọa toàn cầu không chỉ tăng về số lượng, mà còn tăng về mức độ đe dọa

Trong Danh sách đỏ của lUCN năm

1996 liệt kê 25 loài động vật của Việt Nam ở mức nguy cấp (EN) thì đến năm

2004, con số này đã tăng lên đến 46 loài, và đến năm 2010 là 47 Trong

số những loài mới bị xếp hạng này có những loài như Bò rừng, Sói đỏ, Voọc

vá chân nâu và Voọc vá chân đen

Quần thể của hầu hết các loài bị đe dọa toàn cầu, tại Việt Nam đều bị đánh giá là đang có chiều hướng suy giảm Nhiều loài được đánh giá bị đe dọa không cao trên quy mô toàn cầu nhưng lại bị đe dọa

ở mức rất cao ở Việt Nam Ví dụ như Hạc cổ trắng không có tên trong danh sách đỏ của lUCN (2004), nhưng lại là loài sắp nguy cấp (VU) ở Việt Nam do mất sinh cảnh và thức ăn bị ô nhiễm

Đáng lưu ý, theo lUCN, trong khi một số loài động vật đã được coi tuyệt chủng ngoài tự nhiên lãnh thổ Việt Nam, thì vẫn còn tồn tại

ở một số quốc gia lân cận Điều này thể hiện

rõ những biến động lớn về đa dạng sinh học

ở Việt Nam so với những vùng lãnh thổ khác trong thời gian vừa qua

Các loài sinh vật hoang dã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 cũng tăng về mức độ đe dọa và số loài bị đe dọa Tổng

số loài bị đe dọa (3 mức: rất nguy cấp, nguy cấp và sắp nguy cấp) được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 là 418 loài động vật và 464 loài thực vật, tăng hơn

so với Sách Đỏ Việt Nam 1992 - 1996.Đối với động vật, trong Sách Đỏ Việt Nam

1992 -1996, về mức độ bị đe dọa của các loài chỉ mới dừng lại ở hạng nguy cấp, thì năm 2007 đã có tới 9 loài được xem là đã tuyệt chủng và tuyệt chủng ngoài tự nhiên Đó là: tê giác hai sừng,

bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc,

cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, cá sấu hoa cà, hươu sao

Trong hệ thực vật, loài Lan hài đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên, điều mà trước đây chưa từng có Tất cả các loài hiện đang

ở mức nguy cấp và rất nguy cấp thì trước đây chỉ thuộc mức sắp nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam 1992 -1996 Trong

số các loài thực vật rất nguy cấp hiện nay, có các cây gỗ quý như: hoàng đàn

rủ, hoàng đàn, bách vàng, bách tán Đài Loan, một số cây thuốc quý như: ba gạc hoa đỏ, sâm vũ diệp, tam thất hoang, các loài thực vật đặc hữu của Việt Nam như: giác đế Tam Đảo, sao lá cong

Sự suy giảm về thành phần loài không chỉ xảy ra đối với hệ sinh thái rừng, mà các hệ sinh thái đặc trưng khác của Việt Nam cũng

ở tình trạng tương tự Điển hình là sự suy thoái về đa dạng loài ở các hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển Trong rạn san hô,

độ phong phú của các loài sinh vật có giá trị kinh tế như cá, động vật không xương sống, thân mềm, và giáp xác… giảm tại hầu hết các điểm giám sát, đặc biệt nhóm

cá có kích thước lớn

Tình trạng suy thoái về đa dạng loài cũng đang diễn ra ở hệ sinh thái thảm cỏ biển Kết quả giám sát của Viện Hải Dương học tại 9 điểm ở Phú Quốc vào tháng 10/2009 cho thấy: Các loại cá có giá trị kinh tế thì hết sức nghèo nàn, như cá Dìa, mật độ 1,7 con/250m2 Các loài cá có giá trị thấp

Trang 7

xuất hiện phổ biến trên thảm cỏ biển,

nhiều nhất là các loài thuộc họ cá Đổng

với mật độ 20 con/250m2 Hai nguồn lợi

sinh vật đáy quan trọng của Phú Quốc

là ghẹ và ốc nhảy cũng giảm sút nghiêm

trọng và có giá trị mật độ rất thấp (tương

ứng là 0,6 và 0,3 con/250m2); Hải sâm

cũng ở trong tình trạng tương tự, với mật

độ 0,8 con/250m2

6 Về chất thải

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế

và đời sống của người dân ngày càng

đi lên, lượng chất thải cũng ngày càng

nhiều hơn Sự gia tăng dân số, quá trình

đô thị hóa ngày càng phát triển mạnh đã

làm tăng lượng chất thải vào môi trường

Lượng phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam

nước (Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Theo ước tính, lượng chất thải sẽ tăng lên đáng kể Theo dự báo, đến năm 2010 lượng chất thải sinh hoạt sẽ tăng 60%, chất thải công nghiệp tăng 50%, chất thải nguy hại tăng 3 lần (Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, năm 2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Hiệu quả thu gom chất thải còn thấp, ở các các khu đô thị, nhất là tại các thành phố lớn thì việc thu gom chất thải đã hoảng từ 70 - 75% nhưng ở nông thôn thu gom thì việc thu gom chất thải mới chỉ đạt 20%

• Chất thải công nghiệp: Lượng chất thải

công nghiệp phát sinh chiếm khoảng

20% tổng lượng chất thải Gần một

nửa lượng chất thải công nghiệp của cả

nước phát sinh ở khu vực Đông Nam

Bộ, trong đó TP Hồ Chí Minh chiếm tới

31% Chất thải công nghiệp phát sinh

từ các làng nghề ở vùng nông thôn chủ

yếu tập trung ở miền Bắc Khoảng 1.450

làng nghề phân bố ở các vùng nông thôn

trên toàn quốc, mỗi năm thải ra khoảng

774.000 tấn chất thải công nghiệp

lên đến hơn 15 triệu tấn mỗi năm, tăng trung bình hàng năm là 15%, trong đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và nơi kinh doanh chiếm khoảng 75 - 80% tổng lượng chất thải phát sinh cả nước Lượng chất thải còn lại phát sinh từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp… Chất thải công nghiệp và chất thải y tế tuy phát sinh với khối lượng ít hơn nhưng lại có nguy cơ gây hại cho sức khỏe và môi trường cao

• Chất thải sinh hoạt: Các khu đô thị

ở Việt Nam tuy có số dân chỉ chiếm khoảng hơn 26% số dân của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50%

tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của

cả nước)

Việc xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật gây nên hiện tượng ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường sống của cư dân, đặc biệt là chất thải độc hại ở các bệnh viện, các khu công nghiệp

7 Về vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, cung cấp nước sạch

ở đô thị và nông thôn

Hiện nay mới có 60 - 70% dân cư đô thị, dưới 40% dân ở nông thôn được cấp nước sạch và chỉ có 28 - 30% hộ gia đình

ở nông thôn có hố xí hợp vệ sinh

Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm đã xảy ra, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang cần được quan tâm của toàn xã hội

Bảng 4 Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008

Phát sinh CTR sinh hoạt trung bình

Phát sinh CTR sinh hoạt trung bình

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010)

Hình 3 Chất thải phát sinh từ hoạt động nông nghiệp (Ảnh: Lâm Văn Khanh-2009)

• Chất thải nguy hại: Năm 2003, tổng lượng chất thải nguy hại là khoảng 160.000 tấn, trong đó khoảng 130.000 tấn phát sinh từ công nghiệp Chất thải y tế nguy hại từ các bệnh viện, cơ

sở y tế và điều dưỡng chiếm khoảng 21.000 tấn Nguồn phát sinh chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp là khoảng 8.600 tấn Phần lớn chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh ở miền Nam, chiếm khoảng 64% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh của cả

Trang 8

III VÀI NÉT NỔI BẬT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ

NHIÊN VÀ CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN

CỦA TỈNH BẠC LIÊU

1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lí

• Bạc Liêu là tỉnh nằm ở phía Đông Bán

đảo Cà Mau, trải rộng từ 9o00’,00” đến

9o38’,9” vĩ độ Bắc và từ 105o14’15” đến

105o51’54” kinh độ Đông, tỉnh có các

mặt tiếp giáp như sau:

• Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 259.409,50

ha, toàn tỉnh có 7 đơn vị hành chính

huyện - thành phố, bao gồm thành phố

Bạc Liêu và các huyện: Vĩnh Lợi, Hòa

Bình, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai,

Đông Hải; với tổng cộng 64 xã, phường

và thị trấn Trung tâm hành chính tỉnh là

thành phố Bạc Liêu cách thành phố Cần

Thơ 110 km và cách thành phố Hồ Chí

Minh 280 km Diện tích tự nhiên ở Bạc

Liêu có tăng nhẹ qua các năm (tỷ lệ tăng

khoảng 0,2 - 0,35%) chủ yếu là do quá

trình bối đắp phù sa diễn ra mạnh hơn

quá trình sạt lở

Khu vực Gò Cát - Đông Hải đến giáp ranh

huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng được

bồi đắp nhiều nhất Bờ biển Bạc Liêu trải

dài 56 km, nhờ phù sa của sông Cửu

Long nên hàng năm vùng bãi bồi ven

biển tỉnh Bạc Liêu lấn ra biển khoảng 75

- 80m, diện tích bãi bồi tính trong phạm vi

từ bờ trở ra 2km lên đến 12.337ha (Báo

cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bạc Liêu

giai đoạn 2006 - 2010)

b Địa hình

Tỉnh Bạc Liêu nằm trong vùng đất mới

của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm ở

rìa vùng đồng bằng châu thổ Địa hình tương đối bằng phẳng và thuần nhất, độ cao trung bình từ 0,3 - 0,5 m Địa hình

có xu hướng thấp dần từ bờ biển vào nội đồng, từ Đông Bắc xuống Tây Nam Độ dốc trung bình của địa hình khoảng từ 1 - 1,5 cm/km, chia thành hai khu vực rõ rệt:

• Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có địa hình với những giồng cát biển không liên tục, cao trung bình từ 0,4 - 0,8m, với hướng nghiêng thấp dần vào nội địa

• Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A là vùng trũng, độ cao trung bình từ 0,2 - 0,3m

so với mực nước biển

Đặc điểm địa hình thuận lợi cho việc đưa nước biển vào nội đồng phục vụ nuôi trồng thủy sản, làm muối,… song cũng rất dễ hình thành các vùng trũng chua phèn cục bộ, đặc biệt là ở các huyện Phước Long, Hồng Dân và Giá Rai

Ngoài ra, tỉnh còn có bờ biển với chiều dài khoảng 56 km, với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven bờ phong phú cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt, với các của sông lớn như Gành Hào, Cái Cùng, Nhà Mát, Chùa Phật là điều kiện thuận lợi để giao thương, trung chuyển hàng hoá ra vào tỉnh Quốc lộ 1A chạy qua địa bàn tỉnh, nối thành phố Bạc Liêu với thành phố Cà Mau

Tuyến đường Cao Văn Lầu dài 8 km nối quốc lộ 1A với bờ biển, cùng nhiều tuyến đường xương cá nối Quốc lộ 1A với các nơi khác trong tỉnh, thuận tiện cho giao thông và đi lại

c Khí hậu

Khí hậu có tính chất cận xích đạo gió mùa với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng

5 đến tháng 11 Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

*Lượng mưa

Do nằm ở vĩ độ thấp nên ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới;

không chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt

từ hệ thống Sông Cửu Long

Năm 2010, lượng mưa trung bình cả

Hình 4 Bản đồ tỉnh Bạc Liêu.

Trang 9

Hình 5 Biểu diễn lượng mưa trung bình các tháng trong các năm 2000 – 2010

Từ kết quả cho thấy nhiệt độ không khí

có xu hướng gia tăng và đây cũng là một trong những nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu

I 25,8 25,6 25,1 25,1 25,7 25,0 25,7 25,7 25,1 24,2 25,8

II 26,0 26,0 25,7 26,4 25,5 26,3 26,9 25,8 26,6 26,1 26,7 III 27,1 26,9 27,0 27,6 27,2 27,1 27,4 27,6 27,0 28,0 28,3

IV 27,7 28,6 28,9 29,0 29,1 28,2 28,5 28,8 28,2 28,9 29,4

V 27,7 28,0 28,8 28,1 28,7 29,0 28,1 28,1 27,7 28,1 30,3

VI 29,9 27,0 27,8 28,3 27,4 28,2 27,7 28,1 27,7 28,2 28,7 VII 27,0 27,5 28,0 27,0 27,2 27,0 27,3 27,1 27,2 26,9 27,8 VIII 26,4 26,8 26,8 27,5 27,0 27,9 27,1 27,2 26,9 27,9 27,6

IX 26,8 26,8 27,0 26,9 27,1 27,2 26,9 27,3 26,7 26,8 27,5

X 26,1 26,6 26,9 26,5 26,8 27,3 27,4 27,1 27,2 27,0 26,6

XI 26,5 25,6 26,9 26,9 27,4 27,0 27,6 26,2 26,1 26,8 26,6 XII 26,0 25,8 26,9 25,0 25,4 25,3 26,1 26,0 25,4 26,1 26,3

Cả năm 26,7 26,8 27,2 27,0 27,0 27,1 27,2 27,1 26,8 27,1 27,6

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu các năm 2000 - 2010.

năm là 2.409,5 mm, tăng hơn so với

năm 2009 là 2.150,8 mm và năm 2006

là 1.971,6 mm Lượng mưa trung bình

các tháng trong năm dao động từ 11,4

- 1.331,1 mm, tháng có lượng mưa cao

nhất là tháng 7 và tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 12 Cụ thể như sau:

Nhìn chung, khí hậu Bạc Liêu khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản Bảng 5 Lượng mưa trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: mm)

Trong năm 2010, nhiệt độ trung bình cả

năm là 27,6oC, tăng hơn so với năm 2009

Trang 10

địa bàn chịu ảnh hưởng giao thoa của thủy triều biển Đông và biển Tây.

• Thủy triều biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Nam Quốc lộ 1A là chế

độ bán nhật triều không đều, biên độ triều lớn, chênh lệch đỉnh triều lớn 30

- 40 cm Trong một tháng có 2 lần triều cường, tốc độ truyền triều 15 km/giờ

• Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Hậu nên khá phức tạp Khu vực Bắc quốc lộ 1A chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều biển Tây qua sông Cái Lớn tỉnh Kiên Giang Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng không rõ, biên độ triều biển Tây nhỏ

so với biển Đông nên khả năng tiêu thoát nước kém

Do khí hậu cận xích đạo gió mùa nên lượng mưa phân hoá theo mùa đã gây ra hạn hán và ngập úng cục bộ ở một số thời điểm trong năm; các đợt tiểu hạn vào thời

kỳ đầu và giữa mùa mưa; trong mùa mưa hạn chế rõ nét nhất cần lưu ý từ tháng 5 đến tháng 10 do lượng mưa tại chỗ lớn, cùng với triều cường và nước từ thượng nguồn kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp đổ về gây ngập úng, xói lở một số khu vực làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của người dân Việc tăng cường hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi là biện pháp quan trọng để khắc phục khó khăn này

2 Tài nguyên thiên nhiên

a Tài nguyên đất

* Tài nguyên đất

Quĩ đất của tỉnh Bạc Liêu luôn biến động với hai quá trình trái ngược nhau: quá trình bồi tụ và quá trình sạt lở Quá trình bồi tụ có tốc độ nhanh hơn quá trình sạt

lở nên hằng năm quĩ đất của tỉnh được tăng thêm một diện tích đáng kể

• Vùng bồi tụ kéo dài từ Gò Cát (Đông Hải) đến giáp tỉnh Sóc Trăng Tốc độ bồi ra biển có năm lên tới 60 - 80 m

và hiện nay đã hình thành một bãi bồi ven biển rộng từ 1 - 2 km, dài 40 km từ thành phố Bạc Liêu đến Gò Cát huyện Đông Hải

• Vùng sạt lở gần khu vực kè Gành Hào thuộc thị trấn Gành Hào, kè Nhà Mát thuộc thành phố Bạc Liêu, khu vực này

đã được xây dựng kè và đê biển nên tốc độ sạt lở không đáng kể Bên cạnh

đó một số vùng cạnh các sông trong vùng do dòng chảy xoáy xiết tạo hàm ếch nên gây ra hiện tượng sạt lở như kênh Bạc Liêu – Cà Mau, nhưng tốc độ sạt lở không lớn

Đất đai của tỉnh Bạc Liêu phần lớn được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tích của sóng biển và thủy triều, gồm các nhóm đất chính như sau:

Hình 8 Sạt lở ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2011).

Hình 6 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm 2000 - 2010

là 88% và tháng 4 và 12 có độ ẩm thấp

nhất là 76% Nhìn chung, độ ẩm không

khí trung bình các tháng trong các năm

2000 - 2010 tương đối ổn định và không

có sự biến động lớn phù hợp với khí hậu

vùng nhiệt đới

d Chế độ thủy văn

Bạc Liêu có hệ thống kênh rạch chằng chịt với hai trục kênh chính là Bạc Liêu -

Cà Mau và Quản Lộ - Phụng Hiệp Chế

độ thủy văn của hệ thống kênh rạch trên

Bảng 7 Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: %)

Trang 11

Bảng 8 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bạc Liêu (Đơn: Nghìn ha)

Năm Tổng diện

tích

Đất nông nghiệp

Đất lâm nghiệp có rừng

Nuôi trồng thuỷ sản

Đất chuyên

Diện tích Tỷ lệ% Diện

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu các năm 2000 - 2010.

b Tài nguyên nước

*Nguồn nước trên mặt lục địa

Nguồn nước ngọt của tỉnh là do nguồn nước mưa và nước ngọt từ sông Hậu cung cấp, chảy qua hệ thống kênh rạch cùng với các công trình ngọt hóa qua hệ thống cống, đập và đê bao ngăn mặn giữ ngọt Đây là những nguồn nước ngọt có vai trò rất quan trọng trong sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt là trong thời gian mùa khô Tuy nhiên, hệ thống các công trình trong vùng ngọt hóa chưa khép kín, nên gây khó khăn cho việc giữ ngọt ổn định Chất lượng nước mặt (sông, rạch, ao, hồ) cũng diễn biến theo mùa Đặc biệt vào mùa khô, xâm nhập mặn của triều biển đã gây nhiễm mặn khá lớn cho khu vực Vùng phía Nam Quốc lộ 1A do chịu ảnh hưởng trực tiếp của triều biển nên dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn, gây nhiễm mặn nguồn

nước trên mặt ở khu vực ven biển, đặc biệt vào mùa khô Ngoài ra, lượng mưa hàng năm là nguồn nước ngọt bổ sung

vô cùng quan trọng để ngọt hóa diện tích đất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của nhân dân

Là một tỉnh đồng bằng ven biển, Bạc Liêu

có một hệ thống kênh rạch chằng chịt Tổng diện tích các sông, kênh rạch trong tỉnh chiếm 6.763,7 ha, bằng 2,6% diện tích đất toàn tỉnh, mật độ bình quân > 1,5 km kênh/km2 Nhìn chung, các sông

và kênh lớn được bắt nguồn từ hai điểm chính: từ thành phố Cà Mau và từ sông Hậu - Cần Thơ Các sông hoặc kênh lớn này sau khi từ nơi phát nguồn chảy qua địa phận Bạc Liêu rồi đổ ra các cửa ở biển Đông và vịnh Thái Lan Có thể phân thành hai nhóm: nhóm sông chính và kênh trục; nhóm các kênh rạch chính:

• Các nhánh sông chính gồm có: sông

• Nhóm đất cát: Diện tích khoảng 8.367,77

ha (chiếm 3,24% diện tích tự nhiên),

phân bố dọc theo bờ biển thành phố

Bạc Liêu và huyện Hòa Bình, khu vực

Giồng Nhãn và Giồng Giữa thuộc xã

Hiệp Thành, Thuận Hòa của thành phố

Bạc Liêu và xã Vĩnh Hậu thuộc huyện

Hoà Bình

• Nhóm đất mặn: Diện tích khoảng 99.276,92

ha chiếm 38,44% diện tích tự nhiên toàn

tỉnh, bao gồm: đất mặn thường xuyên dưới

133.626,11 ha, chiếm 51,74% tổng diện

tích tự nhiên toàn tỉnh, bao gồm: đất

phèn tiềm tàng, đất phèn hoạt động, đất

phèn hoạt động bị thủy phân Nhóm đất

phèn phân bố chủ yếu ở phía Bắc quốc

lộ 1A, thuộc các huyện Hồng Dân, Vĩnh

Lợi và huyện Giá Rai

• Nhóm đất phù sa: Diện tích khoảng 5.242,77

ha (chiếm tỷ lệ 2,03%), phân bố chủ yếu ở

phía Đông Bắc huyện Hồng Dân

• Nhóm đất nhân tác: Diện tích khoảng

11.751,04 ha (chiếm 4,55% diện tích

tự nhiên toàn tỉnh), phân bố tập trung

dọc theo các kênh rạch, các trục lộ

giao thông lớn và các khu dân cư tập

trung Đất nhân tác bao gồm các đất

thổ cư, đất lập líp, đất xây dựng cơ

bản., không dùng cho canh tác và sản

xuất nông nghiệp

Xét về khả năng thích nghi, đất đai Bạc

Liêu chia thành hai khu vực:

• Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A có 11 vùng

thích nghi, phía Đông Bắc thích hợp với

trồng lúa, hoa màu và các loại cây khác,

phía Tây thích hợp cho nuôi trồng thủy sản

• Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có 10

vùng thích nghi, phù hợp với nuôi trồng

thủy sản, làm muối và phát triển rừng

ngập mặn

Đất phèn chiếm tỉ lệ cao nhất: 51,74%

diện tích tự nhiên của tỉnh), tiếp đó là đất

mặn (chiếm 38,44%) Đất phèn là loại

đất có chứa độc tố nhôm tiềm tàng cao,

độ axit cao và thiếu lân Loại đất này rất

nhạy cảm trước những hoạt động canh

tác, lượng phèn phát sinh sẽ ảnh hưởng tới độ pH của nước trong các kênh rạch

*Hiện trạng sử dụng đất

Đến cuối năm 2010, Bạc Liêu có diện tích 257.094 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản là 225.568,66

ha chiếm 87,74 % diện tích đất tự nhiên

Điều này cho thấy tỉnh Bạc Liêu hiện nay vẫn phát triển ngành nông nghiệp, thủy sản là ngành chính trong đó thế mạnh là phát triển nuôi trồng thủy hải sản

Cơ cấu sử dụng đất chung của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng hợp lý hơn phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh và dần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Phần lớn diện tích đất đã được khai thác đưa vào sử dụng cho các mục đích dân sinh, kinh tế

Với đường bờ biển dài 56 km, vùng biển rộng 40.000 km² cùng hệ thống ao hồ, kênh rạch chằng chịt, diện tích bãi bồi hàng năm lên đến 12.337 ha, diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm ưu thế Trên

cơ sở phát huy hiệu quả tiềm năng lợi thế địa phương vào phát triển kinh tế, nuôi trồng thủy sản được xác định là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Bạc Liêu

Cơ cấu đất nông nghiệp đang dần được chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ lệ

sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao như nuôi trồng thủy sản, giảm tỉ lệ đất sản xuất nông nghiệp và diêm nghiệp kém hiệu quả Diện tích đất có ý nghĩa đối với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh như đất ở, đất quốc phòng – an ninh, đất trụ sở các cơ quan, đất sản xuất kinh doanh và đất các công trình công cộng chiếm gần 70% diện tích đất chuyên dùng

Qua phân tích số liệu thống kê về tình hình sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, cho thấy việc chuyển dịch cơ cấu đất sản xuất nông lâm ngư nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh Bạc Liêu Tuy nhiên, cũng có những tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái nói chung

và môi trường đất nói riêng, tiềm ẩn các nguy cơ ngày càng làm mất đi sự cân bằng sinh thái và làm giảm độ đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển giàu tiềm năng của tỉnh

Trang 12

Hình 9 Rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2010).

d.Tài nguyên biển

Vùng biển Bạc Liêu rộng trên 40.000 km2, trữ lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại (như cá có tới 661 loài) Nhiều loại có trữ lượng và giá trị kinh tế cao như tôm biển các loại, cá Hồng, cá Gộc, cá Sao, cá Thu, cá Chim, cá Đường Trữ lượng cá đáy và cá nổi lên đến trên 800 nghìn tấn, hàng năm có thể khai thác từ

240 nghìn đến 300 nghìn tấn Tôm biển

có trên 30 loài, có thể đánh bắt khoảng

10 nghìn tấn mỗi năm Ngoài ra, ở vùng biển Bạc Liêu còn nhiều loài hải sản khác

có thể khai thác hàng hóa như mực, hêu, sò huyết…

ng-Với các cửa biển Gành Hào, Nhà Mát, Cái Cùng cho phép Bạc Liêu có thể phát triển mạnh các ngành vận tải và du lịch biển Gành Hào có khả năng phát triển thành trung tâm kinh tế biển lớn của tỉnh cũng như của ven biển phía Đông Nam

Bộ (khu vực từ Mũi Dinh đến Cà Mau), cung cấp các dịch vụ cho đánh bắt và chế biến thủy hải sản Các cửa biển nối với mạng lưới đường bộ, trong đó Quốc

lộ 1A và hai tuyến Quốc lộ khác sẽ được xây dựng trong những năm tới

e Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản chủ yếu là muối biển, với trữ lượng lớn đã tạo cho Bạc Liêu có thế mạnh phát triển nghề làm muối Ngoài ra, các mỏ đất sét nằm rải rác trên địa bàn tỉnh, cát biển tích tụ ven bờ vùng biển Bạc Liêu nhưng là loại tài nguyên không tái tạo và với trữ lượng thấp nên chưa được

cơ quan chuyên môn điều tra, thăm dò đánh giá tiềm năng Vì thế, việc khai thác

và sử dụng các loại tài nguyên khoáng sản này còn rất hạn chế

3 Tài nguyên du lịch

a Tài nguyên du lịch tự nhiên

• Vườn chim Bạc Liêu: Là một sân chim

tự nhiên và hoang dã, nguyên sơ chỉ cách trung tâm đô thị khoảng 3 km Với diện tích 160 ha, hiện có hơn 40 loài với trên 60.000 con, trong đó có nhiều loài chim quý như: điên điển, quắm trắng, quắm đen, còng cọc, vạc, cò ngà, dang sen, Vườn chim Bạc Liêu

nằm trên tuyến du lịch trọng điểm của tỉnh: Vườn Chim - Vườn nhãn - Chùa Xiêm Cán - Biển

• Ngoài ra, còn có nhiều vườn chim tự nhiên nằm rải rác ở các huyện Đông Hải, Giá Rai và Phước Long Vườn chim Bạc Liêu đã và đang là một trong những điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn, thu hút

du khách trong và ngoài nước

• Vườn nhãn: Vườn nhãn Bạc Liêu nằm song song với bờ biển, cách trung tâm thành phố Bạc Liêu khoảng 6 km và cách bờ biển khoảng 3 km, diện tích trên 50 ha, chạy dài trên 11 km đi qua hai xã Hiệp Thành và Vĩnh Trạch Đông, nay thuộc thành phố Bạc Liêu

Nơi đây có những gốc nhãn cổ hàng trăm năm tuổi, thật sự là một mô hình du lịch vườn hấp dẫn Đến tham quan khu

du lịch vườn nhãn, du khách sẽ được thưởng thức mùi vị quyến rũ của những chùm nhãn thơm ngon nổi tiếng – nhãn Bạc Liêu, cùng với những món ăn dân

dã là đặc sản do biển cả hào phóng ban tặng Không những thế, du khách còn được hưởng không khí trong lành từ gió biển thổi vào và còn được thưởng thức

âm hưởng của “Đờn ca tài tử Nam Bộ”

Hình 9 Vườn chim Bạc Liêu (Ảnh tư liệu)

Hình 10 Vườn nhãn cổ Bạc Liêu (Ảnh tư liệu)

Gành Hào, sông ngã ba Cái Tàu

• Các kênh trục gồm: kênh Cà Mau - Bạc

Liêu, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp

*Nguồn nước ngầm

Nguồn nước ngầm tầng nông nằm sát

mặt đất được bổ sung bằng nước mưa

và lượng nước từ kênh rạch Mực thủy

cấp của nguồn nước này thay đổi tùy

theo mùa Mùa mưa mực nước ngầm

chỉ cách mặt đất khoảng 0,5 – 1 m, mùa

khô mực nước hạ thấp xuống tới độ sâu

khoảng 1 - 3 m Nguồn nước ngầm ở

tầng gần mặt đất thường bị nhiễm mặn,

nhiễm phèn nên khó có thể sử dụng cho

sản xuất và sinh hoạt Về mùa khô, nước

ngầm được chuyển lên mặt đất bằng các

mao dẫn, khe hở trong đất mang theo

muối và các chất gây độc không có lợi

cho cây trồng

Nguồn nước ngầm ở tầng sâu khá phong

phú với trữ lượng lớn, chất lượng khá tốt

Có bốn tầng nước ngầm có thể khai thác

nằm ở độ sâu khoảng 80 – 500 m trong

địa bàn tỉnh Hiện tại tầng nước được

khai thác và sử dụng nhiều nhất ở độ sâu

trung bình 80 - 100 m Trữ lượng khai

thác có thể đạt từ 3,68 triệu m3/ngày Tuy

nhiên, việc khai thác nước ngầm hiện

nay trong địa bàn tỉnh chưa được quản

lí chặt chẽ, ở một số nơi trong tỉnh vẫn

còn tình trạng khai thác nước ngầm một cách tự phát, Vì vậy, cần phải có những biện pháp để bảo vệ nguồn nước ngầm

Nhìn chung, nguồn nước ngọt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh chủ yếu là nước mưa, nước từ sông Hậu và nguồn nước ngầm Trữ lượng nước có khả năng đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dân sinh

và môi trường

Hệ sinh thái rừng ngập mặn Bạc Liêu có

hệ động, thực vật khá đa dạng về mặt sinh học Theo thống kê có: 64 loài thực vật thuộc 27 họ, chủ yếu là cây Đước, Vẹt, Mắm, Giá Động vật trong rừng ngập mặn có 12 loài thú, 12 loài bò sát, 8 loài ếch nhái, 67 loài chim, 25 loài tôm và 250 loài cá nước mặn

Trang 13

gỗ dầu, phía trước có mái hiên và ban công đổ mái bằng Khoảng hơn 300 tài liệu và hiện vật phản ánh quá trình nhân dân xã Châu Thới chiến đấu bảo

vệ đền thờ và các tư liêu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ Tịch được lưu giữ tại nhà trưng bày

• Đền đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1998 Đây là niềm tự hào của

quân và dân Bạc Liêu, hàng năm vào các ngày lễ lớn, ngày nghỉ đặc biệt vào ngày sinh nhật Bác có rất đông du khách và nhân dân thăm viếng Hiện nay, Đền thờ đã được qui hoạch mở rộng với diện tích 45.000 m2 và nhiều hạng mục công trình mang ý nghĩa giáo dục truyền thống và đậm nét văn

Hình 13 Tháp cổ Vĩnh Hưng (Nguồn: Sở TT&DL Bạc Liêu)

VH-hóa dân tộc, sẽ là nơi tham quan hấp dẫn của du khách

• Tháp cổ Vĩnh Hưng: Là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, tọa lạc tại

ấp Trung Hưng 1B, xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi

Tháp cổ Vĩnh Hưng không chỉ là một kiến trúc tháp thuộc nền văn hóa Óc - Eo còn sót lại duy nhất ở Tây Nam Bộ, mà trong

cuộc khai quật tại tháp Vĩnh Hưng, các nhà khảo cổ học còn thu được một bộ sưu tập hiện vật hết sức quí giá với nhiều tượng đá, đồng, gốm, đá quí… đánh dấu một giai đoạn tồn tại và phát triển khá dài (thế kỷ IV - XIII sau công nguyên) của tháp cổ Vĩnh Hưng

Với những giá trị vốn có ấy, tháp Vĩnh Hưng đã và đang được tu bổ nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của một di tích kiến trúc nghệ thuật tầm cỡ quốc gia Di tích này đã đuợc Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1992

• “Dạ cổ hoài lang” – tiền thân của Vọng cổ ngày nay: Bạc Liêu là một vùng đất xuất xứ của bài “Dạ cổ hoài lang” của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã làm say đắm lòng người Việt Nam nói chung và người dân Nam Bộ nói riêng Một trong những cái nôi của phong trào “Đờn ca tài tử”, một loại hình diễn xướng dân gian trong các

lễ hội, tiệc cưới hay chỉ đơn giản tụ tập nhau cùng đờn ca trong những đêm trăng sáng ở các xóm làng, nay

đã trở thành loại tài nguyên du lịch

Hình 13 Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Nguồn: Sở VHTT&DL Bạc Liêu)

Hình 14 Hội đua ghe ngo của đồng bào dân tộc Khmer (Ảnh tư liệu)

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892 – 1976) là người sáng tác bản “Dạ cổ hoài lang” nổi tiếng, tiền thân của bản Vọng cổ ngày nay Di tích lịch sử - văn hóa khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu được xây dựng tại phường 2, thành phố Bạc Liêu (tại nơi mà gia đình an tang cố nhạc sĩ khi

tạ thế vào năm 1976) Di tích được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là

Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 1997

• Lễ Ooc-om-bok và hội đua ghe ngo: Là một lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer ở Nam Bộ nói chung và

ở Bạc Liêu nói riêng Lễ hội cúng tế, tạ

ơn thần Mặt Trăng và cầu mong được

an lành, may mắn, mưa thuận gió hòa, mùa mang tốt tươi Lễ hội diễn ra vào tối 14 và ngày 15 tháng 10 âm lịch Nghi lễ được người dân thực hiện tại sân nhà hoặc sân chùa

• Biển và rừng: Rừng ở Bạc Liêu chủ yếu

là rừng ngập mặn ven biển với nhiều

loài động vật hoang dã Mỗi khi thủy

triều xuống, bãi biển trải dài hàng cây

số và du khách thỏa thích đi trên bãi

biển Du khách có thể bơi xuồng len

lách trong những cánh rừng phòng hộ,

câu cá, bắt tôm… Đi giữa rừng mắm

xanh tươi, du khách sẽ được hít thở

không khí trong lành mà không phải

nơi đâu cũng có

Ngoài ra, du khách có thể ngồi đò, xuồng,

ca nô để vừa thưởng thức cái không khí

mát mẻ của hình thức du lịch sông

nước-miệt vườn; vừa ngắm nhìn cảnh sắc trời

nước bao la, vừa trò chuyện với những

người dân thôn quê mộc mạc, chân chất

càng làm tăng thêm sự hấp dẫn cho

khách tham quan du lịch

b Tài nguyên du lịch nhân văn

• Đồng Nọc Nạng: Là một khu di tích lịch

sử, tọa lạc tại ấp 4, xã Phong Thạnh,

huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu Khu di

tích có diện tích 3 ha với nhiều hạng

mục: Khu mộ gia đình Mười Chức, phủ

thờ - nhà trưng bày hiện vật, cụm tượng

diễn tả lại sự kiện ngày 17 tháng 02

năm 1928, (trận quyết tử đòi lại ruộng

đất của anh em Mười Chức với bọn địa

chủ, quan lại cướp đất), nhà thủy tạ…

Di tích lịch sử này đã đuợc Bộ Văn hóa –

Trang 14

xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng hơn Vì vậy, cần phải có biện pháp sử dụng hợp lí các nguồn nước, hình thành các hệ thống dự trữ, cấp thoát nước, tránh để nước thải chưa xử lí lan ra gây

ô nhiễm môi trường nước

Với đặc trưng về vị trí địa lí và điều kiện

tự nhiên, tỉnh Bạc Liêu đã phân chia địa bàn tỉnh thành hai vùng sinh thái rõ rệt:

+ Vùng Bắc quốc lộ 1A - vùng sinh thái nước ngọt - vùng sinh thái trồng lúa, nuôi thuỷ sản nước ngọt

+ Vùng Nam quốc lộ 1A - vùng sinh thái ngập mặn - vùng sinh thái rừng ngập mặn ven bờ phục vụ ngành nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn, làm muối và phát triển ngành trồng rừng ngập mặn

+ Theo kết quả quan trắc cho thấy, chất lượng nước mặt của tỉnh Bạc Liêu trong 5 năm gần đây (2006 – 2010) đều có dấu hiệu ô nhiễm, nó được thể hiện rõ qua các thông số phân tích hóa

lí và sinh học

Nhìn chung môi trường nước trên mặt của tỉnh Bạc Liêu hiện nay đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ nhẹ, nồng độ của BOD5, COD, SS và Coliform đều vượt tiêu chuẩn khoảng 1 – 2 lần Đây là hậu quả của việc xả thải bừa bãi nước thải trực tiếp chưa qua xử lí, hoặc đã có xử lí nhưng không đạt tiêu chuẩn xả thải trực tiếp vào các nguồn nước trên mặt và từ các nguồn khác

Ô nhiễm các hợp chất hữu cơ là tình trạng phổ biến trên tất cả các khu vực nước trên mặt trong địa bàn tỉnh Trên các trục sông chính, cũng như trên các kênh rạch chỉ tiêu COD và BOD5 đều vượt tiêu chuẩn từ 1,5 - 2 lần, COD dao động trong khoảng 10 - 62 mg/L, BOD5 dao động khoảng 5 - 25 mg/L

Ô nhiễm các chất dinh dưỡng cũng đang diễn ra trên các nguồn nước trên mặt

do nhiều nguyên nhân: nước thải sinh hoạt, nước thải các ngành công nghiệp (các ngành chế biến thủy sản và các sản phẩm từ nông nghiệp), các làng nghề đều là những loại nước thải có nồng độ các chất hữu cơ cao

Ở các vùng nông thôn, các chất thải từ

các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm,

sử dụng phân hóa học phục vụ thâm canh tăng vụ cũng là một trong những nguyên nhân đáng kể gây ô nhiễm nguồn nước trên mặt

Coliform tại các vị trí quan trắc dao động

từ 210 - 24 x 104 MPN/100ml, vượt đến

48 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT

Sử dụng các nguồn nước nhiễm bẩn vi sinh vật gây ra nhiều bệnh có thể chuyển thành dịch trong cộng đồng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn

*Tài nguyên nước dưới đất

Theo khảo sát thực tế và các tài liệu tham khảo, tỉnh Bạc Liêu có trữ lượng nước ngầm khá lớn Hiện tại, tỉnh đang khai thác và sử dụng nguồn nước ngọt chủ yếu ở độ sâu từ 80 - 100 m Nguồn nước ngọt ở độ sâu này dễ bị nhiễm phèn và ô nhiễm do nhiều tác nhân

Nhìn chung nguồn nước ngầm hiện đang

có dấu hiệu ô nhiễm vi sinh cục bộ và tình trạng xâm nhập mặn vào nguồn nước ngầm tầng nông tại một số khu vực vùng Nam quốc lộ 1A Bên cạnh đó, do việc khai thác và sử dụng nước ngầm không hợp lí đã và đang tác động làm suy giảm trữ lượng nguồn nước ngầm và gián tiếp làm gia tăng các yếu tố tác động làm suy giảm chất lượng nguồn nước ngầm của tỉnh

b Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước

Môi trường nước mặt lục địa bao gồm nước hồ ao, đồng ruộng, nước sông, kênh rạch Nguồn nước các sông và kênh tải nước thải, các hồ, khu vực đô thị, khu công nghiệp và đồng ruộng lúa nước của tỉnh là những nơi thường có mức độ ô nhiễm cao

vì những nguyên nhân sau:

• Do tỉnh Bạc Liêu nằm ở rìa phía đông nam của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nên có thể được coi là nơi cuối cùng tiếp nhận toàn bộ các chất thải của khu vực và trong địa bàn tỉnh trước khi thải ra biển

• Dễ bị tích tụ ô nhiễm, tập trung ô nhiễm

từ các nguồn như chất thải rắn, đất, nước và kể cả không khí

• Nguồn gây ra ô nhiễm nước mặt lụa địa của tỉnh Bạc Liêu phát sinh từ những nguồn sau:

• Khu đô thị, khu dân cư, hộ dân sống nông thôn bao gồm: nước bẩn và rác thải sinh hoạt

• Khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung, các nhà máy với nước thải công nghiệp phát sinh, nước và rác thải sinh hoạt của lực lượng công nhân lao động trong nhà máy

• Hoạt động xây dựng công trình, cơ sở

hạ tầng các công trình kinh tế - văn hoá - xã hội trên địa bàn tỉnh bao gồm: nước và rác thải xây dựng phát sinh do hoạt động xây dựng và nước thải sinh hoạt của công nhân

• Hoạt động giao thông đường thuỷ bao gồm: nước và rác thải giao thông vận tải phát sinh, chất thải nguy hại như nước cặn dầu hoặc sự cố tràn dầu

• Chất thải trong chăn nuôi bao gồm: phân, nước thải

• Chất thải trong nông nghiệp - trồng trọt bao gồm: mùi hôi thối, rác thải, lượng phân bón dư, thuốc trừ sâu phát sinh trong hoạt động canh tác

• Chất thải trong nuôi trồng thuỷ sản bao gồm: phân, nước thải, thức ăn dư thừa phát sinh trong nuôi trồng thuỷ sản

• Chất thải trong hoạt động khai khoáng bao gồm: chất thải rắn và nước thải

• Chất thải trong các hoạt động dịch vụ bao gồm: nước, rác thải

• Chất thải trong hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân bao gồm: rác

và nước thải y tế

• Hoạt động môi trường – cộng đồng bao gồm: bùn thải phát sinh trong hoạt động xử lý rác, nước thải; hoạt động vận hành của các công trình như cấp nước, thoát nước, vệ sinh môi trường phát sinh nước thải và chất thải rắn

c Dự báo phát triển liên quan đến môi trường nước

*Dự báo phát triển liên quan đến môi trường nước trên mặt lục địa

Với tốc độ tăng dân số nhanh và việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, áp lực gây ra đối với nguồn nước mặt càng lớn, đặc biệt

là ở khu các đô thị, các cơ sở sản xuất công nghiệp trong xu thế quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn của tỉnh đang diễn ra với tốc độ khá nhanh

Hội đua ghe ngo diễn ra sau ngày lễ cúng

trăng, hằng năm được tổ chức rất sôi nổi

trên sông Maspéro (Sóc Trăng) Những

năm gần đây có nhiều địa phương đến

tham gia như Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà

Mau, Kiên Giang

Lễ hội gắn liền với môn thể thao truyền

thống này đang phát triển mạnh mẽ, trở

thành sự kiện văn hoá truyền thống lớn

ở Việt Nam

Ngoài ra, các công trình kiến trúc độc đáo

khác như: Chùa Xiêm Cán, Thành Hoàng

Cổ Miếu, … các làng nghề thủ công, tiểu

thủ công mỹ nghệ, lễ hội truyền thống và

văn hóa ẩm thực nổi tiếng càng làm tăng

thêm sự hấp dẫn cho khách tham quan du

lich trong và ngoài nước đến với Bạc Liêu

IV DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG TỈNH BẠC LIÊU

1 Diễn biến môi trường nước

a Diễn biến môi trường nước

*Tài nguyên nước trên mặt lục địa

Tỉnh Bạc Liêu có hệ thống kênh rạch

chằng chịt như: kênh Quản Lộ - Phụng

Hiệp, kênh Canh Đền, kênh Cà Mau –

Bạc Liêu Nguồn nước cung cấp chủ yếu

cho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh

Tỉnh có các con kênh lớn dẫn nước ngọt

từ sông Hậu về, cung cấp chủ yếu cho

sinh hoạt và sản xuất ở khu vực phía Bắc

quốc lộ 1A Đặc biệt là vào mùa mưa lũ,

nước từ vùng ngập lũ đổ về từ sông Hậu

mang một lượng lớn nước ngọt, đẩy lùi

xâm nhập mặn - một yếu tố thuận lợi

cho các hoạt động kinh tế, nhất là sản

xuất nông nghiệp và nuuôi trồng thủy sản

nước ngọt của tỉnh

Chế độ thủy văn của tỉnh chịu ảnh hưởng

của chế độ bán nhật triều biển Đông và

một phần nhật triều biển Tây Do đó,

phần phía Bắc quốc lộ 1A có điều kiện

nuôi trồng thủy sản, làm muối và phát

triển rừng ngập mặn

Hiện nay, nguồn nước trên mặt của Bạc

Liêu đang có nguy cơ bị ô nhiễm do nuôi

trồng thủy sản quá mức và sử dụng hoá

chất trong sản xuất nông nghiệp, cùng

với sự biến đổi của khí hậu, hạn hán

ngày càng gay gắt dẫn đến tình trạng

Trang 15

tác động trực tiếp đến các hệ sinh thái

Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ

trong khu dân cư và khu đô thị nên không

còn đủ diện tích cho đầu tư xây dựng hệ

thống xử lí nước thải Ngoài ra, các cơ

sở này hiện nay chỉ có các trang thiết bị,

máy móc cũ kĩ, công nghệ sản xuất lạc

hậu không đảm bảo các yêu cầu về bảo

vệ môi trường trong quá trình sản xuất,

làm phát sinh chất thải với nồng độ và tải

lượng ô nhiễm lớn hơn gấp nhiều lần so

với tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi

trường Đây là một trong những nhân tố

góp phần gây ô nhiễm môi trường nước

nói chung và tại các khu đô thị nói riêng,

vì thế cần có các biện pháp xử lí triệt để

các nguồn ô nhiễm này

• Nước thải công nghiệp

Theo quy hoạch phát triển ngành công

nghiệp của tỉnh đến năm 2010 sẽ tập

trung đầu tư xây dựng khu công nghiệp

với tổng diện tích khoảng 66 ha

Đến năm 2020, các khu và cụm công

nghiệp sẽ được mở rộng quy mô sản

xuất, các nhà máy, xí nghiệp ngày càng nhiều Do vậy, nếu không có biện pháp quản lí, xử lí hợp lí thì đây sẽ là một trong những nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng làm suy giảm chất lượng nước mặt của các sông rạch trên địa bàn

Tuy trong tương lai, tất cả các khu công nghiệp và cụm công nghiệp đều phải

có hệ thống xử lí nước thải trước khi

xả ra môi trường, nhưng thông thường phần lớn các doanh nghiệp chỉ nghĩ đến lợi nhuận, nếu các cơ quan chức năng không giám sát nghiêm ngặt thì tình hình xả nước thải không qua xử lí

ra môi trường có thể sẽ xảy ra Khi đó, môi trường tỉnh Bạc Liêu phải tiếp nhận toàn bộ lượng chất ô nhiễm và hậu quả

sẽ không thể lường trước được

Trong định hướng phát triển của tỉnh, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi gia súc gia cầm và các làng nghề cũng là lĩnh vực được chú trọng phát triển Tuy có chiến lược phát triển nhưng tình trạng đào ao nuôi tôm, nuôi cá, hoặc nuôi trồng thủy sản một cách tự phát, tình trạng các làng

nghề nhỏ lẻ vẫn chưa có các biện pháp

xử lí nước thải, chất thải sẽ không tránh khỏi việc góp phần làm gia tăng nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước mặt

• Dự báo nước thải y tếTheo số liệu thống kê (trong nước và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á), lượng nước thải bình quân tại các bệnh viện, các trạm y tế là 425 lít/giường.ngày

Trong khi đó, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 thì số lượng giường bệnh của tỉnh Bạc Liêu sẽ tăng lên khoảng 3.250 giường và đến năm 2020 là 4.000 giường bệnh Như vậy, khối lượng nước thải y tế bình quân thải ra môi trường sẽ đạt khoảng 1.381,25 m3/ngày vào năm

2010 và 1.700 m3/ngày vào năm 2020

Nước thải y tế thường chứa các loại hóa chất có trong thuốc, các dung dịch y tế

dư thừa và đặc biệt là chứa lượng vi sinh rất lớn Sau một thời gian, các chất này nhất là thuốc kháng sinh đi vào cơ thể con người làm tích tụ các chất kháng sinh trong cơ thể con người, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người

Như đã nhận định ở trên, nước thải tại

các bệnh viện lớn của tỉnh tuy đã qua

hệ thống xử lý nhưng vẫn chưa đạt tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi trường

Do đó, trong tương lai nếu như tình hình này vẫn tiếp diễn và nước thải từ các bệnh viện khác không được xử lí triệt

để sẽ làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường do nước và rác thải y tế

• Dự báo tải lượng nước thải từ các hoạt động du lịch, dịch vụ

Trong năm 2009, tổng lượng khách du lịch của tỉnh Bạc Liêu đạt 350.000 lượt du khách và có tổng lượng nước thải ước tính sinh ra mỗi ngày là 63.000 m3 Số liệu này có được dựa vào tính toán với giả thiết lưu lượng nước thải ra bình quân đối với khách du lịch là 180 lít/ngày.người (Nguồn: Tính toán thiết kế các công trình

xử lý nước thải, Trịnh Xuân Lai)

Theo dự đoán lượng khách sẽ tới tham quan, du lịch trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu vào năm 2010 là 406.000 lượt người, tăng lên 730.000 lượt người vào năm

2015 và 1.055.000 lượt người vào năm

2020 Như vậy theo tính toán sơ bộ, lượng nước thải do hoạt động du lịch thải

Tổng lượng nước thải (m3/ngày) 63.000 73.080 189.900

(Nguồn: Sở Tài nguyện và Môi trường Bạc Liêu, 2010)

*Dự báo diễn biến môi trường nước trên mặt

Như đã tính toán ở trên, trong tương lai, các nhánh kênh rạch trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu sẽ phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải phát sinh từ quá trình phát

triển kinh tế xã hội Đây là một trong những nguyên nhân chính gây nên vấn

đề ô nhiễm nguồn nước của các kênh đào, sông rạch trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu trong khi khả năng tự làm sạch của nguồn nước lại có giới hạn

• Nước thải đô thị

Chỉ tính riêng nước thải sinh hoạt đô thị, đến

năm 2008 tại các đô thị lên 21.695 m3/ngày

và đến năm 2020 lượng nước thải sinh hoạt

thải trực tiếp vào môi trường khoảng 26.112

m3/ngày, cao gấp 1,2 lần so với năm 2008

Trong đó, thành phố Bạc Liêu là khu vực có

lượng nước thải sinh hoạt thải trực tiếp vào

môi trường nhiều nhất

Với lượng nước thải lớn như vậy nếu

không có biện pháp thu gom xử lí triệt để

Bảng 9 Lượng nước thải phát sinh tại các đô thị tỉnh Bạc Liêu vào năm 2008,

2009 và dự báo vào năm 2020

(Nguồn: Sở Tài nguyện và Môi trường Bạc Liêu, 2010).

sẽ là nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm chất lượng nước trên mặt, nước ngầm và tác động đến các hệ sinh thái xung quanh

Qua kết quả dự báo, khối lượng các chất

ô nhiễm trong nước thải đô thị của TP

Bạc Liêu và các thị trấn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu thải ra môi trường là khá lớn

Nếu không được thu gom và xử lí trước khi thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng tới môi trường, làm ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước mặt, nước ngầm và

Trang 16

Trong hiện tại, ngành nuôi trồng thủy

hải sản là loại hình sản xuất đang phát

triển mạnh mẽ trong tỉnh, thế nhưng các

giải pháp về xử lí nguồn nước thải, bùn

thải chưa phù hợp Theo quy hoạch đến

năm 2010 thì ngành nuôi trồng thủy sản

là một trong những ngành mũi nhọn của

tỉnh Vì thế, các vấn đề sử dụng không

gian nuôi, xử lí chất thải cần phải được

chính quyền địa phương quan tâm xem

xét vì đây chính là nguồn ô nhiễm trực

tiếp đến môi trường nước mặt của tỉnh

Tuy nhiên, cũng theo quy hoạch phát

triển trong tương lai thì hình thức nuôi

thủy sản sẽ phát triển theo hướng hiệu

quả, bền vững, đảm bảo kiểm soát dịch

bệnh, ô nhiễm nguồn nước Do đó có thể

nghĩ rằng sự tác động của các chất bẩn

trong ao nuôi sẽ không làm ảnh hưởng

nghiêm trọng đến môi trường nước mặt

Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển

vượt bậc, điều này cũng đồng nghĩa

với sự gia tăng lượng chất thải vào môi

trường, làm tốc độ ô nhiễm môi trường

nước mặt sẽ diễn ra nhanh hơn Theo

ước tính năm 2010 lượng chất thải phát

sinh hàng ngày khoảng 2.188.250 kg/

ngày, và vào năm 2020 là 3.431.675 kg/ngày

Ngoài những nguồn ô nhiễm do phân,

rác, nước thải sinh hoạt, sản xuất, chất

thải chăn nuôi thì nguồn nước mặt tại

Bạc Liêu đã, đang và sẽ bị tác động bởi

chất thải từ các chợ, chất thải từ các

cơ sở sản xuất công nghiệp, phân bón,

thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông

nghiệp Đáng chú ý là tình trạng người

dân vứt chai, lọ chứa thuốc bảo vệ thực vật

xuống kênh rạch, hóa chất này sẽ xâm nhập

vào dòng nước làm nguồn nước bị ô nhiễm

Với những quy hoạch phát triển và các

dự báo trên, tỉnh cần xây dựng báo cáo

môi trường chiến lược, xây dựng các

chương trình hành động để tạo sự phát

triển bền vững Cần tăng cường công

tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa

học kĩ thuật trong công tác bảo vệ môi

trường như: sản xuất sạch hơn, các công

nghệ xử lí nước thải và chất thải rắn, an

toàn sinh học…góp phần giảm ô nhiễm

nguồn nước mặt nói riêng và các thành

phần của môi trường nói chung

suất nước là vấn đề chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai Như thế sẽ rất nguy hiểm

vì điều này sẽ dẫn đến tình hình lớp đất ngầm sẽ trở nên rỗng và dễ sụt lún Khi

đó nguồn nước mặt từ các cửa biển sẽ xâm nhập vào các mạch nước ngầm

Bên cạnh đó, việc nuôi thủy sản tại các

ao, đầm dễ dẫn đến tình trạng đất bị phèn hóa, nhất là tại các ao đầm nuôi tôm Nếu việc vệ sinh cải tạo môi trường không thực hiện tốt sẽ làm môi trường đất bị nhiễm phèn dẫn đến tình trạng nguồn nước ngầm tại khu vực đó cũng

bị ảnh hưởng Tuy nhiên, theo quy hoạch đến năm 2010, việc nuôi thủy sản sẽ được kết hợp với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp khác theo hướng có lợi cho môi trường nên dự đoán môi trường nước ngầm sẽ không bị ảnh hưởng nhiều

do hoạt động nuôi thủy sản

Hiện nay, nguồn nước ngầm ở tầng gần mặt đất trên địa bàn tỉnh đang có dấu hiệu bị ô nhiễm vi sinh tại một số khu vực Các giá trị đo được cho thấy tổng Coliform trong môi trường nước ngầm tại một số nới cao gấp 1.533 lần nồng

độ cho phép và một số nơi khác có giá trị vượt tiêu chuẩn cho phép Điều này cho thấy, nguồn nước ngầm của tỉnh đã

bị ảnh hưởng bởi nước thải, đặc biệt là chất thải chăn nuôi, chất thải từ sinh hoạt của con người

Dự kiến số lượng vật nuôi sẽ tăng mạnh trong những năm tới, điều này đồng nghĩa với lượng chất thải chăn nuôi sẽ gia tăng Nếu việc quản lý lượng chất thải này không thì trong tương lai, nguồn nước ngầm của tỉnh sẽ tiếp tục bị ô nhiễm

vi sinh và có thể mức độ ô nhiễm sẽ càng nghiêm trọng hơn so với hiện nay

Bên cạnh đó, việc ô nhiễm Arsen trong nước ngầm cũng rất quan trọng gây ảnh hưởng đến môi trường và đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân nếu sử dụng mà không xử lí Cùng với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, lượng nước thải vào môi trường ngày càng nhiều, lượng nước thải nếu không được thu gom triệt để sẽ chảy tràn ra môi trường đất, thấm xuống mạch nước ngầm, từ đó làm gia tăng hàm lượng các

*Dự báo phát triển liên quan đến môi trường nước dưới đất

Theo dự báo đến năm 2015 thì nhu cầu dùng nước trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong sinh hoạt tại các vùng nông thôn sẽ gia tăng Một phần là do ảnh hưởng của thời tiết khí hậu trong khu vực, theo dự đoán của các chuyên gia trên thế giới cho biết nhiệt độ môi trường

sẽ ngày càng tăng Một phần là do sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế kéo theo các cơ sở sản xuất trong các vùng nông thôn cũng gia tăng theo

Dựa vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu trong giai đoạn 2010 - 2020, nhu cầu cấp nước sạch của tỉnh được xác định từ chỉ tiêu cấp nước trung bình của một người dân

Với định mức sử dụng nước là 80 lít/

người.ngày thì theo tính toán, nhu cầu sử dụng nước phục vụ mục đích sinh hoạt của người dân nông thôn vào năm 2020

sẽ là 50.882 m3/ngày Ngoài ra, nhu cầu dùng nước cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông - lâm nghiệp - nuôi trồng thủy sản cũng rất cần thiết và với một lượng nước không nhỏ Với nhu cầu dùng nước lớn như vậy, nhưng nguồn nước sông của tỉnh lại đang bị đe dọa do ảnh hưởng

từ hoạt động của người dân nên gây hạn chế cho việc khai thác để cấp nước cho sinh hoạt của người dân Do đó, trong hiện tại và tương lai gần nhất, người dân vẫn phải sử dụng nguồn nước ngầm làm nguồn nước cấp chính

Các khu công nghiệp trọng điểm cũng có các dự án khai thác nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, các ban ngành cần chú trọng đến công tác giám sát hoạt động khai thác nguồn nước của các cơ

sở sản xuất này

Hiện nay, tại khu vực nông thôn, hầu như người dân đều tự khai thác nguồn nước ngầm để sử dụng Tuy nhiên, việc khai thác này vẫn chưa được quản lí chặt chẽ, dẫn đến mực nước ngầm dễ bị suy giảm

Trong tương lai, số lượng giếng khoan phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất tại các vùng nông thôn sẽ càng tăng do nhu cầu của người dân tăng và vấn đề tụt áp

chất ô nhiễm trong nước, nhất là có thể làm gia tăng nồng độ Arsen có trong môi trường nước

2 Diễn biến môi trường không khí

Môi trường không khí mang tính chất toàn cầu chứ không riêng của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nào, mức độ tác động của ô nhiễm không khí ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn Cho nên, mọi quốc gia trên thế giới đã và đang tìm cách giảm thiểu nguồn phát thải gây ô nhiễm không khí để vấn đề ô nhiễm không khí không còn là gánh nặng cho đời sống nhân sinh

Thực tế hiện nay, ô nhiễm không khí đang là vấn đề nóng bỏng của cả thế giới, chất lượng không khí đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng

Chất lượng không khí xung quanh trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu hiện chưa có dấu hiệu ô nhiễm các chất độc hại như SO2,

NO2, CO Tuy nhiên, chất lượng không khí tại các cơ sở sản xuất cũng như các làng nghề thủ công nằm bên ngoài khu công nghiệp một vài nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm từ nhiều năm nay và đến nay vẫn chưa được cải thiện

a Các nguồn gây ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí là một vấn đề bức xúc đối với đô thị, khu công nghiệp và một số làng nghề trong tỉnh Hiện tại ở Bạc Liêu

có hai nguồn gây ô nhiễm không khí là nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo:

+ Nguồn tự nhiên do các hiện tượng thiên nhiên như cháy rừng, bão lụt + Nguồn nhân tạo chủ yếu là do các hoạt động sản xuất công nghiệp, các phương tiện giao thông vận tải và sinh hoạt của con người

Trang 17

*Ô nhiễm không khí do các hoạt động sản

xuất công nghiệp

Các khu, cụm công nghiệp: Khu công

nghiệp Trà Kha đang trong quá trình

xây dựng với đặc trưng ngành nghề

sản xuất như: chế biến thuỷ hải sản,

thức ăn thuỷ sản, chế biến nông sản,

sản xuất bia, sản xuất vật liêu ngành

viễn thông Nên một số chất ô nhiễm

không khí từ một số loại hình sản xuất

trong khu công nghiệp là: Bụi, CO, SO2,

NOx, H2S, NH3, mùi hôi thối

Tuy một số nhà máy lớn của tỉnh đã được

quy hoạch vào các khu công nghiệp và

có đầu tư hệ thống xử lí khí thải nhưng

hiện nay vẫn chưa xử lí triệt để các khí

thải độc hại nên vẫn gây ra ô nhiễm môi

trường không khí xung quanh

Theo quy hoạch, Bạc Liêu có khoảng 13

cụm công nghiệp - tiểu thu công nghiệp

và một số làng nghề như: đan đát, đan

mê bồ, cần xé, rổ, đan lưới, làm nước

mắm, nước tương, dệt vải, đóng ghe

xuồng,… Các cụm công nghiệp và làng

nghề thủ công cũng là các nguồn gây ô

nhiễm môi trường không khí cục bộ

• Các bãi rác

Tỉnh Bạc Liêu có hai bãi rác lớn là bãi rác

thành phố Bạc Liêu, bãi rác huyện Vĩnh

Lợi, và một số bãi rác nhỏ khác Một số bãi

rác này đang xây dựng chưa hoàn chỉnh

mà phải tiếp nhận lượng rác thải quá tải từ

khu công nghiệp, cụm công nghiệp và thị

trấn hoặc đã xây dựng hoàn chỉnh nhưng

chưa thực hiện đúng quy trình và kĩ thuật

chôn lấp rác nên phát sinh ra mùi hôi thối

do rác phân hủy tạo ra các khí như H2S,

CH4, NH3…gây ô nhiễm môi trường Nếu

không có biện pháp bảo vệ môi trường

hợp lí thì đây cũng là nguồn ô nhiễm không

khí đáng kể

*Ô nhiễm không khí do các hoạt động

giao thông vận tải

Trong thời gian qua, số lượng và mật độ

các loại phương tiện giao thông vận tải

tăng nhanh Khí thải, bụi từ phương tiện

giao thông vận tải là một nguồn ô nhiễm

không khí, đặc biệt đối với môi trường

không khí khu đô thị, nhất là ở các điểm

nút giao thông lớn trong tỉnh

Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở khu đô thị do các phương tiện giao thông vận tải gây ra chiếm tỉ lệ khoảng 70% Hoạt động giao thông vận tải là nguồn thải chủ yếu gây

ra ô nhiễm môi trường từ các chất độc hại: bụi, SO2, NOx, hơi xăng,

*Ô nhiễm không khí do các hoạt động xây dựng

Quá trình đô thị hoá đang diễn ra với tốc

độ rất nhanh ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh với các hoạt động xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống Các hoạt động xây dựng đô thị gây ô nhiễm bụi trầm trọng đối với môi trường không khí xung quanh: công tác đào đất, san lấp mặt bằng, vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng sẽ làm phát sinh bụi do vật liệu xây dựng rơi vãi

Việc xây dựng đô thị, cơ sở hạ tầng còn phát sinh khí thải do hoạt động của các máy móc thiết bị hoạt động trên công trường:

SO2, NOx, CO, …làm ảnh hưởng đến chất lượng không khí khu vực xung quanh

*Ô nhiễm không khí do hoạt động sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp

Hoạt động của các hộ gia đình như đun nấu bằng than, dầu, củi cũng góp phần gây ô nhiễm không khí mặc dù không lớn

so với các nguồn khác Các chất ô nhiễm chính là bụi và khói muội than, CO

Hiện nay, đời sống của người dân ngày càng cải thiện, mức thu nhập tăng, nhiều gia đình đã sử dụng điện hoặc bếp gas cho việc nấu ăn hằng ngày Tuy nhiên, nếu không có biện pháp tốt thì lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường không khí

do hoạt động đun nấu từ các khu vực dân cư đông đúc cũng đáng kể, đặc biệt

là khu dân cư nghèo có mức độ phát thải khí ô nhiễm cao hơn hẳn những khu khác, ước tính lớn gấp 10 lần so với các khu dân cư có mức sống cao

Bạc Liêu là vùng đất nông nghiệp, người dân chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng nên các hoạt động phun xịt thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, lượng phân bón

dư thừa cũng làm phát sinh các khí gây

ô nhiễm: các chất hữu cơ bay hơi Việc

đốt rơm rạ sau khi thu hoạch cũng làm một lượng lớn các khí CO, CO2, NOx, bụi, muội than vào không khí xung quanh, gây ô nhiễm cục bộ trong khu vực

b Diễn biến ô nhiễm môi trường không khí

Ô nhiễm không khí trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu mang tính cục bộ, xảy ra tại một số khu vực đặc trưng bị ảnh hưởng bởi các chất và khí thải từ các hoạt động giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt của dân cư

*Chất lượng không khí đô thị

Nhìn chung chất lượng môi trường không khí trong các đô thị tại tỉnh Bạc Liêu khá tốt, chỉ có một số nơi chỉ số chất lượng không khí vượt ngưỡng 01 trong năm

2007, còn ở các năm khác thì chất lượng không khí khá tốt

Mặc dù chỉ số vượt ngưỡng 01 nhưng vượt rất thấp, cùng với môi trường bị

ô nhiễm bụi và tiếng ồn nhẹ ở các trục đường giao thông nên môi trường không khí trong những năm 2006 - 2010 tác động không đáng kể đến đời sống, sinh hoạt của người dân trong tỉnh

*Chất lượng không khí tại các huyện

Chất lượng không khí ở các khu vực xung quanh các thị trấn ở các huyện đều

có chất lượng khá tốt, tất cả các vị trị quan trắc đều cho thấy kết quả là chỉ số chất lượng không khí nhỏ hơn 01

*Chất lượng không khí tại cơ sở sản xuất

Tại hầu hết các cơ sở sản xuất, chất lượng không khí tương đối tốt Bên cạnh

đó, theo thống kê vào năm 2006 tại một

số nơi còn ô nhiễm H2S nhưng với nồng

độ không quá lớn, nguyên nhân của hiện tượng này là do năm 2006 lượng vỏ đầu tôm bán đi không nhiều gây một lượng lớn vỏ đầu tôm của các cơ sở chế biến

để tồn đọng và phân huỷ gây ra nồng

độ H2S tăng lên vượt mức tiêu chuẩn và đến các năm về sau thì lượng chất thải này đã được thu mua toàn bộ, nên hiện tượng này không còn xảy ra nữa

*Chất lượng không khí tại các cơ sở y tế

Chất lượng không khí tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đều khá tốt, tất cả các chỉ tiêu quan trắc theo các năm đều đạt quy chuẩn cho phép

c Dự báo phát triển liên quan đến môi trường không khí

Hiện tại, hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh Bạc Liêu chưa gây ảnh hưởng ô nhiễm nhiều đến chất lượng môi trường toàn vùng

Sự ô nhiễm chỉ xảy ra cục bộ tại một số khu vực về các chỉ tiêu bụi và tiếng ồn Các khu vực ô nhiễm chủ yếu là tại các tuyến giao thông chính của tỉnh và tại khu vực xung quanh các cơ sở vật liệu xây dựng, pha trộn nhựa đường

*Dự báo diễn biến ô nhiễm không khí do khí thải giao thông vận tải

Tỉnh Bạc Liêu có 04 tuyến lộ đi qua

đã và đang được xây dựng với chiều dài trên 133 km và cùng với các tuyến tỉnh lộ, huyện lộ đang ngày càng được hoàn thiện, điều này sẽ giúp cho giao thông đường độ ở trong tỉnh sẽ ngày càng thuận lợi hơn mà đặc biệt là giao thông nông thôn sẽ ngày càng dễ dàng

và thuận tiện hơn như các tuyến đường Hồng Dân, Phước Long, Gành Hào.Doanh thu dịch vụ vận tải trung bình trong các năm qua (từ năm 2000 - 2008) vào khoảng 37% và dự kiến đến năm 2020 là 38%/năm Do đó, tổng áp lực khí thải giao thông vận tải trong các vùng nông thôn của tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 dự báo

sẽ tăng khoảng 05 lần so với năm 2005

Do vậy, tương tự như vùng đô thị thì các vùng nông thôn của tỉnh cũng sẽ chịu ảnh hưởng phổ biến ô nhiễm trên diện rộng do khí thải giao thông vận tải của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Vì vậy, tỉnh Bạc Liêu sẽ định hướng thực hiện chương trình bảo vệ môi trường trọng điểm đến năm 2020 cho khu vực nông thôn của tỉnh

Trang 18

*Dự báo diễn biến ô nhiễm do khí thải

sinh hoạt

Tổng dân số tại tỉnh Bạc Liêu vào năm

2009 là 856.250 người và năm 2020 là

941.019 người (tỉ lệ tăng trung bình hằng

Kết quả dự báo tổng tải lượng ô nhiễm

do khí thải sinh hoạt của tỉnh Bạc Liêu

năm 2010 như sau:khoảng 10,0 tấn bụi;

27,4 tấn SO2; 16,3 tấn NOx; 38,5 tấn CO;

19,1 tấn THC, nếu như không xảy ra thay

đổi lớn về cơ cấu sử dụng năng lượng

trong dân cư nông thôn thì đến năm 2020

sẽ là: khoảng 10,9 tấn bụi; 29,8 tấn SO2;

17,8 tấn NOx; 41,9 tấn CO; 20,8 tấn THC

3 Môi trường đất

a Các nguồn gây ô nhiễm và suy thoái đất

Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm

theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo

các tác nhân gây ô nhiễm Nếu dựa theo

nguồn gốc phát sinh, có thể phân thành

các loại sau:

• Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt

• Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp

• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp

Tuy nhiên, môi trường đất có những đặc

thù và một số tác nhân gây ô nhiễm có

thể cùng một nguồn gốc nhưng lại gây

tác động bất lợi rất khác biệt

Do đó, chúng ta có thể phân loại ô nhiễm

đất trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu theo các

tác nhân gây ô nhiễm như sau:

• Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học:

Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân

bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ,

DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ v.v.),

năm vào khoảng 0,9%)

Dựa trên các hệ số ô nhiễm, có thể ước tính tổng tải lượng ô nhiễm do khí thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu vào những năm 2010 và 2020 như sau:

chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit v.v )

• Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh trùng (giun, sán v.v ) Tại Bạc Liêu có nhiều bãi rác đổ lộ thiên không hợp vệ sinh, không được quản lý, đây cũng là một nguồn gây ô nhiễm không những cho môi trường đất mà còn cả không khí, nước mặt, thậm chí cả nước ngầm

• Ô nhiễm đất do tác nhân vật lí: Nhiệt

độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, 90Sr, 131I, 137Cs)

• Nhiễm phèn: Những trận mưa đầu mùa thường thường sự chảy tràn lớn xuống các dòng sông rạch và kênh mương cuốn theo rác rến, các độc chất trong đất gây ô nhiễm Ở các vùng đất có

sự hiện diện của phèn tiềm tàng (lớp pyrite), do mùa khô kéo dài, đất nứt nẻ, mực nước ngầm hạ thấp tạo điều kiện thuận lợi cho phèn tiềm tàng trở thành phèn hoạt động (dạng jarosite) Nước mưa đầu mưa hòa tan phèn làm độ pH của nước hạ thấp

• Xâm nhập mặn: Do điều kiện thời tiết bất thường và thiếu nguồn nước ngọt làm tăng xâm nhập mặn vào hệ thống kênh rạch vào mùa khô

Xâm nhập mặn làm ảnh hưởng đến trồng trọt (đặc biệt là trồng lúa nước), nuôi trồng

Hình 11 Xâm nhập mặn đất trồng lúa do hạn hán (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2007).

Bảng 11 Dự báo tổng tải lượng ô nhiễm do khí thải sinh hoạt tỉnh Bạc Liêu vào năm 2010 và

2020 (Đơn vị: tấn/năm)

(Nguồn: Sở Tài nguyện và Môi trường Bạc Liêu, 2010).

thuỷ hải sản cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi lượng muối tăng lên quá cao Xâm nhập mặn là tích luỹ lượng muối trong đất và gây ảnh hưởng trong thời gian dài cho các sinh vật sống trong đất

Chất ô nhiễm xâm nhập vào đất bằng nhiều con đường khác nhau như lắng đọng từ khí quyển, theo nước ngấm vào đất, hoặc do con người thải bỏ vào môi trường đất,…

Khác với môi trường không khí và môi trường nước, hầu hết các chất gây ô nhiễm khi thấm vào môi trường đất sẽ bị lưu giữ lại Do đó, nếu thành phần chất gây ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô nhiễm cho đất cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức

b Hiện tượng suy thoái và ô nhiễm môi trường đất

Nguồn tài nguyên đất của tỉnh thì phèn và mặn là hai yếu tố tồn tại gây ảnh hưởng chủ yếu đến việc sử dụng đất Đồng thời

do quá trình phát triển kinh tế - xã hội

đã thúc đẩy nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng tăng cao, trong đó có nhu cầu về lương thực thực phẩm

Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, người dân đã không ngừng đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên đất Bên cạnh đó, với việc độc canh cây lúa đã tạo khe hở sinh thái làm cho dịch bệnh bùng phát gây

ảnh đến quá trình canh tác của người dân Vì muốn loại trừ nhanh dịch bệnh

và mang lại hiệu quả ngay, người dân có thói quen sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học trong hoạt động sản xuất, canh tác của mình Đồng thời làm phát tán một phần dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu vào môi trường đất, nước và tích lũy trong sinh vật gây

ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân

Trang 19

khu vực nuôi trồng thủy sản không có xử

lí nước thải mà đổ trực tiếp xuống các kênh rạch, sông ngòi gây ô nhiễm môi trường nước

Ô nhiễm môi trường nước còn do thiếu nguồn nước ngọt, sạch trong giai đoạn mùa khô (mà nguồn nước này lấy từ sông Hậu là chủ yếu) phục vụ nuôi tôm, sản xuất nông nghiệp trong vùng Mùa khô kéo dài nên quá trình xâm nhập mặn ngày càng diễn biến phức tạp, tác động vào đời sống sinh hoạt, canh tác nông nghiệp, cấp nước uống và công nghiệp

Ô nhiễm do chất thải nông nghiệp trong vùng sản xuất lúa phía Bắc quốc lộ 1A cũng như những diện tích phía thượng nguồn của tỉnh Sóc Trăng, Hậu Giang và Cần Thơ đổ về (nước chua từ các diện tích đất phèn được cải tạo và canh tác thải xuống, các loại phân bón, các chất hữu cơ, ) Đặc biệt là vào mùa khô do thiếu nguồn nước ngọt từ sông Hậu đổ

về, nước mặn từ biển Tây và biển Đông xâm nhập sâu vào các kênh nội đồng, sự xâm nhập mặn diễn ra phức tạp do hệ thống sông ngòi chằng chịch ảnh hưởng đến canh tác nông nghiệp, đặc biệt trong sản xuất lúa trên đất nuôi tôm

Hiện nay quá trình chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp không theo quy hoạch như chuyển diện tích đất trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản mang tính tự phát, theo kiểu “mạnh ai nấy làm”

Để kinh tế phát triển, môi trường bền vững thì trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn cần

có quy hoạch cụ thể, bố trí ngành nghề sản xuất phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng khu vực, phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo vệ môi trường

b Ô nhiễm và suy thoái đất

Tình hình suy thoái và ô nhiễm đất tại Bạc Liêu chủ yếu do các quá trình phèn hóa, mặn hóa và sử dụng hóa chất nông nghiệp

• Quá trình phèn hóa: Toàn tỉnh Bạc Liêu

hoạt động bị thủy phân Tính chất của

đất phèn sẽ thay đổi và có ảnh hưởng

nhất định đến môi trường, hệ sinh thái

tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên và các

tác động của con người

*Quá trình mặn hoá

Quá trình mặn hoá nguồn tài nguyên đất

chủ yếu do các nguyên nhân sau:

+ Do tác động của thủy triều: Khi triều

cường, nước biển xâm nhập sâu vào nội

địa gây mặn hoá, nhất là các vùng ven biển

+ Hoạt động canh tác không hợp lí như

dẫn nước mặn vào đất nông nghiệp để

nuôi tôm làm phá vở cấu trúc của đất

và gây suy thoái nguồn tài nguyên đất

+ Các hoạt động khai thác nước ngầm

không theo qui hoạch, quá mức giới

hạn cho phép làm cho mực nước

ngầm hạ xuồng thấp hơn mức cân

bằng tạo điều kiện cho nước mặn xâm

nhập vào

+ Mùa khô kéo dài làm cho quá trình bốc

mặn, bốc phèn xảy ra mạnh

Nhìn chung nguồn tài nguyên đất của

tỉnh đã và đang chịu tác động của quá

trình phèn hóa, mặn hóa Tuy nhiên, quá

trình này đã được hạn chế bởi hệ thống

cống dọc theo Quốc lộ 1A cũng như các

biện pháp canh tác, thủy lợi hợp lí để

hạn chế và cải tạo nguồn tài nguyên đất

nhằm phục vụ tốt cho các hoạt động sản

xuất, canh tác của người dân Song cũng

cần phải có biện pháp xử lí và khắc phục

kịp thời nhằm bảo vệ sự cân bằng môi

trường sinh thái

4 Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi

môi trường

Môi trường tỉnh Bạc Liêu bị biến khi các

thành phần của môi trường bị ô nhiễm và

suy thoái, nguyên nhân chủ yếu là do tác

động của con người thông qua các hoạt

động kinh tế và sinh hoạt đời sống xã hội

hằng ngày Mặt khác, sự gia tăng dân số

động như xây dựng mở rộng các hệ thống thủy lợi (đào kênh mương thiếu quy hoạch làm tầng sinh phèn bị tác động gây nên sự phèn hóa làm cho đất

từ chỗ không có tầng phèn nay đã xuất hiện tầng phèn) Do đào ao, mương nuôi tôm trên các tầng phèn của người dân địa phương một cách tự phát không theo quy hoạch

• Quá trình mặn hoá: Quá trình mặn hoá nguồn tài nguyên đất chủ yếu xuất phát

từ các nguyên nhân sau: do hoạt động của thủy triều (chế độ triều của biển Tây và chế độ bán nhất triều của biển Đông), khi triều cường làm cho nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng gây mặn hoá nhất là các vùng ven biển; Hoạt động canh tác không hợp lí như dẫn nước mặn vào đất nông nghiệp để nuôi tôm làm phá vỡ cấu trúc của đất

và gây suy thoái nguồn tài nguyên đất; Các hoạt động khai thác nước ngầm không theo quy hoạch, quá mức giới hạn cho phép làm cho mực nước ngầm

hạ xuống thấp hơn mức cân bằng tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập vào gây mặn hoá nguồn nước ngầm và suy thoái nguồn tài nguyên đất

• Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật: Từ khi vùng ngọt hoá được hình thành và đưa vào quy hoạch khai thác sử dụng cho đến nay, hoạt động thâm canh tăng vụ ngày càng nhân rộng từ 01

vụ lên 02 đến 03 vụ trong năm Đồng thời với việc lạm dụng hoá chất bảo

vệ thực vật, phân bón trong canh tác làm phát tán một lượng hoá chất bảo

vê thực vật tồn lưu trong môi trường đất gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống sinh vật và môi trường sinh thái

Theo số liệu thống kê của ngành chức năng đến ngày 16/12/2005 toàn tỉnh đã

sử dụng khoảng 14.638,85 tấn phân bón các loại (giảm 1,49 lần so với năm 2004)

và 14,62 tấn thuốc bảo vệ thực vật (giảm 2,96 lần so với năm 2004) Tuy nhiên, thực tế tình hình sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh còn nhiều hơn so với con số trên

và quá trình đô thị hóa, hậu quả của thiên tai và các cuộc chiến tranh để lại cũng là những nguyên nhân làm cho môi trường tỉnh Bạc Liêu bị biến đổi Cụ thể như sau:

a Ô nhiễm môi trường nước

Các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp xả nước thải vào các nguồn tiếp nhận (nước thải từ sinh hoạt của công nhân, nước thải từ các khâu sản xuất của nhà máy xí nghiệp, nước thải từ các cơ sở sản xuất kinh do-anh tôm giống…) Trong đó, đáng quan tâm nhất là nước thải sinh hoạt và nước thải từ các nhà máy chế biến thủy hải sản đông lạnh xuất khẩu với lưu lượng nước thải rất lớn, không qua xử lí hoặc xử lí không đạt yêu cầu, được thải trực tiếp ra kênh rạch gây ô nhiễm môi trường, trực tiếp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng nuôi trồng thủy sản ở vùng nông thôn và sức khỏe của người dân sống xung qua-

nh khu vực này

Nước thải sinh hoạt tại các đô thị và các khu vực dân cư sống tập trung như: chợ, bệnh viện, các tuyến dân cư gần sông, gần đường giao thông, đã và đang thải trực tiếp ra kênh mương và sông ngòi tỉnh Bạc Liêu với một khối lượng nước thải chưa qua xử lí khá lớn Đặc biệt vào mùa khô, lưu lượng nước tại các con sông và các kênh rạch giảm xuống, tốc

độ dòng chảy yếu, khả năng tự làm sạch của sông kém Do đó, hàm lượng các chất ô nhiễm sẽ rất cao, đặc biệt là các kênh rạch chảy qua các vùng tập trung dân đông, các khu chợ, mà điển hình là thành phố Bạc Liêu

Ô nhiễm môi trường nước do việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhiều diện tích trồng lúa kém hiệu quả được chuyển sang nuôi tôm thu lợi nhuận cao, đặc biệt

là nuôi tôm công nghiệp và một số loại hình nuôi trồng thủy sản khác mang tính chất quảng canh

Việc chuyển đổi này diễn ra với tốc độ khá nhanh trong những năm gần đây

đã gây ra những khó khăn về vốn và kĩ thuật nên việc xử lí ô nhiễm chưa được quan tâm đúng mức Do đó, hầu hết các

Trang 20

vật ngoại lai gây hại cũng là những tác nhân gây suy giảm tính đa dạng sinh học Sự tác động liên đới hệ sinh thái trên cạn, hệ thủy sinh và trong lòng đất bởi chất thải công nghiệp, chất thải khai khoáng, phân bón, hóa chất bảo

Rừng ngập mặn vừa là sinh sản vừa là nơi cung cấp thức ăn cho các loài động vật thủy sinh như tôm, cua, cá và các loại động vật hoang dã trong rừng ngập mặn

Việc khai phá rừng bừa bãi làm giảm diện tích rừng ngập mặn sẽ gây tác động, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của các loài trong quần thể sinh vật đó

Việc phá rừng phòng hộ ở các dãi ven biển làm vuông tôm Hoạt động này gây nguy cơ xói lở bờ biển, xâm nhập mặn vào đất liền … cần có biện pháp khai thác sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lí và có khoa học Sự can thiệp cũng như hỗ trợ các cơ quan quản lí Nhà nước

và các cơ quan ban ngành có liên quan chưa được thường xuyên và thiếu chặt chẽ

g Tình trạng xói lở các cửa sông ven biển và bờ biển

Các cửa sông ven biển và bờ biển Bạc Liêu chịu ảnh hưởng của quá trình xói lở, bồi tụ theo mùa: xói lở vào mùa khô, bồi

tụ vào mùa mưa

Xói lở cửa sông ven biển tỉnh Bạc Liêu diễn ra mạnh ở cửa Gành Hào, tốc độ xói trung bình hàng năm khoảng 10 – 15

m, tại khu vực thị trấn Gành Hào tốc độ xói 20 – 25 m/năm, cho đến nay đường

bờ biển đã lùi vào đất liền 300 – 400 m

Quá trình xói lở diễn ra mạnh ở phía bờ Bắc, làm cho cảnh quan rừng ngập mặn ven biển của tỉnh biến đổi theo thời gian

h Nhận thức của người dân

Một bộ phận dân cư chưa ý thức cao trong công tác bảo vệ môi trường, vẫn còn tình trạng thải chất thải bừa bãi gây

c Ô nhiễm môi trường không khí

Tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu vấn đề ô nhiễm

không khí chưa phải là một vấn đề cấp

bách bởi vì chất lượng không khí ở địa

bàn còn khá tốt, song cũng cần quan tâm

đến một số nguồn gây ô nhiễm không khí

như: giao thông, san lắp mặt bằng xây

dựng, cụ thể như sau:

Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu và có lưu

lượng lớn là khí thải từ hoạt động giao

thông đường bộ, đặc biệt là thành phố

Bạc Liêu và các trục đường giao thông

lớn đang được thi công Yếu tố ô nhiễm

chủ yếu hiện nay là bụi bốc lên do chất

lượng đường chưa tốt, một số xe vận

chuyển vật liệu xây dựng như san lấp

chưa thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ

môi trường trên đường vận chuyển dẫn

đến hàm lượng bụi một số nơi cao hơn

tiêu chuẩn quy định

Khi mật độ phương tiện giao thông qua

lại trên các trục đường chính cao thì dẫn

đến hệ quả là tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho

phép, tuy nhiên so với một số đô thị khác

xung quanh thì ô nhiễm giao thông cũng

như tiếng ồn tại các lộ chính trong địa bàn

tỉnh vẫn chưa đến mức nghiêm trọng

d Ô nhiễm do chất thải rắn

Công tác thu gom và xử lí chất thải rắn

hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu,

hiện tại mới chỉ thu gom được khoảng

trên 75% lượng chất thải rắn trên địa bàn

thành phố Bạc liêu và các thị trấn, vẫn

còn một lượng chất thải rắn còn tồn đọng

và vứt bừa bãi ra môi trường xung quanh

gây ô nhiễm môi trường, trong đó nhất là

đối với các vùng nông thôn

Các loại rác sau khi được thu gom,

được vận chuyển đến các bãi rác tập

trung của các địa phương để được chôn

lấp, không tiến hành xử lý đối với chất

thải nguy hại, không phân loại chôn lấp

riêng hoặc tái sử dụng và hầu hết các

bãi chôn lấp đều không đạt tiêu chuẩn

bãi chôn lấp hợp vệ sinh

Hầu hết rác thải sinh hoạt trên địa bàn

sau khi được thu gom đều được mang

đến các bãi rác, nhưng 5/7 bãi rác của

tỉnh chưa thiết kế chôn lấp hợp vệ sinh,

ô nhiễm môi trường làm mất vẻ mỹ quan

đô thị; Một số cơ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các mô hình sản xuất khác,… trong quá trình hoạt động không tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường như: không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, không đầu tư xây dựng hệ thống xử lí giảm thiểu ô nhiễm môi trường, chất thải không qua xử lí thải trực tiếp vào môi trường xung quanh gây

ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân khu vực

V MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHAI THÁC HỢP

LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BảO

VỆ MÔI TRƯỜNG Ở BẠC LIÊU

1 Đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức của người dân

• Tuyên truyền cho mọi người dân về ý nghĩa của môi trường đối với cuộc sống Tác động của con người, đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống trên Trái Đất: tài nguyên thiên nhiên ngày một cạn kiệt, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng đang đe dọa sức khỏe của con người; khí hậu toàn cầu đang thay đổi, hạn hán, lũ lụt,

lỗ thủng tầng ôzôn,… đang là những vấn

đề có tính chất toàn cầu

• Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng và trong nhà trường Giáo dục cho mọi người về trách nhiệm và

ý thức bảo vệ môi trường vì cuộc sống của hành tinh không chỉ cho hôm nay

mà cho cả tương lai Công tác giáo dục bảo vệ môi trường không phụ thuộc vào tôn giáo, dân tộc,… mà phải được thợc hiện đối với mỗi công dân tương lai ngay từ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường và cả ở tuổi trước khi đến trường, qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức giáo dục khác nhau

• Mỗi cá nhân, tập thể cần thực hiện hiêm chỉnh Luật bảo vệ môi trường của Nhà nước đã ban hành Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, mỗi

ng-cho nên phần lớn rác được đổ lộ thiên gây tác động đến môi trường xung qua-

nh bãi rác

Các bãi chôn lấp rác tại Bạc Liêu hiện nay đều nằm xa khu vực dân cư nhưng biện pháp chôn lấp không hợp vệ sinh như: đổ

lộ thiên, không có lớp chống thấm ở dưới đáy, không có hệ thống thu gom và xử lí nước rỉ rác; không có hệ thống thu gom khí, không có lượng đất phủ hàng ngày, không có hàng rào và cây xanh vành đai

Mặt khác, hiện nay trên địa bàn thành phố Bạc Liêu và các thị trấn vẫn chưa có hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lí chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốt trong toàn tỉnh, việc xử lí chất thải rắn chưa đúng kĩ thuật và chưa hợp vệ sinh gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường

Trong tương lai, tổng lượng rác thải toàn tỉnh sẽ tăng lên rất nhiều làm cho các bãi rác sẽ bị quá tải Do đó, ngoài việc quy hoạch xây dựng các bãi rác mới, đồng thời phải quy hoạch hệ thống các trạm trung chuyển rác và đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác thu gom, vận chuyển và

xử lí rác hợp lí

e Sự suy giảm độ đa dạng sinh học, đặc biệt là hệ sinh thái ven biển

Các nguyên nhân chính tác động và tiềm

ẩn nguy cơ gây suy thoái đa dạng sinh học của tỉnh là:

• Áp lực của sự gia tăng dân số, quá trình

đô thị hóa ngày càng tăng nhanh đã và đang tác động làm thu hẹp diện tích các khu hệ sinh thái và đó cũng là nơi lưu trữ tính đa dạng sinh học rất cao

• Các hoạt động chặt, phá rừng bừa bãi, chiếm đất rừng làm ao, đầm nuôi tôm, chuyển đổi phương thức sử dụng đất không theo quy hoạch và các hoạt động khai thác có tính chất hủy diệt của con người đối với nguồn lợi động vật và các yếu tố khác như: ngập lụt, dịch bệnh, săn bắt trái phép … đã và đang tác động làm ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học, trong đó quan trọng nhất là nguồn tài nguyên rừng vì đây là nơi chứa đựng tính đa dạng sinh học rất cao

• Tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường, sự xâm nhập của các loài sinh

Trang 21

b Thay đổi cách tiêu dùng có lợi cho môi trường

• Hạn chế dùng than tổ ong để đun nấu, xây dựng hầm khí Biogaz

• Dùng xăng không pha chì để chạy xe máy, ôtô,…

• Thực hiện tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là năng lượng điện

c Thực hiện chương trình phục hồi và phát triển rừng

• Quản lý tài nguyên rừng hiện có và trồng rừng mới Nâng cao hiệu suất

sử dụng củi đốt Thâm canh cây công nghiệp và tạo thêm việc làm mới để phát triển nông thôn, giảm sức ép của sản xuất nông nghiệp đối với các đất rừng còn lại

• Việc bảo vệ rừng phải đi đôi giữa bảo tồn, phục hồi với trồng rừng và quản lý buôn bán gỗ nhằm phát triển bền vững tài nguyên rừng

• Thành lập các Vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên để bảo vệ rừng

và các loài động, thực vật hoang dã

5 Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

• Đầu tư thực hiện các công trình khoa học nghiên cứu cải tiến công nghệ, thiết bị máy móc trong các cơ sở sản xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất và xử lí các chất thải

• Thay đổi nguồn năng lượng, sử dụng nguồn năng lượng sạch cho các động

cơ ôtô, xe máy và trong sản xuất

• Tăng cường công tác đào tạo các chuyên gia nghiên cứu và các kỹ thuật viên về lĩnh vực bảo vệ môi trường

• Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm

bảo vệ môi trường, có quyền lợi và

trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi

vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường

2 Tăng cường công tác quản lí, tạo cơ

chế pháp lí và chính sách

• Đẩy mạnh hơn nữa công tác quản lí

môi trường bằng pháp luật Chú ý hoàn

thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi

trường, tăng cường thanh tra, kiểm tra,

giám sát công tác bảo vệ môi trường ở

các địa phương

• Kiểm soát và xử lí nghiêm ngặt đối

với các cơ sở phát thải các chất gây ô

nhiễm môi trường

• Thực hiện chương trình phục hồi và

phát triển rừng, phủ xanh đất trống đồi

trọc Phát triển trồng cây xanh trong đô

thị và dọc các tuyến giao thông

• Thực hiện chương trình quốc gia của

Việt Nam về “Biến đổi khí hậu toàn cầu”

và “Bảo vệ tầng ôzôn”; góp phần cùng

các quốc gia khác thực hiện Công ước

của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

và Công ước về Bảo vệ tầng ôzôn (đã

được Chính phủ Việt Nam phê chuẩn

• Xây dựng và thực hiện các hương ước,

quy ước, cam kết bảo vệ môi trường

của cộng đồng dân cư

• Tăng cường sự tham gia của nhân dân

và các ngành kinh tế vào việc trồng

rừng, bảo vệ và quản lý môi trường

• Mỗi người phải ý thức được rằng bảo

vệ môi trường là vấn đề toàn cầu, vì

môi trường liên quan đến mọi người,

1 Tính cấp thiết của việc giáo dục bảo

vệ môi trường trong trường học

a Sự cần thiết phải giáo dục bảo vệ môi trường trong trường học

Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống của loài người Nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm và suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người.Giáo dục BVMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và phát triển bền vững đất nước Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng được trang bị kiến thức, ý thức BVMT, năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường.Giáo dục bảo vệ môi trường còn góp phần hình thành nhân cách người lao động mới, người chủ tương lai của đất nước - người lao động, người chủ có thái

độ thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế hài hòa với việc BVMT, bảo đảm nhu cầu của hôm nay mà không phương hại đến các thế hệ mai sau Giáo dục BVMT là vấn đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia và toàn cầu

Nước ta có khoảng 23 triệu học sinh, sinh viên các cấp và gần một triệu giáo viên, cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy Đây là một lực lượng khá hùng hậu Việc trang bị các kiến thức về môi trường,

kĩ năng BVMT cho số đối tượng này cũng có nghĩa là cách nhanh nhất làm cho gần một phần ba dân số hiểu biết về môi trường Đây cũng chính là lực lượng xung kích hùng hậu nhất trong công tác tuyên truyền BVMT cho gia đình và cộng đồng dân cư của khắp các địa phương

cả nước Hơn nữa, 37.509 trường học cùng các cơ sở Giáo dục và Đào tạo cũng là những trung tâm văn hóa của địa phương, là nơi có điều kiện để thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước

4 Áp dụng các biện pháp kĩ thuật trong việc khai thác tài nguyên và bảo

• Có biện pháp tổng thể quy hoạch mạng lưới giao thông thành phố, cải tiến kỹ thuật giao thông vận tải

• Trong sản xuất nông nghiệp, phải đảm bảo sản xuất thực phẩm sạch và bảo

vệ tài nguyên đất, nước, không khí

• Trong sinh hoạt, phải có ý thức tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên và bảo vệ môi trường xanh-sạch- đẹp

• Nâng cao hiệu quả sản xuất và sử dụng năng lượng Khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo

• Sử dụng nguồn năng lượng của nước

để xây dựng những nhà máy thủy điện cho các khu vực

• Tăng cường sử dụng năng lượng Mặt Trời: xây dựng hệ thống pin mặt trời tại các địa phương để sử dụng trong sinh hoạt gia đình (bếp đun, tivi, thắp sáng…)

• Chuyển giao công nghệ hầm khí Biogaz đến các hộ gia đình ở địa phương

• Tận dụng rác thải sinh hoạt, sản phẩm phụ của chăn nuôi, trồng trọt để làm khí đốt cho đun nấu hoặc phát điện phục vụ cho mỗi hộ gia đình

• Sử dụng nguồn năng lượng của gió, thủy triều, thăm dò và khai thác các nguồn nước nóng

• Lập các dự án về quản lý giao thông đô thị, bảo vệ nguồn nước để bảo vệ môi trường, các dự án xử lý chất thải công nghiệp, chất thải rắn do các hoạt động

du lịch, chất thải sinh hoạt Xử lý chất thải bệnh viện, nhà máy theo hướng:

Giảm lượng rác thải và tăng cường tái chế sử dụng

Ngày đăng: 29/01/2017, 00:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Rừng Cúc Phương ở tỉnh Ninh Bình (nguồn: Internet) - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 1. Rừng Cúc Phương ở tỉnh Ninh Bình (nguồn: Internet) (Trang 5)
Hình 2. Nước thải xả xuống sông Thị Vải (nguồn: dantri.com.vn). - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 2. Nước thải xả xuống sông Thị Vải (nguồn: dantri.com.vn) (Trang 5)
Bảng 2. Diễn biến diện tích rừng qua các năm - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Bảng 2. Diễn biến diện tích rừng qua các năm (Trang 5)
Bảng 3. Số lượng các loài bản địa và các loài đặc hữu của Việt Nam - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Bảng 3. Số lượng các loài bản địa và các loài đặc hữu của Việt Nam (Trang 6)
Hình 3. Chất thải phát sinh từ hoạt động nông nghiệp (Ảnh: Lâm Văn Khanh-2009) - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 3. Chất thải phát sinh từ hoạt động nông nghiệp (Ảnh: Lâm Văn Khanh-2009) (Trang 7)
Bảng 4. Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008 - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Bảng 4. Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008 (Trang 7)
Hình 4. Bản đồ tỉnh Bạc Liêu. - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 4. Bản đồ tỉnh Bạc Liêu (Trang 8)
Bảng 3. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị:  o C) - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Bảng 3. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: o C) (Trang 9)
Hình 5. Biểu diễn lượng mưa trung bình các tháng trong các năm 2000 – 2010 - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 5. Biểu diễn lượng mưa trung bình các tháng trong các năm 2000 – 2010 (Trang 9)
Hình 6. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm 2000 - 2010 - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 6. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm 2000 - 2010 (Trang 10)
Bảng 7. Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: %) - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Bảng 7. Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: %) (Trang 10)
Hình 8. Sạt lở ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2011). - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 8. Sạt lở ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2011) (Trang 10)
Bảng 8. Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bạc Liêu (Đơn: Nghìn ha) - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Bảng 8. Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bạc Liêu (Đơn: Nghìn ha) (Trang 11)
Hình 9. Vườn chim Bạc Liêu (Ảnh tư liệu) - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 9. Vườn chim Bạc Liêu (Ảnh tư liệu) (Trang 12)
Hình 9. Rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2010). - Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Môn GDCD Trung Học Phổ Thông, Tỉnh Bạc Liêu
Hình 9. Rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2010) (Trang 12)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w