1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết Kế Hệ Thống Bài Tập Rèn Luyện Kỹ Năng Học Số, Số Lượng Cho Trẻ Lớp Tiền Tiểu Học Tại Trung Tâm Sao Biển

46 1,3K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 818,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 CHƯƠNG I : CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KỀ HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG HỌC SỐ - SỐ LƯỢNG CHO TRẺ KTTT TRONG LỚP TIỀN TIỂU HỌC TẠI TRUNG TÂM SAO BIỂN .... Môn Toán là một trong những mô

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

4.Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

CHƯƠNG I : CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KỀ HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG HỌC SỐ - SỐ LƯỢNG CHO TRẺ KTTT TRONG LỚP TIỀN TIỂU HỌC TẠI TRUNG TÂM SAO BIỂN 5

1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Khái niệm về trẻ KTTT và các vấn đề liên quan 6

1.2.1 Trẻ KTTT 6

1.2.2 Đặc điểm tâm lí 7

1.2 Hệ thống bài tập và các vấn đề liên quan 13

1.2.1 Thiết kế 13

1.2.2 Hệ thống 13

1.2.3 Bài tập 13

1.2.4 Rèn luyện 14

1.2.5 Kỹ năng 14

1.2.6 Số - số lượng 14

1.2.7 Lớp tiền tiểu học 14

1.2.8.Chương trình học số - số lượng 15

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HỌC SỐ - SỐ LƯỢNG CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI LỚP TIỀN TIỂU HỌC TẠI TRUNG TÂM SAO BIỂN 17

2.1.Khái quát quá trình khảo sát 17

Trang 3

2.1.1.Vài nét về địa bàn khảo sát 17

2.1.2.Quá trình khảo sát 17

2.1.3 Phương pháp khảo sát 17

2.2 Phân tích kết quả khảo sát 18

2.2.1.Đánh giá của GV về trình độ tiếp thu số - số lượng của trẻ KTT ở lớp tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển 18

2.2.2.Đánh giá giáo vien về nguồn bài tập số - số lượng cho trẻ KTTT 18

2.2.3.Đánh giá của giáo viên về mức độ khó của các bài tập số - số lượng từ các nguồn 19

2.2.4 Thực trạng việc giáo viên thiết kế bài tập 19

2.2.5.Thực trạng vận dụng các hình thức dạy học số - số lượng cho trẻ KTTT 20

2.2.6 Đánh giá mức độ vận dụng các phương pháp dạy học cho trẻ KTTT học số - số lượng 21

2.2.7.Đánh giá của GV về việc sử dụng các phương tiện dạy học khi hướng dẫn cho trẻ khuyết tật trí tuệ học số - số lượng ở lớp tiền tiểu học 23

2.3.Đánh giá chung 24

2.3.1.Những khó khăn của trẻ khuyết tật trí tuệ khi học số - số lượng 24

2.3.2 Những thuận lợi của trẻ KTTT khi học số - số lượng 24

2.3.3 Nguyên nhân thực trạng dạy học số - số lượng cho trẻ KTTT ở lớp tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển 25

2.4.Tiểu kết 25

Chương 3: Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyệ kỹ năng học số - số lượng cho trẻ khuyết tật trí tuệ lớp tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển 26

3.1 Nguyên tắc thiết kế bài tập 26

3.2.Hệ thống bài tập 26

Kết luận và khuyến nghị 27

Tài liệu tham khảo 29 Phụ lục

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong trong thế kỉ 21, những năm thực hiện chiến lược

vì quyền lợi và tương lai tương lai tốt đẹp cho mọi người Để đạt được mục tiêu

đó, mỗi thành viên trong xã hội phải giữ một vai trò đóng góp quan trọng làm đòn bẩy thúc đẩy quá trình thực hiện

Trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng đều là tương lai của đất nước Điều 23 của công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em đã thừa nhận: Trẻ em khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được hưởng quyền giáo dục bình đẳng, được đào tạo để có điều kiện hòa nhập vào xã hội, phát triển nhân cách cả về thể chất lẫn tinh thần nhằm giúp trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng

Giáo dục Tiểu học là cấp học cơ bản và nền tảng trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

và lâu dài của nhân cách, phát triển toàn diện và hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để các em có thể học tập tiếp lên các bậc học cao hơn

Lớp tiền tiểu học là một lớp học vô cùng quan trọng nó đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp hoạt động của học sinh từ giai đoạn vui chơi sang học tập để hình thành các kỹ năng cơ bản làm tiền đề cho các em để khi các em đi học lớp 1 không

bị bỡ ngỡ

Môn Toán là một trong những môn học cơ bản trong nội dung chương trình dạy học bậc Tiểu học, giúp học sinh có những tri thức cơ bản ban đầu về số học, đo đại lượng thông dụng, một số yếu tố ban đầu về đại số, hình học, hình thành kỹ năng thực hành tính toán, giải toán có lời văn góp phần phát triển năng lực các nhân đồng thời chuẩn bị công cụ về kỹ năng và phương pháp tư duy để học sinh có thể học các môn khác Trong đó nội dung về số - số lượng là một nội dung quan trọng giúp học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực với cuộc

Trang 5

sống Bên cạnh đó còn giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành, đọc viết, đếm khái quát, so sánh…

Học sinh KTTT có nhiều hạn chế trong phát triển tư duy đặc biệt là tư duy logic nên dẫn tới việc trẻ gặp nhiều khó khăn trong học tập nhất là với môn Toán

Mặc dù dành nhiều thời gian học số - số lượng theo chương trình mầm non

và những kì đầu của năm học đầu cấp nhưng vẫn có học sinh gặp khó khăn về việc học số - số lượng như: khả năng nhận biết mặt số, khả năng khái quát số lượng, lấy đúng số lượng… còn chậm hơn so với các bạn Từ đó ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập cũng như mặt tâm lý của trẻ, trẻ sẽ cảm thấy mặc cảm, tự ti, chán học…

Việc học số - số lượng đối với trẻ bình thường cũng gặp phải những khó khăn Vì vậy việc học số -số lượng đối với trẻ KTTT lại càng trở lên khó khăn hơn Trẻ KTTT không chỉ có khó khăn về nhận thức, vận động, giao tiếp, tương tác

xã hội….mà còn có các vấn đề hành vi, không có động lực học, thiếu kiên nhẫn trong các hoạt động, tư duy mang tính trực quan, cụ thể, yếu về khái quát Chính vì vậy việc đưa ra các biện pháp hỗ trợ trẻ KTTT trong việc học số - số lượng là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, hiện nay hệ thống bài tập toán nói chung và bài tập toán

về số - số lượng nói riêng sử dụng ở lớp tiền tiểu học tại các trung tâm Sao Biển có trẻ KTTT chủ yếu là các bài tập dành cho trẻ bình thường , chưa được thiết kế riêng cho trẻ KTTT, chưa phù hợp với đặc điểm tư duy của trẻ Vì vậy việc thiết kế các bài tập riêng cho trẻ KTTT là rất cần thiết nó tạo hứng thú cho trẻ và phù hợp với khả năng tư duy của trẻ Từ những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài “ Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng cho trẻ lớp

tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn về trẻ KTTT, chương trình tiền tiểu học, số - số lượng, quá trình dạy kỹ năng học số - số lượng cho trẻ KTTT, đề tài thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng cho trẻ KTTT tại trung tâm Sao Biển nhằm giúp trẻ có kỹ năng học số - số lượng tốt hơn trong lớp tiền tiểu học

Trang 6

3 Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu

3.1.Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy kỹ năng học số - số lượng cho trẻ tiền tiểu học

3.2.Đối tƣợng nghiên cứu

Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng trẻ KTTT lớp tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển

4.Giả thuyết khoa học

Hiện nay hệ thống các bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng cho trẻ KTTT chưa được thiết kế phù hợp với đặc điểm của trẻ vì vậy việc học số - số lượng của các em còn gặp nhiều khó khăn Nếu thiết kế hệ thống bài tập học số -

số lượng phù hợp với đặc điểm tư duy, nhận thức của trẻ KTTT thì có thể nâng cao

kỹ năng học số - số lượng của trẻ KTTT tại trung tâm Sao Biển

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lí luận về trẻ KTTT, chương trình tiền tiểu học, số -

số lượng, kỹ năng học số - số lượng cho trẻ KTTT

- Quá trình khảo sát về kỹ năng học số - số lượng của trẻ KTTT lớp tiền tiểu học,thực trạng dạy kỹ năng số - số lượng trong lớp tiền tiểu học

- Thiết kế hệ thống bài tập rèn kỹ năng học số - số lượng cho trẻ KTTT trong lớp tiền tiểu học tại Trung tâm Sao Biển

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

- Đề tài thiết kế hệ thống hệ thống bài tập rèn kỹ năng học số - số lượng cho trẻ KTTT trong lớp tiền tiểu học tại Trung tâm Sao Biển

6.2.Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ KTTT trong lớp tiền tiểu học tại Trung tâm Sao Biển

- Giáo viên dạy trẻ KTTT tại Trung tâm Sao Biển

- Cha mẹ trẻ KTTT tại Trung tâm Sao Biển

Trang 7

6.3 Địa bàn nghiên cứu

- Lớp tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

- Đọc, tìm hiểu và thu thập tài liệu liên quan đến những vấn đề lí luận về trẻ KTTT, chương trình tiền tiểu học, số - số lượng, kỹ năng học số - số lượng của trẻ KTTT

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu

- Mục đích: điều tra kỹ năng học của trẻ KTTT và kỹ năng dạy của giáo viên trong việc dạy số - số lượng cho trẻ KTTT

Thông qua việc kiểm tra các bài tập mà trẻ làm để rút ra được kỹ năng học

số - số lượng của đang ở mức độ nào

7.2.5 Phương pháp đàm thoại

Thông qua việc trò chuyện, trao đổi với giáo viên để bàn về những thuận lợi

và khó khăn khi dạy số - số lượng cho trẻ KTTT lớp tiền tiểu học

Trang 8

CHƯƠNG I : CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KỀ HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG HỌC SỐ - SỐ LƯỢNG CHO TRẺ KTTT TRONG LỚP TIỀN TIỂU HỌC TẠI TRUNG TÂM SAO BIỂN

1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển vấn đề nghiên cứu

Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc điều chỉnh nội

dung dạy học Vào cuối thế kỉ XX các công trình nghiên cứu của các tác giả người

Mỹ như Eggen và Kauchak, R.R.Singh, Donald P Kauchk và Pau D Eggen,… không chỉ đề cập đến sự điều chỉnh nội dung dạy học mà còn đề cập đến sự điều chỉnh tất các thành tố khác trong quá trình dạy học cho cả học sinh bình thường và học sinh có nhu cầu đặc biệt

Nhà giáo dục học người Mỹ , Richard vill đã có những nghiên cứu về điều chỉnh thích ứng theo cách tiếp cận tổng thể một chương trình, một bài học Chính những nghiên cứu này đã đem lại cách nhìn mới về sự cần thiết phải điều các vấn

đề trong giáo dục và dạy học

Ở Việt Nam, năm 1993 trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật, viện nghiên cứu

khoa học dục đã xuất bản 3 cuốn sách:

+ Giáo dục trẻ khuyết tật tại gia đình

+ Hỏi đáp về giáo dục trẻ khuyết tật

+ Giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ

Cả 3 cuốn sách đều đề cập đến đặc điểm tâm sinh lí, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ KTTT

Năm 2002 – 2003 ở bậc Tiểu học đã tiến hành thay sách trên cả nước, triển khai thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp dạy học cho tất cả các môn học ở lớp 1 Nội dung môn Toán lớp 1 được đặt trong cấu trúc tổng thể của nội dung môn Toán Tiểu học, đảm bảo tính hệ thống của chương trình môn Toán và là nấc thang quan trọng trong sự phát triển tư duy toán học cho học sinh Tiểu học nói chung và cho trẻ KTTT học hòa nhập nói riêng

Trang 9

Trong những năm gần đây, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Bộ giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các khóa tập huấn, biên soạn và xuất bản một số tài liệu bồi dưỡng giáo viên về giáo dục hòa nhập trẻ KTTT ở Tiểu học, trong đó có

đề cập đến các vấn đề điều chỉnh nội dung dạy học cho trẻ KTTT học hòa nhập, hệ thống bài tập Tuy nhiên, các tài liều mới chỉ dừng lại ở mức độ tập huấn, nội dung mang tính chất đại cương, hệ thống bài tập đưa ra còn ít và chưa thực sự phù hợp với trẻ KTTT

1.2 Khái niệm về trẻ KTTT và các vấn đề liên quan

1.2.1 Trẻ KTTT

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để định định nghĩa về KTTT Một số chuyên gia xác định KTTT bằng cách sử dụng các trắc nghiệm về trí thông minh,

họ có thể chuẩn đoán người này có bị KTTT hay không

Nhiều tác giả không sử dụng trắc nghiệm về chỉ số thông minh để đoán biết mức độ KTTT mà lại thích dựa vào mức độ thích nghi với môi trường và văn hóa của cá nhân Những người theo cách tiếp cận cho rằng người KTTT là người trong quá trình phát triển và trưởng thành thì đạt đến cuộc sống độc lập được

Cách tiếp cận thứ ba để định nghĩa trẻ KTTT là dựa trên những hoạt động xem xét có tính chất lý luận để tìm hiểu nguyên nhân hoặc tính chất cơ bản của loại khuyết tật này

Các cách tiếp cận trên đều có ưu điểm và hạn chế của nó Nhìn chung chúng chưa thể hiện được khái niệm về KTTT một cách đầy đủ và chính xác Đôi khi ở một hoàn cảnh nhất định, người ta không thể sử dụng được một trong những cách tiếp cận trên

Theo AAMR như sau: KTTT là một dạng tật có đặc điểm là bị hạn chế đáng

kể trong việc thực hiện chắc năng trí tuệ và các kỹ năng thích nghi thực tế, thích nghi xã hội, kỹ năng nhận thức Loại tật bắt đầu trước 18 tuổi (16)

Theo tôi trẻ KTTT là trẻ có những khó khăn về nhận thức, tư duy, giao tiếp, vận động Trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập và thực hành các kỹ năng

tự lập trong cuộc sống Loại tật này bắt đầu trước 18 tuổi

Trang 10

1.2.2 Đặc điểm tâm lí

1.2.2.1 Đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh cấp cao của trẻ KTTT

Các công trình nghiên cứu về hoạt động thần kinh cấp cao của Paplop chỉ ra

4 đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ KTTT:

Quá trình hình thành các kiến thức mới diễn ra chậm chạp và không vững chắc Khó khăn trong quá trình phân biệt hóa Đối với những trẻ bị chấn thương

não, khả năng làm việc của các tế bào thần kinh giảm sút, cho nên sau thời gian làm việc ngắn các tế bào thần kinh rơi vào trạng thái ức chế, làm cho hoạt động trí tuệ của các em giảm đi rõ rệt, quá trình học tập trở nên khó khăn Những trẻ này nếu được nghỉ ngơi hợp lý thì hoạt động học tập sẽ đạt kết quả tốt, trẻ sẽ trở nên linh hoạt và năng động

Tính thụ động cao: Trẻ KTTT thường có biểu hiện không hứng thú trong

hoạt động học tập, thờ ơ với với mọi công việc, lãnh đạm với mọi người xung quanh, thiếu chú ý trong mọi công việc và không thích học

Hệ thống tín hiệu thứ 2 ( ngôn ngữ) kém phát triển: Trẻ KTTT khi giải quyết

nhiệm vụ thường không thích làm theo chỉ dẫn bằng lời nói mà chỉ làm theo sự tri giác bằng trực quan

Dựa vào đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh cấp cao Trẻ KTTT được chia làm 3 nhóm:

- Nhóm 1 là những trẻ yếu về hưng phấn Biểu hiện chung của nhóm trẻ này

là uể oải, chậm chạp, khó khăn trong việc nắm vững các kiến thức mới, học tập kém hiệu quả

- Nhóm 2 là những trẻ yếu về ức chế Biểu hiện chung của nhóm trẻ này là hay nổi nóng, không kiên nhẫn Khi trả lời câu hỏi hoặc thực hiện nhiệm vụ các em hành động thiếu suy nghĩ nên thường dẫn đến kết quả không chính xác và thực hiện lại nhiều lần ( trong khi các em không thích nghi làm lại nhiệm vụ nhiều lần

và thường không nhận ra sai xót của mình) Những trẻ có hoạt động thần kinh cấp cao như vậy nếu quá trình hưng phấn diễn ra quá mạnh sẽ dẫn tới hội chứng tăng động giảm tập trung AD/HD

Trang 11

- Nhóm 3 là những trẻ bị quá ức chế bảo vệ Biểu hiện chung của trẻ thuộc nhóm này là khả năng làm việc kém Có những giáo viên nhầm tưởng đây là các học sinh thông minh, học tập tốt nhưng lại không phải như vậy Trong giờ học các

em chú ý, tích cực tham gia vào bài học, nhưng có lúc trẻ hầu như không nghe thấy

gì và không hiểu gì Vì thế những kiến thức các em có được trong nhà trường vừa thiếu hụt vừa mất hệ thống

1.1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ KTTT

Đặc điểm về sự phát triển tri giác – cảm giác của trẻ KTTT

Thời gian tri giác chậm chạp: Trẻ KTTT thường tri giác các đối tượng chậm

hơn trẻ bình thường Trong cùng một thời gian thì khối lượng thông tin các em thu được ít hơn so với trẻ bình thường (chỉ bằng 40 so với trẻ bình thường) Tri giác thị giác của trẻ cũng rất hạn chế, khả năng phân biệt bắt chước hình dạng kém

Khả năng phân biệt hạn chế: Khi chúng ta đư trẻ KTTT một bức tranh yêu

cầu các em quan sát rồi kể lại những gì thây trong tranh Nhiều trẻ gặp khó khăn khi phân biệt hình dạng, màu sắc, kích thước đặc biệt là những vật có kích thước giống nhau như: hình vuông, hình chữ nhật Trẻ cũng khó nhận biết và phân biệt được âm thanh

Thiếu tích cực trong quá trình tri giác: Trong quá trình quan sát trẻ thường

có biểu hiện không muốn xem xét kỹ càng các chi tiết, không muốn hiểu rõ nội

dung cần tri giác mà chỉ muốn tri giác qua loa, hời hợt Ngưỡng cảm giác của trẻ

có nhiều bất thường:

Phần lớn ngưỡng cảm giác của trẻ KTTT nhạy cảm hơn so với trẻ bình thường, có nghĩa là ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới của trẻ thấp Do đó độ nhạy cảm cao

Một số trẻ KTTT không nhạy cảm hoặc quá nhạy cảm với các kích thích: Trường hợp không nhiều thường có ở trẻ KTTT có kèm theo tự kỉ hoặc AD/ HD, Rett… Trẻ rất thiếu hoặc quá nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng cũng như các kích thích khác

Trang 12

Khó khăn trong quá trình tri giác không gian:

Khả năng bao quát các sự vật của trẻ KTTT han chế, trẻ khó có khả năn tri giác cùng một lúc nhiều đối tượng mà chỉ có thể tri giác tập trung vào một đối tượng

- Tính bất thường trong tri giác: Đặc điểm này rơi vào một số trẻ KTTT kèm

tự kỷ và tăng động, giảm chú ý Khi quan sát đối tượng, trẻ bình thường thì nhìn tổng thể của nó, nhưng trẻ KTTT chỉ nhìn thấy chi tiết của đối tượng đó thôi

Hoạt động của hệ thống tiền đình gặp khó khăn Khả năng giữa thăng bằng

của trẻ không được tốt, trẻ cần được người lón chú ý luyện tập và hướng dẫn tù khi còn nhỏ, một số trẻ KTTT cũng gặp khó khăn về khả năng định hướng không gian như phân biệt bên trái, bên phải, phía trên, phía dưới…

1.1.2.3 Đặc điểm trí nhớ của trẻ KTTT

Trẻ KTTT thường có khó khăn trong việc ghi nhớ tài liệu học tập, nếu không có sự luyện tập thường xuyên thì trẻ sẽ quên hết mọi kiến thức Đó là hiện tượng chậm nhớ chóng quên ở trẻ này Đặc điểm tiếp theo là trẻ ghi nhớ máy móc tốt hơn là ghi nhớ cụ thể, trẻ ghi nhớ không chủ định tốt hơn là ghi nhớ có chủ định Đây cũng là hệ quả tất yếu khi hoạt động của hệ thần kinh cấp cao ở trẻ có khó khăn như đã giới thiệu ở trên Bên cạnh đó trẻ KTTT còn có một số đặc điểm trí nhớ như sau: ghi nhớ trực tiếp tốt hơn là ghi nhớ gián tiếp, trẻ thường khó nhớ

và nhanh quên, tái hiện không chính xác thông tin đã nghe hoặc nhìn thấy, trẻ KTTT cũng không có động cơ ghi nhớ Với trẻ KTTT do khả năng tự ý thức của các em thấp nên hầu hết các em không có động cơ học tập Chính vì vậy để giúp các em ghi nhớ giáo viên cần tập trung vào nhân tố nội dung, tính chất tài liệu (làm cho nội dung bài dạy được sinh động, hấp dẫn) chứ rất khó tập trung vào việc thay đổi động cơ hay chiến thuật ghi nhớ của các em

1.1.2.4 Đặc điểm tư duy của trẻ KTTT

Các công trình nghiên cứu khác nhau về hoạt động nhận thức của trẻ KTTT

đã đưa ra 3 đặc điểm cụ thể về tư duy của nhóm trẻ này:

Trang 13

Tư duy mang tính cụ thể, trực quan, yếu khái quát hóa là đặc điểm tư duy

đầu tiên của trẻ KTTT Điều này được thể hiện rõ trong quá trình học tập của trẻ, nhiều em khi thực hiện nhiệm vụ phân loại, quan sát tranh thường đưa ra những nhận xét không đúng về bản chất của đối tượng

Thiếu tính liên tục trong tư duy: Trong quá trình học tập một số học sinh khi

giải quyết nhiệm vụ thường bộc lộ đặc điểm: ban đầu khi mới thực hiện nhiệm vụ các em có thể làm đúng Nhưng sau một thời gian thi sai sót, trẻ chóng mệt mỏi và không chú ý tới công việc

Hiện tượng yếu vai trò điều chỉnh của tư duy: Thể hiện ở chỗ khi được giao

nhiệm vụ trẻ hăng hái làm ngay hoặc khi giáo viên đưa câu hỏi trẻ giơ tay xin trả lời ngay lập tức, không suy nghĩ kỹ càng nghĩa là thiếu giai đoạn định hướng nên kết quả bao giờ cũng có sai sót và phải làm đi làm lại nhiều lần Những trẻ này ít khi nhận ra sai lầm của bản thân

1.1.2.5.Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ KTTT

Qua các nghiên cứu, các nhà tâm lý đã kết luận rằng ngôn ngữ của trẻ KTTT chậm hơn so với trẻ bình thường khác cùng độ tuổi Khi đến tuổi đến trường những trẻ KTTT có vốn từ nghèo nanfhown, các em ít dùng các câu phức tạp, câu có liên từ khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn tả ý kiến của bản thân và hay trả lời cộc lốc Trẻ KTTT thường không hiểu các từ có tính chất trừu tượng (ví dụ như các

từ mô tả phẩm chất của con người như: tốt bụng, dũng cảm, chân thật…) Trong quá trình giao tiếp trẻ rất khó đáp ứng được những yêu cầu của người khác Đặc biệt

là những yêu cầu nhiều nhiệm vụ, trẻ cũng kém phát triển hệ thống ngữ pháp

Trẻ KTTT kém trong việc phân biệt âm thanh ngôn ngữ của những người xung quanh, chậm nắm vững các từ mới và mệnh đề

Công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học người Nga như R.Luria, G.M.Đunhep…đã khẳng định rằng: Vốn từ của trẻ KTTT nghèo nàn hơn rất nhiều

so với trẻ bình thường cùng độ tuổi Sự khác nhau giữa những từ tích cực và từ tiêu cực chiếm đa số, từ tích cực rất hạn chế Các em ít sử dụng tính từ, động từ và liên

Trang 14

từ Hơn nũa vốn từ mà trẻ KTTT có được mất một thời gian dài để hoàn thiện được

ý nghĩa Ở trẻ KTTT, quá trình chuyển từ tên riệng đến từ khái niệm được hoàn thiện rất lâu và khó khăn nhiều hơn

Hệ thống ngữ pháp ở trẻ KTTT cũng rất khó hoàn thiện Những câu nói của

chúng thường rất đơn giản, ít sử dụng mệnh đề phụ và rất khó khăn trong việc lựa chọn từ để thể hiện những ý nghĩ có sắc thái khác nhau Ngôn ngữ của trẻ chắp vá không nêu được nội dung ý nghĩa Vì vậy muốn biết được ý nghĩa của trẻ phải hiểu tâm trạng của chúng

1.1.2.6 Đặc điểm tình cảm – xã hội của trẻ KTTT

Khó xây dựng các mối quan hện gắn bó: Trẻ KTTT cùng với người mẹ của

mình khó xây dựng được mối quan hệ gắn bó mẹ con theo hướng tích cực Trẻ KTTT gặp nhiều khó khăn về thể chất cũng như về hoạt động của não bộ Do vậy tín hiệu mà trẻ phát ra, sự chủ động về hành động của trẻ là rất yếu Nếu sự đáp ứng của người mẹ mạnh thì có thể phần nào xây dựng được mối quan hện gắn bó, dù không được tốt nhất Nhưng nếu sự đáp ứng của người mẹ yếu (trường hợp này là phổ biến) thì sự phát triển mối quan hệ của trẻ với người xung quanh là rất khó khăn

Không hứng thú tham gia vào các tương tác xã hội: Do tính thụ động của trẻ

phát triển dài trong giai đoạn phát triển đầu tiên nên trẻ KTTT có thể không hứng thú tham gia vào các tương tác xã hội với môi trường Những kích thích từ mẹ có thể không đủ với trẻ Thêm nữa việc cha mẹ ý thức rằng họ có một đứa con KTTT

có thể gây ra các vấn đề trong gia đình

Phản ứng với sự trêu đùa: Trẻ KTTT kém nhạy cảm trong nắm bắt thái độ của người xung quanh, bộc lộ sự đồng cảm của mình rất trẻ con, chỉ như những trẻ

12 – 18 tháng tuổi ( khóc, cười, biểu đạt sự đồng cảm bằng những từ ngữ đơn giản khiến người khác không hiểu)

Tìm hiểu mục tiêu của người khác: Với trẻ KTTT khó hiểu được các mục

tiêu của người khác, bởi mục tiêu đó không thể hiện trực quan Trẻ khó liên kết được các tình huống có tính chất liên hệ

Trang 15

Tìm hiểu nguyên tác xã hội: Với trẻ KTTT, biết được các nguyên tắc xã hội

song không thể áp dụng các nguyên tắc đó trong các tình huống nhất định

Hiểu biết cảm xúc: Trẻ KTTT khó có thể hiểu được các suy nghĩ biểu hiện

ra bên ngoài Do vậy trẻ khó khăn trong việc đoán biết ý định của người khác để có những phương thức, hành động phù hợp trong giao tiếp

1.1.2.7 Đặc điểm nhân cách của trẻ KTTT

Nhân cách của trẻ KTTT có cấu trúc khác nhau về căn bản so với trẻ bình thường

Các nghiên cứu của V.Stecner, P.Gutler, A.Adler và các nhà nghiên cứu khác chỉ thấy có 3 đặc trưng trong nhân cách của trẻ KTTT: nhân cách phát triển chậm, cảm giác thiếu hụt, xu hướng tích cực bù trừ

Trong cấu trúc nhân cách của trẻ KTTT có mối quan hệ vừa tác động đến nhau giữa các yếu tố vận động và các yếu tố trí tuệ Các công trình nghiên cứu của M.O.Gurevic, T.Geller và của nhiều nhà tâm lý học khác đã cho thấy có sự độc lập tương đối vận động với chậm trí tuệ trong trẻ KTTT Trong nhiều trường hợp

có sự kết hợp khác chỉ có trí tuệ bị chậm còn yếu tố vận động vẫn phát triển bình thường Mặt khác so với trí tuệ, các yếu tố vận động có khả năng bù trừ cao hơn

Vì vậy điều có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động nghiên cứu và khắc phục sự chậm trễ về trí tuệ của trẻ KTTT là việc tách yếu tố vận động, huấn luyện và phát triển của nó đồng thời sử dụng nó như phương tiện bù trừ cho trí tuệ trẻ

Trong trí tuệ của trẻ KTTT mức độ và nhịp độ chậm của các thành phần không giống nhau Trong các nghiên cứu của M.Pechecon, P.Pinche… đã chỉ ra hai dạng chậm trí tuệ: chậm hiểu và chậm hành động Hai dạng này không nhất thiết trùng nhau trong một trẻ Nhiều thực nghiệm trên trẻ KTTT theo phương pháp của Leler đối với trí tuệ thực hành của khỉ hình người, cho thấy phần trí tuệ thực hành của trẻ KTTT thường ít bị ảnh hưởng so với trí tuệ ngôn ngữ Do vậy, có thể tập trung phát triển thành phần trí tuệ thực hành cho trẻ KTTT, trên cơ sở đó hình thành các kỹ năng lao động, nghề nghiệp

Trang 16

Trong trí tuệ của trẻ KTTT không có sự kết hợp giữa hai phương diện tự nhiên và văn hóa Với trẻ KTTT, các chức năng tâm lý tự nhiên còn ở dạng nguyên thủy, đặc biệt là công cụ ngôn ngữ Trẻ KTTT có vốn từ ít ỏi, đồng thời trẻ không

có khả năng sử dụng vốn từ đó một cách đầy đủ và có ý thức trong hoạt động trí tuệ Do vậy trẻ KTTT không có khả năng hoạt động trí tuệ cấp cao, với các thao tác hình thức Sự tách tời giữa các thành phần văn hóa là bản chất của trẻ em KTTT

1.2 Hệ thống bài tập và các vấn đề liên quan

Trong phạm vi đề tài này thiết kế hệ thống bài tập được hiểu là công trình

xây dựng tập hợp của nhiều bài tập được sắp xếp thành những nhóm có các loại, dạng bài khác nhau theo một trình tự nhất định

Trang 17

Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2000): Kỹ năng là một dạng hoạt động tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện học sinh – tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có kỹ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực của cá nhân…để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì “kỹ năng học số - số lượng” đươc

hiểu là khả năng vận dụng các kiến thức toán học về số vào thực tế trong việc nhận biết, tính toán phần nhiều hoặc phần ít của các vật

1.2.7 Lớp tiền tiểu học

1.2.7.1 Lớp

Theo từ điển Tiếng Việt: Lớp là tập hợp người cùng một lứa tuổi hay cùng chung những đặc trưng xã hội nào đó

Trang 18

Lớp là tập hợp người cùng học một năm học ở trường hay cùng chung một khóa huấn luyện, đào tạo

Lớp là chương trình học từng năm học hay khóa huấn luyện đào tạo

1.2.7.2 Tiền tiểu học

Tiền ở đây được hiểu là trước, là chuẩn bị, là tiền đề

Theo từ điển Tiếng Việt: Tiểu học là cấp học thấp nhất trong bậc học giáo dục phổ thông từ lớp 1 đến lớp 5

Tiền tiểu học là giai đoạn chuẩn bị cho học sinh làm quen với các kỹ năng, kiến thức để đi học ấp học đầu tiên trong giáo dục phổ thông

Trong phạm vi đề tài này “Lớp tiền tiểu học” là lớp học có những học sinh

có cùng một lứa tuổi, cùng học một chương trình để chuẩn bị cho giai đoạn bước vào bậc tiểu học

- Đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng

- Nhận biết các chữ số, số lượng và số thứ trong phạm vi 10

- Gộp các nhóm đối tượng và đếm

- Tách một nhóm đối tượng thành hai nhóm nhỏ bằng các cách khác nhau

- Nhận biết ý nghĩa các con số được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày (số nhà, số xe, số điện thoại…)

Trong chương trình toán lớp 1 sử dụng các bài:

- Nhiều hơn, ít hơn

- Các số 1, 2, 3

- Các số 1, 2, 3, 4, 5

- Số 6

Trang 20

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HỌC SỐ - SỐ LƯỢNG CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI LỚP

TIỀN TIỂU HỌC TẠI TRUNG TÂM SAO BIỂN

2.1.Khái quát quá trình khảo sát

2.1.1.Vài nét về địa bàn khảo sát

Trung tâm Sao Biển chính là Trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc biệt thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội thuộc quận Cầu Giấy Hà Nội Trung tâm được thành lập theo Quyết định số 28/QLKH - TCCB ngày 11 tháng 2 năm

1995 của Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội Tiền thân của Trung tâm là Tổ chức Giáo dục đặc biệt thuộc Bộ môn Tâm lý – Khoa Tâm lý giáo dục Đây là trung tâm giáo dục đặc biệt đầu tiên trong cả nước với chức năng, nhiệm vụ: đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, tư vấn giáo dục đặc biệt và là một trung tâm can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật

2.1.2.Quá trình khảo sát

Thời gian tiến hành: từ 25/8/2015 -25/9/2015

Địa điểm: Trung tâm Sao Biển –Trường ĐHSP Hà Nội

2.1.3 Phương pháp khảo sát

2.1.3.1.Phương pháp điều tra bằng phiếu

Mục đích: Qua điều tra bằng phiếu đối với các giáo viên trực tiếp dạy lớp tiền tiểu học và các giáo viên can thiệp các nhân trẻ đang ở độ tuổi chuẩn bị đi học lớp 1 nhằm nắm bắt thực trạng dạy số - số lượng

Các bước tiến hành:

Bước 1: Xây dựng phiếu

Bước 2: Phát phiếu điều tra cho 2 GV dạy lớp tiền tiểu học và 6 GV dạy cá nhân có trẻ đang học số - số lượng để chuẩn bị đi học tiểu học tại TT Sao Biển

Bước 3: Xử lí kết quả điều tra

Bước 4: Nhận xét và nêu nguyên nhân thực trạng

Trang 21

Cách tiến hành: Gặp trực tiếp các GV tại trung tâm trao đổi bàn về những thuận lợi và khó khăn khi dạy số - số lượng cho trẻ KTTT lớp tiền tiểu học

2.2 Phân tích kết quả khảo sát

2.2.1.Đánh giá của GV về trình độ tiếp thu số - số lượng của trẻ KTT ở lớp tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển

Để tiến hành thiết kế hệ thống bài tập về số - số lượng phù hợp với khả năng

và nhu cầu của trẻ KTTT học lớp tiền tiểu học thì việc nắm được trình độ nhận thức của trẻ là rất quan trọng và cần thiết

Theo kết quả điều tra thì 100% ý kiến cho rằng khả năng nhận thức của trẻ KTTT là chậm và rất chậm Trẻ KTTT do tổn thương về não nên tư duy kém phát triển, ảnh hưởng đến quá trình học tập của trẻ nhất là trong môn Toán

2.2.2.Đánh giá giáo vien về nguồn bài tập số - số lượng cho trẻ KTTT

Theo kết quả điều tra thì 100% ý kiến cho rằng nguồn bài tập về số - số lượng cho trẻ KTTT là sử dụng nguồn có sẵn theo chương trình giáo dục phổ thông

Trang 22

giành cho trẻ bình thường

2.2.3.Đánh giá của giáo viên về mức độ khó của các bài tập số - số lượng

từ các nguồn

Nhìn vào bảng 1, 100% ý kiến cho rằng bài tập số - số lượng từ các nguồn

có sẵn chưa phù hợp với khả năng của trẻ và 100% ý kiến cho rằng nguồn bài tập

số - số lượng tự thiết kế cho trẻ KTTT phù hợp với khả năng tư duy và nhận thức của trẻ

Bảng 1: Đánh giá mức độ phù hợp với nguồn bài tập

2.2.4 Thực trạng việc giáo viên thiết kế bài tập

100% giáo viên cho rằng việc sử dụng bài tập tự thiết kế để dạy số - số lượng cho trẻ KTTT là phù hợp và đem lại hiệu quả cao Căn cứ vào các đặc điểm nhận thức, tư duy, trí nhớ của trẻ KTTT là khả năng phân biệt kém, khả năng khái quát hạn chế, tư duy trừu tượng kém so với tư duy hình ảnh…Nên việc thiết kế bài tập cho trẻ KTTT nó đáp ứng được khả năng nhận thức, trình độ của học snh cũng như phù hợp với dặc điểm của trẻ KTTT Và các giáo viên đều cho rằng khi trẻ làm các bài tập tự thiết kế do phù hợp với khả năng của trẻ nên trẻ sẽ dễ hiểu và hoàn thành bài tốt hơn cũng như hứng thú, hào hứng hơn Từ đó dễ dàng đánh giá mức độ hieur bài của trẻ hơn

Trang 23

2.2.5.Thực trạng vận dụng các hình thức dạy học số - số lượng cho trẻ KTTT

Hình thức dạy học theo lớp là hình thức mà tại một thời điểm các học sinh cùng làm một việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên Việc dạy theo lớp được giáo viên tổ chức khi cần thông báo, giải thích, tổng kết các ý kiến của học sinh, hướng dẫn chung cả lớp thực hiện nhiệm vụ học tập tổ chức cả lớp trao đổi ý kiến Qua kết quả nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy hình thức dạy học théo lớp là hình thức chủ yếu (chiếm 75%) 25% chỉ thỉnh thoảng mới tổ chức dạy học theo lớp (12,5%) thậm chí ít khi sử dụng hình thức này Kết quả này cho thấy giáo viên bận tâm tới việc truyền thụ kiến thức cho cả lớp

Dạy học theo hình thức nhóm giúp trẻ KTTT có điều kiện tương tác và tạo cho trẻ cơ hội hòa mình với các học sinh khác trong lớp Nếu tổ chức tốt hình thức này sẽ phát huy được tính tích cực và hứng thú học tập của học sinh, 50% nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học theo hình thức nhóm và cho rằng cần tiến hành thường xuyên Theo giáo viên thì việc chia nhóm 2 -5 là phù hợp Tuy nhiên có 25% thỉnh thoảng mới sử dụng hình thức này trong dạy học và 25% ít khi mới tổ chức dạy học theo nhóm

Bảng 2: Kết quả tìm hiểu các hình thức dạy học

Ngày đăng: 26/01/2017, 18:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kết quả tìm hiểu các hình thức dạy học - Thiết Kế Hệ Thống Bài Tập Rèn Luyện Kỹ Năng Học Số, Số Lượng Cho Trẻ Lớp Tiền Tiểu Học Tại Trung Tâm Sao Biển
Bảng 2 Kết quả tìm hiểu các hình thức dạy học (Trang 23)
Bảng 3: Mức độ vận dụng các phương pháp dạy học số - số lượng. - Thiết Kế Hệ Thống Bài Tập Rèn Luyện Kỹ Năng Học Số, Số Lượng Cho Trẻ Lớp Tiền Tiểu Học Tại Trung Tâm Sao Biển
Bảng 3 Mức độ vận dụng các phương pháp dạy học số - số lượng (Trang 25)
Bảng 4: Việc sử dụng các phương tiện dạy học trong dạy học số - số lượng - Thiết Kế Hệ Thống Bài Tập Rèn Luyện Kỹ Năng Học Số, Số Lượng Cho Trẻ Lớp Tiền Tiểu Học Tại Trung Tâm Sao Biển
Bảng 4 Việc sử dụng các phương tiện dạy học trong dạy học số - số lượng (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w