Vì vậy việc đưa ra một mô hình trắc nghiệm mà trong đó tại mỗi thời điểm trắc nghiệm, thí sinh sẽ trả lời câu hỏi phù hợp với năng lực hiện tại của mình là vấn đề cấp thiết.. Tuy nhiên,
Trang 1CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐÁP ỨNG CÂU HỎI
Lê Xuân Tài – TS Đặng Hoài Phương Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt:
Hiện nay, tại Việt Nam mô hình trắc nghiệm khách quan (Objective test) đang được sử dụng phổ biến Tuy nhiên, trắc nghiệm khách quan không thực sự đưa ra kết quả đúng đắn hoặc công bằng do một số nguyên nhân: các câu hỏi trong một bài kiểm tra được lựa chọn một cách ngẫu nhiên do đó có bài kiểm tra quá khó hoặc quá dễ, dẫn đến gây nhàm chán cho thí sinh khi làm toàn câu hỏi quá dễ hoặc ức chế khi gặp phải câu hỏi quá khó Vì vậy việc đưa ra một mô hình trắc nghiệm mà trong đó tại mỗi thời điểm trắc nghiệm, thí sinh sẽ trả lời câu hỏi phù hợp với năng lực hiện tại của mình là vấn đề cấp thiết Một trong những
mô hình đang được nghiên cứu hiện nay là mô hình trắc nghiệm thích nghi (Adaptive test) Trắc nghiệm thích nghi là trắc nghiệm đánh giá năng lực thí sinh với sự giúp đỡ của máy tính Với việc sử dụng trắc nghiệm thích nghi thì số lượng và thứ tự câu hỏi đưa ra cho mỗi thí sinh là khác nhau, tùy thuộc vào năng lực hiện tại của thí sinh Vì vậy, việc đánh giá năng lực thí sinh sẽ trở nên nhanh chóng, chính xác và khách quan hơn
Bài báo đề cập và phân tích một số mô hình và hệ thống trắc nghiệm thích nghi hiện có như: mô hình trắc nghiệm thích nghi sử dụng phương pháp lựa chọn câu hỏi theo tiêu chuẩn thông tin tối đa (Maximum Information - MI), mô hình trắc nghiệm thích nghi sử dụng phương pháp lựa chọn câu hỏi theo thông tin toàn cục (Kullback-Leibler – KL), mô hình trắc nghiệm thích nghi sử dụng phương pháp lựa chọn câu hỏi dựa trên phân tích tiên đoán được (maximum expected information - MEI) Các mô hình trên đều hiệu quả trong việc làm giảm số câu hỏi cần thiết trong mỗi bài kiểm tra Tuy nhiên, để lựa chọn, đưa ra câu hỏi phù hợp với khả năng hiện tại của thí sinh thì các mô hình trên vẫn chưa đáp ứng tốt Để giải quyết nhược điểm nêu trên chúng tôi đề xuất xây dựng mô hình trắc nghiệm thích nghi dựa trên cơ sở lý thuyết đáp ứng câu hỏi (Item Theory Response) và thiết kế hệ thống trắc nghiệm trên cơ sở mô hình đề xuất
Từ khóa: Trắc nghiệm khách quan, Trắc nghiệm thích nghi, Lý thuyết đáp ứng câu hỏi, Thuật toán lựa chọn câu hỏi
Các hình thức kiểm tra, đánh giá truyền thống trong hoạt động dạy - học nặng về đánh giá khả năng ghi nhớ, trình bày lại những nội dung mà người dạy truyền thụ như kiểm tra vấn đáp bài học cũ, kiểm tra viết trong thời gian ngắn hoặc dài theo chương, mục bài giảng v.v đã
và đang bộc lộ nhiều hạn chế nâng cao tính tích cực học tập và khả năng vận dụng linh hoạt - sáng tạo các kiến thức - kỹ năng của người học trong các tình huống thực tế đa dạng Để khắc phục các hạn chế trên, ở nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và vận dụng các phương pháp đánh giá bằng các trắc nghiệm (test) Các bộ trắc nghiệm được nghiên cứu thử nghiệm cho từng loại hình dạy - học và mục đích khác nhau rất công phu (Trắc nghiệm trí thông minh IQ, trắc nghiệm kiểm tra tiếng Anh TOEFL, trắc nghiệm kiểm tra luật giao thông v.v ) Cũng có những
Trang 2loại trắc nghiệm đánh giá đơn giản để đáp ứng yêu cầu đánh giá kiến thức hoặc kỹ năng trong một bài dạy lý thuyết hoặc thực hành
Trên thế giới hiện nay có các hình thức trắc nghiệm như: Trắc nghiệm chủ quan (Subjective test), trắc nghiệm khách quan (Objective test) và trắc nghiệm thích nghi (Adaptive test) Tất cả các hình thức trắc nghiệm này đều nhằm đến mục đích đánh giá trình độ, năng lực cũng như kết quả học tập của người học nhưng mỗi hình thức có phương pháp tiến hành và hiệu quả mang lại là khác nhau Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng xu hướng chủ yếu của tương lai là ứng dụng trắc nghiệm thích nghi trong việc đánh giá kiến thức, nhận thức và
kỹ năng, đặc biệt là mô hình thích nghi trên máy tính (Computerized Adaptive Testing - CAT) [1]
Trong bài báo này, chúng tôi trình bày nghiên cứu về việc xây dựng mô hình TNTN trên
cơ sở lý thuyết đáp ứng câu hỏi (Item Response Theory) Đây là lý thuyết trắc nghiệm được xây dựng dựa trên mô hình toán học, đòi hỏi nhiều tính toán, nhưng nhờ sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ tính toán bằng máy tính điện tử vào cuối thế kỷ 20 – đầu thế kỷ 21 nên nó đã phát triển nhanh chóng và đạt được những thành tựu quan trọng [3, 4]
2.1 Khái niệm về Trắc nghiệm thích nghi
Trắc nghiệm thích nghi (TNTN), tiếng Anh gọi là “Adaptive Test” [1, 2], là thuật ngữ để chỉ một phương pháp đánh giá thí sinh (học sinh, sinh viên, bệnh nhân, …) bằng hình thức kiểm tra trắc nghiệm nhưng đánh giá theo hướng năng lực của thí sinh bằng bộ câu hỏi tương ứng với mức năng lực đó Hệ thống TNTN là một hệ thống phần mềm được phát triển trên cơ
sở mô hình TNTN để đánh giá thí sinh Về hoạt động ta có thể hình dung hệ thống TNTN cố gắng bắt chước phương pháp đánh giá của một người giáo viên đối với học sinh Có nghĩa là, lần đầu tiên hệ thống cung cấp cho thí sinh một câu hỏi vừa đủ khó đối với thí sinh Nếu thí sinh trả lời câu trả lời một cách chính xác, thì sau đó một câu hỏi khó hơn sẽ được đề nghị và nếu không một câu hỏi có độ khó thấp hơn được đề nghị Quá trình này nên được lặp đi lặp lại cho đến khi có đủ bằng chứng để xác định trình độ kiến thức của thí sinh Trong TNTN, quá trình này được thực hiện một cách tự động Ban đầu có thể tạm thời ước lượng một mức năng lực của thí sinh, sau khi đặt ra một câu hỏi và thí sinh trả lời Một ước lượng mới về năng lực của thí sinh sẽ được tính toán lại Với ước tính này, câu hỏi kế tiếp sẽ được chọn một cách chính xác hơn Ta có thể xem TNTN như là một thuật toán lặp với thông số đầu vào là ước tính ban đầu về mức độ năng lực của thí sinh, thuật toán được bao gồm các bước sau:
Bước 1 Tất cả các câu hỏi chưa được hệ thống lựa chọn sẽ là câu hỏi ứng cử cho lựa chọn tiếp theo (dựa vào trình độ năng lực hiện tại của thí sinh);
Bước 2 Câu hỏi tiếp theo phù hợp với năng lực hiện tại của thí sinh được đưa ra và thí sinh trả lời câu hỏi đó;
Bước 3 Theo kết quả câu trả lời của thí sinh, một ước lượng mới của mức độ năng lực được tính toán;
Trang 3Bước 4 Quay lại Bước 1 nếu các điều kiện ngừng của TNTN xác định chưa thỏa mãn
Do vậy, trong mô hình TNTN: thuật toán lựa chọn câu hỏi tiếp theo phù hợp với khả năng hiện tại của thí sinh là khó khăn vì phải được tính toán một cách phức tạp Ngày nay với
sự phát triển của khoa học máy tính thì vấn đề trên đã được giải quyết một cách tốt hơn
2.2 Các mô hình trắc nghiệm thích nghi hiện có
Như đã đề cập ở trên, thuật toán lựa chọn câu hỏi tiếp theo là phần quan trọng nhất trong
mô hình TNTN Cho đến hiện nay, tồn tại các mô hình TNTN sử dụng một số thuật toán lựa chọn câu hỏi tiếp theo phù hợp với năng lực của thí sinh như: thuật toán lựa chọn câu hỏi theo tiêu chuẩn thông tin tối đa (Maximum Information - MI), thuật toán lựa chọn câu hỏi theo thông tin toàn cục (Kullback-Leibler – KL), thuật toán lựa chọn câu hỏi dựa trên sự phân tích tiên đoán theo tiêu chí tối đa thông tin (Maximum Expected Information - MEI)
Thuật toán lựa chọn câu hỏi theo tiêu chuẩn thông tin tối đa (MI) [5] là thuật toán phổ
biến được sử dụng trong các mô hình TNTN Câu hỏi thứ n+1 được lựa chọn cho thí sinh là câu
hỏi cung cấp thông tin tối đa cho phép ước lượng khả năng của thí sinh (n) dựa trên n câu hỏi trước đó mà thí sinh đã trả lời
Thuật toán lựa chọn câu hỏi theo thông tin toàn cục (KL) là thuật toán lựa chọn câu hỏi dựa trên phương pháp thông tin tổng thể được đề xuất bởi Chang and Ying (1996) [6] Thuật toán này sử dụng độ đo Kullback-Leibler để tính toán ước lượng trong việc lựa chọn câu hỏi Thuật toán lựa chọn câu hỏi dựa trên sự phân tích tiên đoán theo tiêu chí tối đa thông tin (MEI) là thuật toán lựa chọn câu hỏi dựa trên việc phân tích tiên đoán các tiêu chí tối đa thông tin dự kiến được đề xuất bởi van der Linden (1998) [7]
Các thuật toán lựa chọn câu hỏi trên được thực hiện như sau:
[1] Khởi tạo: Mức năng lực ban đầu của mỗi thí sinh là 0;
[2] Bước Lặp: Ước lượng lại năng lực của thí sinh sau khi thí sinh trả lời câu hỏi Câu hỏi tiếp theo sẽ được lựa chọn dựa trên mức năng lực Cho i là câu hỏi thứ i trong ngân hàng
câu hỏi (i=1 n) và k là số câu hỏi đã được chọn (đưa ra cho thí sinh) Gọi tập S k-1 là tập hợp câu
hỏi đã được chọn S k-1 ={i1,…, i k-1 }; tập R k ={1 n}\S k-1 là tập hợp các câu hỏi còn lại chưa được chọn
Khi đó câu hỏi thứ k được chọn theo nguyên tắc:
Thuật toán MI: Với giá trị năng lực hiện tại , câu hỏi tiếp theo được lựa chọn là câu hỏi
thứ k có giá trị hàm thông tin , ( ) lớn nhất:
≡ , ,…, : ∈ , (1) Trong đó:
, ( ) =
( )
Trang 4 Thuật toán KL: Với giá trị năng lực hiện tại , câu hỏi tiếp theo được lựa chọn là câu hỏi
thứ k có giá trị hàm thông tin ( ) lớn nhất:
Trong đó:
( || ) = ( ) log ( )
( ) + [1 − ( )] log ( )
( ) (4)
√
Thuật toán MEI: Với giá trị năng lực hiện tại , câu hỏi tiếp theo được lựa chọn là câu
hỏi thứ k với trọng số ( ) bởi các khả năng tiên đoán ( | , … , ) có giá trị lớn nhất
Trong đó:
là khả năng tiên đoán của trả lời u s ,
Và ( ; , … , ) = ∏ ( ) [1 − ( )] là tích xác suất trả lời đúng và sai của thí
sinh trong k-1 câu hỏi trước đó
[3] Điều kiện dừng: Khi tất cả các câu hỏi được lựa chọn hoặc mức năng lực của thí sinh đã được xác định
Tiêu chuẩn lỗi (SE) của thuật toán MI, KL và MEI Khi SE đủ nhỏ thì thuật toán lựa chọn câu hỏi của TNTN sẽ dừng Khi đó có thể nói đã xác định được mức năng lực của thí sinh Giả sử Với hai mức tiêu chuẩn lỗi lần lượt là 0.4 và 0.2 Số câu hỏi cần thiết để hệ thống TNTN xác định năng lực thí sinh Trong đó −3 ≤ ≤ +3 như sau:
Bảng 1 Phân bố của 500 bài đánh giá TNTN theo số lượng câu hỏi và tiêu chuẩn lỗi (SE) là 0.4 và 0.2
Số câu hỏi được
yêu cầu bởi hệ
thống TNTN
(5)
Trang 5Từ bảng trên ta thấy, khi điều kiện dừng được đặt với tiêu chuẩn lỗi SE=0.4 Với thủ tục chọn MI có 341 trên 500 bài kiểm tra cần dưới 20 câu hỏi; Với thủ tục chọn KL có 348 trên 500 bài kiểm tra cần dưới 20 câu hỏi; Với thủ tục chọn MEI có 351 trên 500 bài kiểm tra cần dưới 20 câu hỏi Tuy nhiên, khi điều kiện dừng được đặt với tiêu chuẩn lỗi SE=0.2 tất cả các thủ tục chọn đều cần trên 40 câu hỏi
Bảng 2 Bảng đánh giá các thuật toán lựa chọn MI, KL và MEI (+: có, -: không)
Thuật toán lựa
chọn câu hỏi
Đánh giá thông
số câu hỏi
Khả năng thích ứng liên tục với tham số năng lực
Số câu hỏi để xác định tiêu chuẩn lỗi (SE)
Thời gian tính toán hàm thông tin
+/-Phân tích các mô hình TNTN sử dụng các thuật toán lựa chọn câu hỏi trên không tính toán đến thông số của câu hỏi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn (ví dụ như độ khó của câu hỏi), không có khả năng thích ứng liên tục với tham số năng lực của thí sinh Ngoài ra, khi tiêu chuẩn lỗi được đặt cố định ở mức thấp đòi hỏi phải cần nhiều câu hỏi cho bài kiểm tra
và thời gian tính toán hàm thông tin phụ thuộc nhiều vào ngân hàng câu hỏi Do đó, chúng tôi
đề xuất xây dựng mô hình TNTN trên cơ sở lý thuyết đáp ứng câu hỏi (Item Response Theory) nhằm khắc phục các nhược điểm nêu trên
3.1 Lý thuyết đáp ứng câu hỏi (Item Response Theory – IRT)
Lý thuyết đáp ứng câu hỏi là một mô hình toán học để mô tả thí sinh đáp ứng như thế nào với các câu hỏi trong bài trắc nghiệm (Embretson & Reise, 2000) [8] Mô hình này đã được
sử dụng trong việc đánh giá tâm lý con người (Van der Linden & Hambleton, 1997) [9]
Lý thuyết đáp ứng câu hỏi xây dựng mô hình tính toán để xử lý dữ liệu dựa trên việc nghiên cứu mọi cặp tương tác giữa “Thí sinh” và “Câu hỏi” khi triển khai một bài thi trắc nghiệm Mỗi thí sinh đứng trước một câu hỏi sẽ trả lời như thế nào, điều đó phụ thuộc vào năng lực () của thí sinh và một số đặc trưng của câu hỏi
Một câu hỏi có 3 tham số đặc trưng đó là “độ khó” (b), “độ phân biệt” (a) và “độ đoán mò” (c) Trong tham số quan trọng nhất đó là độ khó của câu hỏi, tham số b sẽ được sử dụng
để đối sánh với tham số năng lực của thí sinh Tham số b được sử dụng để thể hiện đặc trưng
phân biệt của câu hỏi và tham số c để chỉ tỉ lệ đoán mò của thí sinh khi gặp câu hỏi Hiện nay có
3 mô hình tính toán phổ biến trong lý thuyết đáp ứng câu hỏi, các mô hình này được phân loại theo số tham số đặc trưng mà nó sử dụng Mô hình 1 tham số (mô hình Rasch) chỉ xét đến độ
Trang 6khó của câu hỏi, mô hình 2 tham số (mô hình Birnbaum) xét thêm độ phân biệt của câu hỏi, và
mô hình 3 tham số xét thêm mức độ đoán mò của thí sinh khi trả lời câu hỏi Cả ba mô hình được thể hiện chung qua công thức (8), được gọi là đường cong đặc trưng câu hỏi (Item Characteristic Curve - ICC)
Trong đó: Các tham số là giá trị năng lực của thí sinh, a là độ phân biệt câu hỏi, b là độ khó của câu hỏi và c là độ đoán mò của thí sinh đối với mỗi câu hỏi ( ) được gọi là xác suất
để thí sinh có năng lực trả lời đúng câu hỏi
Trong bài báo này chúng tôi sử dụng mô hình IRT 2 tham số a và b (c = 0) Lúc này, công
thức (8) trở thành:
Mục đích cuối cùng của hệ thống là đánh giá năng lực của thí sinh Trong mô hình hệ thống TNTN dựa trên cơ sở lý thuyết IRT, vấn đề này được thực hiện bởi hàm khả năng sau:
Trong đó , … , lần lượt là k câu hỏi mà thí sinh đã trả lời
Và năng lực của thí sinh sau sau hỏi thứ k tương ứng là:
Trong đó: ( ) là hàm thông tin câu hỏi: ( ) = ( ; )/
( ; ) Ngoài ra trong lý thuyết đáp ứng câu hỏi còn cung cấp công thức về độ lệch chuẩn (SE) được sử dụng làm điều kiện dừng của hệ thống:
( ) =
∑ ( )
(11)
Hàm thông tin câu hỏi trả về giá trị kỳ vọng của sự thay đổi của năng lực Hay nói cách
khác, câu hỏi i đã đóng góp như thế nào cho sự thay đổi của tham số năng lực Công thức (11)
xác định tiêu chuẩn ước lượng trong giới hạn Và ta có thể sử dụng nó như điều kiện dừng của
hệ thống
3.2 Mô hình trắc nghiệm thích nghi dựa trên lý thuyết đáp ứng câu hỏi
Một mô hình tổng thể TNTN cần có các thành phần sau:
Ngân hàng câu hỏi (Item banking);
Các thuật toán: Start (khởi tạo), Select (lựa chọn câu hỏi), Administer (thi hành), Score (đánh giá kết quả), Compute (tính toán), Stop (dừng), Report (báo cáo)
Ngân hàng câu hỏi (NHCH)
Trang 7Để có thể quản lý một hệ thống TNTN, một NHCH phải có đủ số lượng tốt các câu hỏi phù hợp một mô hình TNTN trên cơ sở lý thuyết đáp ứng câu hỏi (mô hình tham số IRT) Về nguyên tắc, các tiêu chí cho câu hỏi tốt không khác so với các tiêu chuẩn cho các mục trong một trắc nghiệm trên giấy thông thường Tuy nhiên, các câu hỏi cũng phải được hiệu chỉnh theo một mô hình tham số IRT được lựa chọn Trong mô hình tham sô IRT mỗi câu hỏi có các tham
số như độ khó, độ phân biệt và đoán mò Trong đề tài này chúng tôi quyết định lựa chọn mô hình IRT với 2 tham số của câu hỏi (độ khó và độ phân biệt) để thực hiện trong hệ thống TNTN của mình
Các thuật toán trong hệ thống TNTN
Về cơ bản hệ thống TNTN có thể được phân làm 3 loại: Khởi đầu, Lặp và kết thúc Khi đó thuật toán Start, Stop và Report được sử dụng 1 lần và các thuật toán Select Administer, Score
và Compute sẽ được lặp nhiều lần trong quá trình hoạt động của hệ thống Trong đó thuật toán lựa chọn câu hỏi Select là quan trọng nhất của hệ thống Trong hệ thống TNTN này, chúng tôi
sử dụng mô hình lý thuyết IRT để xây dựng thuật toán Chi tiết về mô hình thuật toán này được trình bày bên dưới
Hình 1 Mô hình tổng thể hệ thống TNTN dựa trên lý thuyết IRT
Start
Select
Administer
Score
Compute
Stop
Report yes
no
Trang 8- Start: thuật toán này mục đích lựa chọn câu hỏi đầu tiên cho bài kiểm tra Giả sử thí sinh khi bắt đầu có một giá trị năng lực ở mức độ trung bình Mặc dù, ta có thể lựa chọn bắt đầu từ câu hỏi dễ nhất hoặc khó nhất Khi đó thuật toán sẽ lựa chọn câu hỏi
từ ngân hàng với các tham số tương ứng phù hợp
- Select: Sau mỗi vòng lặp thuật toán sẽ lựa chọn câu hỏi tiếp theo có tiêu chí phù hợp với mức năng lực hiện tại của thí sinh Để lựa chọn câu hỏi, cần có sự đánh giá về năng lực hiện tại của thí sinh và các tham số tương ứng của câu hỏi Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn trong phần sau
- Administer and Score: đây là quá trình thi hành của hệ thống Trong giai đoạn này, câu hỏi sẽ được trình bày, thí sinh trả lời và hệ thống ghi nhận kết quả
- Compute: Thuật toán xử lý điểm số của thí sinh Điểm số sẽ dựa trên thông tin về mức năng lực hiện tại của thí sinh và kết quả trả lời câu hỏi hiện tại
- Stop: Sau khi hệ thống xử lý hoàn thành các thao tác cần thiết đối với một câu hỏi với thí sinh Hệ thống sẽ quyết định dừng hoặc tiếp tục quá trình trắc nghiệm phụ thuộc vào kết quả của Stop Khi các điều kiện dừng thõa mãn thì Stop sẽ có kết quả là True, lúc này hệ thống sẽ dừng và ngược lại
- Report: Hệ thống sẽ thông báo kết quả đánh giá năng lực của thí sinh đồng thời ghi nhận kết quả vào hệ thống cho các lần kiểm tra tiếp theo nếu có
Thuật toán lựa chọn câu hỏi
Trong hệ thống TNTN, sau mỗi lần lặp hệ thống sẽ lựa chọn câu hỏi tiếp theo trong ngân hàng câu hỏi để đề cử cho quá trình thực hiện đánh giá tiếp theo Trong mô hình này, câu hỏi được chọn cần phù hợp với mức năng lực hiện tại của thí sinh Chúng tôi sử dụng hàm thông tin câu hỏi (10) trong lý thuyết đáp ứng câu hỏi để đánh giá và lựa chọn câu hỏi tiếp theo phù hợp với khả năng hiện tại của thí sinh
Thuật toán Select gồm các bước:
- Dựa trên tham số năng lực hiện tại, tính toán giá trị hàm thông tin các câu hỏi ứng cử (tất cả các câu hỏi chưa đưa ra cho thí sinh trả lời);
- Tìm và lựa chọn câu hỏi có giá trị thông tin lớn nhất (với câu hỏi có hàm thông tin lớn nhất có nghĩa là câu hỏi đó phù hợp với khả năng hiện tại của thí sinh nhất)
Với lựa chọn mô hình IRT 2 tham số, thì hàm thông tin sẽ là:
3.3 Hệ thống trắc nghiệm thích nghi
Dựa trên mô hình TNTN đã đề xuất, nhóm tác giả tiến hành phát triển hệ thống TNTN như sau:
Trang 9Phần Giao diện thí sinh: Đây là phần giao diện làm việc của thí sinh khi thao tác trên hệ thống TNTN Phần này gồm có:
- Quản lý đăng nhập: Thí sinh chưa có tài khoản thì có thể đăng ký mới để đăng nhập vào hệ thống đánh giá TNTN, hệ thống sẽ khởi tạo thí sinh mới có mức năng lực trung bình Đối với thí sinh cũ có thể đăng nhập tài khoản đã có
- Giao diện thực hiện quá trình kiểm tra: Đây là nơi thí sinh sẽ thực hiện thao tác trả lời câu hỏi của hệ thống TNTN Mỗi lượt sẽ xuất hiện câu hỏi và các đáp án lựa chọn Thí sinh chọn đáp án và gửi về hệ thống Hệ thống đánh giá và thông báo kết quả lựa chọn (đúng/sai) Ngoài ra, có thể thông báo luôn kết quả của việc đánh giá năng lực hiện tại của thí sinh
Hình 2 Kiến trúc tổng thể hệ thống TNTN dựa trên lý thuyết IRT Phần quản trị: Đây là phần làm việc của người quản trị hệ thống (Giáo viên) Phần này gồm có:
Quản lý đăng nhập
Giao diện thực hiện quá trình kiểm tra
Quản lý thí sinh
Quản lý câu hỏi
Quản trị
Hệ thống
Hệ thống TNTN
Select Administer Score Compute
Report Stop Start
Database
Trang 10- Phần giao diện: cho phép người quản trị thực hiện các thao tác đối với hệ thống đánh giá TNTN của mình như: thao tác đối với câu hỏi (thêm, xóa, sửa, tìm kiếm) trong ngân hàng câu hỏi; thao tác đối với thí sinh (xem, xuất kết quả đánh giá, xem lịch sử,
…), thao tác quản trị hệ thống
- Quản lý câu hỏi: có nhiệm vụ kết nối và thực hiện các thao tác cần thiết với ngân hàng câu hỏi (Cơ sở dữ liệu) Ngoài ra, thành phần này còn có chức năng lấy câu hỏi
từ CSDL theo yêu cầu từ hệ thống TNTN
- Quản lý thí sinh: cho phép kết nối và thực hiện các thao tác cần thiết với dữ liệu thí sinh
- Quản trị hệ thống: cho phép thiết lập các chức năng của hệ thống (đăng nhập, phân quyền, …)
- Hệ thống TNTN: là thành phần trung tâm của hệ thống, thực hiện quá trình đánh giá thí sinh khi có yêu cầu Hệ thống lựa chọn câu hỏi, gửi về thành phần giao diện, nhận kết quả, đánh giá năng lực hiện tại, trả kết quả đánh giá, …
- Cơ sở dữ liệu: chứa toàn bộ dữ liệu về thông tin câu hỏi, thông tin thí sinh và thông tin đăng nhập Hệ thống được kết nối với các bộ phận quản trị tương ứng để nhận và trả dữ liệu theo yêu cầu của hệ thống
Để thử nghiệm mô hình này, chúng tôi đã tiến hành thiết kế hệ thống TNTN trên cơ sở
mô hình đề xuất, xây dựng ngân hàng câu hỏi cho môn Tin học tại trường THPT Tôn Đức Thắng – Đức Cơ – Gia Lai Tiến hành thử nghiệm bộ dữ liệu trên với hệ thống trắc nghiệm thích nghi dựa trên mô hình đề xuất với các thí sinh có giá trị năng lực 0 ban đầu lần lượt là -1.5, 0,
và 1.5 như sau:
Bảng 3 Kết quả của các thí sinh đánh giá qua hệ thống TNTN
Câu hỏi
chọn
Độ
khó
(b)
Độ phân biệt (a)
Trả lời
0 = -1.5 0 = 0 0 = 1.5 Năng
lực (k )
Tiêu chuẩn lỗi (SE)
Năng lực (k )
Tiêu chuẩn lỗi (SE)
Năng lực (k )
Tiêu chuẩn lỗi (SE)