Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình giáo dục, là công cụ quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực, nhận thức của người học, để điều chỉnh quá trình dạy và học,
Trang 1ĐỔI MỚI KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ LỢI
A ĐẶT VẤN ĐỀ.
I CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Nâng cao chất lượng dạy và học là một vấn đề lớn gồm rất nhiều khâu, nhiều phương diện, trong đó đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu rất quan trọng
Để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục việc kiểm tra đánh giá cũng phải chuyển biến mạnh mẽ theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo cho học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các đơn vị kiến thức, kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng
Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình giáo dục, là công cụ quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực, nhận thức của người học, để điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực của đổi mới phương pháp, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục
Kiểm tra là công cụ, phương tiện và là hình thức chủ yếu, quan trọng của đánh giá
Kiểm tra, đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục
Kiểm tra, đánh giá là hoạt động bắt buộc quen thuộc đối với tất cả giáo viên
Trong nhà trường, hoạt động dạy học là trung tâm để thực hiện nhiệm cụ
chính trị được giao, thực hiện sứ mệnh “ trồng người” Hoạt động dạy học đạt
hiệu quả cao khi tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, bầu không khí thân thiện, phát huy ngày càng cao vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Do đó, phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học nói chung
và đổi mới kiểm tra- đánh giá nói riêng thành trọng tâm của cuộc vận động “
Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Cũng trong mối
quan hệ đó, bước phát triển của cuộc vận động và phong trào thi đua này sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra-đánh giá đạt được mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trang 21 Về đặc điểm đối tượng học sinh:
Trường THPT Nguyễn Thị Lợi được thành lập từ tháng 9 năm 2001( tiền thân xuất phát từ trường bán công) Hoạt động giáo dục của nhà trường gặp
nhiều khó khăn do đứng chân trên một địa bàn tương đối đặc biệt là một vùng
biển chưa thật sự quan tâm nhiều đến giáo dục ( Một thị xã du lịch, có diện tích tương đối nhỏ hẹp: chỉ gồm 5 xã, phường) nên có vùng tuyên sinh hẹp, nhiều
năm liền tuyển sinh sau trường Công lập, nên chất lượng đàu vào còn rất thấp Chính với đối tượng học sinh như thế đã gây ra không ít khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiến hành các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục
2 Về hoạt động kiểm tra - đánh giá
Trong hoạt động chuyên môn BGH nhà trường coi trọng nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học trong đó có vấn đề : Đổi mới kiểm tra- đánh giá để thúc đẩy đỏi mới phương pháp dạy học các bộ môn Tuy nhiên thực tế hoạt động kiểm tra – đánh giá của nhà trường nói chung và môn Ngữ văn nói riêng vẫn tồn tài rất nhiều vấn đề phải xem xét, cần thay đổi để đáp ứng được yêu cầu và vai trò Kiểm tra – đánh giá là khâu quan trọng, là động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục
Với vị trí là một tổ trưởng chuyên môn: Văn- Sử- Địa- GDCD đồng thời là nhóm trường chuyên môn nhóm Ngữ văn, thực tế trên đã khiến bản thân có nhiều trăn trở, tìm tòi và xin mạnh dạn rút ra một vài kinh nghiệm nhỏ
III ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ:
1 Đối tượng:
Hoạt động kiểm tra đánh giá của bản thân và giáo viên trong nhóm Ngữ văn Trường THPT Nguyễn Thị Lợi- TX Sầm Sơn
2 Nhiệm vụ
Rút ra những kinh nghiệm thiết thực trong các hoạt động đổi mới kiểm tra – đánh giá nhằm thúc đẩy đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở Trường THPT Nguyễn Thị Lợi – TX Sầm Sơn
IV PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU.
1 Phạm vi kiểm tra- đánh giá:
Bốn mức độ và hình thức kiểm tra- đánh giá theo qui định hiện hành:
- Kiểm tra miệng
- Kiểm tra 15 phút
- Kiểm tra 1 tiết trở lên
- Kiểm tra học kỳ I và kiểm tra học kỳ II( cuối năm)
2 Phương pháp kiểm tra – đánh giá.
Sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Sưu tầm tài liệu
- Phân tích
Trang 3- Thống kê.
- Đối chiếu
B NỘI DUNG.
I THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
1 Đối với hình thức kiểm tra – đánh giá miệng:
a Kiểm tra miệng trong các tiết học bình thường.
-Thường chỉ tiến hành ở đầu tiết học,
trước khi bắt đầu bài mới
- Có thể thực hiện trong nhiều thời điểm khác nhau của tiết học: để kiểm tra bài học cũ, chuẩn bị bài mới và có thể kiểm tra một kiến thức cũ có liên quan đến bài mới( hay kiểm tra trong quá trình học bài mới)
- Nội dung kiểm tra: kiểm tra nội
dung của bài cũ vừa học ở tiết học
trước đó của môn học
- Phạm vi kiểm tra rộng hơn, thậm chí
ở lớp dưới, cấp học dưới, có tính hệ thống, liên quan đến nội dung bài đang học
- Sử dụng hình thức gọi học sinh
mang vở bài tập lên bảng, giáo viên
đặt câu hỏi, học sinh trả lời theo yêu
cầu, GV nhận xét cho điểm và củng
cố bài cũ, giới thiệu bài mới
- đa dạng hình thức kiểm tra, có thể khai thác ưu thế trực quan của các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu hắt, máy chiếu đa năng… để áp dụng các hình thức kiểm tra như trắc nghiệm khách quan, xem băng đĩa và nhận xét
b Kiểm tra miệng trong các tiết ôn tập.
Đối với các tiết ôn tập ngoài hình thức quen thuộc là kiểm tra vấn đáp, có thể tiến hành kiểm tra miệng bằng làm bài tập nhỏ, hoặc phát phiếu học tập yêu cầu cả lớp làm
Với cách kiểm tra- đánh già này có ưu điểm là giúp giáo viên nắm bắt được những thông tin phản hồi từ phía người học một cách nhanh chóng để điều chỉnh giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn
2 Đối với hình thức kiểm tra viết.
Trong quá trình đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục THPT nói riêng, mục tiêu, nội dung giáo dục đã được đổi mới, đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế xã hội đang phát triển Việc đổi mới phương pháp dạy học được chú tọng và xem như một khâu đột phá quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục Đổi mới dạy học cần hình thức kiểm tra tương xứng với
nó để tạo ra động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học Để đáp ứng những mục tiêu mới của giáo dục, việc
Trang 4kiểm tra đánh giá cũng phải đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống phức tạp hiện nay Kiểm tra – đánh giá có vai trò ý nghĩa đối với cả học sinh và giáo viên vì qua kiểm tra- đánh giá sẽ giúp cho giáo viên bộ môn, các nhà quản lý giáo dục và bản thân học sinh có những thông tin xác thực để có tác dụng kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung
phương pháp trong quá trình dạy và học: Không đổi mới kiểm tra- đánh giá thì tất cả trở nên vô nghĩa.
Kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học sinh là một mắt xích quan trọng trong quá trình đào tạo Kiểm tra-đánh giá có hệ thống và thường xuyên sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học, giúp giáo viên có thông tin phản hồi để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy để từ đó nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường phổ thông
Do yêu cầu đặc trưng bộ môn nên kiểm tra- đánh giá trong môn Ngữ văn nhằm mục đích đánh giá học sinh một cách toàn diện về hai năng lực đọc-hiểu văn bản và tạo lập văn bản, tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và xúc cảm thẩm mĩ Những năng lực này đã được cụ thể hoá trong chuẩn chương trình môn học với những yêu cầu cần đạt trên cả ba mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ
Trong kiểm tra – đánh giá môn Ngữ văn bản thân tôi đã thực hiện các công việc sau:
Thứ nhất: Việc kiểm tra - đánh gía kết quả học tập môn Ngữ văn trước
hết cần phải bám sát mục tiêu môn học, và chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đánh giá Tuy nhiên, các chuẩn trong chương trình chưa phải là chuẩn đánh giá vì chuẩn đánh giá được hiểu là “ biểu hiện cụ thể những yêu cầu cơ bản, tối thiểu của mục tiêu giáo dục mà người học phải đạt được” Vì thế trước khi quyết định kiểm tra, cần thực hiện hoá các mục tiêu và chuẩn yêu cầu cần đạt về kiến thức- kĩ năng từ 3 mạch nội dung: Văn bản, tiếng Việt và Làm văn( chuẩn chương trình) và có khi là cả thái độ xác định cho mỗi nội dung học tập của môn học thành các tiêu chí đánh giá cụ thể, có thể đo đếm được, phù hợp với năng lực học tập Ngữ văn chung của học sinh và có thể thực hiện được trong thực tế với khoảng thời gian nhất định Việc xác định chuẩn đánh giấ sẽ là cơ sở để định ra nội dung và hình thức kiểm tra trong môn học, cũng là căn cứ để có thể đo một cách chính xác các mức độ nhận thức và vận dụng của học sinh
Thứ hai: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh
được căn cứ trên những đổi mới về nội dung chương trình và sách giáo khoa
Trang 5Ngữ văn THPT Đối với bộ môn Ngữ văn ở THPT đánh giá học sinh ở 3 cấp độ: Nhận biết, thông hiểu và vận dung Cụ thể nư sau:
+ Theo quan điểm tích hợp gồm ba xu thế: tích hợp nội dung kiến thức,
kỹ năng của ba mạch kiến thức: Văn bản, tiếng Việt, làm văn; Tích hợp dạy kiến thức Ngữ văn với rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết; Tích hợ kiến thức liên môn vào từng bài học, có liên thông và lặp lại ở các bài học khác
+ Chú trọng hình thành phát triển cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc và viết đặc biệt qua bốn kĩ năng này hình thành năng lực cảm thụ, năng lực bộc lộ, biểu đạt tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ nói, viết tiếng Việt cho học sinh ;
quan tâm hơn đến việc hình thành năng lực đọc văn bản( đọc hiểu văn bản)
và năng lực làm văn( tạo lập, sản sinh văn bản)
+ Theo tinh thần phát triển các năng lực thiết yếu ở người học như năng lực tự học, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực tự khẳng định… một chiến lược sư phạmchú trọng tới việc tích cực hoá hoạt động học tập của người học và xuất phát từ quyền lợi và mong muốn của người học sau khi kết thúc chương trình học tập môn Ngữ văn
Thứ ba: Mở rộng phạm vi kiến thức kỹ năng được kiểm tra qua mỗi lần
đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh Trong đánh giá, coi trọng sự đánh giá toàn diện về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ dựa trên kết quả thực hành vận dụng 4 kĩ năng nghe, nói, đọc và viết của học sinh-không có nghĩa là đề cao kỹ năng, coi nhẹ đánh giá thái độ và trình độ nhận thức có tính khoa học Ngay cả việc đánh giá năng lực cảm thụ của học sinh cũng khổng thể chỉ căn cứ vào các bài kiểm tra viết
( tập làm văn) theo định kỳ mà không dựa trên kết quả kiểm tra thường xuyên của cả 4 kỹ năng này Kết hợp với sự thể hiện, bộc lộ các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết trong học tập các môn học khác và trong những hoạt động khác ở lớp học, trong nhà trường và ở ngoài xã hội
Với nguyên tắc này, các bài kiểm tra chỉ yêu cầu học sinh nhớ, tái hiện
kiến thức được( mức độ tư duy nhận biết) giảm thiểu, những câu hỏi bài tập thử thách tư duy sáng tạo( mức độ tư duy thông hiểu), năng lực vận dụng
linh hoạt các tri thức kĩ năng đã học để giải quyết hợp lí những vấn đề đặt ra
trong thực tiễn được tăng cường( mức độ tư duy vận dụng) Mặt khác, mỗi
bài kiểm tra có thể sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau nhàm phân hoá các đối tượng học sinh, giúp giáo viên có được những thông tin đầy đủ về việc học tập Ngữ văn của từng đối tượng học sinh trong lớp và từ đó có những quyết định sư phạm chính xác, kịp thời giúp từng học sinh tiến bộ thực sự
Thứ tư: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh
luôn dựa trên quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh( với ý ngiã học sinh tự giác, chủ động, linh hoạt trong lĩnh hội và vận dụng kiến
Trang 6thức kỹ năng) Mỗi một đề kiểm tra đều cố gắng tạo điều kiện cho tất cả các đối tượng học sinh được suy nghĩ, tìm tòi, khám phá… để có thể hiểu, cảm, vận dụng tốt các kiến thức, kỹ năng về văn, tiếng Việt, làm văn vào quá trình thực hiện bài kiểm tra Đặ biệt chú trọng kiểm tra hoạt động nghĩ( tư duy), làm ( thực hành) của học sinh Cụ thể là các hoạt động nghe hiểu, đọc hiểu, viết và nói; hoạt động vận dụng kiến thức kỹ năng đã có để tự khẳng định mình qua các hoạt động giao tiếp cụ thể
Việc đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh cần cố gắng thể hiện được tinh thần đổi mới phương pháp dạy học nhàm đánh giá và phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh khi tham gia vào quá trình học tập, khuyến khích học sinh biết cách tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn thông qua những chỉ số đánh giá mà giáo viên cung cấp
Thứ năm: Cần đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, kết hợp các dạng bài
tự luận truyền thống với các dạng bài kiểm tra khác để tăng cường tính chính xác, khách quan trong đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn… Điều này được thể hiện qua việc nắm vững các kĩ thuật đo lường, đánh giá và tăng cường số lần kiểm tra, kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau, coi kiểm tra như là một biện pháp kích thích hứng thú học tập môn học, công khai biểu điểm và định hướng đánh giá giúp học sinh tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục những cai sót, hạn chế( nếu có) trong quá trình tìm hiểu, lĩnh hội và vận dụng những kiến thức, kỹ năng của môn Ngữ văn
Thứ sáu: Chú trọng tới tính phân hoá trong kiểm tra Một đề kiểm tra
phải góp phần phân loại được học sinh theo mục tiêu và theo mặt bằng chất lượng chung Căn cứ trên yêu cầu cần đạt, đề kiểm tra phải đảm bảo đánh giá được năng lực và thành tích học tập thực sự của đa số học sinh Đề kiểm tra phải giữ một tỉ lệ nhất định cho những câu hỏi dễ ( nhớ, thuộc lòng), trung bình, khó, sao cho điểm số có thể phản ánh ttrung thực nhất năng lực học tập của mỗi học sinh
KĨ THUẬT BIÊN SOẠNĐỀ KIỂM TRA- ĐÁNH GIÁ
1 Quy trình biên soạn đề kiểm tra- đánh giá:
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một hoạt động quan trọng trong quá trình giáo dục Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử
lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, các giải pháp của các cấp quản lí giáo dục và cho bản thân học sinh, để học sinh học tập đạt kết quả tốt hơn
Đánh giá kết quả học tập của học sinh cần sử dụng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp và hình thức khác nhau Đề kiểm tra là một trong những công cụ được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trang 7Để biên soạn đề kiểm tra cần thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1: Xác định mục đích của đề kiểm tra.
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học sinh học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp
Bước 2: Xác định hình thức đề kiểm tra.
Đề kiểm tra có các hình thức sau:
- Đề kiểm tra tự luận
- Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan
- Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận
và câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác hơn
Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên cho học sinh làm bài kiểm tra phần trắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm bài kiểm tra phần tự luận: làm phần trắc nghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho học sinh làm phần tự luận
Bước 3:
Thiết lập ma trận đề kiểm tra
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng( gồm có vận dụng ở cấp thấp và vận dụng ở cấp độ cao)
Trong mỗi ô chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ 5
số điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức
ĐỀ KIỂM TRA THI HỌC KỲ II, LỚP 11
NGỮ VĂN (CT CHUẨN)
Thời gian: 90 phút
I MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:
1 Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức kĩ năng
trong chương trình học kì 2, môn Ngữ văn 11 của học sinh
Trang 82 Khảo sát, bao quát một số nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình Ngữ văn 11 học kì 2 theo 3 nội dung quan trọng: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn, với mục đích đánh giá năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh thông qua hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận
Cụ thể: Đề kiểm tra nhằm đánh giá trình độ học sinh theo các chuẩn sau:
- Nhớ được những kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, thể loại các tác phẩm đã học
- Hiểu và vận dụng các phạm vi kiến thức Tiếng Việt, Làm văn:
- Vận dụng kiến thức văn học để giải quyết một vấn đề nghị luận văn học
II HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA:
- Trắc nghiệm kết hợp tự luận
- Cách tổ chức kiểm tra: Cho học sinh làm phần Trắc nghiệm vµ phần
Tự luận trong 90 phút
III THIẾT LẬP MA TRẬN:
- Liệt kê các Chuẩn KTKN của chương trình Ngữ văn 11, học kì 2;
- Chọn các nội dung cần đánh giá;
- Thực hiện các bước thiết lập ma trận
- Xác định khung ma trận:
Mức
độ
Chủ đề
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
1 Tiếng
Việt:
-NghÜa cña
c©u
-Phong c¸ch
ng«n ng÷
chÝnh luËn
- Nhận biết được các thành phần
câu, biÓu hiÖn cña nghÜa t×nh th¸i
-NhËn biÕt vÒ
phong c¸ch
chÝnh luËn
2.Văn học:
T¸c phÈm: - Nhận biếtvÒ t¸c phÈm - Hiểu vềphong c¸ch
- VËn dông vÒ
Trang 9Véi vµng,
HÇu trêi Véi vµng t¸c gi¶ T¶n§µ vµ Xu©n
DiÖu
- HiÓu vÒ néi dung t¸c phÈm
néi dung
- VËn dông
kÜ n¨ng vÒ nghÖ thuËt
văn:
- TiÓu sö
tãm t¾t
- NghÞ luËn
x· héi
-Nghị luận
văn học
- NhËn biÕt được yêu cầu của viết tiểu
sử tóm tắt
Nghị luận
về tư tưởng, đạo lý
Nghị luận văn học
7,5
IV §Ò kiÓm tra
A PhÇn 1: Tr¾c nghiÖm (3 ®iÓm)
Trả lời các câu hỏi bằng cách khoanh tròn vào chỉ một chữ cái trước câu trả lời
Câu 1 Cái ngông trong “Hầu trời” là cái “ngông” của kiểu nhà nho tài tử Nhận xét này đúng hay sai?
Câu 2 “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ luôn dạt dào sự sống
và nồng nàn tình yêu đối với cuộc sống của Xuân Diệu Nhận đinh trên:
A.Sai B Đúng
Câu 3 Âm hưởng chung của bài thơ “ Tràng giang “ là gì ?
A Âm điệu trầm lắng , thiêng liêng
B Âm điệu trầm buồn, vừa dư vang vừa xa lắng
C Âm điệu da diết , thiêng liêng
D Âm điệu vừa trầm buồn vừa rộn rã
Câu 4.Trong bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ “ dòng nào sau đây không có trong cảnh vườn thôn Vĩ ?
A.Hàng cau lấp lánh ánh nắng mai
B.Khu vườn mướt xanh như ngọc
C.Tiếng hót trong trẻo của tiếng chim sơn ca trong ban mai
D.Khuôn mặt chữ điền thấp thoáng sau lá trúc
Câu 5: Dòng nào nêu đúng mục đích của tiểu sử tóm tắt
A Ghi lại những thông tin khách quan của một con người
Trang 10B Ghi lại những thông tin cơ bản về cuộc đời của một con người
C Ghi lại những thông tin cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của một con người
D Ghi lại những thông tin khách quan, cơ bản về một cá nhân nhằm giới thiệu về thân thế sự nghiệp của một con người
Câu 6: Nghĩa của câu bao gồm mấy thành phần?
A Một thành phần
B Hai thành phần
C Ba thành phần
D Bốn thành phần
Câu7 : Hai câu thơ : “ Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
(Từ ấy- Tố Hữu)
Thể hiện chính xác tâm trạng nào của tác giả?
A Niềm hân hoan vui tươi khi mùa xuân về
B Niềm hạnh phúc của một tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên
C Niềm vui sướng say mê khi bắt gặp lí tưởng cách mạng
D Niềm vui sướng say mê khi lần đầu tiên đến với thơ ca
Câu 8 Đặc trưng nào sau đây không thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận ?
A Tính công khai về quan điểm chính trị
B Tính chặt chẽ trong diễn đạt , lập luận
C Tính đa nghĩa của ngôn từ sử dụng
D Tính truyền cảm , thuyết phục
Câu 9 Trường hợp nào sau đây cần viết tiểu sử tóm tắt ?
A Thuyết minh về một danh nhân
B Giới thiệu một ứng cử viên Quốc hội
C Giới thiệu một lãnh tụ nước ngoài sang thăm nước ta
D Cáo phó trên truyền hình về một người dân đã mất
Câu 10: Chọn câu trả lời đầy đủ và chính xác về nội dung của nghĩa tình thái trong câu:
A Thái độ, sự đánh giá của người nói được bộc lộ qua các từ ngữ tình thái trong câu
B Thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc được đề cập tới trong câu
C Thái độ, sự đánh giá của người nói đối với người nghe
D Thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc được đề cập đến trong câu hoặc đối với người nghe
Câu 11: Để tóm tắt một văn bản nghị luận, cần đảm bảo yêu cầu nào dưới đây?
A Cần đọc kĩ văn bản gốc, nêu tất cả các ý có trong văn bản gốc