Nghiên cứu quan hệ văn hoá giữa tộc người chủ thể Kinh Việt với các tộc người khác sẽ làm sáng tỏ quy luật phát triển theo hướng trao đổi, tiếp thu văn hoá bằng hoà hợp dân tộc để xây dự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Thị Thu Hương
MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA TÀY – VIỆT DƯỚI GÓC ĐỘ THẨM MỸ
QUA MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CƠ BẢN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Thị Thu Hương
MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA TÀY – VIỆT DƯỚI GÓC ĐỘ THẨM MỸ
QUA MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CƠ BẢN
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1 Giá trị thời sự của đề tài:
1.1.1 Cuộc sống hiện đại trong sự hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh như vũ bão đã làm cho nhu cầu nhận thức sâu sắc vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và văn hoá tộc người trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Coi trọng văn hoá truyền thống chính là coi trọng nền tảng sức mạnh tinh thần của dân tộc Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V khoá VIII đã nêu rõ: "Di sản văn hoá là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn, phát huy
những giá trị văn hoá truyền thống" [13, tr.63] Xu thế trở về cội nguồn để khẳng định
những giá trị văn hoá truyền thống là hướng đi mang tính tất yếu của thời đại
1.1.2 Trong bối cảnh toàn cầu hoá của thời đại mới, việc khẳng định giá trị văn hoá truyền thống từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau vừa là yêu cầu và vừa là thách thức đối với nhiều nhà nghiên cứu Nhà thơ Cù Huy Cận đã khẳng định trong buổi toạ đàm về tuyên ngôn toàn cầu hoá về đa dạng văn hoá của Unesco vào ngày 23/8/2002:
"Việc bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống hiện nay là một vấn đề cực kỳ quan trọng trước nguy cơ đồng dạng văn hoá, áp đặt các nền văn hoá của các nước phát triển với những quốc gia nhỏ bé Điều này sẽ làm cho bản sắc văn hoá bị biến dạng và mất đi nét đặc trưng của nó…"[161] Một trong những vấn đề mang tính thời sự của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay là ủng hộ đa dạng văn hoá và chống lại nguy cơ đồng dạng văn hoá Muốn làm được điều đó, trước tiên mỗi dân tộc phải tự khẳng định được bản sắc văn hoá đặc thù của chính dân tộc mình trên con đường tiếp xúc hội nhập Với cái nhìn tổng thể, văn hoá được hiểu là một phạm trù rất năng động với đủ các khía cạnh về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm… Với cách hiểu đó, văn hoá đã khắc hoạ nên sắc thái diện mạo của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia dân tộc Đúng như nhận định của Trần Quốc Vượng, "Việt Nam là một quốc gia nhưng là một quốc gia
đa tộc… song nền văn hoá Việt Nam lại rất đa dạng, theo thời gian diễn triển, theo
Trang 4không gian gia đình - làng xã, vùng miền - tộc người… theo các mối giao lưu rồi giao thoa, hỗn chủng, đan xen, hỗn dung, tiếp xúc biến đổi, biến dạng nhưng cuối cùng vẫn
hội tụ - kết tinh và định hình một nền văn hoá Việt Nam" [305, tr.199] Như vậy,
hướng nghiên cứu mối quan hệ văn hoá tộc người trong cộng đồng Việt Nam thống nhất cần được sự quan tâm đặc biệt của nhiều ngành nghiên cứu
1.1.3 Nói như Tô Ngọc Thanh, nền văn hoá Việt Nam “là nền văn hoá kết tinh những giá trị văn hoá các tộc người, đồng thời lại là cơ sở cho quá trình giao lưu giữa các nền văn hoá tộc người để trở nên mạnh hơn, rộng hơn, nhanh hơn khiến cho văn hoá mỗi tộc người giàu có hơn và phát triển nhanh hơn" [196, tr.37] Nghiên cứu quan
hệ văn hoá giữa tộc người chủ thể Kinh (Việt) với các tộc người khác sẽ làm sáng tỏ quy luật phát triển theo hướng trao đổi, tiếp thu văn hoá bằng hoà hợp dân tộc để xây dựng nền văn hoá thống nhất nhưng lại mang phong cách độc đáo của mỗi tộc người Cái độc đáo trong văn hoá của từng tộc người đã góp phần tạo nên diện mạo chung của văn hoá Việt Nam, có những yếu tố riêng mang tính đặc thù bên cạnh những yếu tố chung mang tính phổ quát
Trong đại gia đình các tộc người Việt Nam, tộc người Tày là tộc người có số dân đông thứ hai sau người Kinh (Việt), có quan hệ gắn bó với người Kinh theo suốt chiều dài của lịch sử từ thời mở nước đến tận ngày nay Mối quan hệ văn hoá Tày - Việt là mối quan hệ đặc biệt, cần phải được bảo lưu và phát triển
1.2 Giá trị lý luận của đề tài:
1.2.1 Kho tàng văn học dân gian cổ truyền, nhất là kho tàng truyện kể dân gian của các tộc người Việt Nam chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống vô giá đã được truyền giao qua nhiều thời đại Qua truyện kể dân gian chúng ta có thể nhận diện được nguồn gốc các loại hình văn hoá với đặc trưng vùng, địa phương rõ nét cùng với phong tục tập quán, tôn giáo của một tộc người hay của cả một dân tộc Vì thế, khai thác, giải mã truyện kể dân gian để tìm ra những giá trị văn hoá truyền thống tiềm ẩn qua nhiều lớp nghĩa là lý do mang tính học thuật đầu tiên
1.2.2 Văn học dân gian với ưu thế về chất liệu ngôn từ trong sự phản ánh thực tại là sự tích hợp những giá trị ưu tú nhất của văn hoá dân gian và tiềm ẩn nhiều mạch
Trang 5nguồn văn hoá, tư tưởng của dân tộc Văn học dân gian mang sức nặng của cả một gia tài văn hoá được trải nghiệm qua không gian và thời gian, được bảo lưu và trao truyền
từ thế hệ này đến thế hệ khác Tìm hiểu, phân tích những giá trị của các tác phẩm văn học dân gian có nghĩa là góp phần nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc
1.2.3 Văn hoá - văn học dân gian của tộc người Tày và Kinh (Việt) là một bộ phận không thể tách rời trong kho tàng văn hoá - văn học dân gian Việt Nam Để hiểu sâu sắc hơn nền văn hoá Việt Nam, thì việc khám phá những giá trị thẩm mỹ và giá trị
tư tưởng của kho tàng văn hoá - văn học dân gian của người Tày cũng như người Việt qua sự tiếp xúc ngôn ngữ, giao thoa, tiếp biến, dung hợp văn hoá theo cả hai chiều Tày
- Việt và Việt - Tày là hướng nghiên cứu có ý nghĩa nhiều mặt, cả về lý luận lẫn thực tiễn trong việc sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian nói chung và truyện
kể dân gian nói riêng Sự phát triển không ngừng của học thuật và sự mở rộng hướng tiếp cận nhiều chiều trong nghiên cứu đã giúp các nhà nghiên cứu văn hoá - văn học dân gian Việt Nam từng bước có được nhận thức chính xác về mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học dân gian với văn hoá dân gian
Đề tài đã được lựa chọn "Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt dưới góc độ thẩm
mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản" có cơ sở lý luận và thực tiễn nằm
ngay trong bản chất đặc trưng của văn học dân gian: đặc trưng văn học và đặc trưng văn hoá Hệ thống luận điểm của đề tài sẽ được giải quyết giữa hai góc độ ngữ văn và dân tộc học, bởi lẽ văn học dân gian là một thành phần hữu cơ của văn hoá dân gian có tính nguyên hợp và tính đa chức năng Đặc biệt, đối với những di sản văn hoá dân gian
đã lùi sâu vào dĩ vãng, là sản phẩm có căn rễ từ thời kỳ thị tộc, bộ lạc như thần thoại, truyền thuyết thì tính nguyên hợp về lao động xã hội, về đối tượng phản ánh của nó rất nổi đậm Đã từng có nhiều công trình thuộc những lĩnh vực khoa học khác nhau tiếp cận nghiên cứu đó ở những góc độ khác nhau như: dưới góc độ lịch sử, dưới góc
độ xã hội học , đến lượt mình, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận dưới góc độ thẩm mỹ
(chữ dùng của Đinh Gia Khánh) Nghiên cứu mối quan hệ văn hoá dưới góc độ thẩm
mỹ có nghĩa là chúng tôi phải khảo sát, kết hợp với cảm nhận, phân tích, suy luận từ những hình tượng, hình ảnh cụ thể của từng kiểu truyện, kiểu nhân vật để tìm ra quan
Trang 6hệ văn hoá ẩn chứa bên trong Trên cơ sở đó, lý giải sự tương đồng và dị biệt của những motif, những kiểu truyện tiêu biểu mang tính đặc thù của văn hoá tộc người và tính phổ quát của văn hoá dân tộc thông qua lăng kính nghệ thuật thẩm mỹ dân gian
Sự giới hạn “qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản” cũng có lý do nằm
ngay trong thuộc tính của các kiểu truyện được chọn lựa Đó là hầu hết các kiểu truyện được sử dụng làm đối tượng khảo sát đều nằm trong thể loại thần thoại, truyền thuyết hoặc thần thoại đã chuyển hoá thành truyền thuyết Vấn đề cơ bản là thể loại truyền thuyết trong văn học dân gian Tày, Việt có đặc điểm trội là chuyển hoá rất nhanh từ thần thoại theo cả ba phẩm chất anh hùng hoá, lịch sử hoá, dân tộc hoá, có khả năng tích hợp đặc biệt phong phú, tiêu biểu và độc đáo các giá trị văn hoá Tày cũng như Việt, đồng thời biểu hiện rất đậm nét mối quan hệ văn hoá Tày – Việt Thần thoại và truyền thuyết Tày, Việt đã bám sát và phản ánh những vấn đề quan trọng của lịch sử trong quá trình hình thành hai tộc người Ở đó, từ ngôn ngữ đến văn hoá cổ truyền nói chung và ý thức tự giác của mỗi tộc người nói riêng đều tiêu biểu hơn so với tất cả các thể loại khác Chẳng hạn có ít nhiều trong cổ tích và rất mờ nhạt trong truyện cười, truyện ngụ ngôn dân gian Với cổ tích, do khuôn khổ luận án, chúng tôi xin được tiếp
tục trong một công trình mới Ở đề tài luận án này, xin được hiểu “cơ bản” đồng thời cũng có nghĩa là “ tiêu biểu”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
2.1.Vấn đề nghiên cứu so sánh văn hóa các dân tộc ở Việt Nam và nghiên cứu
so sánh văn hoá Tày- Việt:
2.1.1 Đặt văn hóa các tộc người trong bối cảnh Đông Nam Á:
Sự cần thiết của việc nghiên cứu so sánh văn hóa của các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam, nhất là giữa văn hóa của người Kinh (Việt) và văn hóa các tộc người khác đã từ lâu được giới nghiên cứu văn hóa Việt Nam đề cập đến Theo nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, nghiên cứu so sánh văn hóa người Kinh với văn hóa các tộc người khác cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thực chất là đặt văn hóa Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á để phân tích, nhận diện Có đặt văn hóa Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á mới hiểu hết bản chất, đặc sắc của nền văn hóa này Nghĩa là, việc
Trang 7nghiên cứu so sánh nói trên là con đường tất yếu để nhận diện bản sắc văn hóa Việt Nam
Thực ra đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về “bối cảnh Đông Nam Á” của văn
hóa Việt Nam, trong đó có các học giả Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phạm Đức Dương, Cao Xuân Phổ Chẳng hạn Trần Quốc Vượng cho biết từ năm 1972, tại Hội nghị Đông Nam Á học Việt Nam lần thứ nhất, ông cùng Cao Xuân Phổ đã đọc tham
luận Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, hoặc Hà Văn Tấn năm 1976 đã viết về
văn hóa Hòa Bình trong bối cảnh Việt Nam [305, tr.18] Năm 1982, Phạm Đức Dương
với chuyên luận về Cội nguồn mô hình văn hoá - xã hội lúa nước của người Việt qua
cứ liệu ngôn ngữ [40, tr.180] đã nêu vấn đề tiếp cận giải mã ngôn ngữ tiếng Việt trong
bối cảnh Đông Nam Á, mà cụ thể ở đây là quan hệ giữa nhóm tộc người Việt – Mường
và nhóm Tày – Thái
Ở đây, chúng tôi xin dừng lại nhiều hơn với Nguyễn Từ Chi, một trong những nhà nghiên cứu Việt Nam có ý thức rất sớm về việc cần thiết phải đặt văn hóa Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á, người đã bước đầu triển khai chiến lược nghiên cứu này qua việc tìm hiểu văn hóa người Mường để từ đó, so sánh với văn hóa người Việt
(Kinh) Theo ông, giữa “bộ mặt tộc người” và “cảnh quan” (tức môi trường tự nhiên)
có mối quan hệ chặt chẽ Ông cho rằng để hình thành một bản sắc văn hóa, có nhiều nhân tố khác nhau nhưng nhân tố môi trường là quan trọng nhất: “có nguồn gốc tộc người, có sự giao lưu văn hóa, nhưng điều kiện cho một nền văn hóa ra đời - môi trường mới là cái quan trọng nhất” [28, tr.628] Khi giới nghiên cứu Việt Nam còn có những khó khăn trong việc nghiên cứu điền dã ở các nước Đông Nam Á, thì việc nghiên cứu bản thân “ba vùng môi trường lớn” của Đông Nam Á tại Việt Nam có thể khắc phục được khó khăn đó Bởi vì nếu như Đông Nam Á có ba môi trường: vùng núi, vùng đồng bằng và vùng biển thì Việt Nam dẫu có nhiều dị biệt, nhưng vẫn có đủ các loại môi trường của Đông Nam Á nói trên Như vậy, một chiến lược nghiên cứu
“nhìn nhận Đông Nam Á từ góc độ Việt Nam ” như lời ông nói, lại có tầm cỡ của một
kế hoạch nghiên cứu lớn đòi hỏi công sức của nhiều thế hệ và có thể sẽ đưa kết quả
“đặt lại vấn đề dân tộc học trên bối cảnh Đông Nam Á” [28, tr.629] Ông đã phác họa
Trang 8những nét đặc trưng chủ yếu của văn hóa các tộc người Việt Nam trên bốn vùng cảnh quan: vùng đồng bằng châu thổ và người Việt; vùng thung lũng chân núi với người Thái, người Mường ở Tây Bắc, người Tày Nùng ở Việt Bắc; vùng duyên hải cho biết cách ứng xử của cư dân Việt khi gặp biển; vùng hỏa canh: dọc Trường Sơn và cao nguyên Tây Nam Bộ Điều đáng chú ý là ông đã nêu lên một loạt những giả thuyết cho thấy cần suy nghĩ về văn hóa Việt Nam trong quan hệ tương tác sống động trong lịch
sử của các tộc người Chẳng hạn, ông nghĩ, “xu hướng chuyển dịch tộc người là từ phương Bắc xuống” [28, tr.633], do đó, diễn ra một “sự hòa hợp” giữa các tộc người
“Chúng tôi ngờ rằng, buổi đầu, nhiều tộc người ở gò cao bị sức ép từ phương Bắc đã cùng nhau tràn xuống chiếm lĩnh toàn bộ đồng bằng sông Hồng Khi đã chiếm đóng đồng bằng, các tộc người bắt đầu hòa hợp ( ) Lúa nước (Thái) – giao lưu văn hóa- sức ép của người Hán, tất cả làm cho các tộc người khác nhau hòa hợp lại, người Việt được hình thành như vậy Có thực thế hay không?” Ông dẫn luận điểm của Gorman cho rằng cây lúa không phải được thuần dưỡng từ vùng trũng mà là ở chân núi, như ở vùng của các cư dân Tày, Thái, Nùng ở Việt Nam Ông lưu ý dấu ấn của người Thái trong văn hóa nông nghiệp của người Việt “nông nghiệp cổ truyền ở đồng bằng Bắc
Bộ lại là nông nghiệp kiểu Thái” [28, tr.634] Hệ thống thủy lợi ở đồng bằng Bắc Bộ là
áp dụng “hệ thống thủy lợi Thái, Mường, Kinh” Các luận điểm này như là những quan sát ban đầu, có luận điểm cần được nghiên cứu kỹ hơn nhưng có thể nói hướng đi như vậy là hết sức thú vị và mở ra những suy nghĩ về văn hóa Việt Nam trên bối cảnh rộng, giao lưu giữa các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam Cách nhìn mang tính hệ thống này cho phép hình dung văn hóa Việt Nam một cách sống động, cho thấy các tộc người có văn hóa mang bản sắc riêng đồng thời lại giao lưu, tiếp biến, làm giàu cho văn hóa của cả cộng đồng dân tộc mà người Việt là chủ thể Cách nhìn đó là gợi ý quan trọng cho hướng nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này
Là nhà dân tộc học nên Nguyễn Từ Chi chưa quan tâm đến yếu tố văn học dân gian của văn hóa tộc người, tuy vậy “chiến lược” nghiên cứu trên đây là khoa học và hợp lý, có gợi mở quan trọng cho hướng nghiên cứu quan hệ giao lưu văn hóa các tộc người trên dải đất Việt Nam Bản thân Nguyễn Từ Chi đã chọn văn hóa Mường làm
Trang 9đối tượng nghiên cứu để từ đó , hiểu kỹ thêm văn hóa Việt ( Kinh) Như Trần Quốc Vượng nhận xét, ngay từ đầu thập kỷ 60, “ông ( nói về Từ Chi) là chuyên gia lớn nhất
về nghiên cứu Mường” “từ việc nghiên cứu Mường trở về soi sáng việc nghiên cứu Việt” (305, tr 959]
2.1.2 Lịch sử nghiên cứu văn hoá tộc người và quan hệ văn hoá Tày – Việt:
Văn hoá và văn hoá tộc người cùng với mối quan hệ văn hoá giữa các tộc người
là một vấn đề rộng lớn thuộc phạm trù nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, có thể
được tiếp cận dưới nhiều góc độ chuyên môn khác nhau Trong bài viết về Văn hoá tộc
người - những bình diện nghiên cứu [96], chúng tôi đã khảo sát một số công trình
nghiên cứu văn hoá tộc người tiêu biểu của Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Đăng Duy, Hoàng Nam, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Chí Huyên… Chúng tôi cũng đã tham khảo các công trình có tính chuyên ngành về một vùng văn hoá hoặc một nhóm ngôn ngữ tộc người để tiếp cận văn hoá
của tộc người Tày trong: Một số vấn đề lịch sử văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc [186];
Văn hoá dân gian Cao Bằng[194], Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam[193], Giữ gìn, phát huy di sản các dân tộc Tây Bắc [202], Văn hoá dân gian Tày [129], Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam [206], Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam [32], Đóng góp của các dân tộc nhóm ngữ Tày – Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam [207]…
Trong đó, theo chúng tôi, Văn hoá dân gian Tày [129] là công trình có giá trị
tổng kết theo hướng nghiên cứu truyền thống văn hoá Tày dưới góc độ lịch sử để khẳng định "Tiến trình văn hoá Tày phát triển theo quy luật ngày càng hoà nhập văn
hoá khu vực, đồng thời giữ vững bản sắc…" [129, tr.259] Công trình này đã cho
chúng tôi một cách nhìn khá toàn diện về văn hoá tộc người Tày
Tuy nhiên, các công trình đã lược điểm ở trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo tả những đặc trưng văn hoá tộc người hoặc phác hoạ diện mạo văn hoá của từng tộc người Hầu như, mối quan hệ giữa tộc chủ thể – tộc người Kinh (Việt) với một tộc người khác trong khối cộng đồng theo quan hệ giao lưu, tiếp biến về văn hoá mới chỉ
Trang 10được điểm thoáng qua chứ chưa được khảo sát một cách cụ thể Đấy là một hướng mở còn chờ sự khai thác của các nhà nghiên cứu
Theo sự khảo sát của Phan Hữu Dật, việc nghiên cứu văn hoá truyền thống đã sớm được tìm thấy trong tài liệu dân tộc học sớm nhất ở Việt Nam do chính người Việt
Nam ghi chép còn lưu lại cho đến nay là tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ
XV) trong đó đã đề cập đến sự phân bố dân cư và văn hoá tập quán của người Việt Còn văn hoá dân tộc thiểu số Việt Nam trong đó có văn hoá của người Thổ (Tày),
Thái, Nùng, Dao, Mèo (Mông) đã được mô tả lần đầu trong Kiến văn tiểu lục của nhà
bác học Lê Quí Đôn thế kỷ XVIII [29, tr.63 – 64] Như vậy có hai hướng nghiên cứu
cụ thể đã từng tồn tại: đó là hướng nghiên cứu lịch sử văn hoá của người Việt nói chung và lịch sử văn hoá của các tộc người khác trong đó có tộc người Tày nói riêng Hàng loạt công trình của các nhà dân tộc học người Pháp và người Việt ngay từ những năm đầu thế kỷ XX đã cung cấp một bức tranh đa dạng về văn hoá các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam Các tác giả người Pháp như A Bonifacy, E Dignet đã viết về tộc người Tày, Nùng ở dạng miêu tả sinh hoạt và phong tục tập quán, có ý nghĩa bước đầu trong việc tìm hiểu những giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của tộc người Tày ở Việt Nam Các tác giả Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám đã nghiên cứu về văn hoá, văn minh Việt Nam có Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh…
Học giả Nguyễn Văn Huyên song song với việc nghiên cứu văn hóa người Việt cũng
đã tiến hành nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian Tày với cảm hứng so sánh, nhìn văn hóa Tày trong bối cảnh Đông Nam Á rõ rệt Trong gần mười năm từ 1936 - 1945, Nguyễn Văn Huyên đã xuất bản gần 50 công trình về các lĩnh vực sử
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thị An (1994), “Nghiên cứu truyền thuyết, những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Văn
học, số 7, tr.34-37
2 Trần Thị An (2000), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hoá truyền thuyết dân gian
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Viện Văn học, bản lưu trữ tại Thư viện Quốc gia,
L7430
3 Trần Thị An (2000), "Yếu tố thời gian trong truyền thuyết dân gian", Tạp chí Văn
học, số 5, tr 65-73
4 Trần Thị An (2001), "Truyền thuyết vùng Luy Lâu với tiến trình hình thành dân
tộc", Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 6, tr 24-30
5 Trần Thị An (2005), "Tái định hướng thể loại Folklore", Tạp chí Nghiên cứu Văn
học, số 1, tr 113-122
6 Trần Thị An (2006), "Nghiên cứu Văn hoá Dân gian ở Hoa Kỳ và một số quan sát
bước đầu", Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1, tr 78-85
7 Đào Duy Anh (1998), Việt Nam Văn hoá sử cương, NXB Đồng Tháp
8 Đào Duy Anh (2005), Nghiên cứu Văn hoá và Ngữ văn, NXB Giáo dục, Hà Nội
9 Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Văn hoá - Thông tin,
Hà Nội
10 Nguyễn Vũ Tuấn Anh (2002), Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại,
NXB Văn học Nghệ thuật, Hà Nội
11 Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
12 Triều Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển thành ngữ tục ngữ dân tộc Tày, NXB Văn
hoá Dân tộc, Hà Nội
13 Ban Chấp hành Trung ương (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khoá VIII, Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội, tr 63
14 Nguyễn Trọng Báu (2002), "Bản sắc văn hoá dân tộc trước vấn đề gộp hai nền văn
hoá Tày – Nùng”, Tạp chí Văn hoá các dân tộc, số 6, tr 30 – 31
Trang 1215 Nguyễn Trọng Báu (chủ biên), Hoàng Thi, Thạch Xuân Mai (2005), Truyện kể về
phong tục các dân tộc Việt Nam, NXB Giáo dục
16 Hoàng Bé (1987), “Những huyền thoại lúa nước và một số nét về kinh tế – xã hội
truyền thống ở người Tày”, Tạp chí dân tộc học,số 4, tr 94 – 103
17 Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hoá dân gian Việt Nam, những suy nghĩ, NXB Văn
hoá Dân tộc, Hà Nội
18 Đặng Việt Bích (1997), “Tìm hiểu quan hệ giữa truyện dân gian của người Tày và
người Thái với truyện dân gian của người Việt”, Tạp chí dân tộc học, số 3, tr 38 –
42
19 Đặng Việt Bích (2002), “Tìm hiểu một số từ tiếng Việt có gốc Tày – Thái”, Tạp chí
Văn hoá Nghệ thuật, số 5, tr.20-22
20 Đặng Việt Bích (2005), “Hùng Vương thủ lĩnh tộc người thờ gà trống trắng”, Tạp
chí Văn hoá Nghệ thuật, số 5, tr.113-117
21 Phan Kế Bính (1999), Việt Nam phong tục, NXB Hà Nội
22 Nông Quốc Chấn, Huỳnh Khái Vinh (2002), Văn hoá các dân tộc Việt Nam thống
nhất mà đa dạng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
23 Đỗ Hữu Châu (2001), "Tìm hiểu văn hoá qua ngôn ngữ", Hợp tuyển công trình
nghiên cứu của Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, NXB Giáo dục, tr
545-559
24 Nguyễn Đổng Chi (1956), Lược khảo về thần thoại Việt Nam, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội, in lại 2003
25 Nguyễn Đổng Chi (1964), “Vấn đề sử dụng tài liệu văn học dân gian”, Tạp chí
28 Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn
hoá-Thông tin, Hà Nội
Trang 1329 Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội
30 Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam (2001), Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà
nước phong kiến Việt Nam (X – XIX), NXB Chính trị quốc gia
31 Chu Xuân Diên (2001), Văn hoá dân gian - mấy vấn đề phương pháp luận và
nghiên cứu thể loại, NXB Giáo dục, Hà Nội
32 Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam, NXB
Văn nghệ TP Hồ Chí Minh
33 Chu Xuân Diên (2004), “V.I.A.Propp và những công trình nghiên cứu truyện cổ
tích”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 7, tr 92-97
34 Ngô Văn Doanh (1999), Từ điển văn hoá Đông Nam Á phổ thông, NXB Văn
hoá-Thông tin, Hà Nội
35 Ngô Văn Doanh (2001) (dịch và biên soạn theo tư liệu nước ngoài), "Về hai khái
niệm trong thần thoại anh em sinh đôi và anh hùng văn hoá", Tạp chí Văn hoá
Nghệ thuật, số 7, tr 72-76 và tr 81
36 Nguyễn Tiến Dũng ( chủ biên) (2005), Văn hoá Việt Nam thường thức, NXB Văn
hoá Dân tộc, Hà Nội
37 Nguyễn Đăng Duy (2002), Nhận diện văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB
Văn hoá Dân tộc, Hà Nội
38 Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hoá Việt Nam buổi đầu dựng nước, NXB Hà Nội
39 Phạm Đức Dương (1998), “Giải mã truyện cổ Lào theo phương pháp tiếp cận văn
hoá học”, Tạp chí Văn học, số 1, tr.51-58 và tr.82
40 Phạm Đức Dương (2000), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, NXB
Khoa học Xã hội, Hà Nội
41 Nguyễn Tấn Đắc (1996), “Mối giao lưu và tương tác văn hoá giữa các dân tộc
Đông Nam Á qua kiểu truyện kể Tấm Cám”, Tạp chí Văn học, số 6, tr 19-23
42 Nguyễn Tấn Đắc (2001), Truyện kể dân gian đọc bằng típ và mô típ, NXB Khoa
học Xã hội, Hà Nội
Trang 1443 Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hoá Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ
Chí Minh
44 Cao Huy Đỉnh (1971), “Hình tượng người khổng lồ và tập thể anh hùng dựng nước
và giữ nước trong truyện cổ dân gian Việt Nam”, Truyền thống anh hùng dân tộc
trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 65 –
99
45 Cao Huy Đỉnh (1998), Bộ ba tác phẩm nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 –
1996: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam; Người anh hùng làng Dóng; Tìm hiểu thần thoại Ấn Độ, NXB Văn hoá-Thông tin, Hà Nội
46 Cao Huy Đỉnh (2001), “Đề tài dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp trong một số
truyện cổ Đông Nam Á”, Văn học so sánh, lý luận và ứng dụng, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội, tr 600-622
47 Nguyễn Xuân Đức (2002), “Vấn đề phân loại truyện dân gian”, Thông báo Văn
hoá Dân gian, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 356-365
48 Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, NXB Khoa
học Xã hội, Hà Nội
49 Tạ Đức (1998), “Chim én một biểu tượng đặc sắc trong văn hoá dân gian Tày -
Thái - Nùng”, Tạp chí Văn nghệ Dân tộc và Miền núi, số 2, tr 4
50 Ninh Viết Giao (2002), “Tín ngưỡng và lễ tục dân gian đối với môi trường sinh
thái tự nhiên”, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 1, tr.18-28
51 Marxim Gorki (1965), Gorki bàn về văn học, NXB Văn học, Hà Nội
52 Guxép V (1999), Mỹ học Folklore, NXB Đà Nẵng
53 Nguyễn Thị Bích Hà (1986), “Bước đầu tìm hiểu nguồn truyện kể địa danh Việt
Nam”, Tạp chí Văn học, số 2, tr 59-63 và tr.70
54 Nguyễn Thị Bích Hà (2000), Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ
Việt Nam và Đông Nam Á, NXB Giáo dục, Hà Nội
55 Nguyễn Thị Bích Hà (2002), “Qua truyện Tấm Cám ở vùng Kinh Bắc, tìm hiểu con
đường truyền thuyết hoá cổ tích”, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 6, tr 3-8
Trang 1556 Nguyễn Thị Bích Hà (2005), “Vận dụng lý thuyết văn học so sánh tìm hiểu kiểu
truyện người em trong truyện cổ tích Việt Nam và châu Âu”, Tạp chí Nghiên cứu
60 Vũ Tố Hảo (2001), “Tìm hiểu quan điểm lịch sử của nhân dân qua Văn học dân
gian”, Thông báo Văn hoá Dân gian, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.366 – 381
61 Đỗ Thị Hảo (1984), “Một số truyền thuyết xung quanh nhân vật Nùng Trí Cao”,
Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 2, tr 31-32
62 Hêghen (1999), Mỹ học, Tập 1, NXB Văn học, Hà Nội
63 Ngô Minh Hiền (2004), “Hoàng Phủ Ngọc Tường, văn hoá qua cái nhìn lịch sử”,
Tạp chí văn hoá nghệ thuật, số 3, tr.87 – 91 và 110
64 Nguyễn Thị Hiền (1996), “Nghiên cứu truyện dân gian Việt Nam theo bảng mục
lục tra cứu típ và môtíp truyện cổ dân gian của Antti Aarne và Stith Thompson”,
Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 2, tr.13 – 19
65 Nguyễn Xuân Hiển (1963), “Nghề trồng lúa ở ta qua “Vân đài loại ngữ” của Lê
Quý Đôn”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 52, tr 31-37
66 Nguyễn Thị Hoa (2004), Nghi lễ then giải hạn (Hát khoăn) của người Tày, Hội
Văn học Nghệ thuật Lạng Sơn
67 Kiều Thu Hoạch (1971), “Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến”,
Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, NXB
Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 172 – 232
68 Kiều Thu Hoạch (1988), “Về vấn đề nghiên cứu văn học dân gian trong chỉnh thể
văn hoá dân gian”, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3 & 4
69 Kiều Thu Hoạch, (1996), “ Sơ bộ tìm hiểu kiểu truyện Tấm Cám ở Trung Quốc”,
Trang 16Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4, tr.17 – 23
70 Kiều Thu Hoạch (2003), “Về khái niệm Văn học Dân gian”, Tạp chí Văn học, số
12, tr 7 - 15
71 Kiều Thu Hoạch (chủ biên) (2004), Tổng tập Văn học dân gian người Việt, tập 4,
tập 5, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
72 Phan Kế Hoành (1978), “ Góp phần tìm hiểu nguồn gốc truyền thuyết Âu Cơ và
Lạc Long Quân, Tạp chí Văn học, số 4, tr.88 – 95
73 Phạm Như Hồ, Đỗ Đình Thuật (1993), “Vài ý kiến quanh truyền thuyết Cẩu chủa
cheng vua”, Hùng Vương dựng nước, tập III, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
74 Vi Hồng (1979), Sli-lượn dân ca trữ tình Tày-Nùng, NXB Văn hoá, Hà Nội
75 Vi Hồng (1981), “Vị nữ thần của thần thoại Tày”, Một số vấn đề lịch sử văn hoá
của các dân tộc ở Việt Bắc, Bộ Văn hoá, Bảo tàng Việt Bắc xuất bản
76 Vi Hồng (1985), “Một vài quan niệm về vũ trụ quan, nhân sinh quan người Tày cổ
qua một số truyện cổ của họ”, Tạp chí Văn học, số 4, tr.45-54
77 Nguyễn Thị Huế (1980), “Người dân Hà Bắc kể chuyện Lạc Long Quân Âu Cơ”,
Tạp chí Văn học, số 4, tr.102-107
78 Nguyễn Thị Huế (1981), “Nhìn lại truyền thuyết Lạc Long Quân Âu Cơ và ngọn
nguồn dân tộc”, Tạp chí Văn học, số 6, tr.30-36
79 Nguyễn Thị Huế (1982), “Về những nét tương đồng giữa truyện Họ Hồng Bàng
(người Việt) với mo Đẻ đất đẻ nước (người Mường)”, Tạp chí Văn học, số 2,
tr.82-90
80 Nguyễn Thị Huế (1983), “Tìm hiểu về môtíp cây trong truyện Họ Hồng Bàng”,
Tạp chí Văn học, số 6, tr.69-74
81 Nguyễn Thị Huế (1990), “Một vài mô típ trong hệ thống truyện kể về cội nguồn
dân tộc Việt Nam và Đông Nam Á”, Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Tổng hợp Hà
Nội, tr.32-37
82 Nguyễn Thị Huế (1997), “Người mang lốt - mô típ đặc trưng của kiểu truyện cổ
tích về nhân vật xấu xí mà tài ba”, Tạp chí Văn học, số 3-1997, tr.55-62
83 Nguyễn Thị Huế (1998), “Cao Huy Đỉnh trên hành trình hiện đại hoá ngành