1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên báo chí. Nghiên cứu rường hợp Trường Cao đẳng phát thanh-truyền hình TW1 năm 2007

23 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 557,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, thuật ngữ này đã phổ biến rất rộng rãi các phương tiện truyền thông đại chúng, tác động hàng ngày, hàng giờ đến sự phát triển của từng lĩnh vực của xã hội.[3] Hệ thống các phư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về truyền thông đại chúng 20 1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về truyền thông đại chúng 23 1.1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về truyền thông đại

Trang 3

1.3.1 Vài nét về địa điểm nghiên cứu

1.3.2 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Chương 2: Kết quả nghiên cứu

2.1 Các phương tiện thông tin đại chúng và cách thức tiếp nhận thông

tin của công chúng sinh viên báo chí

2.2 Nhu cầu và mức độ tiếp nhận thông tin của công chúng sinh viên báo

chí

62

2.3 Những vấn đề được quan tâm của công chúng công sinh viên báo chí 73

2.3.2 Những thể loại tác phẩm báo chí được quan tâm 82 2.3.2.1 Tin

Trang 4

đại chúng

2.4.3 Trang web: nghebao.com (Nghề báo – Thư ký của thời đại ) 97

2.5 Hiệu quả của những thông tin tiếp nhận từ báo chí với việc học tập

và rèn luyện của sinh viên báo chí

100

2.5.1 Mức độ tiếp nhận thông tin từ báo chí liên quan đến việc học tập

và rèn luyện của sinh viên báo chí

101

2.5.2 Ý nghĩa của những thông tin từ báo chí đối với việc học tập và rèn

luyện của sinh viên báo chí

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài

Năm 1946, lần đầu tiên thuật ngữ truyền thông đại chúng được sử dụng trong “Lời nói đầu của Hiến chương Liên hiệp quốc về văn hoá, khoa học và giáo dục” Hiện nay, thuật ngữ này đã phổ biến rất rộng rãi các phương tiện truyền thông đại chúng, tác động hàng ngày, hàng giờ đến sự phát triển của từng lĩnh vực của xã hội.[3]

Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng mà trung tâm là hệ thống báo chí hiện nay phát triển rất mạnh mẽ, đã trở thành một thành tố rất quan trọng của xã hội Hệ thống này vừa là động lực, vừa là công cụ trong hoạt động tổ chức, quản lí và nâng cao dân trí trong xã hội

Trong hoạt động của mình, hệ thống truyền thông đại chúng đã thể hiện vai trò cũng như khả năng tạo sự tương tác xã hội, hướng dẫn, định hướng hành

vi hoạt động trong công chúng Chính vì vậy, truyền thông đại chúng trở thành một thiết chế xã hội, nó được coi là tác nhân cơ bản làm hình thành các liên kết

xã hội

Hiện nay, truyền thông đại chúng có được sự hỗ trợ rất lớn của các phương tiện Khoa học kĩ thuật Công nghệ phát triển ở trình độ cao đã đưa hệ thống này trở thành một trong những hệ thống quan trọng nhất của xã hội hiện đại Thông tin của từng quốc gia trở thành đối tượng của báo chí mọi quốc gia, không gian thông tin của nhân loại đang được thu nhỏ lại Sự quốc tế hoá truyền thông đại chúng đang đặt cả thế giới vào tình huống mà trong đó các hàng rào thông tin “cứng” bị phá vỡ Điều này là cơ sở thực tiễn cũng như là điều kiện thuận lợi thúc đẩy các nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng

Ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, thực hiện công cuộc đổi mới theo xu hướng hội nhập và phát triển Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lí của nhà nước nhiều lĩnh vực xã hội đã có sự phát triển rõ rệt Hoạt động truyền thông đại chúng đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu dân

Trang 6

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong đường lối đổi mới toàn diện, nổi bật lên là vấn đề dân chủ hoá các mặt của đời sống xã hội; Thực tế này đã tạo nên những diến biến mới mẻ trong hoạt động thông tin báo chí ở nước ta

Báo chí hiện nay đã cơ bản hạn chế được hình thức thông tin một chiều đơn điệu và ngày càng thể hiện được vai trò là cầu nối giữa Đảng và Dân Thông tin hai chiều được thực hiện trên báo chí : một mặt tuyên truyền, giải thích đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với công chúng mặt khác phản ánh những nguyện vọng, ý kiến phản hồi của công chúng trong quá trình thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Nói đến báo chí là nói đến các loại hình của nó như : Báo in, báo ảnh, phát thanh, truyền hình, internet …Đó là các bộ phận, các kênh thông tin cơ bản nhất, cốt lõi nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất và xu hướng vận động của thông tin đại chúng

Trong thực tế, mỗi loại hình báo chí có những thế mạnh và những hạn chế riêng , chẳng hạn như: báo in có khả năng lưu trữ lâu, đồng thời đi sâu phân tích chi tiết các sự kiện hiện tượng, công chúng của loại hình báo chí này có thể tiếp nhận thông tin ở mọi nơi, mọi lúc mọi thời điểm khác nhau Hạn chế cơ bản của loại hình báo chí này là khó có khả năng phát hành rộng rãi tới công chúng ở vùng sâu, vùng xa…Phát thanh, Truyền hình có thế mạnh là nhanh, đồng thời, rộng khắp, hàng triệu triệu công chúng có thể tiếp nhận thông tin đồng thời với thời điểm diễn ra sự kiện Nhưng hạn chế của nó là tính thoảng qua, khả năng lưu trữ kém …đòi hỏi công chúng tiếp nhận thông tin từ loại hình báo chí này phải hết sức tập trung, quá trình thông tin bị phụ thuộc vào làn sóng, thời tiết …

Ở nước ta các loại hình thông tin đại chúng đồng thời tồn tại và phát triển, chúng không những không loại trừ nhau, mà ngược lại còn bổ khuyết, hỗ trợ cho nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Trang 7

Hiện nay, cả nước ta có khoảng 14.000 nhà báo chuyên nghiệp đang hoạt động Ngoài ra còn có hàng ngàn cộng tác viên, thông tin viên và một đội ngũ đông đảo đang hoạt động trong lĩnh vực thông tin xã hội Đó là cán bộ ở các phòng thông tin văn hoá, các đài truyền thanh cấp huyện, xã…

Cả nước hiện có 553 cơ quan báo in, trong đó có 157 báo 396 tạp chí và khoảng hơn 1000 bản tin Hàng năm, xuất bản hơn 550 triệu bản báo 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương 470 trong số 512 huyện, 7000 xã trong tổng số hơn 10.359 xã được đọc báo trong ngày Tính bình quân mỗi năm 1 người là 7,5 bản báo 70% lượng báo chí tập trung ở thị xã, thành phố

Có 1 đài truyền hình, 1 đài phát thanh quốc gia và 4 đài truyền hình khu vực ở Huế, Đà Nẵng , Cần thơ, Thành phố Hồ Chí Minh Một đài truyền hình kĩ thuật số VTC của bộ bưu chính viễn thông Ngoài ra 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều có đài Phát thanh - Truyền hình Riêng đối với loại hình phát thanh, ngoài đài phát thanh quốc gia Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh cấp tỉnh còn có hệ thống đài truyền thanh của gần 520 huyện và hơn 10.000 xã Đây là loại hình báo chí có tính ổn định và phân bố đồng đều nhất trong cả nước

Cả sóng phát thanh và truyền hình quốc gia đều được truyền qua vệ tinh Theo con số thống kê chưa đầy đủ cả nước hiện có hơn 10 triệu máy thu hình, với gần 85% số hộ gia đình xem được truyền hình Sóng phát thanh hiện đã tới

5 châu lục và hơn 90% lãnh thổ nước ta

Báo chí trực tuyến (qua mạng Internet) là một là một loại hình báo chí mới ra đời so với báo chí truyền thống; Nhưng được sự hỗ trợ mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại đã khẳng định được vai trò cũng như sức mạnh vượt trội của mình

Ở nước ta, tờ báo trực tuyến đầu tiên chính thức ra đời năm 2000 Qua 7 năm phát triển, đến nay cả nước ta đã có khoảng hơn 2.500 trang Web đang hoạt động và hầu hết các tờ báo đều có báo trực tuyến Theo đánh giá của PGS.TS Trần Đình Hoan nguyên Uỷ viên bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng thì : “

Trang 8

Báo điện tử đang góp phần tích cực vào sự lớn mạnh của đất nước”( Nguồn :

Viêt Nam Nét ngày 20/05/2003)

Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng ở nước ta hiện nay được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và quản lí của Nhà nước Chính

vì vậy, các hoạt động xuất bản và phát hành ấn phẩm của hệ thống này đều được dựa trên những cơ sở thống nhất như :

- Dấu hiệu về nghề nghiệp ( Giáo dục thời đại, Quân đôi nhân dân, Người làm báo )

- Dấu hiệu về lứa tuổi ( Nhi đồng, Thanh niên, Tuổi trẻ, Người cao tuổi…)

- Dấu hiệu về lãnh thổ ( Hà nội mới, Sài gòn giải phóng, Hà tây, Hà nam…)

- Dấu hiệu về xã hội (Đại đoàn kết, Lao động …)1)

- Dấu hiệu về giới ( Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô, Nữ sinh …)

- Dấu hiệu về nhu cầu thị hiếu ( Tạp chí Thời trang, Báo Văn Nghệ, tạp chí Văn nghệ… )*

Tất cả các dấu hiệu trên là cơ sở để hoạt động xuất bản và phát hành đối với tất cả các loại hình báo chí, kể cả báo chí trung ương và địa phương Tất cả các đấu hiệu trên đều rất xác thực và gần gũi với đời sống xã hội, do đó các đối tượng công chúng đều có thể tiếp nhận những thông tin phù hợp từ hệ thống truyền thông đại chúng

Trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu khảo sát và đánh giá về những ảnh hưởng và tác động của truyền thông đại chúng đối với các tầng lớp công chúng ở nước ta là có tính cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận

và thực tiễn

*

Dẫn theo Mai Quỳnh Nam “Công chúng thanh niên đô thị và báo chí - nghiên cứu trường hợp

thành phố Hải Phòng năm 2002.” Mai Văn Hai – Mai Quỳnh Nam: Chương IX :Đời sống văn hoá tinh thần và hoạt động truyền thông đại chúng.Báo cáo Xã hội năm 2000 Trịnh Duy Luân chủ biên, Viện Xã hội học

Trang 9

Gần đây, một số tác giả cũng đã đưa vấn đề nhận diện công chúng truyền thông đại chúng trong đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những công trình xem xét dưới góc độ Xã hội học và Báo chí theo hướng nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng nói chung

và đối với công chúng là sinh viên nói riêng

Sinh viên là nhóm dân số xã hội tương đối lớn trong hệ thống cơ cấu xã hội Nhóm sinh viên được xác định bởi những đặc điểm rõ rệt :

- Có độ tuổi trung bình khoảng từ 18 – 24

- Có trình độ học vấn tương đối cao

- Đang học nghề, trong một tổ chức trường học

Có thể nói sinh viên là bộ phận lao động trí thức trong lực lượng lao động của

xã hội Họ là nguồn nhân lực chủ yếu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Lực lượng sinh viên sống và học tập tập trung tại các đô thị, do đó các hoạt động giao tiếp với các phương tiện thông tin đại chúng cũng diễn ra trong môi trường văn hoá, kinh tế, chính trị phát triển, vì vậy có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp nhận nguồn thông tin đa dạng phong phú

Đối với công chúng truyền thông là sinh viên, thì nhóm công chúng là sinh viên báo chí cần được lưu ý và quan tâm Bởi lẽ, trước hết, họ là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới hiện nay Họ là những trí thức, sẽ là những chủ nhân của đất nước trong tương lai Và đặc biệt sau khi ra trường họ

sẽ trở thành những nhà báo - những người sẽ trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông đại chúng Chính vì vậy, sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình học tập, cũng như tác nghiệp của họ sau này Nghiên cứu về nhóm công chúng sinh viên báo chí trong mối quan hệ với hệ thống báo chí càng có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

Với ý nghĩa trên, luận văn của chúng tôi chọn sinh viên của Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình TW1 ( Trực thuộc đài Tiếng nói Việt Nam ) tại

Hà nam để khảo sát hiệu quả của báo chí với công chúng là sinh viên báo chí

2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng nằm trong hệ thống tri

thức của xã hội học, đây là một hoạt động khoa học tạo được sự quan tâm của

cả Báo chí học và Xã hội học truyền thông đại chúng

Trong lịch sử nghiên cứu về sự tác động của truyền thông đại chúng với

xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau tuỳ thuộc vào sự biến động của mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội nhất định

Năm 1905, nhà bác học người Nga Pôpốp phát minh ra vô tuyến điện kéo theo nó là sự ra đời của đài phát thanh – đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển các phương tiện truyền thông đại chúng Đài phát thanh ra đời với những ưu điểm vượt trội về tốc độ thông tin cũng như sự quảng đại trong việc truyền bá nên đã được công chúng hào hứng, say sưa tiếp nhận

Các nhà nghiên cứu xã hội học thời kỳ này cho rằng các phương tiện truyền thông đại chúng thực sự có một sức mạnh vạn năng Tiêu biểu cho khuynh hướng này là quan điểm của trường phái Frankfurt, họ cho rằng với khả năng của đài phát thanh sẽ rất dễ thuyết phục công chúng, khiến họ phải tin tưởng và phục tùng theo các thông điệp và mục đích của nó được truyền trên sóng phát thanh Nhận xét này được đưa ra từ sự quan sát số lượng công chúng

bị tác động và sự ảnh hưởng của nội dung thông điệp truyền tải, chưa dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm đối với công chúng truyền thông

Năm 1944, Paul Larsfeld cùng các cộng sự đã thông qua nghiên cứu thực nghiệm đối với cử tri về quyết định bầu cử chỉ ra rằng, các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hầu như chỉ làm tăng thêm sự tin tưởng vào những ý định sẵn có của cử tri, thực tế ít làm thay đổi quyết định của họ[403, 404]

Trang 11

Năm 1960, J.Klapper trong cuốn “Tác động của truyền thông đại chúng” cho rằng “ truyền thông đại chúng chỉ là yếu tố tác động, bổ sung (dù là tác động rất mạnh) cùng với những yếu tố trung gian khác chứ không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến sự thay đổi hành vi của công chúng[40,144]” Nói cách khác, truyền thông đại chúng không phải là nguyên nhân cần và đủ, không phải là tác nhân cơ bản đẫn đến sự thay đổi thái độ ứng xử của công chúng

Khi công nghệ truyền hình ra đời đã đánh đấu một bước tiến dài trong sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng Sức mạnh của truyền hình được khẳng định bởi nó sử dụng tổng hợp sức mạnh của cả các loại hình báo in, phát thanh và hình ảnh Khoảng những thập niên 60 – 70 của thế kỷ XX, truyền hình phát triển mạnh mẽ và phổ biến rộng rãi, những quan điểm nghi ngờ

về sức mạnh của truyền thông đại chúng được đặt ra xem xét lại Đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định sức mạnh cũng như sự tác động to lớn của loại hình này

Mạng Internet ra đời đã thực sự làm thay đổi quan niệm về các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống Những hạn chế về khả năng lưu trữ thông tin , thời lượng, sự đơn điệu, sự tương tác … của các phương tiện truyền thống đã được giải quyết Mạng Internet đã khẳng định được vai trò cũng như

sự tác động to lớn của nó đối với xã hội công chúng

Những thập niên cuối của thế kỷ XX, công nghệ mạng Internet đã phát triển mạnh mẽ và phổ biến ở hầu hết các quốc gia, nó tạo điều kiện để thế giới xích lại gần nhau hơn Có thể nói rằng, Internet là tác nhân cơ bản để thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, tăng cường khả năng giao lưu, hội nhập, hợp tác, trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Sự ra đời của mạng Internet với những ưu điểm vượt trội và phạm vi tác động của nó đã tạo ra không gian rộng lớn hơn cũng như nhiều hướng nghiên cứu mới về hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng xã hội Theo các tài liệu từ tiểu ban nghiên cứu truyền thông đại chúng của Đại hội Xã hội học thế giới lần thứ XV, tổ chức năm 2002 cho thấy hướng nghiên cứu hiệu

Ngày đăng: 25/01/2017, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w