Tổng quanSự tiếp cận dựa trên quyền trong các chương trình SKSS/TD và phòng chống HIV cho các nhóm dân số mục tiêu Xung đột về pháp lý và chính sách Kỳ thị và phân biệt đối xử Ngăn c
Trang 2Module 4 Phiên 1
Tạo một môi trường thuận lợi cho các chương
trình liên quan tới người bán dâm
CÁC YẾU TỐ QUAN TRỌNG
Trang 3Tổng quan
Sự tiếp cận dựa trên quyền trong các chương trình
SKSS/TD và phòng chống HIV cho các nhóm dân số mục tiêu
Xung đột về pháp lý và chính sách
Kỳ thị và phân biệt đối xử
Ngăn chặn và giải quyết bạo lực
Tuyên truyền vận động
Trang 4Một số rào cản gây cản trở tới việc cung cấp gói dịch vụ
toàn diện cho người bán dâm bao gồm :
Không có sự ủng hộ trong các chính sách quốc gia
Thiếu nguồn kinh phí
Các tiêu chí đánh giá sự phù hợp trước khi được cung cấp dịch vụ
Kỳ thị và phân biệt đối xử
Sự phức tạp trong thực thi luật pháp
Chi phí mà người sử dụng phải thanh toán khi sử dụng dịch vụ
Dịch vụ chưa được phân bố hợp lý theo khu vực địa lý
Thời gian hoạt động không linh hoạt
Năng lực chuyên môn hạn chế bao gồm thực hiện đánh giá
toàn diện về tình dục và quản lý các bện STI
Các yếu tố quan trọng
Trang 5Tiếp cận dựa trên quyền
Cách tiếp cận dựa trên quyền trong các chương trình
SKSS&TD và phòng chống HIV cho nhóm dân số mục tiêu
có nghĩa là các phương pháp tiếp cận đươc xây dựng dựa trên các quy định luật pháp quốc tế về nhân quyền
Một số văn bản chính về nhân quyền bao gồm:
Tuyên ngôn toàn cầu về Nhân quyền (1948)
Công ước quốc tế về Quyền Kinh tế, xã hội và văn hóa
(1966)
Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và chính trị (1966)
Trang 6Tiếp cận dựa trên quyền
Thảo luận nhóm :
Nhân quyền
Người bán dâm được hưởng các quyền con người cơ bản như:
• Quyền không bị phân biệt đối xử
• Quyền được đối xử bình đẳng trước pháp luật
• Quyền được hưởng những tiêu chuẩn cao nhất có thể có trong việc chăm sóc sức khỏe
Người dân không mất đi các quyền con người nếu họ tham gia và các hoạt động trái pháp luật hay có những hành vi
được coi là trái đạo đức
Trang 7Tiếp cận dựa trên quyền
Một số nguyên tắc cốt lõi trong việc xây dựng các chương trình dựa trên nhân quyền trong đó tất cả các hoạt động cần được đánh giá dựa trên các khía cạnh sau:
Sự tham gia của cộng đồng/xã hội hóa
Công bằng và không phân biệt đối xử
Căn cứ vào luật nhân quyền quốc tế
Tính bền vững
Trang 8Tiếp cận dựa trên quyền
Các chương trình chăm sóc SKSS&TD và phòng chống HIV có cách thức tiếp cận dựa trên quyền đã được chứng minh là mang lại hiệu quả cao hơn
Các chương trình trình chăm sóc SKSS&TD và phòng chống HIV cho các nhóm dân số mục tiêu phải mang tính chiến lược và
có hiệu quả Không thể đạt được hai mục tiêu này mà không có
sự tông trọng về nhân quyền
Để các chương trình có hiệu quả và thích hợp, nên có sự tham gia của các nhóm dân số mục tiêu trong tất cả các giai đoạn như lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi và đánh giá.
Vi phạm nhân quyền của các nhóm dân số mục tiêu có thể cản trở tới khả năng tham gia một cách công khai của họ vào
chương trình, từ đó sẽ hạn chế phạm vi và tác động của chương trình
Trang 9Tiếp cận dựa trên quyền
Nếu một chương trình có vi phạm tới nhân quyền của người
bán dâm thì cần chấm dứt chương trình đó và xây dựng
phương pháp tiếp cận mới để đáp ứng nhu cầu của người
bán dâm
Vi phạm và lạm dụng nhân quyền đối với người bán dâm phải được lập biên bản và báo cáo
Các nhà tài trợ cam kết thực hiện các nghĩa vụ của mình theo
các công ước về nhân quyền quốc tế, tôn trọng các cam kết toàn cầu, khu vực và của tổ chức Các nhà tài trợ không
muốn bị coi là hỗ trợ các hoạt động vi phạm nhân quyền trong giai đoạn xây dựng chương trình hoặc nghiên cứu
Trang 10Tiếp cận dựa trên quyền
Lạm dụng về nhân quyền có thể bao gồm :
Xét nghiệm cưỡng ép
Lạm dụng quyền từ cảnh sát
Từ chối việc tiếp cận chăm sóc y tế hoặc cung cấp các loại thuốc có thể cứu mạng sống con người
Trang 11Tiếp cận dựa trên quyền
Thảo luận nhóm:
Những mâu thuẫn giữa chính sách y tế công và việc thực thi pháp luật gây cản trở nghiêm trọng tới việc thực hiện các ứng phó hiệu quả trong chăm sóc SKSS&TD và ngăn ngừa HIV
Trang 12 Các chính sách và luật có thể cản trở hiệu quả của các
dịch vụ chăm sóc SKSS&TD và phòng chống HIV bao gồm :
Buộc tội hình sự các hành vi có nguy cơ lây truyền HIV
Thực thi pháp luật mang tính trừng phạt
Tịch thu bao cao su
Buộc tội hình sự khách hàng
Bắt đăng ký hoặc xin giấy phép
Xét nghiệm bắt buộc hoặc cưỡng ép
Thiếu các quyền về lao động và các quyền về an sinh xã hội
Bị từ chối cấp chứng minh nhân dân hoặc từ chối quyền công
dân
Cưỡng bức vào trung tâm phục hồi nhân phẩm
Luật, chính sách và thực thi pháp luật về chống buôn bán người
Chính sách 100% sử dụng bao cao su
Một môi trường chính sách và pháp lý mang tính hỗ trợ
Trang 13 Buộc tội hình sự các hành vi mang nguy cơ lây nhiễm HIV
có thể làm tăng tính dễ bị tổn thương với HIV:
Châm ngòi cho sự kỳ thị và phân biệt đối xử
Hạn chế việc tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế
Hợp thức hóa bạo lực, quấy rối và cưỡng đoạt
Hạn chế không mang theo bao cao su vì sợ bị bắt giam
“Sự đàn áp” của cảnh sát bao gồm tấn công, quấy rối,
bạo lực với người bán dâm với danh nghĩa thực thi luật pháp khiến người bán dâm sợ hãi và khiến họ không
muốn tiếp cận với các dịch vụ
Thực hiện một môi trường chính sách và pháp lý mang tính hỗ trợ
Trang 14 Hướng dẫn toàn cầu trình bày các kết quả nghiên cứu mang tính
thống nhất cho thấy việc buộc tội hình sự hoạt động mại dâm sẽ gây cản trở tới các hoạt động ứng phó với HIV Ngoài ra hướng dẫn cũng kêu gọi việc tránh hình sự hóa các hành vi có nguy cơ gây lây nhiễm HIV Các tài liệu chính bao gồm:
Mại dâm và Luật pháp ở châu Á và Thái Bình Dương, tháng 10
năm 2012
Ủy ban toàn cầu về HIV và Luật pháp, tháng 7 2012
Ủy ban về AIDS ở châu Á năm 2008
Đánh giá tình hình quốc gia và cam kết cung cấp bằng chứng phục vụ
công việc đánh giá và cải cách luật pháp và chính sách quốc gia Các quốc gia thành viên của ESCAP cam kết sẽ rà soát các luật và chính sách cản trở các hoạt động đáp ứng cho công tác phòng chống HIV hiệu quả đã được quy định trong Nghị quyết 67/10
Thực hiện một môi trường chính sách và pháp lý
mang tính hỗ trợ
Trang 15Môi trường chính sách và pháp lý mang tính hỗ trợ
Mại dâm và Luật pháp của Châu Á
Thái bình Dương (tháng 10, 2012)
Phân tích về môi trường luật pháp, các quyền
con người và tác động của chúng tới việc ứng
phó với HIV một cách hiệu quả cho các nhóm
dân số mục tiêu tại 48 quốc gia
Các công cụ được xây dựa trên bằng chứng sẽ
góp phần hỗ trợ các chính phủ, các cơ quan
Liên hợp quốc và cộng đồng KAP nhằm xác
định và thực hiện các chiến lược ưu tiên trong
việc giải quyết các vấn đề thách thức có liên
quan tới nhân quyền.
Xác định/Xây dựng một chương trình hành
động quốc gia
Trang 16Luật pháp và chính sách hỗ trợ cho các ứng phó trong chăm sóc SKSS&TD và ngăn ngừa HIV bao gồm :
Đánh giá của tòa án công nhận các quyền con người của người bán dâm
Xây dựng các chính sách, các chiến lược quốc gia về HIV trong đó cam kết giải quyết vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử và giải quyết vấn đề cảnh sát gây ra bạo lực với người bán dâm
Hành lang pháp lý trong đó không đưa mại dâm vào xử lý hình sự
Cân nhắc các sáng kiến của người bán dâm và các tổ chức đại diện cho
họ nhằm cải thiện môi trường pháp lý thông qua các hoạt động tuyên truyền vận động và cung cấp các dịch vụ trực tiếp như hỗ trợ sau khi
khủng hoảng
Môi trường chính sách và pháp lý mang tính hỗ trợ
Trang 17Tiếp cận với các dịch vụ pháp lý
‘Biết quyền của mình” – có một hành lang pháp lý dựa trên quyền nhằm hỗ trợ các hoạt động ứng phó với vấn đề HIV cho các nhóm dân số mục tiêu sẽ không phát huy được vai trò của nó nếu người dân không tự mình có hiểu biết về các các quyền họ được hưởng và không tiếp cận được với hệ
thống luật pháp hỗ trợ việc thực hiện các quyền đó
Vì thế có các dịch vụ trợ giúp pháp lý dễ dàng tiếp cận với chi phí hợp lý sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc xây
dựng các chương trình liên quan tới nhân quyền
Thực hiện một môi trường chính sách và pháp lý
mang tính hỗ trợ
Trang 18Tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp pháp lý
Các dịch vụ trợ giúp pháp lý liên quan tới HIV:
Bảo vệ và đẩy mạnh nhân quyền cho những người sống chung với HIV, những người nhiễm HIV và các nhóm dân số mục tiêu
Là điều rất cần thực hiện nhằm đảm bảo các đầu ra về sức khỏe công cộng và các đầu ra về phát triển
Dịch vụ trợ giúp pháp lý liên quan đến HIV sẽ góp phần trực tiếp vào việc xây dựng một môi trường thuận lợi cho các chương trình phòng
chống HIV hiệu quả
Dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho phép người dân yêu cầu thực hiện các
quyền của họ trong tiếp cận với các dịch vụ về HIV vì thế sẽ tạo ra cầu về tiếp cận với các dịch vụ HIV
Thực hiện một môi trường chính sách và pháp lý
mang tính hỗ trợ
Trang 19Kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn là một rào cản đáng kể tác động tới việc tiếp cận với các dịch vụ đối với người bán dâm Sự kỳ thị và phân biệt đối xử có thể
là nhận định hoặc có thể là sự thực tồn tại trong suy nghĩ của cán bộ y tế hay cộng đồng Chính vì thế người bán dâm thường miễn cưỡng không muốn tiết
lộ hoạt động tình dục của mình hoặc không muốn yêu cầu khám sàng lọc STI hoặc thăm khám sức khỏe mặc dù họ đã có mặt ở cơ sở y tế do sợ bị kỳ thị và
phân biệt đối xử.
Kỳ thị và phân biệt đối xử
Trang 20Kỳ thị và phân biệt đối xử
Kỳ thị và phân biệt đối xử là những vấn đề phức tạp và
nó tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau ở nhiều ngành hay lĩnh vực khác nhau
Kỳ thị và phân biệt đối xử tại các cơ sở y tế vẫn là một
cản trở lớn trong việc đảm bảo việc tiếp cận của người bán dâm với các dịch vụ phòng ngừa lây nhiễm HIV, xét nghiệm, điều trị và chăm sóc khi nhiễm HIV
Kỳ thị dưới hình thức coi thường, không để ý tới và
không tin tưởng ở người bán dâm khiến họ trở thành đối tượng thiệt thòi trong xã hội và khiến họ không thể tham gia một cách đầy đủ vào cuộc sống ở cộng đồng và
không tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Trang 21Kỳ thị và phân biệt đối xử
Kỳ thị và phân biệt đối xử là những rào cản gây cản trở tới việc thực hiện các biện pháp can thiệp hiệu quả cho người bán dâm:
Thiếu các dịch vụ KAP (có phải kiến thức, thái độ và thực hành
không ạ) thân thiện, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nghèo nàn và khó tiếp cận là các nguyên nhân gây cản trở người bán dâm tìm kiếm các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả dịch
vụ chữa trị
Kỳ thị và phân biệt đối xử - bao gồm cả tự kỷ ám thị hoặc bị
người khác kỳ thị và phân biệt đối xử đều có tác động không tốt tới hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Thực thi luật pháp và chính sách.
Trang 22Ngăn ngừa và ứng phó với vấn đề bạo lực
Bạo lực với một số nhóm đối tượng
Bạo lực đối với mại dâm nữ, mại dâm nam và mại dâm chuyển giới, nam quan hệ tình dục với nam, người chuyển giới và người tiêm chích ma túy hiện vẫn phổ biến và nó
tồn tại dưới nhiều hình thức như bạo lực trong kinh tế, tình cảm, thể chất và tình dục
Bạo lực đối với người bán dâm thường xảy ra trong quá trình quan hệ tình dục, trong cộng đồng và tại gia đình
Bạo lực trong mại dâm thường do cảnh sát, khách hàng, người môi giới, các băng nhóm/côn đồ tại địa phương gây
ra Điều này đặc biệt đúng/phổ biến với mại dâm đường phố
Trang 23Ngăn ngừa và ứng phó với vấn đề bạo lực
Bạo lực với một số nhóm đối tượng
Bạo lực, đặc biệt là bạo lực thể chất và bạo lực tình dục làm tăng nguy cơ nhiễm STIs và HIV
Bạo lực trước, trong và sau khi quan hệ tình dục cũng có thể dẫn tới việc tăng nguy cơ nhiễm HIV theo một số cách sau:
Do không dùng bao cao su
Do các vết trầy xước - khi xảy ra bạo lực về thể chất hoặc bạo lực về tình dục có gây ra các vết thương hở, rách hoặc tổn thương trong âm đạo hoặc hậu môn.
Trang 25quan tr ng ọ