+ Để đổi mới cách học của học sinh theo mô hình VNEN theo đồng chí cần rèn cho học sinh những kỹ năng sau: - Kĩ năng đọc - hiểu tài liệu, giáo viên cần cho học sinh hiểu được các câu lện
Trang 1TRƯỜNG TIỂU HỌC HÀ THƯỢNG
BỘ NGÂN HÀNG CÂU HỎI
1 CÂU HỎI CHUNG VỀ CHUYÊN MÔN
Câu hỏi 1: Nêu yêu cầu cần đạt của quy trình dạy học theo mô hình VNEN? Để đổi
mới cách học của học sinh theo mô hình VNEN theo đồng chí cần rèn cho học sinh những kỹ năng gì?
Đáp án:
+ Quy trình dạy học theo mô hình VNEN gồm 5 bước:
Bước 1 Tạo hứng thú cho HS:
* Yêu cầu cần đạt:
- Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với họ
- Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú
* Cách làm: Đặt câu hỏi; Câu đố vui; Kể chuyện; Đặt một tình huống; Tổ chức
trò chơi; Hoặc sử dụng các hình thức khác
Bước 2 Tổ chức cho HS trải nghiệm
* Yêu cầu cần đạt:
- Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS để chuẩn bị học bài mới
- HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức, những thao tác, kỹ năng để làm nảy sinh kiến thức mới
* Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm thú vị, gần gũi với HS Nếu là
tình huống diễn tả bằng bài toán có lời văn, thì các giả thiết phải đơn giản, câu văn phải hóm hỉnh và gần gũi với HS
Bước 3 Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới.
* Yêu cầu cần đạt:
- HS rút ra được kiến thức, khái niệm hay qui tắc lí thuyết, thực hành mới; HS
nhận biết dấu hiệu/đặc điểm dạng toán mới; nêu được các bước giải dạng toán này
* Cách làm:
- Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học
- Sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của HS
- Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS đi vào tiến trình phân tích thuận lợi
và hiệu quả
Trang 2Các hoạt động trên có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS.
Bước 4 Thực hành - Củng cố bài học
* Yêu cầu cần đạt:
- HS nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được các bài tập áp dụng dạng
cơ bản theo đúng quy trình
- HS biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình giải bài toán dạng cơ bản
- Tự tin về bản thân mình
Cách làm:
- Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn luyện việc nhận dạng,
áp dụng các bước giải và công thức cơ bản GV quan sát HS làm bài và phát hiện xem HS gặp khó khăn ở bước nào GV giúp HS nhận ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện
- Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng của HS
GV tiếp tục quan sát và phát hiện những khó khăn của HS, giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản
đã rút ra ở trên
- Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ HS
Bước 5 Ứng dụng.
* Yêu cầu cần đạt:
- HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học
- HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày
- Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới
* Cách làm:
- HS thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học
- GV giúp HS thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, từ đó khắc sâu kiến thức đã học
+ Để đổi mới cách học của học sinh theo mô hình VNEN theo đồng chí cần rèn cho học sinh những kỹ năng sau:
- Kĩ năng đọc - hiểu tài liệu, giáo viên cần cho học sinh hiểu được các câu lệnh, các chỉ dẫn, các yêu cầu, các loại dạng hoạt động học tập
- Kĩ năng làm việc cá nhân, khi học sinh hoạt động cá nhân giáo viên phải rèn cho học sinh ý thức tập trung suy nghĩ để hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân, tự mình trình bày ý kiến cá nhân và tự đánh giá kết quả hoạt động của cá nhân
Trang 3- Kĩ năng làm việc hợp tác theo cặp, theo nhóm, giáo viên phải rèn cho học sinh biết
tổ chức hoạt động nhóm, nhận nhiệm vụ, lên kế hoạch, phân công, đảm nhận trách nhiệm, phối hợp với các thành viên trong nhóm để hoàn thành tốt công việc của nhóm
- Kĩ năng sử dụng đồ dùng học tập ở các góc học tập, sử dụng tài liệu tham khảo
ở thư viện trong lớp học
- Kĩ năng tự học ở môi trường xung quanh, gia đình và cộng đồng
- Kĩ năng lắng nghe, kĩ năng ra quyết định… trước khi đưa ra vấn đề, tạo sự tương tác thân thiện giữa các bạn cùng nhóm, luôn có thái độ hỗ trợ, tương trợ lẫn nhau
- Kỹ năng mạnh dạn, tự tin, linh hoạt và sáng tạo hơn trong học tập, tư duy độc lập, hợp tác để phát hiện chiếm lĩnh kiến thức bài học
Câu hỏi 2: Trên cơ sở của Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/8/2014 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT, đồng chí hãy nêu vai trò, nhiệm vụ của giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm thực hiện tốt yêu cầu đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh tiểu học?
Đáp án: Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học
nhằm thực hiện tốt yêu cầu đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh tiểu học bao gồm:
- Giúp học sinh tự phục vụ, tự quản;
- Giúp học sinh giao tiếp, hợp tác, có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ;
- Giúp học sinh tự học và giải quyết vấn đề, tự điều chỉnh cách học;
- Hướng dẫn;
- Tư vấn;
- Quan sát;
- Theo dõi;
- Trao đổi;
- Kiểm tra;
- Nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh;
- Nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập của học sinh và phát triển một số năng lực;
- Động viên/ khích lệ;
- Ghi những nhận xét đáng chú ý nhất, những điều đặc biệt lưu ý ( nếu có ) vào
sổ chất lượng giáo dục;
- Kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ;
- Kịp thời phát hiện những khó khăn chưa thể vượt qua của học sinh để hướng dẫn; giúp đỡ;
Trang 4- Đưa ra những nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh
- Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá;
- Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của học sinh về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của học sinh;
- Quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh; áp dụng biện pháp
cụ thể để kịp thời giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn
2 MÔN TOÁN:
Câu hỏi 3: Vì sao ta cần đổi mới phương pháp dạy Toán?
Đáp án:
Công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên khắp đất nước Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn xã hội luôn phát triển Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung lẫn phương pháp dạy học (PPDH)
Đặc điểm của các lối dạy học cũ là có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Trong đó:
- Giáo viên thường chỉ truyền đạt, giảng dạy theo các tài liệu sẵn có trong SGK, SGV Vì vậy giáo viên thường làm việc một cách máy móc, ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của HS
- Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu Do đó học sinh ít hứng thú học tập, nội dung các học tập thường nghèo nàn, đơn điệu, các năng lực vốn có của HS ít có cơ hội phát triển
- Giáo viên là người duy nhất có quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh Học sinh ít khi được tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau Tiêu chuẩn đánh giá học sinh là kết quả ghi nhớ, tái hiện lại những điều giáo viên đã giảng
Cách dạy học như vậy đang cản trở việc đào tạo những người lao động năng động, tự tin, linh hoạt sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với những thay đổi đang diễn ra từng ngày Do đó chúng ta phải đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng giáo dục đáp
ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Câu hỏi 4: Có bao nhiêu dạng toán có lời văn trong chương trình Tiểu học? Đó là
những dạng toán nào?
Trả lời:
Có 10 dạng toán có lời văn trong chương trình Tiểu học là:
+ Tìm số trung bình cộng
Trang 5+ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
+ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
+ Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
+ Bài toán có liên quan đến việc rút về đơn vị
+ Bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận
+ Bài toán về đại lượng tỉ lệ nghịch
+ Bài toán về tỉ số phần trăm
+ Bài toán về chuyển động đều
+ Bài toán có nội dung hình học (tính chu vi, diện tích, thể tích các hình)
3 MÔN TIẾNG VIỆT:
Câu hỏi 5: Bạn hãy nêu ưu điểm khi dạy môn Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục?
Đáp án:
Với HS thì việc học cũng nhẹ nhàng hơn, học sinh lớp 1 học Tiếng Việt chủ yếu chỉ học âm và vần, khi viết chỉ cần viết đúng âm, vần
HS tiếp thu kiến thức một cách vững chắc, nắm vững cấu tạo ngữ âm tiếng Việt, nắm chắc luật chính tả, đọc thông, viết thạo, phát âm tương đối chuẩn, qua thời gian nghỉ
hè không quên chữ HS cũng tích cực và chủ động tham gia vào hoạt động học, tạo ra sản phẩm cho chính mình Hầu như không còn HS không biết đọc, nếu có chỉ là những trường hợp HS đọc chậm Tài liệu thiết kế theo nguyên tắc: “Thầy giao việc - trò thực hiện” nên đã hình thành được ở GV phương pháp dạy tích cực, HS học tích cực
Tài liệu thiết kế chi tiết cho các dạng bài, các mẫu của từng tiết dạy vì vậy GV không cần phải soạn bài có thời gian cho việc chuẩn bị và nghiên cứu bài dạy đạt hiệu quả cao hơn Kiến thức và năng lực của GV được nâng lên rõ rệt qua quá trình dạy học Một số tỉnh đã hướng dẫn áp dụng phần dạy cấu tạo tiếng, luật chính tả của tài liệu TV1.CNG cho chương trình hiện hành
Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học của GV cũng đơn giản, nhẹ nhàng hơn, đa số các thao tác đều có sẵn trong thiết kế bài giảng Còn với HS thì việc học cũng nhẹ nhàng hơn, học sinh lớp 1 học Tiếng Việt chủ yếu chỉ học âm và vần, khi viết chỉ cần viết đúng âm, vần Đáng chú ý với cách dạy này HS sẽ chuyển từ việc biết nói sang ký hiệu, từ ký hiệu chuyển thành chữ viết, cách dạy như vậy phù hợp với phương pháp dạy học hiện đại, phát huy được kinh nghiệm sống của HS, giúp GV giải thích từ với
HS cặn kẽ hơn mà không áp đặt
Câu hỏi 6: Bạn hãy nêu đặc điểm của phương pháp dạy học Tiếng Việt theo VNEN là gì?
Đáp án:
Đặc điểm của phương pháp dạy học Tiếng Việt theo VNEN là:
- HS được coi là trung tâm trong quá trình dạy học, GV có vai trò hỗ trợ, thúc đẩy, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập để các em phát triển
Trang 6- Hoạt động học tập của HS được diễn ra chủ yếu bằng hình thức tự học dưới sự hướng dẫn của GV và dưới sự quản lí của Hội đồng tự quản HS trong lớp; cá nhân tự học, tự học theo cặp và nhóm Hoạt động học tập không chỉ giới hạn trong sách mà còn mở rộng ra thực tế cuộc sống của chính HS ở cộng đồng
- Cộng đồng gắn bó chặt chẽ với trường học và tham gia vào quá trình dạy học thông qua sự hỗ trợ của người lớn ở gia đình, ở địa phương đối với việc học của HS
- Việc triển khai nội dung học tập, kế hoạc dạy học được thực hiện linh hoạt bằng sách Hướng dẫn học (với 3 chức năng: sách giáo khoa, sách giáo viên, vở thực hành), bằng thời khóa biểu linh hoạt
4 MÔN TN&XH:
Câu hỏi 7: Vì sao sử dụng phương pháp thảo luận nhóm dạy học TN&XH? Để phát
huy tốt hiệu quả khi tổ chức học nhóm, đồng chí cần phải làm gì?
Đáp án:
Việc tổ chức dạy học theo nhóm cho phép HS có nhiều cơ hội hơn để diễn đạt
và khám phá ý tưởng của các em, mở rộng suy nghĩ, hiểu biết và kĩ năng sống Nó cũng cho phép học sinh có cơ hội học hỏi từ các bạn, phát huy vai trò trách nhiệm của
cá nhân đối với tập thể Điều đó làm phát triển kĩ năng xã hội và tính cách của trẻ Tuy nhiên, khi tổ chức học nhóm, GV gặp không ít khó khăn như: việc sắp xếp nhóm, một số đối tượng tham gia thiếu tích cực, HS trung bình, yếu không biết mình phải làm gì, nói gì khi tham gia các hoạt động học tập Học sinh khá giỏi thường làm thay, nói thay trong nhóm và chưa biết cách giúp đỡ các đối tượng khác,
Để phát huy tốt hiệu quả khi tổ chức học nhóm, chúng ta cần tìm hiểu từ thực
tế những khó khăn cũng như hướng khắc phục những khó khăn đó, cụ thể:
- Một số lớp học, bàn ghế
chưa phù hợp để có thể
sắp xếp chỗ ngồi theo
nhóm
- Sử dụng nhóm đôi
- HS bàn trên quay xuống bàn dưới để tạo thành nhóm
- Tận dụng triệt để không gian trống trong lớp học hoặc ngoài trời
- HS còn lúng túng và
nhút nhát, chưa mạnh dạn
tham gia vào hoạt động
nhóm
- Cần chuẩn bị cẩn thận nội dung và phiếu giao việc rõ ràng, phù hợp với trình độ nhận thức của HS trong nhóm
- Giải thích, minh họa, làm mẫu để tất cả các đối tượng
HS hiểu rõ công việc của mình trước khi hình thành nhóm
- Kiên trì, thường xuyên tổ chức nhóm để từng bước hình thành kĩ năng làm việc theo nhóm
Trang 7- Một số HS còn ỷ lại, dựa
dẫm vào các bạn cùng
nhóm HS khá giỏi thích
thể hiện nên làm thay, nói
thay các bạn
- Giao việc đúng đối tượng, vừa sức, từ dễ đến khó GV thường xuyên đến các nhóm để động viên, khuyến khích - Nội dung dễ nên để HS yếu làm, trình bày; tập cho HS khá giỏi giúp đỡ HS yếu khi cần thiết
- Việc quan sát, đánh giá
của GV chưa được quan
tâm đúng mức
- GV nên có kế hoạch quan sát, hỗ trợ và động viên kịp thời kết quả làm việc của từng nhóm học sinh
- GV phải trực tiếp đến từng nhóm để theo dõi điều chỉnh, tránh tình trạng giao việc xong rồi ngồi ở bàn
GV để quan sát
Lưu ý: Nhóm không phải là cách tổ chức học tập tốt nhất cho mọi nội dung, cho
mọi bài học Do đó, GV nên tùy nội dung, tùy bài học mà tổ chức hoạt động nhóm
Không nên chia nhóm quá đông (nhiều nhất là 6 em) để tránh tình trạng HS ỷ lại, đùn đẩy công việc
Câu hỏi 8: Trình bày mục tiêu về kiến thức cơ bản cần đạt được khi dạy môn
TN-XH, Khoa học, LS&ĐL trong trường Tiểu học?
Đáp án:
- Con người và sức khỏe
(cơ thể người, cách giữ
vệ sinh cơ thể người và
phòng tránh bện tật, tai
nạn)
- Một số sự vật, hiên
thương đơn giản trong tự
nhiên và xã hội xung
quanh
- Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người; cách phòng tránh một số bệnh tật thông thường và bệnh truyền nhiễm
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật, thực vật
- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất
- Các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lí, các mối quan hệ thuộc phạm vi: địa phương, đất nước Việt Nam và một số nước trên thế giới
5 MÔN ĐẠO ĐỨC:
Câu hỏi 9: Để đạt hiệu quả tốt trong việc dạy và học môn Đạo đức cho HS tiểu học,
giáo viên cần chú ý điều gì? Kể một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Đạo đức?
Đáp án:
Trang 8- GV cần tận dụng mọi phương pháp, hình thức dạy học sao cho HS được bày tỏ
ý kiến, biểu hiện thái độ, hành vi của bản thân đối với các tình huống, chuẩn mực đạo đức được học tập
Nội dung đạo đức (các tình huống, chuẩn mực, câu chuyện, ví dụ…) phải gần gũi với cuộc sống thực của HS, phù hợp với tâm lí lứa tuổi của các em GV cần phải biết lựa chọn những hình thức, phương pháp phù hợp với nội dung mỗi bài dạy và điều kiện thực tế cho phép
Cho HS liên hệ những điều đang học với những trải nghiệm đạo đức của bản thân và thực tế cuộc sống mà các em biết được
GV phải chú ý đến những ý kiến khác nhau của HS về một vấn đề với thái độ khuyến khích, tôn trọng và khéo léo gợi ý cho các em trao đổi để tìm ra những giá trị chung…
Cần phải kết hợp giáo dục đạo đức thông qua dạy học các môn học khác, các sinh hoạt tập thể khác nhau, cũng như sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình, cộng đồng
- Một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy học:
Các phương pháp và hình thức dạy học môn Đạo đức rất đa dạng và phong phú, luôn được áp dụng từ lớp 1 đến lớp 5 như: Kể chuyện, đàm thoại, thảo luận nhóm, xử
lý tình huống, đóng vai, trò chơi
Câu hỏi 10: Những điểm cần lưu ý khi tổ chức HĐGD Đạo đức lớp 2 theo mô hình
VNEN?
Đáp án:
- Môn Đạo đức lớp 2 nhằm giúp HS có những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi các em trong mối quan
hệ với gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên
- Từng bước hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo chuẩn mục đã học; kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng
xử phù hợp với chuẩn mực trong các mối quan hệ và tình huống đơn giản
- Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin; thương yêu, tôn trọng con người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu
- HĐGD Đạo đức lớp 2 vận dụng theo mô hình VNEN cần theo hướng tiếp cận
kĩ năng sống, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS thông qua việc tổ chức các hoạt động học phù hợp như: trò chơi, thảo luận nhóm, đóng vai; chú trọng
tổ chức dạy học gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày của các em
- Mỗi bài học trong chương trình Đạo đức lớp 2 hiện hành thường được thực hiện trong 2 tiết, do vậy khi vận dụng theo mô hình VNEN, GV có thể bố trí dạy liền
2 tiết trong 1 tuần để việc tổ chức các hoạt động được liền mạch, liên tục, học sinh được tham gia hoạt động nhiều hơn và đạt kết quả tốt hơn
6 MÔN THỦ CÔNG/KĨ THUẬT:
Trang 9Câu hỏi 11: Dạy học môn HĐGD Thủ công lớp 3 theo chương trình VNEN cần thực
hiện mấy bước? Đó là những bước nào?
Đáp án:
Mỗi bài trong chương trình thủ công được dạy trong 2 tiết Mỗi tiết GV cần chuẩn bị để thiết kế những bước lên lớp cụ thể giúp học sinh tạo ra được những sản phẩm theo yêu cầu của bài học Trước khi vào các hoạt động của mỗi tiết học, GV cần dành thời gian cho HS khởi động (Hát, chơi trò chơi) nhằm tạo hứng thú, tinh thần thoải mái cho các em
Tiết 1: (Hoạt động cơ bản) Gồm 6 bước
Bước 1: Quan sát, khám phá đặc điểm hình dạng của vật mẫu ( GV phát cho mỗi nhóm 1 sản phẩm mẫu và phiếu bài câu hỏi)
Bước 2: Cùng nhau kiểm tra kết quả của hoạt động ở bước 1
Bước 3: HS xem hướng dẫn (Vở thực hành Thủ công) và làm thử
Bước 4: HS trình bày cách gấp sản phẩm trước lớp theo cách hiểu của mình Bước 5: GV hướng dẫn các thao tác HS củng cố, khắc sâu kiến thức
Bước 6: Áp dụng trực tiếp ( HS thực hành trên giấy nháp)
Tiết 2: (HĐ thực hành) Gồm 5 bước
Bước 1: Nêu nhiệm vụ và các yêu cầu cần đạt được của bài thực hành
Bước 2: HS thực hành theo nhóm (GV quan sát, hỗ trợ HS gặp khó khăn)
Bước 3: Trưng bày sản phẩm theo nhóm
Bước 4: HS tự nhận xét, đánh giá
Bước 5: Gv nhận xét, đánh giá
Câu hỏi 12: Bạn hãy nêu mục tiêu của môn Thủ công lớp 2?
Đáp án : Sau khi hoàn thành chương trình môn Thủ công lớp 2 HS cần:
- Biết được một số kiến thức cơ bản về gấp hình, phối hợp gấp, cắt, dán hình và làm đồ chơi
- Hình thành và phát triển một số kĩ năng đơn giản về gấp hình, phối hợp gấp cắt dán hình và sử dụng các công cụ học tập thông thường như bút chì, thước kẻ, kéo; Rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay Biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học ở các môn Mĩ thuật, Toán…vào quá trình lĩnh hội kiến thức và sự thực thành làm sản phẩm Thư công ở lớp 2
- Có khả năng ứng dụng những kiến thức, kĩ năng Thủ công đã học ở lớp để làm một số đồ chơi đơn giản bằng cách gấp, cắt, dán giấy ở nhà
- Hình thành thói quen lao động theo quy trình, làm việc có kế hoạch, ngăn nắp, trật tự, an toàn, vệ sinh; Yêu thích lao động thủ công và biết quý sản phẩm lao động
Trang 107 MÔN THỂ DỤC (THỂ CHẤT):
Câu hỏi 13: Đ/c hãy đưa ra một số yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học giờ dạy
thực hành môn thể dục?
Đáp án:
Một số yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học giờ dạy thực hành môn thể dục
1- Đổi mới quan điểm dạy học, lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học:
- Hướng dẫn học sinh tham khảo, đọc tài liệu phân tích kỹ thuật động tác, luyện tập ở nhà
- Sử dụng câu hỏi, nêu tình huống có vấn đề để học sinh tổ chức thảo luận, tổ chức khám phá, tổ chức luyện tập trước
- Cho học sinh thường xuyên tham gia kiểm tra, tự kiểm tra, tự đánh giá
- Khuyến khích các em tự do sáng tạo trong tư duy
2- Đổi mới nội dung, chương trình:
- Giáo viên nên tăng cường thêm hoặc hàng năm thay đổi những môn thể thao
tự chọn mà học sinh ham thích
3- Đổi mới cách đánh giá, hình thức thi:
- Giáo viên kiểm tra đánh giá nên lồng ghép đánh giá cả ý thức thái độ trong quá trình học tập của học sinh
- Tiến hành nhiều hình thức kiểm tra, khi kiểm tra thực hành nên kiểm tra cả thành tích lẫn kỹ thuât thực hiện động tác
- Phù hợp cho từng đối tượng, trình độ, sức khỏe học sinh
4- Thay đổi PPDH :
* Khi giáo viên sử dụng nhóm phương pháp dùng lời nói để truyền thụ kiến thức cho học sinh:
- Nếu dạy động tác mới, giáo viên cần nói ngắn gọn, dễ hiểu, dùng thuật ngữ chính xác
- Khi phân tích kỹ thuật động tác tránh dài dòng mà cần xoáy vào trọng tậm vào những yếu lĩnh kỹ thuật quan trọng
- Giáo viên có thể phát vấn, kể chuyện, trình bày ngắn gọn một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thêm thông tin và gây hưng phấn cho học sinh
* Khi giáo viên sử dụng nhóm phương pháp trực quan
- Chú ý đến vị trí làm mẫu, chọn hướng làm mẫu để học sinh có thể nhìn rõ,nhìn thấy biên độ, góc độ động tác