ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ***** NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRÀ BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT PHẠM TRÙ "CÓ THỂ" TRÊN BÌNH DIỆN TÌNH THÁI NHẬN THỨC VÀ TÌNH THÁI CĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRÀ
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT PHẠM TRÙ "CÓ THỂ"
TRÊN BÌNH DIỆN TÌNH THÁI NHẬN THỨC VÀ TÌNH THÁI CĂN BẢN
(QUA CỨ LIỆU TIẾNG PHÁP,
SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 5.04.08
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP
Hµ Néi – 2005
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Khi giao tiếp, người ta không chỉ truyền cho nhau thông tin miêu tả mà còn muốn bày tỏ quan điểm, thái độ của mình trước thông tin đó Trước một sự việc nào đó, người này còn nghi ngờ về tính hiện thực của nó, người kia lại hoàn toàn
có thể tin chắc là nó tồn tại Không chỉ quan tâm đến hiện tượng này, chúng tôi còn muốn được nghiên cứu sâu về nó và biết rằng trong ngôn ngữ, có một phạm trù ngữ nghĩa thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến
trong câu, gọi là tình thái
Trong quá trình học tập và giảng dạy hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng
Pháp, chúng tôi lại nhận thấy rằng "có thể" là một phạm trù tình thái rất thú vị, ở
chỗ nó có mặt trong cả hai loại tình thái là tình thái nhận thức và tình thái căn bản1
nhưng lại có nội dung biểu đạt không giống nhau Nếu như "có thể" trong tình thái
nhận thức là phạm trù tình thái thể hiện thái độ không cam kết tuyệt đối của người
nói đối với tính chân thực của điều mình nói ra thì trong tình thái căn bản, "có thể"
lại được hiểu là một sự cho phép người nghe quyền thực hiện hành động được nêu trong phát ngôn Hơn nữa, chúng tôi còn thấy rằng phạm trù này được hai ngôn ngữ thể hiện bằng những phương tiện đặc trưng của từng ngôn ngữ Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu, với mong muốn nó sẽ có ý nghĩa khoa học về lí luận và thực tiễn
Trang 3nữa là đưa ra sự phân biệt giữa hai loại tình thái quan trọng là tình thái nhận thức
và tình thái căn bản Tình thái nhận thức đã từng được nghiên cứu ở một số công trình gần đây, còn tình thái căn bản thì được biết đến chưa nhiều Vì vậy, chúng tôi càng cố gắng tìm hiểu về nó sao cho có thể phát hiện được điều gì đấy mới mẻ
Sau nữa, luận văn cũng muốn góp phần làm thấy rõ những khác biệt về loại hình của hai ngôn ngữ trên Những khác biệt này thể hiện ở các kiểu phương tiện
biểu đạt phạm trù "có thể" Chẳng hạn, ở tiếng Pháp, thời và thức của động từ là
những phương tiện đắc lực, trong khi đó, ở tiếng Việt, vai trò này lại phải nhường cho các phương tiện từ vựng
II Lịch sử vấn đề
Trong các thập niên trước đây, các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều đến ngôn ngữ ở phương diện cấu trúc tĩnh, họ chỉ chú ý đến hình thức mà chưa đi sâu nghiên cứu mặt nội dung biểu đạt, đặc biệt là ít quan tâm đến những sự kiện lời
Trang 4nói Gần đây, các nhà ngôn ngữ học đã và đang có những nghiên cứu nhằm bổ khuyết những thiếu sót đó Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề ngữ nghĩa, ngữ dụng lại lôi kéo sự chú ý của giới ngôn ngữ học như hiện nay Nghiên cứu những hiện t-ượng tình thái và các phương tiện biểu hiện chúng chính là nằm trong xu hướng chung này
Ở Việt Nam, bắt đầu từ Cao Xuân Hạo với cuốn sách Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1 (1991), một số nhà Việt ngữ học cũng chọn con
đường đi mới mẻ này để nghiên cứu Tuy nhiên, hiện vẫn có chưa nhiều các công trình chuyên sâu về ngữ nghĩa, tình thái, đặc biệt là các công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ, nhất là giữa các ngôn ngữ khác xa nhau về loại hình
Xét riêng về các công trình so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ, trong những năm gần đầy, đã có một số công trình nghiên cứu về tình thái nhận thức trong tiếng Anh và tiếng Việt Đó là Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Cẩm Thanh khảo sát các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu thị tình thái không thực hữu; là Luận án Tiến sĩ của Ngũ Thiện Hùng tìm hiểu các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu đạt tính tình thái nhận thức, Luận án Tiến sĩ của Phạm Thị Ly nghiên cứu thức trong tiếng Anh và các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt
Về tiếng Pháp, các công trình nghiên cứu tình thái còn thưa thớt hơn Hiện chúng tôi mới biết đến Luận án Tiến sĩ của Trần Thị Mỹ đi sâu tìm hiểu các yếu tố biểu thị tình thái nhận thức trong câu tiếng Pháp, có so sánh với tiếng Việt
Có thể thấy rằng hướng nghiên cứu về tình thái nói chung trong sự so sánh với hai thứ tiếng là một hướng đi với nhiều cái mới để khám phá, nhưng cũng chính vì thế mà lại đặt ra nhiều thử thách cần phải vượt qua Công trình của chúng tôi, bên cạnh việc nghiên cứu ý nghĩa tình thái nhận thức, còn phải tìm hiểu về tình thái căn bản Đây chính là thử thách mà chúng tôi đặt ra trong luận văn của mình
Trang 5III Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn cao học, chúng tôi không có điều kiện khảo
sát chi tiết đầy đủ các phương tiện biểu thị phạm trù có thể trong tình thái nhận
thức và tình thái căn bản Công trình của chúng tôi chỉ dừng lại ở giới hạn "bước đầu khảo sát" mà thôi Bên cạnh đó, do điều kiện làm việc cụ thể (là một giáo viên tiếng Pháp) chúng tôi chú trọng nhiều đến việc khảo sát các phương tiện bằng tiếng Pháp hơn là các phương tiện bằng tiếng Việt Các phương tiện bằng tiếng Việt chỉ được đưa ra trong sự so sánh với các phương tiện bằng tiếng Pháp
IV Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đầu tiên, luận văn tìm hiểu những vấn đề lí thuyết chung về tình thái, về tình
thái nhận thức, tình thái căn bản, đặc biệt về phạm trù "có thể" trong hai loại tình
thái trên Trên cơ sở những lí thuyết chung đó, luận văn tìm hiểu một số phương tiện biểu đạt phạm trù "có thể" trong tiếng Pháp, có so sánh với tiếng Việt Từ đó, luận văn có một số phân tích ứng dụng trong dịch thuật và dạy học tiếng Pháp, đặc biệt trong việc xử lí những trường hợp mơ hồ tình thái có liên quan đến phạm trù
"có thể"
2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ trên, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
a Phương pháp chung: diễn dịch và quy nạp
Trang 6+ Diễn dịch: xuất phát từ một phạm trù ngữ nghĩa chung thuộc tình thái nhận thức và tình thái căn bản để đi đến phân tích hiện tượng cụ thể là các cách biểu đạt phạm trù "có thể"
+ Quy nạp: từ những biểu hiện cụ thể trong tiếng Pháp (có so sánh với tiếng Việt), xây dựng các mô hình, cấu trúc và tiến hành các thao tác phân loại, đối chiếu
b Phương pháp đặc thù: so sánh đối chiếu
Do đối tượng nghiên cứu liên quan đến cả hai thứ tiếng nên cần sử dụng ương pháp này để rút ra các nét tương đồng và dị biệt về cách thể hiện phạm trù
ph-"có thể"
c Các thủ pháp ngôn ngữ học: những thủ pháp ngôn ngữ học quen thuộc
như khúc giải, miêu tả, phân tích ngữ cảnh cũng sẽ được vận dụng một cách linh hoạt để làm sáng rõ nội dung của các hiện tượng ngôn ngữ
V Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu (5 trang), Kết luận (3 trang), luận văn được chia thành
ba chương như sau:
+ Chương 1: Xác định cách hiểu phạm trù "có thể"với tư cách là một nội dung của tình thái nhận thức và tình thái căn bản cùng các vấn đề liên quan
+ Chương 2: Các phương tiện biểu thị phạm trù "có thể" trong tiếng Pháp và
các cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt
+ Chương 3: Một số ứng dụng vào giảng dạy tiếng Pháp
Bên cạnh đó, luận văn cũng cung cấp một danh mục Tài liệu tham khảo gồm 67 đơn vị, một danh mục Nguồn tư liệu trích dẫn gồm 54 đơn vị và ba Phụ lục gồm 34 trang
Trang 7CHƯƠNG 1
XÁC ĐỊNH CÁCH HIỂU PHẠM TRÙ "CÓ THỂ"
VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT NỘI DUNG CỦA
TÌNH THÁI NHẬN THỨC VÀ TÌNH THÁI CĂN BẢN
CÙNG CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Phân biệt tình thái và nội dung mệnh đề
Tình thái và nội dung mệnh đề là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn Sự đối lập giữa hai thành phần này là một trong những đối lập cơ bản, làm cơ sở cho lý thuyết tình thái và được thừa nhận rộng rãi trong ngôn ngữ học Vậy tình thái và nội dung mệnh đề là gì?
Trong ngôn ngữ học, có lẽ Charles Bally được coi là người đầu tiên chủ trưong phân biệt hai thành phần này Theo ông, trong câu có hai yếu tố cần được
phân biệt là dictum và modus Dictum là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó Do đó, dictum tương ứng với chức năng thông tin, miêu tả, giao tiếp của ngôn ngữ Trong lúc đó, modus lại hướng đến sự phân tích, mổ xẻ về
mặt tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với
người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp Modus tham gia vào quá trình thực tại
hóa, biến nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực Nó cho biết, chẳng hạn, sự tình nêu trong phát ngôn là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy của thông tin đến đâu, sự đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, ý đồ của người nói khi phát ngôn là thế nào v.v Xét các phát ngôn sau:
Trang 8(1a) An đi du học nước ngoài
(1b) An không đi du học nước ngoài
(1c) Nghe đâu An đi du học nước ngoài
(1d) Có lẽ An đi du học nước ngoài rồi
(1e) Té ra là An đi du học nước ngoài
(1g) Làm như thể An đi du học nước ngoài ấy!
(1h) Mừng một cái là An lại đi du học nước ngoài
Các phát ngôn trên đây đều có chung một nội dung mệnh đề là nói về việc
An đi du học nước ngoài Nhưng các phát ngôn này lại không giống nhau về các khía cạnh của tình thái Nếu như phát ngôn (1a) khẳng định việc An đi du học nước ngoài là có thật, là chính xác, thì phát ngôn (1b) lại phủ nhận điều đó, tức đối với người nói, An chắc chắn không đi du học ở nước ngoài Ở phát ngôn (1c), (1d), người nói lại không khẳng đinh hay phủ định hoàn toàn sự tình trên, mà chỉ "dám" đưa ra một lời đoán định không chắc chắn, hoặc là dựa trên sự suy lí của bản thân (phát ngôn 1d), hoặc là dựa trên tin đồn (phát ngôn 1c) Như vậy, sự tình được truyền đạt là có thể đúng, có thể sai và người nói không đảm bảo về tính chân thực của nó Phát ngôn (1e) cho thấy người nói nghĩ là sự tình này đã xảy ra, đã là hiện thực, chỉ có điều bây giờ anh ta mới biết, mới vỡ lẽ Phát ngôn (1g), cũng giống (1b) ở chỗ người nói quả quyết rằng An không đi du học, nhưng sự quả quyết này dường như không trung tính như (1b), mà còn kèm theo sự đánh giá của người nói Phát ngôn (1h) biểu thị sự đánh giá tích cực của người nói đối với một sự tình hiện thực, xem đó là một điều đáng mong muốn
Hai thành phần dictum và modus trong cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn còn
được quan tâm bởi nhiều nhà ngôn ngữ học khác Palmer phân biệt trong câu
"những yếu tố biểu thị tình thái và những yếu tố biểu thị mệnh đề" Còn theo Searle, sự phân biệt giữa nội dung mệnh đề và tình thái rất gần gũi với sự khác biệt
Trang 9giữa hành vi tạo lời và hành vi tại lời Cao Xuân Hạo cho rằng, dictum là một tập
hợp gồm sở thuyết (vị ngữ lô gích) và các tham tố của nó, được xem xét như một
mối liên hệ tiềm năng, còn modus là cách thực hiện mối liên hệ ấy, cho biết mối
liên hệ ấy là có thật (hiện thực) hay là không có thật (phủ định nó, coi nó là phi hiện thực), là tất yếu hay là không tất yếu, là có thể hay là không thể có được
Ch.Bally nhận thấy rằng modus là thành phần luôn có mặt trong câu, có thể hòa
trộn với nội dung mệnh đề, và trong một số trường hợp là không được đánh dấu
(unmarked) Chẳng hạn Trời mưa trên thực tế là tương ứng với khúc giải : (Tôi
nhận thấy là) trời mưa
Hai thành phần này còn được gọi tên bằng những thuật ngữ khác nhau, tùy
theo từng tác giả Ngoài modus / dictum, người ta còn thấy các cặp thuật ngữ khác
như tình thái / ngôn liệu, tình thái / cơ sở mệnh đề, tình thái / mệnh đề, tình thái / propo Chúng ta có thể tìm hiểu kĩ hơn quan niệm của một số tác giả trong việc lựa chọn các cặp thuật ngữ như vậy
Theo Fillmore (1968, tr 23 Dẫn theo 9:15), cấu trúc nghĩa của câu bao gồm
hai thành phần: "mệnh đề" đối lập với "tình thái" Mệnh đề được hiểu như là tập
hợp những quan hệ có tính phi thời (tenseless) giữa các động từ và danh từ, còn tình thái gồm các loại ý nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu (the sentence - as - a -
whole) như phủ định, thì, thức và thể Công thức Câu = tình thái + mệnh đề được
thể hiện như sau: S = M + P
Culioli không dùng thuật ngữ "mệnh đề" (proposition), bởi theo ông, thuật ngữ này khiến người ta băn khoăn, không biết nên hiểu nó theo nghĩa lô gích hay
theo một nghĩa nào khác Thêm nữa, thuật ngữ mode / mood (thức) có thể được
hiểu theo nghĩa rất hẹp, chỉ như là một phạm trù ngữ pháp gắn với động từ trong những ngôn ngữ biến hình Trong khi đó, tình thái không chỉ được thể hiện bằng
thức và không đồng nhất với thức theo nghĩa hẹp, mặc dù trong ngôn ngữ học,
Trang 10cũng có những tác giả gắn tình thái với phạm trù thức của động từ, chẳng hạn như thức subjonctif - một cách thức biểu thị sự không chắc chắn Chính vì vậy, Culioli chọn thuật ngữ ngôn liệu (lexis) với mục đích nhấn mạnh tính chất nguyên liệu,
tiềm tàng, phi tình thái, chưa có tư cách là một phát ngôn về một sự tình nào đó
Về thực chất, ngôn liệu tương đương với dictum của Ch Bally Như vậy, với
Culioli, sự đối lập giữa hai thành phần nội dung cơ bản trong câu là sự phân biệt giữa tình thái và ngôn liệu
Cặp thuật ngữ propo (viết tắt của proposition) và tình thái được Pottier chọn
dùng cũng với tinh thần như vậy
Theo quan sát của chúng tôi, trong số các thuật ngữ được sử dụng, cặp thuật ngữ tình thái / nội dung mệnh đề là phổ biến và hợp lí hơn cả Không nghi ngờ gì
nữa, đó là vì thuật ngữ tình thái tỏ ra bao quát hơn và quen thuộc hơn các thuật ngữ khác Còn thuật ngữ nội dung mệnh đề , một mặt cho thấy tính tiềm năng của sự
tình được biểu hiện, mặt khác lại không hoàn toàn trùng với cách hiểu của lô gich học Cặp thuật ngữ này cũng tạo điều kiện cho việc cấu tạo các thuật ngữ khác như
khung tình thái (theo cái nghĩa, trong câu có thể có nhiều yếu tố tham gia biểu thị tình thái, cùng tương tác với nội dung mệnh đề), nội dung mệnh đề của hành vi ngôn ngữ v.v
Như vậy, khái niệm tình thái được định nghĩa xuất phát từ sự đối lập giữa hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu (là tình thái và nội dung mệnh đề) Đây là một phạm trù rất cơ bản, có mặt trong tất cả các ngôn ngữ và hiện diện ở mọi câu nói Về vai trò của nó trong câu, đã có một cách diễn đạt rất chính xác và sinh động “Tình thái là linh hồn của câu nói” (Ch Bally, dẫn theo 28) Tuy nhiên, khái niệm tình thái là một khái niệm rất phức tạp, trong những mục tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ nội hàm của khái niệm này Theo đó, tình thái của câu nói được chia ra thành hai phạm trù lớn, đó là tình thái của hành động
phát ngôn (về cơ bản,