1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Theo Chủ Đề

25 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 240,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã từ lâu dạy học phân môn Làm văn, Tiếng Việt ở trường phổ thông đã bộc lộ nhiều hạn chế như: tình trạng dạy theo kiểu tùy tiện, chắp vá dẫn đến các kiến thức rời rạc, HS không biết vận

Trang 1

và xóa bỏ dần lối truyền thụ một chiều

Đổi mới nội dung dạy học theo chủ đề Đồng thời, đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh theo mức độ (biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao) Ngoài ra, đề thi môn ngữ Văn hiện nay đòi hỏi có sự tích hợp kiến thức đơn môn và liên môn

Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học phân môn Làm văn, Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông Đã từ lâu dạy học phân môn Làm văn, Tiếng Việt ở trường phổ thông

đã bộc lộ nhiều hạn chế như: tình trạng dạy theo kiểu tùy tiện, chắp vá dẫn đến các kiến thức rời rạc, HS không biết vận dụng lí thuyết vào thực hành, chưa chú trọng khâu chỉnh sửa, ; Trong phân môn Đọc hiểu học sinh chỉ học thuộc những gì giáo viên cho ghi

II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Mục đích

Nghiên cứu đề tài “Dạy học theo chủ đề”, chúng tôi hướng đến mục đích sau:

- Tham gia nghiên cứu làm sáng tỏ hai cơ sở của yêu cầu dạy học và đánh giá học sinh theo năng lực là Lí thuyết kiến tạo và Lí thuyết đa trí tuệ

- Vận dụng một số biện pháp dạy học tích cực dựa trên hai cơ sở nền tảng này

Từ đó, chúng tôi hướng đến mục đích phát huy tốt khả năng tích cực, chủ động, sáng

tạo của HS trong việc hình thành và phát triển các kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp

Trang 2

III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Về lí luận: làm sáng tỏ hai cơ sở của yêu cầu dạy học và đánh giá học sinh theo

năng lực là Lí thuyết kiến tạo và Lí thuyết đa trí tuệ đối với bộ môn ngữ Văn

Về thực tiễn: thiết kế một chủ đề dạy học dựa trên cơ sở của lí thuyết.

IV KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

Giai đoạn 1 Đọc và nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Bộ GD & ĐT về yêu cầu

dạy học theo chủ đề Đọc và nghiên cứu hai cơ sở của yêu cầu dạy học theo chủ đề và đánh giá học sinh theo năng lực là Lí thuyết kiến tạo và Lí thuyết đa trí tuệ

Giai đoạn 1 Thiết kế đề cương chi tiết và tiến hành viết sáng kiến kinh nghiệm, thiết kế chủ đề: Thơ mới và bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu, dựa trên hai cơ sở trên Giai đoạn 3 Thực nghiệm trực tiếp trên các tiết dạy, tổng hợp kết quả và đánh giá hiệu quả

Trang 3

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Khái quát về dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề là một định hướng mới trong lộ trình phát triển giáo dục nói chung Có 2 loại chủ đề:

- Chủ đề đơn môn đề cập đến một hệ thống kiến thức thuộc về một môn học nào đó Đối với môn ngữ Văn, chủ đề đơn môn là kiến thức của ba phân môn: đọc hiểu, tiếng Việt và làm văn

- Chủ đề liên môn đề cập đến kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học Đây là cách xác định các nội dung kiến thức liên quan, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học (ngữ Văn, Lịch sử, Địa lý, giáo dục công dân, )

- Định hướng của việc dạy học theo chủ đề: Từ ý kiến của PGS.TS Nguyễn Xuân Thành - Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học (Bộ GD&ĐT), có thể thấy việc dạy học theo chủ đề hướng đến các yêu cầu sau:

+ Dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn

+ Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp, liên môn

+ Đối với một chủ đề, dù đơn môn hay liên môn, thì vẫn phải chú trọng việc ứng dụng kiến thức của chủ đề ấy, bao gồm ứng dụng vào thực tiễn cũng như ứng dụng trong các môn học khác

+ Nhằm phát triển năng lực học sinh đòi hỏi phải tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, mà các hoạt động ấy phải được tổ chức ở trong lớp, ngoài lớp, trong trường, ngoài trường, ở nhà và cộng đồng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn

+ Giáo viên phải biết vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để xây dựng chủ đề học, xác định những năng lực có thể phát triển cho học sinh trong mỗi chủ đề; biên soạn các câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học; thiết

Trang 4

kế tiến trình dạy học thành các một chuổi các hoạt động học của học sinh; tổ chức dạy học để dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm.

+ Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học các môn học như: Tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông

Như vậy, yêu cầu của việc dạy học theo chủ đề không chỉ là gói gọn trong phạm vi của môn ngữ Văn mà còn đòi hỏi sự ngồi lại và thống kê các nội dung có liên quan của các môn học khác Tuy nhiên, theo lộ trình chuyển đổi dần dần và tình hình thực tế của các yếu tố trường lớp, sách giáo khoa, khả năng của HS, GV, trước mắt chúng ta chỉ

có thể dạy chủ đề đơn môn, trong đó có tích hợp dọc và tích hợp ngang các đặc trưng của thể loại, giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia

về biên giới, biển đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông

2 Cơ sở phân chia chủ đề và đề xuất hướng phân chia chủ đề đơn môn

Trang 5

Lớp 10 Lớp 11Nghệ thuật Ba-rốc

Ngôn ngữ và sáng tạo

Giao tiếp - tác dụng của lời nói

Văn lập luận, bi kịch

Những vấn đề tôn giáo thế kỉ XVII

Hài kịch- âm hưởng của kịch

Nhân vật của tiểu thuyết

Việc lựa chọn chủ đề dạy đọc hiểu dạng này nhằm hướng tới mục tiêu là cung cấp một số phạm trù như là các công cụ để khám phá tác phẩm văn học của thế kỉ đó Từ kiến thức công cụ này HS tự mình đọc tốt các tác phẩm tương tự và viết được văn bản cùng thể loại Vì vậy, việc phân chia các chủ đề dựa vào đặc trưng thể loại của văn bản, phong cách chức năng văn bản, phương thức biểu đạt,

- Cở sở thứ hai là: Giữa hai phân môn đọc hiểu và làm văn có mối quan hệ chặt chẽ nhau: những tri thức kỹ năng của việc đọc văn không chỉ giúp HS tiếp nhận tốt tác phẩm văn học mà còn giúp các em viết tốt hơn các loại văn bản Và ngược lại những tri thức

kỹ năng làm văn cũng không chỉ giúp việc viết các loại văn bản mà còn soi sáng thêm việc đọc hiểu tác phẩm rất nhiều Vì vậy, thiết nghĩ không thể xem làm văn chỉ là bộ phận để tích hợp

- Cơ sở thứ ba: Hướng tới khắc phục những hạn chế của việc dạy học làm văn hiện nay Chương trình làm văn của ta theo cách viết để học, chú trọng kiểm tra kiến thức của

HS mà chưa chú trọng dạy học sinh cách viết Từ những năm 60, Hà Lan đã dạy như chúng ta, sau đó đã chuyển dần chuyển sang dạy 2 chương trình khác nhau:

+ Dạy viết: đáp ứng mục tiêu học để viết

+ Dạy văn: đáp ứng mục tiêu viết để học

Đồng thời, trong nguyên tắc thực hành: chỉ có thể thực hành tốt nếu HS nắm vững lí thuyết, đặc biệt là lí thuyết về cách viết Viết phối hợp nhiều hoạt động, kỹ năng: tìm ý, sắp xếp ý, thể hiện ý tưởng bằng ngôn từ, kiểm tra, sửa chữa (nội dung, hình thức), học sinh không thể cùng một lúc viết và học cách viết qua thực hành Vì vậy cần dạy kĩ lí

Trang 6

thuyết làm văn, đặc biệt là kiến thức về quy trình làm bài, quy trình vận dụng thao tác lập luận,

- Trong xu hướng hiện đại, nhiều nước trên thế giới đã phân chia môn ngữ Văn thành

3 môn học độc lập: môn tiếng mẹ đẻ, môn đọc hiểu và môn viết Vì vậy, có nên chăng lấy đọc hiểu làm chủ đề dạy chính, tiếng Việt và Làm văn chỉ tích hợp khi dạy đọc hiểu ?

2.2 Về phương pháp

- Do lấy lí thuyết kiến tạo và đa trí tuệ làm cơ sở cho PPDH và đánh giá học sinh theo năng lực (biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao) nên nội dung một chủ đề cần bám sát quy trình kiến tạo Hầu hết các nhà nghiên cứu chuyên sâu về LTKT đều thống nhất qui trình của dạy học theo LTKT bao gồm các bước chính như sau:

Bước 1: Kích hoạt kiến thức nềnBước 2: Khám phá, đưa ra dự đoánBước 3: Tương tác với người có hiểu biết hơnBước 4: Tự điều chỉnh- tri thức mới

Dựa trên các cơ sở trên, đồng thời cũng dựa vào “Chương trình giáo dục phổ thông

môn ngữ Văn (ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), chúng tôi đề xuất phân chia các chủ đề

theo hướng chú trọng đặc trưng thể loại như sau:

- Phong cách ngôn ngữ chính luận

- Phong cách ngôn ngữ báo chí

Chủ đề 1 Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ

- Phong cách ngôn ngữ khoa học

- Phong cách ngôn ngữ hành chính

Chủ đề 2 Hoạt động giao

Trang 7

- Ngữ cảnh

- Nghĩa của câu

- Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

- Đặc điểm loại hình tiếng Việt

hoạch cá nhân, viết

quảng cáo, viết tiểu sử

tóm tắt, trình bày một

vấn đề

Chủ đề 3 Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản

- Liên kết và lập luận trong văn bản

- Đoạn văn

Chủ đề 4 Văn bản nghị luận

Chủ đề 5 Phỏng vấn trả lời phỏng vấn, bản tin, tiểu sử tóm tắt

Chủ đề 3 Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản

Chủ đề 4 Văn bản nghị luận

Chủ đề 5 Phát biểu theo chủ đề

Chủ đề 7 Truyện kí trung đại Việt Nam

Chủ đề 8 Truyện hiện đại Việt Nam

Chủ đề 9 Truyện nước ngoài

Chủ đề 10 Thơ trung đại Việt Nam

Chủ đề 11 Văn tế trung đại Việt Nam

Chủ đề 12 Hát nói trung đại Việt Nam

Chủ đề 13 Thơ hiện đại Việt Nam

Chủ đề 14 Thơ nước ngoài

Chủ đề 6 Kí hiện đại Việt Nam

Chủ đề 7 Truyện hiện đại Việt Nam

Chủ đề 8 Truyện hiện đại nước ngoài

Chủ đề 9 Thơ trữ tình Việt Nam và nước ngoài hiện đại

Trang 8

Chủ đề 16 Kịch nước ngoài

Chủ đề 17 Nghị luận trung đại Việt Nam

Chủ đề 18 Nghị luận hiện đại Việt Nam

Chủ đề 19 Nghị luận nước ngoài

Chủ đề 10 Kịch hiện đại Việt Nam

Chủ đề 11 Nghị luận hiện đại Việt Nam và nước ngoài

văn học dân gian Việt

Nam Văn học Việt

- Quá trình văn học: Văn học Việt Nam từ đầu thế

kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945

- Tác giả văn học

- Thể loại

- Một số khái niệm lí luận văn học khác: trào lưu, khuynh hướng, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn

Chủ đề 12 Lịch sử văn học

- Quá trình văn học: Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX

- Tác giả văn học

- Thể loại

- Một số khái niệm lí luận văn học: quá trình văn học, phong cách văn học, giá trị văn học, tiếp nhận văn học

II Đề xuất cách dạy theo chủ đề

Bất kì giáo án hay một kế hoạch dạy học theo nghĩa rộng, đều nhằm giải đáp bốn câu hỏi sau: 1) Sau khi học xong HS cần nắm được kiến thức và kĩ năng gì ? 2) Dạy cái gì ? 3) Dạy như thế nào ? 4) Củng cố và vận dụng kiến thức vừa tiếp nhận như thế nào ? Do vậy, qui trình thiết kế một chủ đề trên cở sở của lí thuyết kiến tạo và đa trí tuệ cần theo các bước sau:

1 Dạy và kích hoạt kiến thức nền của người học

- Kiến thức nền là kiến thức vốn có của học sinh, bao gồm:

Trang 9

+ Kiến thức nền tảng HS có được từ sự tích lũy trong quá trình học tập và những kiến thức có được từ thực tế cuộc sống, những kinh nghiệm, hiểu biết về văn hóa,

xã hội HS đã trải qua và biết về chúng;

+ Kiến thức về tổ chức văn bản và từ vựng (nội dung văn bản, cấu tạo văn bản, các thủ pháp nghệ thuật, giá trị tạo hình biểu cảm của ngôn ngữ,…);

+ Kiến thức được tích hợp giữa các phân môn và kiến thức tích hợp từ các môn học khác

- Kiến thức nền có vai trò quan trọng đối với việc kiến tạo kiến thức mới của người học: tiếp thu, ghi nhớ, vận dụng kiến thức

- Phương pháp dạy và kích hoạt kiến thức nền:

+ Trước hết, GV yêu cầu HS nghĩ về một khái niệm quan trọng sẽ xuất hiện trong bài học mới dựa trên kinh nghiệm sẵn có của các em

+ Sau đó, thông qua những suy đoán, GV giúp các em vận dụng những kinh nghiệm của mình vào vấn đề muốn tìm hiểu và liên hệ để mở rộng kiến thức có liên quan, hình thành sơ đồ kiến thức mới

+ Ngoài ra, có thể khơi gợi kinh nghiệm của HS bằng nhiều cách: tìm thông tin trên mạng Internet, tra cứu tài liệu, khơi gợi từ thực tế hoàn cảnh, sự kiện HS đã trải qua Đối với kiến thức cũ, GV có thể cho HS thảo luận giúp nhau nhớ lại kiến thức,

so sánh với nhau để củng cố kiến thức cũ, nhận rõ sự giống nhau và khác nhau giữa các kiểu bài

Cho HS phát hiện, khảo sát thực tế, giải quyết vấn đề, thử nghiệm làm đề án, đọc tài liệu, suy ngẫm lại những gì đã học để hình thành kinh nghiệm mới

- Phương tiện có thể sử dụng để kích hoạt kiến thức nền của HS là các phiếu học tập với các câu hỏi được yêu cầu đa dạng như:

+ Câu hỏi khơi gợi kinh nghiệm của HS liên quan đến sự kiện, tình huống của vấn đề

+ Câu hỏi yêu cầu lập sơ đồ khái niệm, sơ đồ kết cấu bài

+ Câu hỏi yêu cầu sưu tầm thông tin liên quan đến đối tượng

Trang 10

Ví dụ: để thuyết minh về một tác gia văn học, GV có thể định hướng để HS sưu tầm thông tin về: bút danh, ý nghĩa của bút danh, về cuộc đời, sự nghiệp trên các lĩnh vực, những thành tựu và đóng góp của tác gia,…

+ Câu hỏi yêu cầu HS thảo luận: GV nêu câu hỏi trực tiếp (hoặc yêu cầu HS nêu câu hỏi) về vấn đề còn nghi vấn để khuyến khích tư duy tranh luận

Như vậy, việc khơi gợi, huy động kiến thức nền của HS là rất cần thiết nhưng vấn đề đặt ra cho GV là khi nào và bằng cách nào sử dụng kiến thức có sẵn một cách phù hợp để đem lại hiệu quả kiến tạo Tùy vào nội dung kiến thức và kĩ năng cần đạt của bài học mà GV có cách khơi gợi khác nhau

2 Dạy cách tiếp cận tìm tòi, tự giải quyết vấn đề

Giáo viên đóng vai trò “nâng đỡ vừa sức”, vì vậy cần thiết kế trước các phiếu học

tập với hệ thống câu hỏi giúp HS tiếp cận vấn đề mới của chủ đề

Đa dạng hình thức hỏi và mức độ hỏi để HS chuẩn bị trước ở nhà

3 Tạo sự tương tác với người có hiểu biết hơn

Sơ đồ: Mô hình tương tác trong dạy học kiến tạo

Trong mô hình dạy học này thể hiện hai hoạt động chính, một là kiến tạo kiến thức

và chia sẻ kiến thức Hoạt động chia sẻ kiến thức được thực hiện bằng sự tương tác nhiều chiều: tương tác giữa HS với HS, HS với GV, HS với các thành viên khác để hoàn thành quá trình kiến tạo kiến thức

- Tương tác với người có hiểu biết hơn trong lớp học (phương pháp thảo luận nhóm hay học hợp tác)

NGƯỜI CÓ HIỂU BIẾT KHÁC

Kiến tạo kiến thức và chia sẻ

Trang 11

Hoạt động tương tác với người có hiểu biết hơn trong lớp học là hoạt động gần như đồng nhất với hoạt động thảo luận nhóm (tương tác nhiều chiều), có thể chọn mô hình nhóm 02 HS cùng bàn và nhóm 04 HS

Nhóm 02 HS Nhóm 04 HS

Mô hình nhóm 02 HS và nhóm 04 HS

Việc thảo luận nhóm loại này có thể được thực hiện theo trình tự như sau:

+ Bước một, mỗi cá nhân tự trả lời các câu hỏi trong phiếu học tập (để tiết kiệm thời gian các phiếu học tập này đã được HS làm trước ở nhà)

+ Bước hai, (khi vào lớp) hai HS A và B trao đổi phiếu học tập với nhau và thực hiện việc điều chỉnh bổ sung cho nhau

+ Bước ba, Mỗi HS nhận lại phiếu học tập, thảo luận lại về vấn đề được điều chỉnh bổ sung mà mình chưa hiểu hoặc chưa đồng ý, từ đó thống nhất đưa ra kết luận chung về vấn đề Các nhóm thuyết trình về kết quả thảo luận, cùng với các nhóm và GV thống nhất kết quả

- Tương tác với người có hiểu biết hơn ngoài lớp học (gia đình, cộng đồng)

HS đóng vai trò như người phỏng vấn, tìm đến những người thợ lành nghề, người

am hiểu phong tục tín ngưỡng, người có kinh nghiệm hoặc sách tham khảo để tìm các thông tin có liên quan đến đối tượng

Ví dụ: dạy đoạn trích “Rama buộc tội” HS cần tìm hiểu: Tại sao trong các ngôi chùa của người Khmer, người ta luôn tạc rất nhiều bức tượng khỉ, đầu lâu bốn mặt, cô gái đẹp, chằng, rắn, trên mái cong, rào, và cổng chính ? Ý nghĩa ? HS có thể tìm đến

người có hiểu biết hơn (cha, mẹ, các vị sư, mạng Internet,…) để thu thập thông tin Như vậy, HS tiếp thu kiến thức nền này từ những người có hiểu biết hơn nhưng lại rất gần gũi với mình

4 Dạy thực hành theo mức độ: biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao nhằm

tự điều chỉnh kiến thức và vận dụng kiến thức

Trang 12

Hoạt động này được thể hiện cụ thể bảng hệ thống bài tập theo các mức độ của

từng chủ đề sau khi đã nắm cơ bản về lí thuyết của chủ đề

III Thực hành thiết kế một chủ đề

Chủ đề: THƠ MỚI – XUÂN DIỆU VÀ BÀI THƠ “VỘI VÀNG”

A Mục tiêu chủ đề

1.1 Kiến thức

- Ôn tập kiến thức nền về thơ mới

- Với bài thơ “Vội vàng”: Cảm nhận được niềm khao khát sống mảnh liệt, sống hết mình và quan niệm về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc của Xuân Diệu được thể hiện qua bài thơ.

- Đặc sắc của phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám.

1.2 Kĩ năng

Các kỹ năng: biết, hiểu, vận dụng

- Đọc hiểu một tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại.

- Phân tích một bài thơ mới.

1.3 Thái độ

Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời,

biết cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng và xã hội.

2 Các nhân tố nào thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX

và thúc đẩy sự ra đời của thơ Mới:

( Đáp án- Sự ra đời của chữ Quốc ngữ

- Cơ cấu chính trị thay đổi, xuất hiện tầng lớp thị dân thành thị với nhu cầu thẩm mỹ mới.

- Xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học

- Sự du nhập của văn hóa, văn học phương Tây

- Nghề in, nghề xuất bản, nghề làm báo theo kỉ thuật hiện đại phát triển khá mạnh

- Viết văn trở thành một nghề kiếm sống )

Ngày đăng: 19/01/2017, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w