Thực hiện Nghị quyết số 52NQTW, ngày 3072005, của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh); Theo Quyết định số 100 QĐTW, ngày 22102007 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X); Nghị định số 1292008NĐCP, ngày 17122008 của Chính phủ; Quyết định số 184QĐTW, Thông báo kết luận số 181TBTW, ngày 0392008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X), Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng, ban hành, hướng dẫn và thống nhất quản lý chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 2972009, Giám đốc Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 1845QĐHVCT HCQG về việc ban hành “Chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền đoàn thể nhân dân cấp cơ sở” (hệ Trung cấp lý luận chính trị hành chính) và tổ chức viết giáo trình. Chương trình, giáo trình này thay cho chương trình, giáo trình Trung cấp lý luận chính trị và được thực hiện thống nhất ở tất cả các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 0192009.Giáo trình này do các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, giảng viên của Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ nghiên cứu của một số bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương biên soạn.Dưới sự lãnh đạo của Ban Giám đốc, sự chỉ đạo của Hội đồng chỉ đạo biên soạn chương trình, giáo trình Học viện, Ban chủ nhiệm nghiên cứu xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình gồm: TS Trần Ngọc Uẩn, chủ nhiệm; các phó chủ nhiệm và uỷ viên là PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm, PGS.TS Trần Văn Phòng, TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, PGS .TS Lê Quý Đức.
Trang 1Lời giới thiệu
Thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 30-7-2005, của Bộ Chính trịBan Chấp hành Trung ơng Đảng (khoá IX) về đổi mới, nâng cao chất lợng đàotạo, bồi dỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh);Theo Quyết định số 100 - QĐ/TW, ngày 22-10-2007 của Bộ Chính trị Ban Chấphành Trung ơng Đảng (khoá X); Nghị định số 129/2008/NĐ-CP, ngày 17-12-
2008 của Chính phủ; Quyết định số 184-QĐ/TW, Thông báo kết luận số TB/TW, ngày 03-9-2008 của Ban Bí th Trung ơng Đảng (khoá X), Học việnChính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có nhiệm vụ nghiên cứu xâydựng, ban hành, hớng dẫn và thống nhất quản lý chơng trình đào tạo, bồi dỡngcán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở ởcác trờng chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng
181-Thực hiện nhiệm vụ đợc giao, ngày 29-7-2009, Giám đốc Học viện Chínhtrị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 1845/QĐ-HVCT-HCQG về việc ban hành “Chơng trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của
Đảng, chính quyền đoàn thể nhân dân cấp cơ sở” (hệ Trung cấp lý luận chính trị
- hành chính) và tổ chức viết giáo trình Chơng trình, giáo trình này thay cho
ch-ơng trình, giáo trình Trung cấp lý luận chính trị và đợc thực hiện thống nhất ở tấtcả các trờng chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng từ ngày 01-9-2009
Giáo trình này do các giáo s, phó giáo s, tiến sĩ, giảng viên của Học việnChính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộnghiên cứu của một số bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ơng biên soạn
Dới sự lãnh đạo của Ban Giám đốc, sự chỉ đạo của Hội đồng chỉ đạo biênsoạn chơng trình, giáo trình Học viện, Ban chủ nhiệm nghiên cứu xây dựng ch-
ơng trình, biên soạn giáo trình gồm: TS Trần Ngọc Uẩn, chủ nhiệm; các phóchủ nhiệm và uỷ viên là PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm, PGS.TS Trần VănPhòng, TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, PGS TS Lê Quý Đức
Trong quá trình biên soạn và biên tập, khó tránh khỏi thiếu sót, chúngtôi rất mong nhận đợc sự tham gia đóng góp ý kiến của các đồng chí
Ban chủ nhiệm Chơng trình, giáo trình
Trang 2Gi¸o tr×nh “TriÕt häc M¸c- Lªnin“ in lÇn nµy do ViÖn TriÕt häc thuéc Häc
viÖn ChÝnh trÞ - Hµnh chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh biªn so¹n, díi sù chñ tr× cñaPGS.TS TrÇn Thµnh, ViÖn trëng
TËp thÓ t¸c gi¶ gåm: PGS.TS TrÇn Thµnh, GS.TS TrÇn Phóc Th¨ng,GS.TS NguyÔn Hïng HËu, GS.TS NguyÔn Ngäc Long, PGS.TS TrÇn V¨n Phßng,PGS.TS NguyÔn ThÕ KiÖt, PGS.TS NguyÔn TÜnh Gia
Biªn tËp gi¸o tr×nh nµy: PGS.TS TrÇn Thµnh, TS TrÇn Ngäc UÈn
2
Trang 3Bài 1
Vai trò của triết học Mác-lênin trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
I khái lợc về triết học mác-lênin
1 Triết học và chức năng của triết học
a Triết học là gì?
Thuật ngữ “triết học’’ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp chuyển sang tiếngLatinh là “philosophia’’, có nghĩa là “yêu thích’’ (philos) sự thông thái(sophia) Dù đợc diễn đạt bằng các ngôn ngữ khác nhau, nhng triết học đợchiểu theo hàm nghĩa chung là hình thức cao nhất của tri thức, là sự thông tuệ;triết gia là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làmsáng tỏ bản chất vạn vật
Tính đặc thù của đối tợng và phơng pháp nghiên cứu của triết học làmcho triết học khác với các khoa học cụ thể Triết học nghiên cứu thế giới nhmột chỉnh thể và đa lại một hệ thống các quan điểm về thế giới ấy Điều đó chỉ
có thể thực hiện đợc bằng con đờng tổng kết toàn bộ lịch sử của các khoa học
và lịch sử của bản thân t tởng triết học Tính đặc thù của lĩnh vực tri thức triếthọc khiến cho quan niệm về đối tợng của triết học có những biến đổi trong lịch
sử Trong thời cổ đại, triết học đợc coi là “khoa học của các khoa học’’, baoquát toàn bộ tri thức của nhân loại Quan niệm nh vậy tiếp tục tồn tại cho đếnthời cận đại Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành đãkhiến cho triết học phải tìm cách xác định đối tợng thực sự của riêng mình
Đoạn tuyệt với tham vọng “khoa học của các khoa học’’, triết học mácxít xác
định đối tợng của mình là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trênlập trờng duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tựnhiên, xã hội và t duy con ngời Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phơngTây muốn xác định đối tợng riêng cho một lĩnh vực cụ thể của đời sống tinhthần Mặc dù vậy, cái chung trong cái học thuyết học vẫn là những vấn đề củagiới tự nhiên, xã hội và t duy con ngời, mối quan hệ của con ngời với thế giớixung quanh; chúng đợc xem xét và giải quyết ở cấp độ chung nhất, từ góc độthế giới quan và phơng pháp luận
b Chức năng thế giới quan của triết học
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con ngời về thế giới, vềbản thân con ngời và vị trí của con ngời trong thế giới ấy
Trong đời sống của mình, con ngời có nhu cầu hiểu biết về thế giới xungquanh và về chính bản thân mình Thế giới quanh ta là gì? Nó có bắt đầu và kếtthúc hay không? Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và biến đổi của nó? Con ng-
Trang 4ời là gì? Nó quan hệ thế nào với thế giới bên ngoài? Con ngời có thể biết đợc gì
và làm đợc gì với thế giới ấy? ý nghĩa của cuộc sống con ngời là gì? Đặctính của t duy con ngời là muốn hiểu biết tận cùng, hoàn toàn và đầy đủ; songtri thức mà mỗi ngời và cả loài ngời đạt đợc lại luôn luôn là có hạn Quá trìnhtìm tòi lời giải đáp những câu hỏi nh trên làm hình thành ở con ngời nhữngquan niệm nhất định, trong đó có yếu tố cảm xúc và trí tuệ, tri thức và niềm tinhoà quyện với nhau Toàn bộ những quan niệm ấy hợp thành thế giới quan củamột con ngời hoặc của một cộng đồng ngời Nh vậy, tri thức là cơ sở trực tiếpcho sự hình thành thế giới quan, song tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quankhi đã trở thành niềm tin qua sự thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống của conngời Sự hình thành lý tởng là trình độ phát triển cao của thế giới quan Thếgiới quan bao gồm nhân sinh quan, tức là những quan niệm về chính con ngời
và cuộc sống của nó
Thế giới quan đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và mỗi conngời Nó trở thành nhân tố định hớng chi phối hoạt động nhận thức và thực tiễncủa con ngời Vì vậy, cuộc đấu tranh về thế giới luôn diễn ra trong quá trìnhphát triển xã hội Thế giới quan, đặc biệt là nhân sinh quan là một tiêu chí cơbản trong việc xem xét sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân
ở mỗi con ngời, thế giới quan biểu hiện thông qua cách suy nghĩ vàhành động trên mọi lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần của nó Những yếu
tố thế giới quan chung của một cộng đồng xã hội ít nhiều mang tính hệ thống,
đợc duy trì và phát triển thông qua những hình thái ý thức xã hội
Huyền thoại (bao gồm cả thần thoại) là phơng thức cảm nhận thế giới rất
đặc trng cho “t duy nguyên thuỷ’’; đó cũng là hình thái biểu hiện một cách tậptrung và khái quát thế giới quan của con ngời trong xã hội nguyên thuỷ Với sự
lu truyền của các hình thức tín ngỡng đến sự ra đời của các tôn giáo, thế giớiquan tìm đợc hình thái thể hiện có khả năng củng cố và thâm nhập sâu hơn vàocuộc sống hàng ngày của con ngời
T duy con ngời đợc “mài sắc’’ trong quá trình phát triển của thực tiễn xãhội và có bớc chuyển biến về chất với sự hình thành tầng lớp lao động trí óctrong xã hội cổ đại T duy hớng sự suy ngẫm, đánh giá vào chính mình; từ đóhình thành một phơng thức mới của t duy trong việc nhận thức thế giới - t duytriết học Khác với huyền thoại và tôn giáo, triết học diễn tả thế giới quan dớidạng lý luận, bằng một hệ thống các phạm trù triết học Trong huyền thoại vàtôn giáo, yếu tố biểu tợng cảm tính đóng vai trò chủ đạo; còn trong triết học thìyếu tố chủ đạo là t duy lý luận Nh vậy, triết học là trình độ tự giác trong quátrình phát triển của thế giới quan
ở cấp độ triết học, hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau là chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa duy tâm Vấn đề quan hệ giữa t duy và tồn tại là vấn đề
4
Trang 5lớn, đồng thời có ý nghĩa nguyên tắc xuất phát trong việc giải quyết vấn đềquan hệ giữa con ngời với thế giới Bất cứ học thuyết nào cũng phải giải quyếtvấn đề này một cách trực tiếp hay gián tiếp, bằng cách này hay cách khác, trêncơ sở đó giải quyết những vấn đề triết học trong học thuyết của ngành Vì vậy,vấn đề quan hệ giữa t duy và tồn tại, ý thức và vật chất, “tâm’’ và “vật’’ trởthành vấn đề cơ bản của triết học Ph.Ăngghen viết: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa t duy với tồn tại’’1 Vấn đề đặt ra trớc hết là: giữa vật chất và ý thức cái nào có trớc,cái nào đóng vai trò quyết định? Tuỳ theo cách giải quyết vấn đề này mà cácnhà triết học và học thuyết của họ đã chia thành hai trờng phái lớn Những ngờicho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trớc và quyết định ý thức của con ngời
đợc gọi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khácnhau của chủ nghĩa duy vật Ngợc lại, những ngời cho rằng ý thức, tinh thần cótrớc và đóng vai trò quyết định đợc gọi là các nhà duy tâm; họ hợp thành cácmôn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm Là hai trờng phái cơ bản của triếthọc, chủ nghĩa duy vật cũng nh chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ
đại và luôn đấu tranh với nhau trong lịch sử của triết học
Chủ nghĩa duy vật đã trải qua những hình thức khác nhau, nhng đềuthống nhất ở chỗ coi vật chất là cái có trớc và quyết định ý thức, đều xuất phát
từ bản chất thế giới để giải thích thế giới
Hình thái lịch sử đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vậtchất phác, ngây thơ thời cổ đại Quan điểm của chủ nghĩa duy vật này nóichung là đúng đắn nhng mang tính chất ngây thơ, chất phác do các khoa học
cụ thể còn cha phát triển
Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình là hình thái đặc trng nổi trội củachủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của cơhọc; cách xem xét thế giới theo kiểu máy móc có ảnh hởng mạnh mẽ đến t duytriết học
Sự phát triển của khoa học với nhiều phát minh lớn đầu thế kỷ XIX tạocơ sở nhận thức vững chắc cho sự phát triển t duy biện chứng dẫn đến sự ra đờicủa hình thái mới của chủ nghĩa duy vật - chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy tâm cho ý thức, tinh thần là cái có trớc và đóng vai tròquyết định của sự tồn tại và phát triển của thế giới Nhng quan niệm về cái tinhthần lại có sự khác nhau
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu nổi tiếng Platôn (Hy Lạp
cổ đại); Hêghen (Đức) cho rằng có một thực thể tinh thần có trớc và sinh racả giới tự nhiên và con ngời Còn với chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.21, tr.403
Trang 6biểu nổi tiếng nh Bécli, Hium (Anh), Phichtơ (Đức) thì cái thực thể tinh thần
có trớc đó lại chính là cảm giác, là cái tồn tại sẵn trong con ngời
Có sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy tâm triết học với tôn giáo Song cáctôn giáo tìm thấy ở chủ nghĩa duy tâm triết học cơ sở lý luận cho quan điểmcủa mình về vai trò quyết định của lực lợng siêu nhiên thần bí
c Chức năng phơng pháp luận của triết học
Phơng pháp là những nguyên tắc, cách thức thực hiện hoạt động thựctiễn và nhận thức nhằm đạt mục đích đã đặt ra Phơng pháp luận là một hệthống những quan điểm, những nguyên tắc, phơng thức chung để xác định ph-
ơng pháp; nói vắn tắt, đó là lý luận về phơng pháp
Một lý thuyết triết học, khi lý giải các sự vật, hiện tợng theo một quan
điểm nhất định đã đồng thời thể hiện một phơng pháp xem xét nhất định, nhng
ở cấp độ lý luận Nh vậy, cùng với chức năng thế giới quan, triết học đồng thời
có chức năng phơng pháp luận ở cấp độ triết học, hai phơng pháp khác nhaucơ bản và đối lập nhau là biện chứng và siêu hình
Sự vật, hiện tợng diễn ra theo quy luật khách quan vốn có của chúng; đó
là cái “biện chứng khách quan’’ Phơng pháp nhận thức phù hợp với biệnchứng khách quan, tức là xem xét đối tợng trong mối liên hệ phổ biến, trongtrạng thái vận động và phát triển, mà nguồn gốc nội tại của nó là mâu thuẫn, đ-
ợc gọi là phơng pháp biện chứng Phép biện chứng là học thuyết về phơng pháp
đó Trái lại, phơng pháp nhận thức đối tợng trong trạng thái cô lập, tách rời,tĩnh tại và bất biến là phơng pháp siêu hình
Phép biện chứng đã trải qua các giai đoạn phát triển với các hình thức: phépbiện chứng tự phát thời cổ đại; phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển
Đức mà đỉnh cao là phép biện chứng trong triết học Hêghen; phép biện chứng duyvật đợc C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng và đợc V.I.Lênin phát triển
2 Triết học Mác-Lênin
Triết học Mác ra đời ở những năm 40 của thế kỷ XX Sự phát triển mạnh
mẽ lực lợng sản xuất do cuộc cách mạng công nghiệp đa lại đã làm cho phơngthức sản xuất t bản chủ nghĩa đợc củng cố và phát triển cùng với sự lớn mạnh
và trởng thành của một giai cấp xã hội mới - giai cấp vô sản Đồng thời quátrình lịch sử đó cũng làm cho những mâu thuẫn xã hội của xã hội t bản trở nêngay gắt Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Liông (Pháp) vào năm 1831 và năm
1834, phong trào Hiến chơng của Anh vào nửa cuối những năm 30, cuộc đấutranh của công nhân dệt ở Xilêdi (Đức), năm 1844 đã chứng tỏ điều đó Hoàncảnh kinh tế - xã hội mới đòi hỏi phải có lý luận mới để giải đáp những vấn đềthực tiễn đặt ra, đặc biệt là thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào côngnhân Đồng thời sự phát triển mạnh mẽ của khoa học với những phát minh có
6
Trang 7tính vạch thời đại làm cho sự ra đời một học thuyết triết học mới trở thành mộttất yếu lịch sử Nhiệm vụ lịch sử này đã đợc C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện.
Để xây dựng hệ thống lý luận mới của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
kế thừa một cách có phê phán triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh
và chủ nghĩa xã hội không tởng Pháp Đó là ba nguồn gốc lý luận của chủnghĩa Mác Các ông đã tiếp thu và cải tạo chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc và phépbiện chứng - cái “hạt nhân hợp lý’’ - của triết học Hêghen, để xây dựng nênchủ nghĩa duy vật biện chứng Hơn nữa, triết học Mác còn làm cho chủ nghĩaduy vật trở nên triệt để, nghĩa là bao quát cả lĩnh vực đời sống xã hội, đó là
“chủ nghĩa duy vật lịch sử’’, một cống hiến vĩ đại của Mác, nh Ăngghen đã
đánh giá Việc phát hiện ra quy luật khách quan của lịch sử xã hội cho phépMác đi tới một cống hiến vĩ đại khác là “học thuyết giá trị thặng d’’; và từ haicống hiến vĩ đại đó, chủ nghĩa Mác đã đa học thuyết về chủ nghĩa xã hội từkhông tởng trở thành khoa học
V.I.Lênin không chỉ có công lớn trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác mà
điểm quan trọng hơn là, trong khi vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác đểgiải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đếquốc và bớc đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, ông đã có đóng góp to lớn và rấtquan trọng vào sự phát triển triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung.Chính vì thế mà một giai đoạn mới trong sự phát triển học thuyết của Mác đợcgọi là triết học Mác-Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung
luận chung nhất của nhận thức khoa học
1 Triết học Mác-Lênin với sự phát triển khoa học
Ngày nay chúng ta đang sống trong kỷ nguyên cách mạng khoa học vàcông nghệ Nhng, nh Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, “một dân tộc muốn đứng vữngtrên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có t duy lý luận’’ Cũng theoPh.Ăngghen, “t duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dới dạng năng lực
của ngời ta mà có thôi Năng lực ấy cần phải đợc phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trớc’’1
Lịch sử khoa học đã cho thấy, kiên định thế giới quan và phơng phápluận khoa học là nhân tố hết sức quan trọng cho sự phát triển khoa học Đứngvững trên lập trờng duy vật và bằng phơng pháp t duy biện chứng, các khoahọc cụ thể có thể vợt qua những giới hạn của nhận thức cũ, những “cuộc khủnghoảng’’ để đi tới những thành tựu mới, những cuộc cách mạng trong khoa học
tự nhiên Trái lại, “chủ nghĩa siêu hình chiết trung thông thờng đã làm cho
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1994, t.20, tr.487
Trang 8khoa học tự nhiên bị chặn đứng lại một cách tuyệt vọng trong những yêu cầu
về lý luận của nó’’1 Sự ra đời của triết học Mác làm cho tác dụng tích cực củatriết học đối với phát triển của khoa học càng thêm to lớn
Triết học Mác-Lênin tạo nên sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật vớiphép biện chứng; nhờ đó chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứngthực sự mang tính cách mạng Sự thống nhất thế giới quan và phơng pháp luậnkhoa học làm cho triết học của Mác, nh V.I.Lênin nhận xét, trở thành “công cụnhận thức vĩ đại’’
Tuy nhiên, triết học Mác-Lênin không thay thế cho các khoa học kháctrong việc nhận thức thế giới Trái lại, nó đoạn tuyệt với tham vọng là “khoahọc của mọi khoa học’’ của nền triết học tự nhiên trớc kia, mà xem sự gắn bóvới các khoa học cụ thể là một điều kiện kiên quyết cho sự phát triển của triếthọc Đến lợt mình, triết học Mác-Lênin lại trở thành cơ sở thế giới quan và ph-
ơng pháp luận khoa học cho sự phát triển của khoa học
Trong kỷ nguyên cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, cuộc đấutranh giữa duy vật và duy tâm, giữa phơng pháp biện chứng và phơng pháp siêuhình không mất đi, mà càng có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của khoahọc cũng nh phát triển xã hội Trong tình hình đó, triết học Mác-Lênin phải đ-
ợc phát triển hơn nữa dựa trên sự khái quát những thành tựu lớn lao và đồ sộcủa khoa học cụ thể Đến lợt mình, sự nắm vững thế giới quan và phơng phápluận khoa học của triết học mácxít càng cần thiết hơn bao giờ hết Không nhvậy đứng trớc những phát hiện mới mẻ ngời ta có thể mất phơng hớng và đi
đến những kết luận sai lầm, thậm chí “sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học’’2, nh đã từng xảy ra trong lịch sử
2 Triết học Mác-Lênin với việc nhận thức xã hội trong thế giới ngày nay
a Phép biện chứng mácxít với việc nhận thức chủ nghĩa t bản hiện đại
Với quan niệm duy vật lịch sử và bằng phơng pháp luận biện chứng duyvật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận chứng tính tất yếu của sự thay thế chủnghĩa t bản bằng chủ nghĩa xã hội, bởi vì sự phát triển theo quy luật kháchquan của chủ nghĩa t bản đã tạo những tiền đề cho sự thay thế nó bằng một xãhội mới; chủ nghĩa xã hội là cái mới vì đã hấp thụ vào mình những giá trị làmtiền đề cho sự phát triển đợc cái cũ tạo ra Các ông đặc biệt nhấn mạnh tiền đềsức sản xuất phát triển cao C.Mác và Ph.Ăngghen gọi đó là “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là ngời ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trớc đây’’3
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1994, t.20, tr.492
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1994, t.20, tr.508
3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.3, tr.49
8
Trang 9V.I.Lênin cũng xem “năng suất lao động’’ là nhân tố bảo đảm thắng lợicủa xã hội mới.
Tiền đề cho chủ nghĩa xã hội tạo ra trong chủ nghĩa t bản không chỉ cótiền đề vật chất - kỹ thuật mà còn có tiền đề kinh tế
C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng công ty cổ phần đã làm cho t bản trởthành “t bản xã hội’’, xem “đó là sự thủ tiêu t bản với t cách là sở hữu t nhântrong những giới hạn của bản thân phơng thức xã hội t bản chủ nghĩa’’ và gọicông ty cổ phần là“hình thái quá độ từ ph ơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa sang phơng thức sản xuất tập thể’’1
Sự phát triển của chủ nghĩa t bản trong điều kiện cách mạng khoa học vàcông nghệ làm cho những tiền đề của chủ nghĩa xã hội càng thêm chín muồi.Biện chứng khách quan của sự phát triển xã hội là ở chỗ: trong khi phát triển
đầy đủ nhất tiềm năng của mình, chủ nghĩa t bản trong giai đoạn toàn cầu hoálại đẩy nhanh xu thế quá độ lên chủ nghĩa xã hội, một xu thế khách quankhông phụ thuộc vào ý muốn của giai cấp t sản Với cách nhìn biện chứng nhvậy, V.I.Lênin cho rằng “Ngày nay thì chủ nghĩa xã hội nhìn sang chúng ta từ tất cả các khung cửa của chủ nghĩa t bản hiện đại, chủ nghĩa xã hội đang hiện
ra trực tiếp, trên thực tiễn, trong mỗi biện pháp quan trọng tạo thành một bớc tiến trên cơ sở của chủ nghĩa t bản hiện đại ấy’’2
Với t cách t duy biện chứng mácxít thì tính chất quá độ từ chủ nghĩa tbản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới của thời đại ngày naykhông vì sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội và sự phát triển chủ nghĩa t bản
mà mất đi Trái lại, tính chất này của thời đại tiếp tục tồn tại cả ở chủ nghĩa xãhội hiện thực đang đổi mới và các phong trào đấu tranh cách mạng mà cả ở xuthế quá độ lên chủ nghĩa xã hội diễn ra một cách khách quan trong sự pháttriển của chủ nghĩa t bản
b Triết học Mác-Lênin với công cuộc đổi mới, cải cách của chủ nghĩa xã hội
Trớc hết, phải thừa nhận rằng sự lạc hậu của nhận thức lý luận về chủnghĩa xã hội đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khiếm khuyếtcủa mô hình chủ nghĩa xã hội trớc đổi mới Đó không phải là “sự phá sản’’ củamột học thuyết sai lầm, nh những ngời chống cộng lớn tiếng rêu rao
Song cũng sẽ là thiếu quan điểm khách quan và không biện chứng nếucho rằng chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng và tồn tại cho đến trớc khi Liên Xôsụp đổ là kết quả của nhận thức lý luận không đúng, hoàn toàn là sự hiểu sailầm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin Do đó không thừa nhận chủ nghĩa xãhội ra đời và tồn tại suốt hơn bảy thập niên ở thế kỷ XX là chủ nghĩa xã hộihiện thực Có ngời, thậm chí từ đó, còn cho rằng sự sụp đổ của chế độ xã hội
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1994, t.25, tr.673
2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.TB, M.1976, t.34, tr.258
Trang 10chủ nghĩa ở Liên Xô lại là điều may vì “nó mở ra những khả năng mới cho sựphát triển lành mạnh của phong trào cách mạng thế giới’’.
Vấn đề là ở chỗ, học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội không phải là đã
đ-ợc xây dựng “xong xuôi hẳn’’, nh V.I.Lênin đã nói Sau khi luận chứng khoahọc cho tính tất yếu của sự thay thế chủ nghĩa t bản bằng chủ nghĩa xã hội, chủnghĩa cộng sản khoa học của Mác chỉ có thể xác định những nguyên lý cơ bảnnhất về xã hội tơng lai; còn chủ nghĩa xã hội có những đặc điểm gì, sẽ trải quanhững giai đoạn phát triển nào thì “kinh nghiệm của hàng triệu con ng ời sẽ chỉ
rõ, khi bắt tay vào hành động’’1 Thực tiễn đã nảy sinh hàng loạt vấn đề khôngthể tìm lời giải có sẵn trong di sản kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen và cảV.I.Lênin
Nhng đó không phải là khiếm khuyết của học thuyết về chủ nghĩa xã hộicủa chủ nghĩa Mác-Lênin; trái lại đó lại là phơng pháp tiếp cận chủ nghĩa xã hộimột cách khoa học Đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, “chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra’’2 Cũng với phơng pháp tiếp cận chủ nghĩaxã hội một cách khoa học nh thế, theo V.I.Lênin: Đối với nớc Nga mà nói, thời kỳcăn cứ vào sách vở để bàn luận cơng lĩnh cách mạng xã hội chủ nghĩa đã vĩnhviễn qua rồi Tôi tin tởng sâu sắc rằng thời đại đó đã qua để không bao giờ trở lại.Ngày nay, chỉ có thể căn cứ vào kinh nghiệm để bàn cãi về chủ nghĩa xã hội
Nh vậy, sự lạc hậu của nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội không phải
là sự lỗi thời của bản thân học thuyết, nhng cũng không phải chỉ là hiểu sai,làm sai với lý luận mà còn là lý luận không đợc bổ sung, phát triển sáng tạo để
đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn
Từ đó cho thấy, nắm vững phơng pháp luận khoa học của triết học Lênin là một tiền đề quan trọng không thể thiếu đợc để đổi mới t duy lý luận
Mác-về chủ nghĩa xã hội Tinh thần cách mạng và khoa học của phơng pháp luậnmácxít không những giúp hiểu đúng quan niệm của các nhà kinh điển về chủnghĩa xã hội, khắc phục những sai lầm trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xãhội mà còn đòi hỏi chúng ta dám từ bỏ cả những kết luận của chính mình, nh-
ng đã không còn phù hợp, và phát triển bổ sung lý luận trong tình hình mới,
nh chính C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã thực hiện
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.TB, M.1976, t.34, tr.153
2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.3, tr.51
10
Trang 113 Vận dụng sáng tạo, bổ sung phát triển lý luận triết học Mác-Lênin trong quá trình đổi mới ở nớc ta hiện nay
Bổ sung, phát triển lý luận là yêu cầu nội tại của học thuyết Mác nóichung, triết học Mác-Lênin nói riêng, một học thuyết mang trong bản chấtcủa mình sự thống nhất tính khoa học và tính cách mạng
Đặc điểm của thế giới ngày nay và sự biến đổi rất năng động của đờisống xã hội do sự tơng tác của hai quá trình cách mạng - cách mạng khoa học,công nghệ và cách mạng xã hội Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan của
sự phát triển xã hội đang tạo nên những biến đổi to lớn trên mọi lĩnh vực đờisống xã hội của mọi quốc gia, dân tộc Triết học là phơng thức nắm bắt thời đạibằng t tởng, yêu cầu bổ sung, phát triển lý luận của nó càng trở nên quan trọng
và cấp thiết Sự bổ sung, phát triển lý luận Mác-Lênin phải dựa trên cơ sở thựctiễn, trong đó thực tiễn của công cuộc đổi mới của chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng
Thành tựu của quá trình đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng
và lãnh đạo đã chứng tỏ rằng sự kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đờng lối đổi mới của
Mác-Đảng; mặt khác, từ những bài học kinh nghiệm của quá trình đổi mới, Đảng ta
đã góp phần vào việc bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin nóichung, nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội nói riêng
Trong số những bài học kinh nghiệm đã đợc nêu lên, bài học lớn hàng
đầu luôn đợc khẳng định là “trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và t ởng Hồ Chí Minh’’1 Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là giáo điều,
t-“mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa
Mác-Lênin’’2
Để nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin thì việcthấm nhuần thế giới quan và phơng pháp luận khoa học của triết học Mác-Lênin là yêu cầu đặc biệt quan trọng Nếu nh hàng loạt vấn đề lý luận về chủnghĩa xã hội không phải đã có lời giải sẵn hoặc hiểu câu nệ vào di sản kinh
điển thì lại chỉ có thể giải quyết đợc với thế giới quan và phơng pháp luận khoahọc, nh C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện trong việc tiếp cận chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa cộng sản
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bớc đột phá trong việc đổi mới t duy lýluận về chủ nghĩa xã hội với việc nghiêm khắc tự phê phán bệnh chủ quan duy
ý chí, quán triệt nguyên tắc phơng pháp luận biện chứng duy vật là trong mọihoạt động phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
1, 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.CTQG,
H.2006, tr.70
Trang 12khách quan Từ đó nhận thức đặc điểm của con đờng quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở nớc ta là “bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa’’, nghĩa là chỉ bỏ qua việc xáclập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa và kiến trúc thợngtầng chính trị tơng ứng với nó, mà phải tiếp thu những thành tựu khoa học,công nghệ và những tiền đề cần thiết đợc tạo ra trong chủ nghĩa t bản Có thểnói, những thành tựu to lớn và rất quan trọng mà quá trình hơn 20 năm đổi mới
đã đạt là kết quả của sự gắn liền thực tiễn với từng bớc nhận thức lý luận vềcon đờng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng việc xây dựng một nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa - một con đờng cha có tiền lệ trong lịch sử - vànhận thức lý luận về nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Đơng nhiên, để phát huy vai trò của mình, triết học cũng phải khôngngừng đổi mới trên cơ sở thực tiễn; phát triển lý luận triết học mácxít và đổimới chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn là một quá trình thống nhất, bởi vì “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lênin” 1
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1996, t.8, tr.496
12
Trang 13Bài 2
Chủ nghĩa duy vật mácxít
I Bản chất của chủ nghĩa duy vật mácxít
1 Chủ nghĩa duy vật mácxít - đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử nhân lọai
Trong lịch sử nhân loại chúng ta chứng kiến có nhiều hình thức của chủnghĩa duy vật, trong đó có những hình thức cơ bản sau:
a Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại
Thời cổ đại, đặc biệt là ở Hy Lạp La Mã, Trung Quốc, ấn Độ đã xuấthiện chủ nghĩa duy vật với quan niệm chất phác về giới tự nhiên, về vật chất và
ý thức Nhìn chung các nhà duy vật thời cổ đại quy vật chất về một dạng cụ thể
và xem nó là cái bắt đầu của thế giới, tức quy vật chất về những vật thể hữuhình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài, chẳng hạn nh: nớc, lửa, khôngkhí, đất, gió; kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Một số trờng hợp đặc biệt, họ quy vậtchất về một số cái trừu tợng nh: nguyên tử, đạo
b Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XV - XVIII
Bắt đầu từ thời kỳ Phục hng (thế kỷ XV), phơng Tây (châu Âu) đã có sựbứt phá so với phơng Đông ở chỗ khoa học thực nghiệm ra đời, đặc biệt là sựphát triển mạnh của cơ học; công nghiệp phát triển Mặt khác, quan hệ sảnxuất t bản đợc hình thành, phát triển Từ đó một số nhà t tởng, nhà khoa học đã
đồng nhất vật chất với khối lợng Một khuynh hớng khác tiếp nối thời cổ đại,quy vật chất về nguyên tử, một số khác nữa lại đồng nhất vật chất với vật thể
cụ thể đang tồn tại ở thế giới bên ngoài
c Chủ nghĩa duy vật mácxít đã giải quyết một cách đúng đắn và khoa học về khái niệm vật chất và ý thức
Về khái niệm vật chất
C.Mác, Ph Ăngghen đã phân biệt tính khái quát của phạm trù vật chất và
sự tồn tại vật chất ở những dạng cụ thể; chỉ ra sự tồn tại khách quan của vậtchất; chỉ ra tính vô tận, vô hạn của vật chất, tính không thể sáng tạo ra vàkhông thể tiêu diệt đợc của nó; tính thống nhất của thế giới là ở tính vật chấtcủa nó Hai ông cũng đã chỉ ra các hình thức (phơng thức) tồn tại của vật chất,
đó là không gian, thời gian và vận động; đã nêu lên sự đối lập giữa vật chất và
ý thức Tuy nhiên hai ông cha đa ra định nghĩa về vật chất Chỉ đến V.I.Lênin,Ngời mới đa ra định nghĩa về vật chất
Cơ sở để V.I.Lênin đa ra định nghĩa vật chất Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, xuất hiện một lọat những phát minh trong khoa học tự nhiên, chẳng hạnnăm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X; năm 1896, Bécơren phát hiện ra hiện t-
Trang 14ợng phóng xạ; năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử; năm 1901, Kaufmanchứng minh khối lợng của điện tử thay đổi theo tốc độ vận động của nó Trongnhận thức khi đó, các điện tử và điện từ lại đợc coi là một cái gì đó phi vậtchất Từ đó, những ngời theo chủ nghĩa duy tâm, những nhà khoa học tự nhiên
do không nắm vững phép biện chứng đã cho rằng vật chất đã tiêu tan mất, chủnghĩa duy vật đã bị bác bỏ, sự vật hiện tợng chỉ còn là phức hợp của các cảmgiác, tất cả (trừ t tởng) đều là h vô thuần túy Thế là cuộc khủng hoảng trongvật lý học xuất hiện
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin nghiên cứu những thành tựu của vật lýhọc khi đó, V.I.Lênin cho rằng những thành tựu trên không hề bác bỏ chủnghĩa duy vật, mà trái lại bác bỏ quan điểm siêu hình cho giới tự nhiên là cótận cùng - nguyên tử, và buộc phải đi đến kết luận rằng điện tử cũng vô cùngtận nh nguyên tử, tự nhiên là vô tận; quá trình nhận thức về thế giới là không
có tận cùng Từ đó, ông đa ra định nghĩa về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đợc đem lại cho con ngời trong cảm giác, đợc cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”1
Vật chất là một phạm trù triết học để phân biệt nó với khái niệm vật chấttrong các khoa học cụ thể, vật chất thông thờng hàng ngày - có giới hạn, cósinh ra và có mất đi; còn vật chất trong triết học là không sinh ra và không mất
đi, vô tận, vô hạn, nó luôn vận động biến đổi chuyển hóa không ngừng từ dạngnày sang dạng khác
Vật chất là thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con ngời vàloài ngời Thế giới vật chất tồn tại dới dạng các sự vật hiện tợng cụ thể vô cùngphong phú đa dạng, nhng chúng đều có một thuộc tính chung: tồn tại kháchquan, độc lập với ý thức con ngời và loài ngời Đó là thuộc tính quan trọngnhất của vật chất để phân biệt đợc những hiện tợng vật chất và những hiện tợngkhông phải vật chất
Không phải mọi hiện tợng vật chất khi tác động lên giác quan của conngời đều đợc con ngời nhận biết; có cái phải qua dụng cụ khoa học, thậm chí
có cái bằng dụng cụ khoa học nhng cũng cha biết, nhng biết nó tồn tại kháchquan không phụ thuộc vào ý thức (có cái ta không thấy nhng vẫn biết nó khôngphụ thuộc vào ý thức con ngời) thì vẫn là vật chất
Vật chất là thực tại khách quan, còn cảm giác, ý thức suy cho cùngchẳng qua chỉ là phản ánh thực tại khách quan thông qua bộ óc con ngời
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa khoa học to lớn Địnhnghĩa giải quyết đợc vấn đề cơ bản của triết học Vật chất - thực tại kháchquan, đợc đem lại cho con ngời trong cảm giác, đợc cảm giác của chúng ta
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.TB, M.1980, t.18, tr.151
14
Trang 15chụp lại, chép lại, phản ánh, điều đó có nghĩa vật chất có trớc, ý thức có sau,vật chất quyết định ý thức; có nghĩa chúng ta có thể nhận thức đợc thế giới Từ
đó bác bỏ học thuyết bất khả tri
Khắc phục đợc những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trớc Mác về vậtchất, đó là quy vật chất về một dạng cụ thể, về nguyên tử, về khối lợng v.v Dovậy, đã làm cho chủ nghĩa duy vật triệt để cả trong lĩnh vực xã hội, liên kếtchặt chẽ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vật lịch sử; xác
định đợc vật chất tồn tại trong lĩnh vực xã hội, cái mà chủ nghĩa duy vật trớckia không làm đợc
Có ý nghĩa định hớng đối với các khoa học cụ thể trong việc tìm kiếmnhững dạng hoặc các hình thức mới của vật chất, chẳng hạn, các phản hạt,phản vật chất
Về khái niệm ý thức
Nếu vật chất vừa vô hình vừa hữu hình thì ý thức hoàn toàn vô hình Nókhông nhìn thấy, không chụp ảnh đợc, nhng nó không phải là một hiện tợngsiêu nhiên không nhận thức đợc, và lại càng không phải nó tồn tại độc lập vớivật chất, tách khỏi vật chất và sinh ra vật chất
ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật mác xít có nguồn gốc tựnhiên và nguồn gốc xã hội:
Nguồn gốc tự nhiên: ý thức xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con ngờitrên trái đất, do đó ý thức và kể cả con ngời suy cho cùng đều do vật chất sinh
ra, đều là sản phẩm của một quá trình tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất.Khoa học hiện đại đã chứng minh ý thức là một thuộc tính của vật chất nhngkhông phải của mọi dạng vật chất bất kỳ mà chỉ là thuộc tính của một dạng vậtchất sống có tổ chức cao, đó là bộ óc con ngời Bộ óc con ngời là cơ sở, nềntảng vật chất của nó Hoạt động của ý thức diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lýthần kinh của bộ óc, phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc; bởi vậy khi bộ óc bịtổn thơng thì ý thức cũng không thể hoạt động bình thờng đợc
Bộ óc con ngời có cấu tạo vô cùng phức tạp, bao gồm hàng tỉ tế bào thầnkinh liên hệ chằng chịt mật thiết với nhau, không tách rời nhau Những máymóc hiện đại có thể thay thế một số chức của bộ óc nhng không thể thay thếhoàn toàn nó
Nh vậy, muốn có ý thức phải có bộ óc con ngời, không có ý thức nằmngoài bộ óc Bộ óc con ngời là nguồn gốc đầu tiên của ý thức Nhng nếu chỉ có
bộ óc không thôi, thì không thể xuất hiện ý thức Muốn có ý thức cần phải cóquá trình tác động của hoàn cảnh xung quanh, của thế giới bên ngoài lên bộ óc
để bộ óc phản ánh
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của vật chất, biểu hiện trong sựtác động qua lại giữa các sự vật hiện tợng Phản ánh là sự tái tạo những đặc
Trang 16điểm của một sự vật này ở một sự vật khác trong quá trình tác động qua lạigiữa chúng Nh vậy, quá trình phản ánh bao hàm quá trình thông tin (vật nhậntác động - cái phản ánh mang thông tin của vật tác động - cái đợc phản ánh).Thuộc tính phản ánh của vật chất cũng có nhiều cấp độ:
Phản ánh vật lý, hóa học có tính chất thụ động, cha có sự chọn lọc, địnhhớng (bắn hòn bi vào cục đất sét mềm)
Phản ánh sinh học đã có sự lựa chọn, định hớng để thích nghi với môi ờng nhằm duy trì sự tồn tại của nó, thể hiện ở kích thích trong cơ thể do tác
tr-động của môi trờng ở thực vật (hoa hớng dơng), các phản xạ ở tr-động vật có hệthần kinh, tâm lý động vật ở động vật cấp cao có bộ óc (cha phải là ý thức mà
là phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu của cơ thể và quy luật sinh họcchi phối - săn mồi)
ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh, chỉ nảy sinh và xuất hiệncùng với sự xuất hiện của con ngời
Bộ óc ngời là cái phản ánh, nhng nếu không có thế giới bên ngoài tác
động lên các cơ quan cảm giác và qua đó đến bộ óc, tức không có cái đợc phản
ánh thì hoạt động ý thức cũng không xảy ra, tức không thể có ý thức Điều kiện
tự nhiên là cần nhng cha đủ, cái quyết định để xuất hiện ý thức là điều kiện xãhội nh lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội Sự xuất hiện ý thức gắnliền với quá trình hình thành bộ óc con ngời
Nguồn gốc xã hội: ý thức đợc hình thành không phải chủ yếu do sự tác
động thuần túy tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ óc con ngời, mà chủyếu do họat động thực tiễn chủ động của con ngời nhằm cải tạo thế giới kháchquan, làm biến đổi thế giới đó Muốn cho họat động này có hiệu quả, con ngờiphải khám phá, tìm hiểu những bí ẩn của giới tự nhiên; phải tổng kết rút kinhnghiệm những công việc đã làm, và càng hiểu biết giới tự nhiên bao nhiêu thì ýthức con ngời càng phong phú bấy nhiêu C.Mác cho rằng chính con ngời khiphát triển sản xuất vật chất và quan hệ sản xuất của mình đã làm biến đổi, cùngvới sự tồn tại hiện thực của mình, cả t duy lẫn sản phẩm t duy của mình Nhvậy, chủ yếu thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới mà con ngờimới có thể phản ánh đợc thế giới, mới có ý thức đúng về thế giới đó
Ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và phát triển cùng với lao động, làcái vỏ vật chất của t duy, vì vậy, không có ngôn ngữ con ngời không thể có ýthức Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) vừa là phơng tiện giao tiếp vừa là công cụcủa t duy Nhờ có nó con ngời mới có thể khái quát hóa, trừu tợng hóa, mới cóthể suy nghĩ tách rời khỏi sự vật; kinh nghiệm, hiểu biết của ngời này mớitruyền đợc cho ngời khác, thế hệ này cho thế hệ khác
16
Trang 17Hai nguồn gốc, bốn yếu tố trên liên hệ mật thiết với nhau, không tách rờinhau để hình thành nên ý thức, trong đó cái quan trọng nhất là lao động, thựctiễn xã hội.
Bản chất của ý thức: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vàotrong đầu óc con ngời, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là hình
ảnh tinh thần của vật chất bên ngoài, là hình ảnh phi cảm tính của các đối tợngcảm tính, “không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại đợc ý thức”.Cái bàn ở bên ngoài là vật chất (đối tợng cảm tính), nhng cái bàn trong đầu lại
là tinh thần, ý thức, hình ảnh chủ quan phi cảm tính Cùng một hiện tợng lạiphân đôi, bên ngoài là vật chất, bên trong là tinh thần, từ cái vật chất chuyểnthành cái tinh thần thông qua phản ánh Nhng nếu chỉ có phản ánh nh vậy thì ýthức chẳng khác gì cái gơng
ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con ngờimột cách năng động, sáng tạo, chủ động, tích cực (tức không phải là bản saogiản đơn, thụ động, máy móc) Nó “chẳng qua chỉ là vật chất đợc đem chuyểnvào trong đầu óc con ngời và đợc cải biến đi ở trong đó” Tính sáng tạo của ýthức thể hiện ra vô cùng phong phú
ý thức có thể phản ánh vợt trớc, có thể tạo ra những ảo tởng, những huyềnthoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tợng và khái quát
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức “đẻ” ra vật chất, màsáng tạo trên cơ sở của quy luật phản ánh; do đó sáng tạo và phản ánh là haimặt thuộc bản chất của ý thức
Quá trình ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt sau đây: sự trao đổithông tin giữa chủ thể và đối tợng mang tính hai chiều, có chọn lọc, định hớng(mô tả bằng mô hình); mô hình hóa đối tợng trong t duy dới dạng hình ảnh tinhthần, mã hóa các đối tợng vật chất thành thành các ý tởng tinh thần phi vật chất(ngôi nhà trong đầu); chuyển mô hình (ý tởng, quan niệm) trong đầu ra hiệnthực khách quan - quá trình hiện thực hóa (vật chất hóa) t tởng thông qua họat
động thực tiễn Để đạt mục đích, con ngời phải lựa chọn những phơng pháp,phơng tiện, công cụ thích hợp; phải khai thác sử dụng những vật liệu vật chấthiện có
Kết cấu của ý thức: cấu trúc của ý thức là vô cùng phức tạp, bao gồmnhiều yếu tố liên hệ mật thiết với nhau Có nhiều cách phân chia cấu trúc này,nhng tựu chung có hai cách cơ bản:
Theo lát cắt ngang (bề nổi): ý thức bao gồm nhiều yếu tố nh tri thức, tìnhcảm, niềm tin, lý trí, ý chí, tâm lý… và rộng ra nó còn bao gồm cả nhận thức (cảmtính và lý tính) Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức Nếu xét ở lát cắtngang (bề nổi), ở bình diện kết quả và tơng đối tĩnh thì ý thức về cơ bản bao gồmhai yếu tố: tri thức và tình cảm
Trang 18Tri thức cũng có nhiều lọai, nhiều cấp độ và vô cùng phong phú do sựphong phú của đối tợng mà nó phản ánh Mọi hiện tợng ý thức ít nhiều đều cónội dung tri thức ý thức thiếu tri thức cũng nh t tởng thiếu nội dung và trở nêntrỗng rỗng không giúp gì cho việc cải tạo hiện thực Theo nghĩa đó thì tri thức
là phơng thức tồn tại của ý thức, bởi lẽ một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thứctrong chừng mực mà ý thức biết cái đó Càng hiểu biết thế giới xung quanh thì
ý thức con ngời càng phong phú
Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại, tham gia vàomọi hoạt động của con ngời, trở thành một trong những động lực quan trọngtrong hoạt động của họ
Tri thức và tình cảm liên quan mật thiết với nhau, tình cảm có dựa trên trithức đúng mới trở nên sâu sắc, tri thức có dựa trên tình cảm mới đi đợc sâu và xa
Điều này trong văn học biểu hiện thành mối quan hệ giữa khối óc và con tim
Theo chiều dọc (bề sâu): ý thức bao gồm tự ý thức; tiềm thức; vô thức
Tự ý thức là ý thức về bản thân mình (khác với ý thức về thế giới bên
ngoài; nếu phơng Đông nghiêng về cái thứ nhất - tiên trách kỷ hậu trách nhân,hiểu mình, hiểu trong trớc đã sau đó mới hiểu ngời, hiểu bên ngoài; thì phơngTây nghiêng về cái thứ hai), tức ý thức về những hành vi, tình cảm, t tởng,
động cơ, lợi ích, địa vị… thậm chí về ý thức của bản thân mình Bản thân mình
ở đây không chỉ là cá nhân con ngời, mà còn là giai cấp, tầng lớp, quốc gia,dân tộc… Trình độ tự ý thức phần nào nói lên trình độ phát triển của nhân cách,trình độ làm chủ bản thân trong việc tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc,chuẩn mực của xã hội
Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có đợc từ trớc nhng đã gần nhtrở thành bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức dới dạng tiềmtàng, tiềm ẩn và tự động gây ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thểkhông cần kiểm soát chúng một cách trực tiếp Nó góp phần làm giảm sự quátải của đầu óc (ý thức) trong việc xử lý một khối lợng lớn các tài liệu, dữ kiện,tin tức diễn ra một cách lặp đi lặp lại mà vẫn đảm bảo đợc độ chính xác, chặtchẽ cần thiết của t duy khoa học
Vô thức là những hiện tợng tâm lý nằm ngoài phạm vi của lý trí, khôngphải do lý trí điều khiển Con ngời là một thực thể xã hội có ý thức nhng khôngphải mọi hành vi của họ đều do lý trí chỉ đạo Trong 24 giờ một ngày đêm cógần 1/3 thời gian ngủ không do lý trí điều khiển Trong lúc thức, thỉnh thoảng
đôi lúc cũng nh vậy nh bản năng ham muốn, giấc mơ, bị thôi miên, mặc cảm,
sự lỡ lời, nói nhịu, trực giác, đa nhầm, cầm nhầm, lý trí (đầu óc) nghĩ một
đằng, tay, chân, mồm hành động theo một kiểu…
Vô thức là những hành động tâm lý ở chiều sâu, bề sâu trong tâm hồncon ngời, nó điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con ngời mà
18
Trang 19cha có sự tranh chấp nội tâm, cha có sự truyền tin bên trong, cha có sự kiểmtra, tính toán của lý trí Con ngời trong suốt cuộc đời có nhiều ham muốnkhông thể nói ra đợc, không thể thực hiện đợc do tập quán, phong tục, luân lý
đạo đức, pháp luật, những điều ngăn cấm… Những cái đó có thể mất, có thể bị
ý thức, lý trí xua đuổi, dồn nén xuống vùng sâu thẳm trong tâm thức - vùng vôthức Nh vậy, vô thức bị ý thức ngăn chặn, canh giữ ở cửa trên, bị ý thức đè nénkiểm soát nên không phát tác đợc Đôi lúc nó trào dâng dữ dội nhng đều bị ýthức, lý trí với sự yểm trợ của phong tục tập quán, đạo đức, pháp luật ngănchặn, bởi vậy nó nh một ngọn lửa bập bùng khi im lìm khi trào dâng Bình th-ờng nó nằm im chờ thời, chỉ cần ý thức lơ là, mất cảnh giác, ngủ yên là bắt đầu
nó len lỏi tham gia vào hoạt động của con ngời thể hiện bằng những hành vi kểtrên, đặc biệt là trong những giấc mơ Đôi khi có những cái không đợc thỏamãn trong hiện thực thì chúng lại đợc thỏa mãn trong những giấc mơ, thiếuthốn trong hiện thực lại đợc bù đắp trong giấc mơ
Vô thức có vai trò to lớn trong đời sống con ngời, góp phần giải tỏanhững ức chế thần kinh, những ham muốn bản năng… từ đó góp phần lập lạithế cân bằng trong hoạt động tinh thần con ngời, đặc biệt nó có ý nghĩa quantrọng trong họat động giáo dục thế hệ trẻ, trong hoạt động khoa học và nghệthuật Tuy nhiên không nên cờng điệu, tuyệt đối hóa vô thức; không nên cô lập,tách rời nó với hoàn cảnh xã hội xung quanh, với ý thức Vô thức là vô thứcnằm trong con ngời có ý thức, và trong con ngời thì ý thức vẫn giữ vai trò chủ
đạo
2 Chủ nghĩa duy vật mácxít đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên quan điển thực tiễn
a Vật chất suy cho cùng quyết định ý thức
Vật chất “sinh” ra ý thức vì ý thức chỉ là kết quả của một quá trình pháttriển, tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất, là thuộc tính của một thực thể vậtchất sống có tổ chức cao nhất, đó là bộ óc con ngời
Vật chất quyết định nội dung của ý thức bởi lẽ ý thức dới bất kỳ hìnhthức nào suy cho cùng đều là phản ánh hiện thực khách quan, nảy sinh trênnhững tiền đề vật chất nhất định, ngay cả những ảo tởng hình thành trong đầu
óc con ngời cũng là những vật thăng hoa tất yếu của quá trình đời sống vật chấtcủa họ Quan hệ vật chất mở rộng thì những tình cảm, tri thức cũng đợc mởrộng
Mặc dù ý thức không phản ánh nguyên vẹn mà đó là sự phản ánh sángtạo, nhng mọi sự sáng tạo của ý thức đều phải xuất phát từ những tiền đề vậtchất và phải tuân thủ các quy luật khách quan
Trang 20Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội đợc biểu hiện ởmối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đời sống vật chất và đời sống tinh thần,giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Trong xã hội, sự phát triển của kinh tế quy
định sự phát triển của văn hóa; đời sống vật chất thay đổi thì sớm muộn đờisống tinh thần cũng thay đổi theo
Nh vậy, ý thức không chỉ đợc “sinh” ra từ vật chất mà mọi sự tồn tại,phát triển của nó đều gắn liền với quá trình biến đổi của những điều kiện vậtchất nhất định
b Vai trò của ý thức đối với vật chất
Thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời, ý thức có thể làm biến đổinhững điều kiện, hoàn cảnh vật chất, phục vụ cho cuộc sống của con ngời
Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cáchchính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận định hớng vànhững lý luận này đợc đa vào quần chúng sẽ góp phần động viên, cổ vũ, khaithác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vật chất đợc nhân lên gấp bội
Đúng nh C.Mác nói, lý luận này cũng sẽ trở thành lực lợng vật chất một khi nóthâm nhập vào quần chúng
Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất làtrong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, khoa học đã trởthành lực lợng sản xuất trực tiếp Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của trithức khoa học, của t tởng chính trị, t tởng nhân văn là hết sức quan trọng
ý thức không chỉ có tác động tích cực mà còn có tác động tiêu cực;những t tởng phản động làm cản trở sự phát triển của lịch sử; những t tởng duytâm tôn giáo làm hạn chế năng lực thực tiễn của con ngời; những t tởng báquyền đế quốc đã gây ra những cuộc chiến tranh tàn khốc Nhìn chung, có tác
động tiêu cực khi ý thức phản ánh sai lạc, xuyên tạc hiện thực
Nh vậy, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng,vật chất quyết định ý thức, nhng ý thức cũng có vai trò hết sức to lớn đối vớivật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời
3 Chủ nghĩa duy vật mácxít là hạt nhân của thế giới quan khoa học hiện đại
Quan niệm về thế giới mang tính chất khoa học hiện nay đã có bớc tiếnkhá xa trong quá trình phát triển của mình Cho đến nay khoa học vẫn chỉchứng minh một điều: trong vũ trụ không có gì khác ngoài những quá trình vậtchất đang vận động Vật chất thể hiện dới nhiều hình thức, muôn hình muôn
vẻ, nhng suy cho cùng nó là thực tại khách quan, tồn tại khách quan độc lậpvới ý thức con ngời Thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó Ngay ý thứcsuy cho cùng cũng chỉ là một thuộc tính đặc biệt của một vật chất đặc biệt có
tổ chức cao, đó là bộ óc con ngời Nh vậy, chỉ có một thế giới duy nhất và
20
Trang 21thống nhất, đó là thế giới vật chất Nó tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vô tận, không
đợc sinh ra và không bị mất đi Đó là quan điểm mácxít về thế giới Quan điểmnày là hạt nhân của thế giới quan khoa học hiện đại Tất nhiên, đó chỉ là nhữngnét chung nhất, khái quát nhất, còn những cái cụ thể, chi tiết cần có sự nghiêncứu của các khoa học cụ thể
Nếu trớc kia theo Niutơn, không gian là bất di, bất dịch và nh nhau ở mọinơi; thời gian luôn trôi với một tốc độ nhất định; khối lợng là bất di bất dịch cảkhi chuyển động với mọi tốc độ và cả khi đứng yên; hạt ánh sáng đi theo đờngthẳng tắp Nh vậy, ở Niutơn, vũ trụ yên tĩnh, không gian và thời gian trống rỗng
Cụ thể không gian không có bờ bến trong đó các vì sao, thiên hà nổi lềnh bềnh
nh những hòn đảo rời rạc chụm lại; những thiên hà phân tán nh những giọt nớccủa một đám mây Còn theo quan điểm của thuyết tơng đối thì không gian thờigian, vật chất, vận động là không tách rời nhau, liên hệ mật thiết với nhau Cụthể, khi chuyển động thì kích thớc của vật co lại theo phơng chuyển động Vậtmang đồng hồ chuyển động càng nhanh thì đồng hồ chạy càng chậm, tức thờigian co lại theo chuyển động; khối lợng cũng thay đổi theo tốc độ Vũ trụ củaAnhxtanh luôn biến động, có lồi lõm, vật chất càng tập trung thì lồi lõm càng
đậm nét, nghĩa là vũ trụ càng cong, bởi vậy, ánh sáng chuyển động không thẳng
mà cong Những chỗ lồi lõm này cũng luôn biến động theo sự phân bố của vậtchất Nh vậy, những kết quả của thuyết tơng đối đã chứng minh cho quan điểmduy vật mácxít về mối liên hệ giữa thời gian, không gian, vật chất và vận động
Điều này càng chứng tỏ triết học Mác là cơ sở, hạt nhân lý luận của thế giớiquan khoa học hiện đại
Con ngời không chỉ là sản phẩm của tự nhiên, sinh ra từ giới tự nhiên,nằm trong lòng giới tự nhiên và bị những quy luật tự nhiên chi phối mà nó còn
là chủ nhân của thế giới, cải tạo, biến đổi giới tự nhiên phục vụ cho những mục
đích, nhu cầu của mình Chính trong quá trình học hỏi, biến đổi tự nhiên mà tduy, trí tuệ và con ngời ngày một phát triển Xã hội suy cho cùng là một bộphận đặc biệt của giới tự nhiên, bởi vậy, xét trên những nét đại thể con ngời làtổng hợp của những quan hệ xã hội T tởng về vị trí của con ngời này vẫn là hạtnhân trong thế giới quan khoa học hiện nay
Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật mácxít vẫn là cơ sở, hạt nhân củathế giới quan khoa học hiện đại Dĩ nhiên đi sâu vào thế giới quan nàycòn nhiều điểm phải bổ xung thêm bằng các phát minh trong các khoahọc cụ thể
Trang 22II ý nghĩa phơng pháp luận của Chủ nghĩa duy vật mácxít
Từ giải quyết đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa vật chất và ý thứctrên quan điển thực tiễn chúng ta rút ra quan điểm khách quan trong nhận thức
và cải tạo thế giới với những yêu cầu sau:
Trong hoạt động nhận thức cũng nh cải tạo thực tiễn bao giờ cũng phảixuất phát từ những điều kiện, hoàn cảnh thực tế Không thể hiểu bất kỳ mộthiện tợng ý thức nào nếu không gắn chúng với những điều kiện kinh tế đã sảnsinh ra chúng Mọi mục tiêu đặt ra cho hoạt động của con ngời cũng đều phảixuất phát từ những tiền đề vật chất hiện có Khi điều kiện kinh tế còn thấp mà
đề ra những mục tiêu quá cao là không tởng vì sẽ không thể thực hiện đợc
Ng-ợc lại, mục tiêu đề ra quá thấp so với điều kiện kinh tế hiện có lại làm hạn chếkhả năng của con ngời, không thúc đẩy đợc việc khai thác những tiềm nănghiện có
Phải luôn tôn trọng các quy luật khách quan Thực tế lịch sử cho thấy,mỗi khi làm trái quy luật, con ngời đều phải trả giá Mặc dù con ngời là chủnhân, chủ thể sáng tạo, nhng nó không thể hoạt động một cách tùy tiện theo ýmuốn chủ quan của mình Bài học thời bao cấp đã cho thấy, không thể lấynguyện vọng tốt đẹp làm mục tiêu mà phải xuất phát từ hiện thực và phải tuântheo quy luật khách quan
Nhận thức, cải tạo sự vật phải xuất phát từ chính bản thân sự vật, khôngthể áp đặt cho nó cái mà vốn nó không có hoặc cha thể có
Phải chống chủ nghĩa chủ quan dới mọi hình thức nh chủ nghĩa duy tâmchủ quan, những biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí, chủ quan nóng vội.Quan điểm khách quan không đồng nhất với chủ nghĩa khách quan với thái độnhấn mạnh một chiều vai trò của điều kiện kinh tế, của hoàn cảnh vật chất; nó
đòi hỏi phải luôn coi trọng việc phát huy vai trò của ý thức t tởng, phát huytính năng động sáng tạo của ý thức mà thiếu chúng con ngời khó có thể hoạt
động có hiệu quả đợc
Cùng với việc khai thác những sức mạnh vật chất tiềm tàng của đất nớc,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng bồi dỡng tinh thần yêu nớc, tinh thầndân tộc, tinh thần đoàn kết, tinh thần cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân;cùng với việc chăm lo phát triển kinh tế, Đảng còn chú trọng đến việc xâydựng đời sống văn hóa tinh thần, phát triển giáo dục đào tạo, xây dựng nền vănhóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
22
Trang 23III Vai trò của Chủ nghĩa duy vật mácxít trong việc chống chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật tầm thờng
1 Vai trò của chủ nghĩa duy vật mácxít trong việc chống chủ nghĩa duy tâm
Thực chất của chủ nghĩa duy tâm là giải quyết một cách sai lầm khíacạnh thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học Những ngời cho rằng tinhthần, ý thức có trớc và quyết định giới tự nhiên, vật chất đợc gọi là các nhà duytâm; họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩaduy tâm xuất hiện từ thời cổ đại và ngày nay nó thể hiện ra dới nhiều hình thứcbiến tớng, nhng về đại thể có hai dạng chủ yếu: chủ nghĩa duy tâm khách quan(Platôn, Hêghen và phần nào Khổng Tử) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan(Bécli, Hium, Phíchtơ và phần nào Phật giáo) Tuy có sự khác nhau trong quanniệm cụ thể về cái có trớc và về sự có trớc, nhng cả hai đều cho rằng ý thức,tinh thần là cái có trớc, sản sinh ra vật chất, quyết định giới tự nhiên Do đóbằng cách này hay cách khác họ thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới Vì vậy, tôngiáo thờng sử dụng các học thuyết duy tâm làm cơ sở lý luận của mình Tuynhiên, có sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo ở chỗ trong tôn giáo,lòng tin là cơ sở, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sảnphẩm của t duy lý tính Qua đó ta thấy chủ nghĩa duy tâm đóng vai trò cơ sở, nềntảng cho thế giới quan duy tâm và tôn giáo với quan niệm cho rằng khởi nguyên,cội nguồn, cái xuất phát của thế giới này là ý thức, tinh thần
Sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy tâm chủ quan và duy tâm khách quanchỉ ở chỗ chủ nghĩa duy tâm khách quan thì đẩy cái tâm, cái tinh thần, cái ý thức
ra bên ngoài tồn tại lửng lơ ở đâu đó với một cái tên gọi nào đó, chẳng hạn nh ýniệm tuyệt đối (ở Platôn), tinh thần tuyệt đối (ở Hêghen); những cái này chúng
có trớc giới tự nhiên, sinh ra giới tự nhiên và quy định giới tự nhiên
Sai lầm của chủ nghĩa duy tâm có nhiều nguyên nhân, nhng có hainguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, về phơng diện nhận thức luận, sai lầm củachủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện (thổi phồng, bơm to,tuyệt đối hoá) một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tínhbiện chứng của con ngời; Thứ hai, về phơng diện xã hội, là do sự tách rời giữalao động trí óc và lao động chân tay và địa vị thống trị của cái thứ nhất đối vớicái thứ hai trong các xã hội cũ, từ đó tạo ra quan niệm về vai trò quyết định củanhân tố t tởng, tinh thần
Chủ nghĩa duy vật cho rằng từ khởi thủy cho đến nay, không phải ý thứclúc nào cũng có, không phải nó luôn tồn tại Nó xuất hiện gắn liền với sự xuất
Trang 24hiện của con ngời cách đây khoảng 3-7 triệu năm, trong khi đó trái đất củachúng ta xuất hiện cách đây khoảng 5-7 tỉ năm Nh vậy trái đất đã có một thời
kỳ tồn tại rất lâu dài mà cha hề có con ngời, cha hề có ý thức Và ý thức làbông hoa cao nhất của tạo hóa, của sự tiến hóa của vật chất
2 Vai trò của chủ nghĩa duy vật mácxít trong việc chống chủ nghĩa duy vật tầm thờng
Thực chất của chủ nghĩa duy vật tầm thờng là không thấy đợc tính năng
động sáng tạo của ý thức từng ngời nói riêng và con ngời nói chung; mà ở mọilúc, mọi nơi chỉ thấy một chiều vật chất quyết định ý thức Từ đó tạo ra tính ỷlại, ngồi chờ (há miệng chờ sung), thiếu tính sáng tạo; và khi mắc thiếu sótkhuyết điểm gì thì phủ tay rũ sạch đổ lỗi hết cho khách quan Mặt khác, từ chỗquá đề cao vật chất dẫn đến lối sống thực dụng, quá đề cao đồng tiền, coi th-ờng tri thức, tình cảm của con ngời
Để chống chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật tầm thờng có hiệu quảcần phải nắm vững tinh thần của chủ nghĩa duy vật mácxít và quán triệt quan
điểm khách quan trong nhận thức và cải tạo thực tiễn
24
Trang 25Trong lịch sử triết học đã xuất hiện ba hình thức của phép biện chứng:Phép biện chứng tự phát thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm thời cận đại,phép biện chứng duy vật mácxít; trong đó chỉ có phép biện chứng duy vậtmácxít đã thực sự trở thành là một khoa học.
Phép biện chứng duy vật - nh Ph.Ăng ghen đã chỉ ra - "là môn khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài ngời và của t duy"1
Phép biện chứng duy vật đợc tạo thành từ một loạt những phạm trù,những nguyên lý, những quy luật đợc khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiệnthực Cho nên nó có khả năng phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự pháttriển của tự nhiên, xã hội và t duy Theo nhu cầu thực tiễn và trình độ nhận thứccủa con ngời, phạm vi các vấn đề đợc bao quát trong phép biện chứng duy vậtngày càng đợc phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu
b Siêu hình
Siêu hình là phơng pháp nhìn nhận thế giới nh một tổng số các sự vật tồntại biệt lập, không có quá trình phát sinh phát triển, không vận động hoặc chỉvận động một cách giản đơn Đó là phơng pháp phổ biến trong triết học Tây
Âu thế kỷ XVII - XVIII Ngày nay, phơng pháp này vẫn tồn tại và ảnh hởngkhông nhỏ đến việc nhìn nhận đánh giá các vấn đề của thế giới hiện thực Vìvậy, chỉ có phép biện chứng duy vật mới là phơng pháp luận cơ bản để nhậnthức khoa học và để cải tạo thế giới Trong phép biện chứng duy vật, cácnguyên lý là những nguyên tắc tổng quát nhất, phản ánh những nguyên tắc tồntại chung nhất của mọi sự vật hiện tợng trong thế giới khách quan
2 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1 C.Mác và Ph.Ăng ghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1994, t.20, tr.201
Trang 26Liên hệ - theo quan điểm biện chứng - là sự phụ thuộc, sự quy định lẫnnhau và tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hay giữa các nhân tố tạothành sự vật.
Phép biện chứng nói chung đều thừa nhận mối liên hệ phổ biến củanhững sự vật, hiện tợng trong thế giới hiện thực
Đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật khoa học, phép biện chứngduy vật khẳng định cơ sở của mối liên hệ phổ biến là ở tính thống nhất vật chấtcủa thế giới Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tợng dù hết sức đa dạngchúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của thế giới vật chất Ngay cả
t tởng, ý thức cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ
óc con ngời
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính phổ biến, tínhkhách quan của sự liên hệ, mà còn chỉ ra tính đa dạng của nó Trong đó quantrọng nhất là những mối liên hệ bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản.Các mối liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động và pháttriển của sự vật Những mối liên hệ bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết
định Mối liên hệ bên ngoài mặc dù rất quan trọng song nó chỉ thực sự có ýnghĩa khi xâm nhập đợc vào bên trong và phải thông qua mối liên hệ bên trong
Dĩ nhiên sự phân loại các mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tơng đối Các loạiliên hệ khác nhau có thể chuyển hóa lẫn nhau
Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng trên thế giới vô cùng, vô tận và rấtphong phú, đa dạng, phức tạp Đặc biệt trong lĩnh vực đời sống xã hội, tínhphức tạp của các mối liên hệ đợc nhân lên do tính phức tạp của hoạt động conngời Chính vì vậy, việc nhận thức và phân loại đúng đắn các mối liên hệ trongxã hội khó khăn hơn nhiều so với trong giới tự nhiên
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàndiện - một quan điểm phơng pháp luận cơ bản trong nhận thức khoa học vàtrong hoạt động cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội
Quan điểm toàn diện có một số yêu cầu cơ bản sau đây:
Một là, muốn nhận thức đúng đắn sự vật phải xem xét tất cả các mặt, các
yếu tố tạo thành nó và các mối liên hệ giữa sự vật ấy với các sự vật, hiện tợngkhác V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Muốn thực sự hiểu đợc sự vật, cần phải nhìn bao
quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó"1 Đó là một nguyên tắc cơ bản để nhận thức của con ngời
có thể tránh đợc những sai lầm
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.TB, M.1977, t.42, tr.364
26
Trang 27Hai là, phải nhìn nhận sự vật nh một chỉnh thể, phải phân biệt giữa cái
chính và cái phụ, đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng nhân tố, từng mối liên
hệ, tránh xem xét một cách dàn đều, "bình quân"
Ba là, trong hoạt động thực tiễn, quan điểm toàn diện đòi hỏi phải sử
dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phơng tiện khác nhau để tác động nhằmthay đổi sự vật
Vận dụng một cách đúng đắn quan điểm toàn diện là một trong nhữngnguyên nhân thành công trong cách mạng Việt Nam Thời kỳ đổi mới, Đảng ta
đã chủ trơng đổi mới toàn diện, đồng thời cũng xem đổi mới kinh tế là trọngtâm Do đó, Việt Nam đã "khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề
cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội"1
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều chỉ
“thấy cây mà không thấy rừng”, chỉ thấy lợi ích trớc mắt mà không thấy lợi íchlâu dài, chỉ thấy những lợi ích cục bộ mà không tính đến lợi ích toàn xã hội
Điều đó sẽ dẫn đến sai lầm trong suy nghĩ và hành động
b Nguyên lý về sự phát triển
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết họcdùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phứctạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
Phát triển là một quá trình không chỉ biến đổi về chất mà còn biến đổi vềlợng Nguyên nhân của sự biến đổi đó nằm ở trong sự vật Sự phát triển thờng
đi theo con đờng quanh co phức tạp nhng là một khuynh hớng tất yếu, kháchquan, độc lập với ý thức của con ngời
Phát triển mang tính phổ biến Đó là khuynh hớng chung, diễn ra ở tất cảmọi lĩnh vực từ tự nhiên đến xã hội và t duy Trong hiện thực khách quan, sựphát triển hết sức đa dạng, tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạngvật chất và vào các điều kiện cụ thể Trong giới hữu cơ, sự phát triển biểu hiện
ở sự tăng cờng khả năng thích nghi của cơ thể sinh vật đối với sự biến đổi củamôi trờng Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở sự vận động từ thấp đến caocủa các hình thái kinh tế xã hội Trong t duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năngnhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn đối với tự nhiên và xã hội
Cũng nh nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển làmột nguyên tắc tổng quát của phép biện chứng và đồng thời là cơ sở lý luận
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.CTQG, H
1996, tr.71
Trang 28của quan điểm phát triển - một quan điểm phơng pháp luận khoa học trongnhận thức và thực tiễn.
Quan điểm phát triển có một số yêu cầu cơ bản sau đây:
Một là, khi xem xét, đánh giá sự vật, phải đặt nó trong sự vận động, phát
triển và phải thấy rõ xu hớng phát triển tất yếu của nó
V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Lôgíc biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự
phát triển, trong "sự tự vận động trong sự biến đổi của nó” "1
Hơn nữa sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tợng diễn ra rất phức tạp,thậm chí có cả những bớc thụt lùi tạm thời Vì vậy, nhận thức sự vật, đòi hỏiphải phát hiện đợc xu hớng phát triển của nó để có định hớng rõ ràng
Hai là, phải phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và tạo điều kiện cho nó
II Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
Trong phép biện chứng duy vật, ngoài các quy luật cơ bản còn có các cặpphạm trù Các cặp phạm trù đợc xem là các quy luật không cơ bản Cùng vớicác quy luật cơ bản, các cặp phạm trù cho ta một bức tranh tổng thể về các mốiquan hệ của các sự vật hiện tợng trong thế giới khách quan
1 Cái riêng và cái chung
Ví dụ: một con ngời, một dòng sông, một ngọn núi hay một quốc gia dân tộc…
Trong một kết cấu vật chất, một bộ phận nào đó nếu nó đợc nhìn nhận nhmột chỉnh thể độc lập tơng đối với những cái khác, nó cũng là một cái riêng
Cái chung là những cái giống nhau, những cái đợc lặp lại ở các sự vật,hiện tợng riêng lẻ khác nhau
Cái chung có thể là một đặc điểm, một thuộc tính hoặc một bộ phận củanhững cái riêng Tuỳ thuộc vào tính bao quát của nó mà ngời ta phân thành cáiphổ biến và đặc thù
1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb.TB, M.1977, t.42, tr.364
28
Trang 29Cái chung còn phân thành cái chung căn bản và cái chung không cănbản Cái chung căn bản là cái chung thuộc về bản chất của sự vật và nó chiphối sự vận động và phát triển của sự vật, còn cái chung không căn bản nằmngoài bản chất và chỉ ảnh hởng ít hoặc không đáng kể đến sự vận động và pháttriển của sự vật Đối với mỗi con ngời, cái chung căn bản là cái chung về lợiích Những cái chung về hình dáng bề ngoài, mầu tóc, mầu da là những cáichung không căn bản.
ở mỗi cái riêng không phải chỉ có cái chung phổ biến, cái đặc thù mà nócòn có cái đơn nhất
Cái đơn nhất là cái chỉ có ở một sự vật, hiện tợng mà không lặp lại ở các
sự vật, hiện tợng khác
b Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, cái riêng và cái chungkhông thể tách rời nhau Không có cái chung tồn tại độc lập đứng ngoài cáiriêng, mà "cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng "
Thí dụ, trong một chi bộ, mọi ngời đều là đảng viên, đều có đảng tính.Tính đảng là cái chung của các đảng viên, thể hiện ở mỗi đảng viên
Cái riêng là cái toàn thể, cái chung là bộ phận Tuy nhiên, cái chung cănbản bao giờ cũng sâu sắc hơn cái riêng, nó chi phối mọi cái riêng Cái riêngphong phú hơn cái chung và nó không bao giờ gia nhập hết vào cái chung
Cái chung và cái riêng có thể chuyển hoá lẫn nhau Sự chuyển hóa này
đ-ợc hiểu với hai nghĩa
Nghĩa thứ nhất, một cái đặc thù nào đó xét trong mối quan hệ với nhữngcái riêng, nó là chung nhng nếu so với những cái chung hơn nó lại là riêng
Nghĩa thứ hai là sự chuyển hoá của cái đơn nhất thành cái chung, cái phổbiến và ngợc lại
Đó là hiện tợng xảy ra trong quá trình nảy sinh phát triển của những cáimới và sự mất dần của những cái đã trở nên lỗi thời
c ý nghĩa phơng pháp luận của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
Vì cái chung nằm trong cái riêng nên muốn nắm đợc những vấn đềchung phải xem xét, phân tích các sự vật, hiện tợng cụ thể, tránh xa rời thực tế,suy luận một cách chủ quan, tuỳ tiện
Tuy nhiên, vì cái chung sâu sắc hơn cái riêng, chi phối cái riêng nên phảinắm vững các vấn đề chung nhất là các lý luận khoa học để tránh những vấpváp không cần thiết trong quá trình giải quyết các công việc cụ thể
Vì cái chung và cái riêng có thể chuyển hoá lẫn nhau cho nên phải tìmcách để nhân các điển hình tiên tiến, phổ biến rộng rãi những sáng kiến, những
Trang 30phát minh khoa học để làm cho xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh Ngợc lại,các hiện tợng tiêu cực trong xã hội phải bị thu hẹp dần để đi đến tiêu vong.
Sự kết hợp hài hoà giữa cái chung và cái riêng vừa phát huy năng lực, thếmạnh của từng nhóm, từng con ngời đồng thời vẫn giữ vững đợc khối đoàn kếtthống nhất của cộng đồng, của tập thể Nếu tuyệt đối hoá cái chung sự pháttriển trở nên đơn điệu, nghèo nàn Nếu tuyệt đối hoá cái riêng sẽ không cónhững giải pháp mang tính tổng thể thậm chí có thể trở thành cá nhân chủnghĩa, cục bộ, địa phơng
Vì vậy, sự kết hợp hài hoà cái chung và cái riêng trở thành thớc đo trình
độ của từng tập thể hay từng cá nhân
2 Nguyên nhân và kết quả
a Khái niệm
Trong cuộc sống hàng ngày, để giải quyết một vấn đề nào đó thờng ngời
ta phải đi tìm nguyên nhân của nó Mỗi thành công hay thất bại của hoạt độngcon ngời phải có những nguyên nhân xác định
Theo quan điểm mácxít, nguyên nhân là sự tác động qua lại giữa các sựvật hay giữa các nhân tố tạo thành sự vật để tạo ra một sự biến đổi nào đó, cònkết quả là sự biến đổi do nguyên nhân gây ra
Nguyên nhân khác với nguyên cớ Nguyên cớ là nguyên nhân giả tạo.Thờng những kẻ gây chiến để xâm lợc nớc khác nó phải tạo ra nguyên cớ đểche giấu sự thô bạo của mình
b Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân bao giờ cũng sinh ra kết quả Để sinh ra kết quả, nguyênnhân phải có trớc Tuy nhiên, xét thuần tuý về mặt thời gian cha đủ để kết luậnnhững nhân tố nào đó là nguyên nhân Chẳng hạn ngày có trớc đêm nhng ngàykhông bao giờ là nguyên nhân của đêm
Trong thực tế, một nhân có thể sinh nhiều quả và ngợc lại, một quả lại cóthể do nhiều nhân nhng vai trò của các nguyên nhân không giống nhau Triếthọc Mác chia ra các loại nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài
Sự biến đổi của một sự vật có thể do nguyên nhân bên trong hoặc bênngoài gây ra
Nguyên nhân bên trong là sự tác động qua lại giữa các bộ phận, các yếu
tố tạo thành sự vật Nguyên nhân bên ngoài là sự tác động qua lại giữa sự vật
ấy với sự vật khác
Trong hai nguyên nhân này, nguyên nhân bên trong bao giờ cũng giữ vaitrò quyết định đối với sự biến đổi của sự vật, nguyên nhân bên ngoài chỉ thực
30
Trang 31sự có tác dụng khi nó chuyển đợc thành nguyên nhân bên trong hoặc thúc đẩynguyên nhân bên trong.
- Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu
Nguyên nhân nào quyết định sự ra đời của kết quả thì gọi là nguyênnhân chủ yếu Nguyên nhân chỉ ảnh hởng tới kết quả hoặc quyết định nhữngmặt, những bộ phận không cơ bản của kết quả thì gọi là nguyên nhân thứ yếu
Thí dụ, nguyên nhân chủ yếu để một xã hội bị thay thế là do mâu thuẫngiữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất đã gay gắt đến cực độ Các nguyênnhân khác thờng là thứ yếu
- Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân khách quan là những tác động độc lập với chủ thể hành
động Nguyên nhân chủ quan là những sự tác động và do sự điều khiển củamột chủ thể nhất định
c ý nghĩa phơng pháp luận của mối quan hệ nhân quả
Vì mọi sự vật, hiện tợng đều có nguyên nhân ra đời nên muốn hiểu rõ sựvật hay muốn cải tạo nó phải tìm hiểu rõ nguyên nhân Nguyên nhân cơ bản,nguyên nhân bên trong phải đợc chú ý trớc hết nhng cũng không xem nhẹ cácnguyên nhân khác nhất là những nguyên nhân bên ngoài Chẳng hạn, khi tìmnguyên nhân của sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, nếu bỏ qua sự tác độngcủa lực lợng chống phá chủ nghĩa xã hội từ bên ngoài sẽ là một thiếu sót lớn
3 Tất nhiên và ngẫu nhiên
"Ngẫu nhiên" là những cái xảy ra do các nguyên nhân bên ngoài quy
định Vì vậy, nó có thể xảy ra hoặc không thể xảy ra, có thể xảy ra dới hìnhthức này hoặc dới hình thức khác
Chẳng hạn, chủ nghĩa t bản nhất định sẽ bị diệt vong Điều đó là donhững mâu thuẫn bên trong của chế độ xã hội ấy quyết định Đó là tất nhiên.Nhng chủ nghĩa t bản bắt đầu tan rã từ bao giờ và ở đâu điều đó lại là ngẫunhiên vì nó không chỉ phụ thuộc vào điều kiện trong nớc mà còn phụ thuộc vào
điều kiện quốc tế
Trang 32Thờng ngời ta hay cho tất nhiên là cái có tính quy luật còn cái ngẫunhiên là không có tính quy luật Điều đó đã tuyệt đối hoá sự khác biệt giữa tấtnhiên và ngẫu nhiên và không cũng không thấy rằng bản thân cái ngẫu nhiêncũng có quy luật của nó Đó là những quy luật xác xuất, thống kê đợc ứngdụng rộng rãi trong khoa học hiện đại
b Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định tất nhiên và ngẫu nhiên đềutồn tại một cách khách quan
Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng trong sự phát triểncủa tự nhiên cũng nh của xã hội và có mối quan hệ biện chứng với nhau
- Tất nhiên bao giờ cũng đợc thể hiện qua cái ngẫu nhiên còn ngẫunhiên là sự biểu hiện của cái tất nhiên trong một điều kiện, một hoàn cảnh
cụ thể
Ăngghen viết: "Cái mà ngời ta quả quyết cho là tất yếu lại hoàn toàn do
những ngẫu nhiên thuần tuý cấu thành, và cái đợc gọi là ngẫu nhiên, lại là hình thức, dới đó ẩn nấp cái tất yếu"1
- Trong những mối quan hệ xác định, cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên cóthể đổi chỗ cho nhau Điều đó có nghĩa là xét trong mối quan hệ này là tấtnhiên nhng xét trong mối quan hệ khác lại là ngẫu nhiên
Nh vậy, ranh giới giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên chỉ là tơng đối.Chính vì thế trong triết học mới có hiện tợng chỉ thấy tất nhiên mà không thấyngẫu nhiên hoặc ngợc lại
c ý nghĩa phơng pháp luận của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Vì cái tất nhiên là cái đợc quy định bởi các mối liên hệ bên trong của sựvật hiện tợng nên khi định ra chủ trơng, đờng lối hay mục tiêu phấn đấu phảidựa vào cái tất nhiên Tránh t tởng chủ quan, tuỳ tiện
Tuy nhiên, vì cái tất nhiên bao giờ cũng đợc thể hiện qua cái ngẫu nhiênnên phải dự báo đợc những cái ngẫu nhiên để có thể chủ động trong mọi tìnhhuống
Càng dự báo đợc nhiều cái ngẫu nhiên bao nhiêu con ngời càng chủ
động bấy nhiêu khi gặp những tình huống bất ngờ Tuy nhiên dự báo cái ngẫu
1 C Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.21, tr.431
32
Trang 33nhiên phải đi liền với việc chuẩn bị các phơng án, phơng tiện đối phó với cáingẫu nhiên, có kế hoạch dự phòng để hạn chế những tác hại của cái ngẫunhiên Trong thực tế, ngời có kinh nghiệm thờng dự báo những cái xấu nhất để
có sự chuẩn bị chu đáo
b Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
Theo triết học mácxít, nội dung và hình thức có mối quan hệ biện chứngvới nhau Sự gắn bó này thể hiện trớc hết ở sự thống nhất giữa chúng
Bất kỳ sự vật nào cũng có cả nội dung lẫn hình thức của nó Tuy nhiên,vai trò của chúng không ngang nhau
Nội dung bao giờ cũng quyết định hình thức Nó quyết định cả phơngthức thể hiện lẫn cách thức sắp xếp Đồng thời nội dung luôn vận động biến
đổi còn hình thức có tính ổn định tơng đối Sự biến đổi của nội dung là cơ sởcho sự biến đổi của hình thức Một khi nội dung thay đổi thì các hình thức thểhiện nó cũng sớm hoặc muộn biến đổi theo
Mặc dù vậy, hình thức không phải chỉ là nhân tố bị động, nó có thể tác
động mạnh mẽ trở lại nội dung Hình thức có thể tác động tích cực hoặc tiêucực đến nội dung Nếu hình thức phù hợp với nội dung nó sẽ làm phong phúthêm nội dung, làm sâu sắc thêm nội dung hoặc phát triển nội dung Ngợc lạinếu hình thức không phù hợp với nội dung, lạc hậu so với nội dung hoặc vợtquá khuôn khổ quy định của nội dung, nó sẽ kìm hãm nội dung, làm sai lạc nộidung thậm chí có thể phá vỡ nội dung Trong điều kiện đó đòi hỏi phải "vứt bỏhình thức cũ", xác lập hình thức mới để phát triển nội dung
Trong cuộc sống hiện thực, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức đềuhết sức đa dạng Một nội dung có thể đợc thể hiện bằng nhiều hình thức, mộthình thức lại có thể phản ánh nhiều nội dung Cũng có trờng hợp, một nội dungmới đợc phản ánh bởi một hình thức cũ Song điều đó không phá vỡ sự thốngnhất giữa chúng vì xét trong tổng thể, hình thức vẫn phải chịu sự chi phối củanội dung
c ý nghĩa phơng pháp luận
Nội dung và hình thức là những cái vốn có của mọi sự vật, chúng khôngtách rời nhau, vì vậy trong mọi hoạt động, không đợc xem nhẹ bất cứ mặt nào.Song, do nội dung giữ vai trò quyết định, nên bao giờ cũng phải chú ý trớc hết
Trang 34đến nội dung đồng thời chú ý đến hình thức Việc tuyệt đối hoá bất kỳ mặt nàocũng là một sai lầm và đều có thể dẫn tới những hậu quả đáng tiếc.
Trong bản chất của nó, nội dung và hình thái không tách rời nhau Sựtách rời này chỉ là ở trong nhận thức của con ngời Nhận thức đợc mối quan hệbiện chứng của chúng sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả của mọihoạt động trong đó có hoạt động quản lý
5 Bản chất và hiện tợng
a Khái niệm
Theo quan điểm mácxít, bản chất là tổng hợp những mối liên hệ tấtnhiên, có tính ổn định tạo thành một thể thống nhất hu cơ bên trong của một sựvật, quy định sự vận động và biến đổi của sự vật đó
Hiện tợng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất Bản chất và quy luật làcác phạm trù cùng bậc vì chúng đều là mối liên hệ tất yếu giữa các sự vật haygiữa các nhân tố tạo thành sự vật Mặt khác, việc nắm đợc bản chất hay quyluật vận động của sự vật đều phản ánh khả năng nhận thức sâu sắc thế giớikhách quan của con ngời Tuy nhiên, bản chất và quy luật không đồng nhất.Bản chất của nền sản xuất t bản chủ nghĩa là tạo ra nhiều giá trị thặng d nhngquy luật của nền sản xuất t bản chủ nghĩa thì bao gồm không chỉ có quy luật
đặc thù mà còn cả những quy luật chung của kinh tế
b Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tợng
Bản chất bao giờ cũng đợc thể hiện qua hiện tợng, còn hiện tợng bao giờcũng phản ánh một mặt, một khía cạnh nào đó của bản chất Tuy nhiên, cáchiện tợng phản ánh bản chất không nh nhau Có hiện tợng phản ánh bản chấtkhá trực tiếp, rõ ràng Ngợc lại, có hiện tợng phản ánh bản chất một cáchquanh co, phức tạp và trong nhiều trờng hợp, các sự vật thờng tìm cách chegiấu bản chất của mình
Bản chất mang tính ổn định tơng đối, còn hiện tợng biến đổi thờngxuyên Hiện tợng là sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, nhng điều kiện,hoàn cảnh bên ngoài không đồng nhất, vì vậy ở những môi trờng khác nhau thìhiện tợng cũng khác nhau
Trong thực tế, bản chất cũng không phải là cái hoàn toàn cố định TheoV.I.Lênin "không phải chỉ riêng hiện tợng là tạm thời, chuyển động, lu động, bị
tách rời bởi những giới hạn chỉ có tính chất ớc lệ, mà bản chất của sự vật cũng
nh thế"1
Trong đời sống xã hội, bản chất của một con ngời có thể thay đổi donhững tác động mạnh mẽ, lâu dài của hoàn cảnh sống, của giáo dục Nhng sựbiến đổi này nhiều khi rất phức tạp và đòi hỏi phải đợc củng cố, duy trì bằnghàng loạt các biện pháp khác nhau
1 V.I.Lê nin: Toàn tập, Nxb.TB, M.1981, t.29, tr.268
34
Trang 35c ý nghĩa phơng pháp luận của mối quan hệ giữa bản chất và hiện tợng
Vì bản chất là cái chi phối sự vận động và biến đổi của sự vật nên nhậnthức phải đi đến nắm đợc bản chất của sự vật Nắm đợc bản chất của sự vật mới
có thể cải tạo nó Muốn hiểu đợc bản chất của sự vật phải phân tích các hiện ợng một cách có hệ thống Trong nhận thức cần tránh suy diễn về bản chất sựvật một cách tuỳ tiện, đồng thời cũng không nên chỉ căn cứ vào một vài hiện t-ợng cá biệt, không căn bản mà quy thành bản chất
t-Vì các hiện tợng hết sức đa dạng và thờng không phản ánh bản chất mộtcách giản đơn nên việc phân tích các hiện tợng phải hết sức khoa học và phảikhách quan
Vì bản chất mang tính ổn định tơng đối nên muốn thay đổi bản chấtphải có sự tác động đồng bộ, kiên trì, không nên nhìn nhận sự thay đổi bảnchất một cách giản đơn Việc nhận thức bản chất rất phức tạp nên không chỉmột lần là xong Trong nhiều trờng hợp cụ thể, việc nhận thức phải đi từ bảnchất cấp I đến bản chất cấp II tránh những kết luận vội vàng, giản đơn về mộtbản chất
là cái tồn tại, cái hiện có trong thế giới khách quan
Hiện thực không chỉ có hiện thực vật chất mà còn có hiện thựctinh thần Tuy nhiên, cái cơ bản nhất bao giờ cũng là hiện thực vật chất
b Phân loại các khả năng
Khả năng có nhiều loại và vai trò của các khả năng không giống nhau.Vì vậy, việc phân biệt các khả năng sẽ giúp cho con ngời có thể xác định mụctiêu hoạt động đúng đắn
Những khả năng do nguyên nhân bên trong tạo ra gọi là khả năng tấtnhiên
Những khả năng do nguyên nhân bên ngoài tạo sự tạo ra gọi là khả năngngẫu nhiên
Tuy nhiên, đối với các khả năng tất nhiên, cũng có khả năng có đủ điềukiện để chuyển thành hiện thực Đó là khả năng gần Thí dụ: khả năng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay là khả năng gần Ngợc lại, cũng
có những khả năng cha có đủ điều kiện để trở thành hiện thực nh khả năng xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam gọi là khả năng xa
Trang 36c Mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực
Mọi khả năng đều nằm trong hiện thực, đều có cơ sở là hiện thực Vìvậy, hiện thực nào cũng đợc chứa đựng các khả năng
Mọi khả năng đều có thể trở thành hiện thực khi có đủ điều kiện Trongxã hội, để tạo ra những điều kiện cho khả năng chuyển thành hiện thực, nhân
tố chủ quan có vai trò hết sức to lớn Con ngời có thể thúc đẩy quá trình này,cũng có thể kìm hãm hoặc triệt tiêu quá trình này
d ý nghĩa phơng pháp luận của mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực
Vì hiện thực nào cũng chứa đựng khả năng nên khi nhận thức phải biếtphát hiện ra các khả năng, phân biệt rõ các loại khả năng, căn cứ vào khả năng
mà đề ra mục tiêu hành động
Vai trò của nhân tố chủ quan hết sức quan trọng trong việc chuyển khảnăng thành hiện thực, vì vậy phải biết ngăn chặn những khả năng xấu và tạomọi điều kiện thuận lợi, khai thác phát huy những sức mạnh vật chất hoặc tinhthần để thúc đẩy quá trình chuyên những khả năng tốt thành hiện thực
III Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1 Quy luật từ những thay đổi về lợng dẫn đến những thay đổi về chất và
ng-ợc lại
a Khái niệm về chất và lợng
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy luật khách quan vốn cócủa sự vật hiện tợng, là sự thống nhất các thuộc tính làm cho nó là nó và phânbiệt nó với những cái khác
Các sự vật khác nhau thờng đợc tạo bởi các nhân tố khác nhau Chảnghạn, nớc (H20), vôi sống (CaO), muối ăn (NaCL) là những chất khác nhau docác nhân tố tạo thành chúng khác nhau Tuy vậy, cũng có khi cùng một loạinguyên tố nhng do cách sắp xếp khác nhau nên cũng tạo thành những chấtkhác nhau Ví dụ: than chì và kim cơng đều do các bon tạo thành Sự khácnhau về chất của chúng là do cách sắp xết khác nhau của nguyên tố này tạonên
Nh vậy, chất không phải chỉ đợc tạo bởi các nguyên tố mà còn bởi cáchsắp xếp các nhân tố
Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính nhng mỗi thuộc tính lại có thể đặc trngcho một chất Thành thử, một vật không phải chỉ có một chất mà có nhiều chất,
có vô vàn chất Chẳng hạn, muối có thể gọi là chất muối, chất mặn, chất kếttinh, chất hoà tan
Khác với chất, lợng là một phạm trù triết học dùng để chỉ những quy
định vốn có của sự vật về quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, pháttriển của một vật
36
Trang 37Lợng có thể xác định cụ thể, chính xác bằng các công cụ đo lờng Lợngcũng có thể chỉ đợc xác định trên cơ sở những căn cứ nào đó đặc biệt là các l-ợng xã hội Thí dụ: ý thức chính trị, năng lực công tác, trình độ học vấn củamột cá nhân chỉ có thể xác định dựa vào những tiêu chí xác định
Mỗi sự vật có nhiều chất khác nhau thì chúng cũng có nhiều lợng khácnhau, vì lợng bao giờ cũng là lợng của một chất xác định
b Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lợng và sự thay đổi về chất
Sự biến đổi của mọi sự vật, hiện tợng bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổicủa lợng Song trong một giới hạn nào đó, lợng biến đổi vẫn cha làm chất biến
đổi ngay Chẳng hạn, trong khoảng từ 0oC đến 100oC, dù nhiệt độ của nớc thay
đổi thế nào nớc vẫn là nớc lỏng Khoảng giới hạn đó đợc gọi là độ
Vậy, độ là khoảng giới hạn mà ở đó lợng và chất thống nhất với nhau,
nghĩa là mọi sự biến đổi về lợng cha làm cho chất biến đổi căn bản
Những điểm nh 0oC hay 100oC đối với nớc lỏng đợc gọi là điểm nút
Điểm nút là những điểm giới hạn mà ở đó bất kỳ sự biến đổi nào về lợng cũng
đa ngay tới sự biến đổi về chất
Quá trình chất cũ chuyển thành chất mới gọi là bớc nhảy Bớc nhảy cónhiều loại Xét về mặt thời gian, có thể phân chia thành bớc nhảy đột biến và bớcnhảy dần dần Bớc nhảy đột biến là những bớc nhảy diễn ra trong thời gian ngắn.Bớc nhảy dần dần là những bớc nhảy diễn ra trong một thời gian dài, trong đónhững chất mới hình thành và những cái cũ đợc đào thải từng bớc
Xét về quy mô, có thể chia thành bớc nhảy toàn bộ và bớc nhảy cục bộ.Bớc nhảy toàn bộ là sự thay đổi căn bản về chất của cả sự vật Bớc nhảy cục bộ
là sự thay đổi về chất của một bộ mặt, một bộ phận, hay một số yếu tố nào đócủa sự vật
Đó là quá trình lợng đổi dẫn đến chất đổi Song không chỉ có sự biến đổicủa lợng dẫn đến sự biến đổi của chất mà chính sự biến đổi của chất cũng làmcho lợng biến đổi Chính sự hình thành chất mới lại làm cho lợng biến đổi vớiquy mô lớn hơn và tốc độ nhanh hơn Nhng trong chất mới lợng cũng chỉ biến
đổi hết độ của chất ấy và khi đến điểm nút nó lại đòi hỏi phải có sự biến đổi vềchất tiếp theo Cứ nh vậy, sự biến đổi phát triển không ngừng Đó chính là quyluật vận động phát triển trong thế giới khách quan Quy luật này đã làm cho sựphát triển đi theo con đờng vừa tiệm tiến vừa nhảy vọt, vừa liên tục vừa đứt
Trang 38Đối với một chất xác định, sự biến đổi về lợng là có giới hạn Vì vậy, khi
sự biến đổi về lợng đã đến điểm nút phải có sự biến đổi về chất kịp thời, tránh
t tởng bảo thủ trì trệ
Một chiến lợc nguy hiểm nhất của bọn đế quốc hiện nay là diễn biến hoàbình Thực chất của "Diễn biến hoà bình" là tác động liên tục và lâu dài nhằmtừng bớc làm suy giảm lòng tin vào lý luận cách mạng và vào Đảng Cộng sản.Thông qua sự biến đổi về lợng chúng muốn làm thay đổi về chất đội ngũ cán
bộ và cả chế độ xã hội Vì vậy, phải có tinh thần cảnh giác cao đối với âm munày
2 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)
a Bản chất của mâu thuẫn
Từ thời cổ đại các mặt mâu thuẫn trong thế giới khách quan đã đợcphát hiện
Kế thừa t tởng biện chứng trong lịch sử loài ngời, Mác, Ăngghen, Lênin
đã xây dựng nên một lý thuyết khoa học về mâu thuẫn Theo các ông, mâuthuẫn bao giờ cũng là mâu thuẫn của bản thân sự vật, hiện tợng Mâu thuẫn làhiện tợng phổ biến trong tự nhiên, xã hội và t duy Mọi sự vật, hiện tợng đềuchứa mâu thuẫn và mâu thuấn là nguồn gốc của mọi sự vận động và biến đổi
Theo quan điểm mácxít, mâu thuẫn là sự tác động qua lại của các mặt
đối lập Các mặt đối lập đợc hiểu là những mặt (những yếu tố, những bộ phận)
có thuộc tính hoặc có khuynh hớng vận động ngợc chiều nhau, tồn tại trongcùng một sự vật hay hệ thống sự vật, tác động qua lại với nhau tạo nên sự vận
động và biến đổi của sự vật đó Những mặt nh âm và dơng trong một phân tửhay nguyên tử, đồng hoá và dị hoá trong một cơ thể sinh vật, các giai cấp đốikháng trong một hình thái kinh tế xã hội đợc gọi là các mặt đối lập
Với t cách là những bộ phận tạo thành sự vật, các mặt đối lập trớc hếtphải thống nhất với nhau
Sự thống nhất của các mặt đối lập đợc hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa rộnghay nghĩa chung nhất, sự thống nhất của các mặt đối lập là sự kết hợp với nhau, sự n-
ơng tựa vào nhau và bổ sung cho nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau
Tuy nhiên, sự thống nhất còn đợc hiểu theo một nghĩa hẹp hơn Đó là sự
đồng nhất, phù hợp, tác động ngang nhau
Sự "đấu tranh" của các mặt đối lập là sự bài trừ phủ định lẫn nhau, là sựtriển khai của các mặt đối lập
Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các mặt đối lậpchuyển hoá lẫn nhau Sự chuyển hoá của các mặt đối lập diễn ra dới nhiều hìnhthức
38
Trang 39Hình thức chuyển hoá hết sức đa dạng Có khi chỉ là sự chuyển hoá từng
bộ phận Có khi cả hai mặt đối lập đều bị triệt tiêu và chuyển thành những mặt
đối lập mới
Nh vậy, sự tác động qua lại của các mặt đối lập là cơ sở căn bản nhất tạonên sự vận động và biến đổi của sự vật Đồng thời chính mối quan hệ gữachúng tạo thành mâu thuẫn rất đa dạng của sự vật
b Phân loại mâu thuẫn
Để xác định rõ vai trò của từng mâu thuẫn, triết học Mác phân chia mâuthuẫn thành các loại khác nhau Trong đó phải chú ý phân biệt mâu thuẫn bêntrong và mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại của các mặt đối lập tạo thành
sự vật Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự vật này và sự vật khác
Mâu thuẫn bên trong vẫn là cái quyết định trực tiếp sự vận động và biến
đổi của sự vật Mâu thuẫn bên ngoài nhiều khi rất quan trọng nhng sự tác độngcủa nó phải thông qua mâu thuẫn bên trong Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãmmâu thuẫn bên trong
Trong lĩnh vực xã hội phải phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đốikháng
Mâu thuẫn đối kháng thực chất là mâu thuẫn giữa các giai cấp có lợi íchcơ bản đối lập nhau
Chủ nghĩa Mác chỉ dùng khái niệm mâu thuẫn đối kháng để chỉ một loạimâu thuẫn trong xã hội có giai cấp, ngoài xã hội đó, mâu thuẫn vẫn còn nhng
đắn Nhận định không đúng về mâu thuẫn sẽ dẫn đến những quyết định vàhành động sai lầm
Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn còn phải tuỳ thuộc vào những điềukiện, hoàn cảnh cụ thể Phải tránh t tởng nôn nóng, máy móc khi giải quyếtmâu thuẫn
Trang 403 Quy luật phủ định của phủ định
a Phủ định biện chứng và những đặc điểm cơ bản của nó
Trong triết học đã có nhiều quan niệm khác nhau về phủ định
Phủ định với nghĩa chung nhất là sự không thừa nhận, sự loại bỏ hay sựthay thế một sự vật, hiện tợng nào đó
Nhng phủ định có hai loại khác nhau: phủ định biện chứng và phủ địnhsiêu hình
Phủ định siêu hình là sự tác động từ bên ngoài, là sự phá hủy, thủ tiêu sựvật, chấm dứt sự tồn tại và phát triển của nó
Đối lập với phủ định siêu hình là phủ định biện chứng Phủ định biệnchứng là sự nảy sinh sự vật mới để thay thế sự vật cũ do những tiền đề vànhững nhu cầu phát triển của bản thân sự vật cũ tạo ra
Phủ định biện chứng có hai đặc điểm cơ bản:
- Phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định Nó là kết quả của sự thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong chính sự vật
- Phủ định biện chứng mang tính kế thừa Kế thừa là sự duy trì một số đặctrng, đặc điểm của cái bị phủ định Đây là điểm khác biệt nhất giữa phủ định biệnchứng và phủ định siêu hình, nó làm cho sự phát triển không cắt đứt với quá khứ.Chính vì vậy, phủ định biện chứng “là sự phủ định coi nh là vòng khâu của liên
hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định"1
Tuy nhiên, sự duy trì cái khẳng định không có nghĩa là giữ nguyên cái cũ
mà là đổi mới, phát triển, bổ sung để nâng cái đợc kế thừa lên một trình độmới Bản thân sự kế thừa bao giờ cũng có chọn lọc, có phê phán
Chính phép biện chứng duy vật mácxít là sự phủ định biện chứng phépbiện chứng duy tâm của Hêghen ở đây Mác, Ăngghen đã kế thừa những hạtnhân hợp lý của triết học Hêghen, nhng đồng thời các ông cũng cải tạo căn bảnhọc thuyết của Hêghen thành phép biện chứng duy vật, đa phép biện chứng
"lộn đầu xuống đất" của Hêghen đứng trở lại trên đôi chân của nó
b Phủ định của phủ định - vòng khâu của sự phát triển
Thực tế sự phát triển là quá trình phủ định nối tiếp nhau Nhng những sựphủ định này không phải là sự kế tiếp giản đơn mà lại thông qua những vòngkhâu xác định
Mỗi vòng khâu thờng có ít nhất hai lần phủ định liên tiếp Lần phủ địnhthứ nhất tạo ra sự vật mới đối lập với sự vật ban đầu Lần phủ định thứ hai tạo
ra sự vật mới về hình thức giống với cái bị phủ định đầu tiên, nhng về nội dung
nó lại phát triển ở trình độ cao hơn Lần phủ định thứ hai mới thực sự khai thác
và phát huy đầy đủ những nhân tố hợp lý của cái bị phủ định đầu tiên để hoàn
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.TB, M.1981, t.29, tr.245
40