BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM NGUYỄN VĂN BỔN TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG VÀ LẠM PHÁT LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ TP..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
NGUYỄN VĂN BỔN
TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG VÀ LẠM PHÁT LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Đại học kinh tế TP HCM
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Sử Đình Thành
Phản biện 1: Phản biện 2: .……… Phản biện 3: Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại: Vào hồi giờ ngày tháng năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện khoa học tổng hợp TP HCM
Thư viện Đại học kinh tế TP HCM
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
1 Nguyen, V B (2016) The role of institutional quality in the relationship between FDI and economic growth in Vietnam:
Empirical evidence from provincial data The Singapore Economic
Review, Vol 00, No 0 (2016) 1650022.1-23 (23 pages)
2 Nguyen, V B (2015) The effects of public debt, inflation and
their interaction on economic growth in developing countries Asian
Journal of Empirical Research 5(11), 221-236
3 Nguyen, V B (2015) The relationship between public debt and inflation in developing countries: Empirical evidence based on
difference panel GMM Asian Journal of Empirical Research 5(9),
102-116
4 Nguyen, V B (2015) Effects of Public Debt on Inflation in Developing Economies of Asia: An Empirical Evidence Based on
Panel Differenced GMM Regression and PMG Estimation The
Empirical Economics Letters 14(4), 341-351
5 Nguyen, V B (2015) Effects of fiscal deficit and money M2 supply on inflation: Evidence from selected economies of Asia
Journal of Economics, Finance & Administrative Science 20(38),
49–53
6 Nguyen, V B (2014) Current Account and Fiscal Deficits: Evidence of Twin Divergence from Selected Developing Economies
of Asia Southeast Asian Journal of Economics 2(2), 33-48
7 Nguyễn Văn Bổn & Nguyễn Minh Tiến (2014) Các nhân tố quyết
định dòng vốn FDI ở các nước Châu Á Tạp chí Khoa học Trường
Đại học Cần Thơ, 31(2014), 124-131
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bối cảnh nghiên cứu cho thấy chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động đồng thời của nợ công, lạm phát, và tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế cho các nước đang phát triển Vì vậy, luận án
“Tác động của nợ công và lạm phát lên tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển” đã được lựa chọn để phân tích và nghiên cứu
thực nghiệm
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài sẽ hướng đến hai mục tiêu sau: (1) Làm rõ mối quan hệ giữa
nợ công và lạm phát cho các nước đang phát triển
(2) Đánh giá thực nghiệm tác động của nợ công, lạm phát, và tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế cho các nước này
3 Phương pháp nghiên cứu
Làm rõ mối quan hệ giữa nợ công và lạm phát cho các nước đang phát triển trong mô hình nghiên cứu và đánh giá thực nghiệm các tác động của nợ công, lạm phát, và tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế ở các nước này
So sánh các tác động này cho ba mẫu nghiên cứu: tổng thể, Châu
Á và Châu Phi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mối quan hệ giữa nợ công và lạm phát; tác động của nợ công, lạm
phát, và tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế cho 60 nước đang phát triển ở Châu Á, Mỹ Latin, và Châu Phi trong giai đoạn
1990 – 2014
5 Ý nghĩa của đề tài
Đóng góp có ý nghĩa khoa học cho lĩnh vực nghiên cứu về chủ đề này và cho một số quốc gia cụ thể như Việt Nam
Trang 5Đưa ra những phát hiện mới mang tính khoa học về tác động đồng thời của nợ công và lạm phát, đặc biệt là biến tương tác lên tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển
Hình thành các cơ sở lý luận để giúp các nhà hoạch định chính sách công có cái nhìn khoa học khi đưa ra các quyết sách nhằm phát triển kinh tế mang tính bền vững, tránh được khủng hoảng nợ công
6 Bố cục của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án bao gồm 5 chương
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.1 Nền tảng lý thuyết nợ công và lạm phát
1.1.1 Lý thuyết nợ công
Theo IMF (2010), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công Đi kèm với đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ và khu vực các tổ chức công
Còn theo WB (2002), nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh
Tác động kinh tế của nợ công
Nautet & Van Meensel (2011) cho rằng tác động của chính sách tài khóa – và từ đó của nợ công – lên tăng trưởng kinh tế luôn là chủ đề của các cuộc tranh luận giữa các nhà kinh tế học
Tác động trong ngắn hạn
Trong ngắn hạn, các công cụ tài khóa dùng để củng cố kỷ luật ngân sách sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế Thực vậy, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng các số nhân ngân sách là dương trong ngắn hạn
Tác động trong dài hạn
Trang 6Ngược lại với các tác động trong ngắn hạn, tác động dài hạn của việc củng cố tài khóa để đảm bảo tính bền vững của tài trợ công là tích cực Các tác động bao gồm sụt giảm lãi suất dài hạn do sự thu hẹp trong nguồn cung trái phiếu chính phủ trên thị trường và sụt giảm phần bù rủi ro Ngoài ra, sự sụt giảm lãi suất phải trả từ củng cố tài khóa sẽ giúp các nguồn lực cho chi tiêu công hiệu quả hơn hoặc giảm bớt gánh nặng thuế
Các cơ chế truyền dẫn
Nautet & Van Meensel (2011) nhận định có nhiều cách trong đó nợ công tăng (giảm) có thể tác động âm (dương) lên hoạt động kinh tế trong dài hạn Có ba cơ chế truyền dẫn chính: Trước tiên, nợ công tăng nói chung tương ứng với tiết kiệm của chính phủ giảm, dẫn đến tiết kiệm quốc gia ròng giảm Ngoài ra, nợ công tăng đưa đến chi phí trả lãi cao hơn Cuối cùng, nợ công tăng đưa đến rủi ro vỡ nợ, và làm tăng chi phí rủi ro
1.1.2 Lý thuyết lạm phát
Định nghĩa: Theo Samuelson & Nordhaus (1989), lạm phát biểu thị
một sự tăng lên trong mức giá chung
Tỷ lệ lạm phát (năm t) = mức giá (năm t) − mức giá (năm t − 1)
mức giá (năm t − 1) x100
Còn theo trang web của World Bank thì lạm phát, được đo lường bởi chỉ số giá tiêu dùng, thể hiện sự thay đổi (%) hàng năm về chi phí mà người tiêu dùng bình thường phải trả cho một rỗ hàng hóa và dịch vụ (có thể cố định hoặc thay đổi) ở những khoảng thời gian nhất định (thường là theo năm) Trong khi đó, theo website của IMF, lạm phát
đo lường mức độ đắt đỏ hơn của một rỗ các hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Tác động kinh tế của lạm phát
Trang 7- Tác động đến phân phối thu nhập và của cải
- Tác động đến hiệu quả kinh tế
- Tác động lên kinh tế vĩ mô
1.1.3 Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và nợ công
Nghiên cứu của Adams et al (2010) cho thấy sự thay đổi của nợ công phụ thuộc vào lãi suất vay bình quân gia quyền, giá trị của đồng nội tệ, tỷ lệ nợ công vay bằng ngoại tệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế, và thặng dư ngân sách cơ sở Đặc biệt, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, sự gia tăng/sụt giảm của lạm phát sẽ dẫn đến sự sụt giảm/gia tăng tương ứng của nợ công
1.2 Khung phân tích nợ công, lạm phát và tăng trưởng
1.2.1 Nợ công và các cân đối vĩ mô
Lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn” và “Cú huých từ bên ngoài”
Qua sự phân tích và lập luận của mình, Samuelson cho rằng các nước đang phát triển trong “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo khổ khó mà
tự thoát ra được Để có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn này ông cho rằng cần phải có “cú huých từ bên ngoài”, nghĩa là các nước đang phát triển cần phải có các nguồn lực trợ giúp từ bên ngoài về vốn, công nghệ, các chuyên gia, trình độ quản lý,…
Mô hình hai khoảng cách (The two-gap model)
Chenery & Strout (1966) trình bày “mô hình hai khoảng cách” với việc phân tích các mối quan hệ giữa nguồn vốn từ nước ngoài và phát triển kinh tế Ý tưởng chủ yếu của mô hình này là chính phủ ở các nước đang phát triển cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực nội tại trong nước và dùng nguồn vốn nước ngoài (dòng vốn đầu tư FDI và vốn viện trợ phát triển ODA) làm đòn bẫy để lấp đầy “khoảng cách đầu tư - tiết kiệm” và “khoảng cách thương mại”
Mô hình ba khoảng cách (The three-gap model)
Trang 8Mô hình ba khoảng cách là sự bổ sung và phát triển từ mô hình hai khoảng cách bởi Bacha (1990), Solimano (1990), và Taylor (1994) Theo đó, các nhà nghiên cứu này bổ sung thêm “khoảng cách thâm hụt ngân sách” vào mô hình do bội chi ngân sách của chính phủ
1.2.2 Nợ công và lạm phát trong các mô hình tăng trưởng nội sinh
Nợ công trong mô hình tăng trưởng nội sinh: Trong nghiên cứu
của mình, Barro (1990) đề cập đến việc gia tăng chi tiêu công của chính phủ để cung cấp hàng hóa công như đầu vào cho việc sản xuất
của khu vực tư
Lạm phát trong mô hình tăng trưởng nội sinh: Trong nghiên cứu
của mình, Chang & Lai (2000) phát triển một mô hình lý thuyết để xem xét ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng trong một nền kinh tế tiền
tệ tăng trưởng nội sinh
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG VÀ LẠM PHÁT LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Mối quan hệ giữa nợ công và lạm phát
Sargent & Wallace (1981) là hai nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra quan điểm sự gia tăng nợ công gây ra lạm phát ở các quốc gia mắc nợ cao
và được xác nhận ở hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm (Kwon et al., 2009; Bildirici & Ersin, 2007; Ahmad et al., 2012; Nastansky et al., 2014) Trong khi đó, Davig & Leeper (2011) và Martin (2015) sử dụng phân tích lý thuyết để xem xét ảnh hưởng của nợ công cao lên lạm phát Ngược lại, Akitoby et al (2014) và Hilscher & Reis (2014) nghiên cứu tác động của lạm phát lên nợ công
2.2 Nợ công, lạm phát và tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Nợ công và tăng trưởng kinh tế
Trang 9Ở dòng nghiên cứu với kết quả tác động dương thì có Moore & Thomas (2010), Egbetunde (2012), Al-Zeaud (2014), Fincke & Greiner (2015b), và Spilioti & Vamvoukas (2015) Ở dòng nghiên cứu với kết quả tác động âm thì các nghiên cứu tiêu biểu cho quốc gia riêng lẻ gồm: Balassone et al (2011), Bal & Rath (2014,), Akram (2015), Lee & Ng (2015), Mitze & Matz (2015) Các nghiên cứu cho nhóm quốc gia: Schclarek (2004), DiPeitro & Anoruo (2012), Panizza & Presbitero (2012), Šimić & Muštra (2012), Calderón & Fuentes (2013), Szabó (2013), Časni et al (2014), Zouhaier & Fatma (2014), Eberhardt & Presbitero (2015), Fincke & Greiner (2015a) Liên quan đến tác động phi tuyến của nợ công lên tăng trưởng kinh
tế có các nghiên cứu cho các nhóm nước đang phát triển (Maghyereh
et al., 2003; Pattillo et al., 2011; Kaur & Mukherjee, 2012; Craigwell
et al., 2012; Wright & Grenade, 2014), các nhóm nước phát triển (Cecchetti et al., 2011; Checherita-Westphal & Rother, 2012; Minea
& Parent, 2012; Baum et al., 2013; Afonso & Alves, 2014; Mencinger et al., 2014; Topal, 2014) và hỗn hợp của hai nhóm này (Rogoff & Reinhart, 2010; Real et al., 2014; Égert, 2015)
2.2.2 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Các nghiên cứu phát hiện ra tác động dương của lạm phát: Mallik & Chowdhury (2001), Xiao (2009), Raza et al (2013)
Các nghiên cứu phát hiện tác động âm nhiều hơn và gần như được thực hiện cho một nhóm các quốc gia: Gillman et al (2004), Gillman
& Harris (2008), Bittencourt (2012), Kasidi & Mwakanemela (2012), Kaouther & Besma (2014), Bittencourt et al (2015), Samimi & Kenari (2015)
Các nghiên cứu tác động của ngưỡng lạm phát lên tăng trưởng cho
Trang 10cho từng quốc gia riêng lẻ như Mubarik & Riazuddin (2005), Risso
& Carrera (2009), Marbuah (2010), Ayyoub et al (2011), Fakhri (2011), Mohanty et al (2011), Bawa & Abdullahi (2012) và Jayaraman et al (2013) Với nhóm các quốc gia thì có nhóm đang phát triển (Bick, 2010; Ghazouani, 2012; Seleteng et al., 2013; Vinayagathasan, 2013; Baglan &Yoldas, 2014; Thanh, 2015), nhóm phát triển (Omay & Öznur Kan, 2010), và nhóm hỗn hợp (Khan & Senhadji, 2001; Burdekin et al., 2004; David et al., 2005; Li, 2006; Pollin & Zhu, 2006; Vaona & Schiavo, 2007; Espinoza et al., 2010; López-Villavicencio & Mignon, 2011; Trupkin & Ibarra, 2011; Jha
& Dang, 2012; Kremer et al., 2013)
2.2.3 Tác động đồng thời của nợ công, lạm phát và tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế
Có 2 nghiên cứu (Taghavi, 2000; Kočner, 2015) đánh giá tác động của nợ công lên lạm phát và tăng trưởng trong khi 2 nghiên cứu còn lại (Chudik et al., 2013; Lopes da Veiga et al., 2015) đánh giá tác động đồng thời của nợ công và lạm phát lên tăng trưởng
2.3 Một số nhận xét và khoảng trống nghiên cứu
Thông qua việc lược khảo các nghiên cứu từ năm 2000 đến nay, tác giả của luận án nhận thấy chưa có một nghiên cứu nào đánh giá các tác động đồng thời của nợ công, lạm phát, và tương tác lên tăng trưởng kinh tế Mặc dù không chỉ ra biến tương tác cụ thể nhưng Akitoby et al (2014) cho thấy tác động của biến này Do vậy, biến tương tác có thể có tác động nhất định lên tăng trưởng kinh tế do bởi một cú shock của lạm phát cao vừa có tác động trực tiếp (đến từ cú shock này) vừa có tác động gián tiếp (thông qua biến tương tác) lên tăng trưởng kinh tế Đây chính là khoảng trống nghiên cứu
CHƯƠNG 3
Trang 11MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung phân tích thực nghiệm của mô hình
Khung phân tích bắt đầu với hàm sản xuất Cobb-Douglas truyền thống và được biến đổi dựa trên các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm và đạt được kết quả cuối cùng như sau:
3.2 Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Mối quan hệ giữa nợ công và lạm phát
∆𝐼𝑁𝐹𝑖𝑡 = 𝛼𝑖𝑡+ 𝛽0𝐼𝑁𝐹𝑖𝑡−1+ 𝛽1𝐷𝐸𝐵𝑖𝑡+ 𝑍𝑖𝑡𝛽′2+ 𝜂𝑖+ 𝜉𝑖𝑡
∆𝐷𝐸𝐵𝑖𝑡 = 𝛼𝑖𝑡+ 𝛽0𝐷𝐸𝐵𝑖𝑡−1+ 𝛽1𝐼𝑁𝐹𝑖𝑡+ 𝑍𝑖𝑡𝛽′2+ 𝜂𝑖+ 𝜉𝑖𝑡
Với η i ~ iid(0, σ η ); ζ it ~ iid(0, σ ζ ); E(η i ζ it ) = 0 Biến INF là lạm phát
và DEB là nợ công; Z it là tập các biến kiểm soát; η i là tác động cố
định có đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian, không quan sát được và ζ it là đại lượng sai số
3.2.2 Tác động của nợ công, lạm phát, và tương tác của chúng lên tăng trưởng
𝑌𝑖𝑡− 𝑌𝑖𝑡−1= 𝛼𝑖𝑡+ 𝛽0𝑌𝑖𝑡−1+ 𝑋𝑖𝑡𝛽1′+ 𝑍𝑖𝑡𝛽2′+ 𝜂𝑖+ 𝜉𝑖𝑡
Với η i ~ iid(0, σ η ); ζ it ~ iid(0, σ ζ ); E(η i ζ it ) = 0 Biến Y it là GDP bình
quân đầu người thực; X it là các biến quan tâm (nợ công, lạm phát, và
tương tác của chúng); Z it là các biến kiểm soát (đầu tư tư nhân, lực lượng lao động, thu ngân sách chính phủ, cơ sở hạ tầng và độ mở
thương mại); η i là tác động cố định có đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian, không quan sát được và ζ it là đại lượng sai số
Trang 123.2.3 Phương pháp ước lượng sai phân dữ liệu bảng Bond
Arellano-Có nhiều vấn đề nghiêm trọng về kinh tế lượng từ việc ước lượng các phương trình thực nghiệm Vì thế, đề tài quyết định sử dụng phương pháp ước lượng này (GMM sai phân Arellano-Bond, 1991) được đề xuất đầu tiên bởi Holtz-Eakin et al (1988)
3.3 Dữ liệu nghiên cứu và lựa chọn các biến
3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu chéo và dữ liệu chuỗi thời gian được trích xuất để hình thành
dữ liệu bảng của 60 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1990 –
2014 từ World Bank (World Development Indicators) và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (World Economic Outlook) Một vài giá trị bị khuyết của bộ dữ liệu ở một vài quốc gia được lấp đầy bằng cách tham khảo trang website chuyên về dữ liệu vĩ mô www.tradingeconomics.com
3.3.2 Lựa chọn các biến trong mô hình thực nghiệm
Tóm lại, đề tài xác định và tính toán các biến trong mô hình nghiên cứu như sau:
Tăng trưởng kinh tế (lGDP): GDP bình quân đầu người thực với năm cơ sở 2005, đại diện cho tăng trưởng kinh tế Biến này được
Trang 13 Nguồn thu chính phủ (REV): nguồn thu ngân sách chủ yếu từ thuế, được lấy theo % của GDP
Cơ sở hạ tầng (TELE): trong nghiên cứu này là số thuê bao điện thoại cố định trên 100 dân Việc sử dụng số liệu này dựa trên một
số nghiên cứu trước đó (Bissoon, 2012; Nguyen, 2015) và bộ dữ liệu này có sẵn từ World Bank
Độ mở thương mại (OPEN): tỷ lệ giữa tổng xuất nhập khẩu và GDP, được lấy theo % của GDP
CHƯƠNG 4 MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ LẠM PHÁT Ở CÁC
NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 4.1 Giới thiệu
Mục tiêu chính của chương này là sử dụng phương pháp ước lượng GMM sai phân dữ liệu bảng Arellano-Bond để nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa nợ công và lạm phát cho 60 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1990 – 2014
4.2 Các biến trong mô hình thực nghiệm
Các biến chính: Nợ công (PDEB) và Lạm phát (INFL) Các biến kiểm soát: Tăng trưởng (lGDP), Lao động (LABO), Nguồn thu chính phủ (REV), Cơ sở hạ tầng (TELE), Độ mở thương mại (OPEN) Ma
trận các hệ số tương quan được cho trong Bảng 4.1
Table 4.1 Ma trận các hệ số tương quan giữa các biến
PDEB 1.000
lGDP -.24*** -.07** 1.000
PINV -.10 *** -.025 185 *** 1.000