Phạm Minh Hạc, 2001 Nguồn nhân lực hay nguồn lao động bao gồm số người trong độ tuổi lao động trừ những người tàn tật, mất sức lao động nặng và những người ngoài độ tuổi lao động nhưn
Trang 1Môn học
Quản lý khoa học và
công nghệ
Alvivin E.Roth
Trang 3Danh sách nhóm 4
Phương
2 Phạm Thị Thùy Linh 8 Nguyễn Thị Tố Nga
3 Mai Hồng Ngọc 9 Nguyễn Hà Phương
5 Nguyễn Trọng
6 Trần Đăng Mạnh
Trang 5Phần 1: Lý do lựa chọn đề tài
Trang 6Phần 1: Lý do lựa chọn đề tài (tiếp)
Trang 7NĂM 2011 NĂM 2012
KHU VỰC THẾ GIỚI KHU VỰC THẾ GIỚI
Bảng xếp hạng ba trường ĐH, viện của VN theo công bố của SCImago
Phần 1: Lý do lựa chọn đề tài (tiếp)
Trang 8 Số lượng nguồn nhân lực
nghiên cứu KH&CN nhiều
nhưng hiệu quả không cao?
Nguyên nhân do đâu?
Do chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN: chế độ đãi
ngộ, môi trường phát triển,…
Phần 1: Lý do lựa chọn đề tài (tiếp)
Trang 9Phần 1: Cơ sở lý luận và
thực tiễn:
1.Cơ sở lý luận 2.Cơ sở thực tiễn
GS Lê Kim Ngọc
Trang 101 Cơ sở lý thuyết: Khái niệm
Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn
mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập
trong tương lai
(Beng, Fischer & Dornhusch, 1995)
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một
nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó
(GS.TS Phạm Minh Hạc, 2001)
Nguồn nhân lực hay nguồn lao động bao gồm số người trong
độ tuổi lao động (trừ những người tàn tật, mất sức lao động nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc
(Viện nghiên cứu và phát triển Kinh tế-Xã hội)
Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có
thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng người, mà trước hết, là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá
trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Bao gồm những
người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại
Trang 111 Cơ sở lý thuyết: Khái niệm (tiếp)
bao gồm những người đáp ứng được một trong
những điều kiện sau đây:
• Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN;
• những người tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực
KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương
(Sách KH&CN Việt Nam 2003 (tr.61))
và hiện đang công tác, đóng góp cho các hoạt động KH&CN của một đất nước
(Theo UNESCO)
Trang 121 Cơ sở lý thuyết: khái niệm(tiếp)
Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ gồm 3 yếu tố cơ bản: số lượng, chất lượng và cơ cấu.
– Số lượng nguồn nhân lực là tổng số lao động đã và đang
được đào tạo về khoa học và công nghệ, đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội
– Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những phẩm
chất, năng lực, sức mạnh của người lao động về khoa học
và công nghệ đang và sẵn sàng thể hiện trong thực tiễn
phát triển kinh tế – xã hội
– Cơ cấu nguồn nhân lực được quy định chủ yếu bởi cơ cấu
đào tạo lao động và cơ cấu kinh tế Đó là một tỷ lệ nhất định những lao động đã qua đào tạo: công nhân kỹ thuật - trung cấp nghề - đại học và trên đại học Hiện nay, cơ cấu này của Việt Nam là: 0,92 -1,13 - 1; của thế giới là: 5 -3 -1
Trang 131 Cơ sở lý thuyết: khái niệm (tiếp)
“Phát triển nguồn nhân lực như là toàn bộ kỹ năng của dân số - population,
liên quan đến sự phát triển của các quốc gia, phát triển con người toàn diện,
trong đó phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của các giá trị nhân văn, nhân đạo –
đó là nguyên tắc chỉ đạo các con đường phát triển” (Theo UNESCO)
“ Phát triển nguồn nhân lực là chủ thể và khách thể của sự phát triển quốc gia,
nó bao gồm toàn bộ khía cạnh kinh tế và công nghiệp, trong đó có đề cập đến sự nâng cao khả năng của con người, nâng cao năng lực sản xuất, khả năng sáng tạo, khuyến khích các chức năng lãnh đạo… thông qua giáo dục, đào tạo, nghiên cứu” (Theo tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hợp Quốc UNIDO)
“Phát triển nguồn nhân lực là quá trình mở rộng các khả năng tham gia phát
triển nông thôn một cách hiệu quả, bao gồm cả việc tăng cường khả năng sản
Phát triển nguồn nhân lực là nâng cao giá trị nguồn nhân lực con người chủ
yếu trên các phương diện thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực, kỹ năng, thẩm
mỹ, và phát huy tối đa các năng lực đó trong phát triển đất nước.
Phát triển nguồn nhân lực KH&CN là tổng thể các hoạt động nhằm xây
dựng lực lượng lao động KH&CN đủ về số lượng, đảm bảo về chất
lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương nói riêng và của đất nước nói chung thông qua các chủ trương, chính sách của Nhà nước
Trang 141 Cơ sở lý thuyết: Hoạt động phát triển nhân
lực KH&CN (tiếp)
Bao gồm các nội dung:
Tăng cường về số lượng: thông qua hoạt động giáo dục,
đào tạo tại các trường cao đẳng, đại học, các viện, trung tâm nghiên cứu; hoạt động bồi dưỡng tại doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất…
Nâng cao chất lượng: bao gồm nhiều nội dung từ việc
tăng cường thể lực, phát triển thể chất của người lao động, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức đến nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng của nhân lực KH&CN.
Chủ thể tiến hành hoạt động phát triển nhân lực: người
sử dụng lao động; các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng; các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN; bản thân người lao động hoạt động trong lĩnh vực KH&CN…
Đối tượng của phát triển nhân lực là những người đang
và sẽ hoạt động, lao động trong lĩnh vực KH&CN
Trang 151 Cơ sở lý thuyết: Các nhân tố ảnh hưởng đến phát
triển nhân lực KH&CN (tiếp)
Nhóm nhân tố về quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ
tăng dân số: Tăng trưởng dân số tác động trực tiếp tới
số lượng và chất lượng nhân lực KH&CN
Nhóm nhân tố về trình độ phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia: Trình độ phát triển kinh tế góp phần quan trọng vào việc nâng cao mức sống, cải thiện tình hình sức khỏe và dinh dưỡng của các nhà nghiên cứu KH&CN
Giáo dục và đào tạo giữ vai trò quyết định trực tiếp
Trang 16Nhóm nhân tố thuộc về chính sách:
được xác định đúng đắn, có tính khả thi
KH&CN phát triển nhanh, bền vững và đạt kết quả cao
đắn, phù hợp sẽ cản trở việc phát triển nhân lực KH&CN Nếu xảy ra điều này thì hậu quả sẽ khó lường, mà việc khắc phục nó không thể trong thời gian ngắn
1 Cơ sở lý thuyết: Các nhân tố ảnh hưởng đến phát
triển nhân lực KH&CN (tiếp)
Trang 171 Cơ sở lý thuyết: Vai trò của phát triển nhân lực KH&CN đối với
sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước (tiếp)
Góp phần quyết định nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực của đất nước: tạo ra thế hệ cán bộ
lãnh đạo, quản lý có trình độ, năng lực, hiểu biết sâu nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ, sẽ cung cấp cơ
sở khoa học cho các quyết định, các chủ trương chính sách, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư của các cấp lãnh đạo, quản lý có tính khả thi, đạt hiệu quả kinh tế -
xã hội cao
Khai thác và sử dụng hiệu quả hơn phương tiện kỹ
thuật hiện có và thúc đẩy quá trình đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật
Tạo ra năng suất lao động cao với công nghệ ngày
càng hiện đại thúc đẩy đất nước phát triển bền vững
Trang 182 Cơ sở thực tiễn
Biện pháp thu hút các nhà khoa học ở nước ngoài về nước:
đưa ra các điều kiện làm việc ưu tiên, quyền được tự do ra
nước ngoài, và loại bỏ cơ chế bổ nhiệm theo thâm niên, tạo sự cạnh tranh giữa các trường đại học và các tổ chức khoa học
trong nước để đảm bảo các công việc tốt hơn cho các nhà
khoa học Về phần mình, các nhà khoa học khi trở về cũng có nhiều sự lựa chọn: làm việc tại các cơ sở khoa học công, hay
tại các công ty trong nước hoặc nước ngoài Kết quả: Từ năm
1985, đã có 290.000 sinh viên Trung Quốc ra nước ngoài học
tập và gần 200 000 SV về nước làm việc.
Trung Quốc: quan niệm thiết bị
là phần cứng, công nghệ là phần mềm và con người là phần
sống
Trang 19Singapore: Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa
học và công nghệ rõ ràng và bài bản
Đột phá: Chào đón nhân tài ngoại vào bộ máy nhà
nước là giáo sư trong lĩnh vực nghiên cứu và phát
triển Trong số 4,5 triệu lao động Singapore có tới 25%
là người nước ngoài Họ còn được phép đưa người
thân sang sống cùng và được cấp giấy phép định cư và
nhập tịch lâu dài tại Singpapre chỉ trong vài ngày.
Mức lương tương xứng với giá trị của chất xám: đãi
ngộ thỏa đáng cho các giáo sư tiến sĩ đặc biệt làm trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo Tiền lương có thể lên
đến triệu USD/1 năm.
(Web của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật
Trang 20Mỹ rất coi trọng môi trường
sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi
dưỡng và thu hút nhân tài trong KH&CN:
Lương: những Giáo sư cao
cấp, làm việc tại Viện Hàn lâm hay các trường đại học danh tiếng như Đại học Havard, Đại học Yale, Đại học Cambrige, Đại học Chicago (nơi GS Ngô Bảo Châu làm việc) thì có thu nhập vô cùng cao, ở mức trên 300.000 USD/năm
Môi trường làm việc thuận
tiện, thoải mái nhất , chuyên
nghiệp
Giáo dục, đào tạo: , tỷ lệ
chi cho giáo dục ở Mỹ luôn ở
mức trên 5% GDP của quốc
gia
Trang 21Nhật Bản phấn đấu đưa nhà khoa học trở thành một nhà văn hóa lớn :
Đào tạo nguồn nhân lực,
tăng cường tương tác ngang bằng giữa những người có chuyên môn và không có chuyên môn để hai bên cùng hiểu được suy nghĩ của nhau.
Ngoài việc xây tượng đài
hoặc in chân dung các nhà
khoa học lớn trên tiền giấy,
Nhật Bản còn đưa hình ảnh
họ lên chai rượu sake hoặc
lon bia, theo lời GS
Watanabe
Nên nay 25% thanh niên Nhật Bản
muốn chọn các nghề trong lĩnh
vực KH&CN
Trang 22 Thứ nhất, cần xác định đúng vai trò và vị trí của
nguồn nhân lực KH&CN
Thứ hai, phải có hệ thống chính sách đồng bộ:
đào tạo, sử dụng và đãi ngộ.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng
nguồn nhân lực KH&CN: dự báo cầu lao động;
tuyển dụng và tạo điều kiện để họ có cơ hội làm
việc; có chế độ đãi ngộ vật chất thoả đáng
Bài học kinh nghiệm
Trang 23 Thứ tư, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật
cho khoa học - công nghệ như cơ sở nghiên cứu khoa học; trung tâm đào tạo nhân tài có cơ chế thu hút các nhà khoa học nước ngoài, đặc biệt
chuyên gia là Việt kiều
Thứ năm, tăng cường học tập những kinh
nghiệm quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực, trong nghiên cứu khoa học phải lựa chọn chiến lược, phương thức phát triển riêng phù hợp với truyền thống dân tộc và điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam
Trang 252000 (cơ sở cho tỷ lệ đầu tư NSNN cho KHCN 2% GDP hàng năm)
Trang 26Nghị quyết TW Đảng 6 khóa XI khẳng định: “…Nhân lực khoa học và công nghệ là tài nguyên vô giá của đất nước; trí thức khoa học và công nghệ là nguồn lực đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế tri thức Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ, đãi ngộ người tài là đầu tư cho
phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức
mạnh của dân tộc Đảng và Nhà nước có trách nhiệm và chính sách đặc biệt phát triển, trọng dụng và phát huy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ
để khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt,
là lực lượng sản xuất trực tiếp, đưa nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ 21…”
2 Công cụ thực hiện chính sách (tiếp)
Trang 27• Luật KH&CN được Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2001
• Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật KH&CN. Đến nay hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành gồm có 12 văn bản cấp Chính phủ, 14 văn bản cấp Thủ tướng Chính phủ, 98 văn bản cấp Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
• Đến năm 2012, Quốc hội đã ban hành 8 đạo luật chuyên ngành với gần 300 văn bản hướng dẫn thi hành thêm nhiều các luật chuyên ngành trong lĩnh vực
KH&CN như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009, Luật Giao dịch điện tử năm 2005; Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm
2006, Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007, Luật Năng lượng nguyên tử ngày năm 2008, Luật Công nghệ
cao năm 2008, Luật Đo lường năm 2011, v.v
• Quyết định số 4009/QĐ-TTg ngày 29/12/2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực nghành KHCN đoạn 2011-2020
• Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 phê duyệt chiến lượng phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020
(Theo Báo cáo đánh giá thực trạng nội dung và việc thực thi Luật KH&CN năm 2000)
2 Công cụ thực hiện chính sách (tiếp)
Trang 28Luật Khoa học và Công nghệ số 21/2000/QH10: Nghị định
số 81/2002/NĐ-CP, có 12 văn bản cấp Chính phủ, 14 văn bản cấp Thủ tướng Chính phủ, 98 văn bản cấp Bộ, Uỷ ban nhân
dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Điều 34 về đào tạo nguồn nhân lực KH&CN: Hằng năm,
Nhà nước dành một khoản ngân sách để đào tạo, đào tạo lại nhân lực về khoa học và công nghệ ở trong nước và ở nước ngoài…đạt 2% tổng chi ngân sách (tương đương 0,5- 0,6% GDP);
Điều 35 về sử dụng nhân tài KH&CN: Nhà nước trọng
dụng nhân tài, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ sáng tạo và cống hiến…
Điều 36 về chức vụ khoa học: Những người có học vị
tiến sĩ hoặc có công trình nghiên cứu khoa học và công
nghệ xuất sắc…được ưu tiên trong việc xét, bổ nhiệm vào chức vụ khoa học cao
2 Công cụ thực hiện chính sách (tiếp)
Trang 29Dự thảo Luật KH&CN sửa đổi:
Điều 34 bổ sung: Kinh phí của doanh nghiệp tài trợ
cho việc đào tạo, đào tạo lại nhân lực về khoa học và
công nghệ ở trong nước và ở nước ngoài được tính vào chi phí hợp lý
Điều 35 sửa, bổ sung: Nhà nước có chính sách thỏa
đáng về lương, điều kiện làm việc, chỗ ở đối với nhà
khoa học và công nghệ đầu ngành, các nhà khoa học
được giao làm chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công
nghệ quan trọng của quốc gia.
Điều 36 sửa, bổ sung: Việc bổ nhiệm chức danh khoa
học, Những người có học vị tiến sĩ hoặc có công trình
nghiên cứu khoa học và công nghệ xuất sắc bổ nhiệm
vào chức danh khoa học cao hơn, không phụ thuộc vào
thời gian hoạt động khoa học và công nghệ và vị trí hiện đang làm việc
2 Công cụ thực hiện chính sách (tiếp)
Trang 30 Luật công nghệ cao số 21/2008/QH12 tập trung vào Công
nghệ thông tin; Công nghệ sinh học; Công nghệ vật liệu mới;
Công nghệ tự động hóa Có 1 chương để quy định nguồn nhân lực công nghệ cao từ điều 26 đến điều 29:
Ap dụng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp
luật để phát triển nhân lực công nghệ cao.
Cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai,
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu
Nhà nước có cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút, sử dụng nhân lực công nghệ cao, bao gồm: Tạo môi
trường làm việc, sống thuận lợi cho hoạt động công nghệ cao;
Chế độ tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm; Bổ nhiệm vào vị trí then chốt để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công
nghệ của Nhà nước; Ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập cá nhân; Tạo điều kiện tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về công nghệ cao; Tôn vinh, khen thưởng người có thành
tích xuất sắc.
2 Công cụ thực hiện chính sách (tiếp)
Trang 31QUYẾT ĐỊNH PHÊ DUYỆT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2011 – 2020 (Số: 418/QĐ-TTg)
triển công nghệ đạt 9 - 10 người trên một vạn dân; đào tạo
và sát hạch theo chuẩn quốc tế 5.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công
nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước
Đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ đạt 11 - 12 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 10.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước
2 Công cụ thực hiện chính sách (tiếp)