javanica VN1487 trên sâu 3.5.1 Nghiên cứu thành phần loài nấm thuộc chi Isaria và côn trùng vật chủ của chúng ở Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An 33 3.5.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sin
Trang 12.2.1 Nghiên cứu đặc điểm nấm ký sinh côn trùng chi Isaria 6 2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm vòng đời và chu kỳ phát triển của nấm ký sinh trên
2.2.3 Nghiên cứu tuyển chọn nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu hại 18 2.2.4 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh của nấm trên
2.2.5 Nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu khoang 23
2.3.1 Nghiên cứu về nấm ký sinh côn trùng chi Isaria 24 2.3.2 Nghiên cứu tuyển chọn nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu hại 27 2.3.3 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xâm nhiễm và gây bệnh
Trang 22.3.4 Nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu khoang 28 2.4 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề đề tài tập trung nghiên cứu 29
2.4.2 Những vấn đề đề tài tập trung nghiên cứu 29
3.4.1 Thành phần loài nấm thuộc chi Isaria và vật chủ của chúng thu thập ở
3.4.4 Đánh giá ảnh hưởng một số yếu tố đến khả năng gây bệnh của nấm
I javanica VN1487 trên sâu khoang trong phòng thí nghiệm 32 3.4.5 Đánh giá khả năng gây bệnh của nấm I javanica VN1487 trên sâu
3.5.1 Nghiên cứu thành phần loài nấm thuộc chi Isaria và côn trùng vật chủ
của chúng ở Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An 33 3.5.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài nấm Isaria javanica thu
3.5.3 Nghiên cứu tuyển chọn các mẫu phân lập của loài nấm Isaria javanica
3.5.4 Nghiên cứu ảnh hưởng một số yếu tố đến khả năng gây bệnh của nấm
Isaria javanica VN1487 trên sâu khoang trong phòng thí nghiệm 42
Trang 33.5.5 Nghiên cứu khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica VN1487 trên sâu
3.5.6 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 51
4.1.1 Thành phần loài nấm thuộc chi Isaria và vật chủ của chúng thu thập ở
4.1.4 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng gây bệnh của nấm Isaria
javanica VN1487 trên sâu khoang trong phòng thí nghiệm 84 4.1.5 Khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica VN1487 trên sâu khoang
Trang 4CV% Coefficient of variation - Hệ số biến thiên
DNA Deoxyribonucleic acid
RH% Độ ẩm tương đối không khí (%)
SD Standard deviation - Độ lệch chuẩn
PDA Potato Dextrose Agar
psi Pounds per square inch là đơn vị đo áp suất trên một inch vuông
TB Trung bình
toC Nhiệt độ không khí (o
C) VSV Vi sinh vật
VQG Vườn quốc gia
Trang 54.2 Thành phần vật chủ của các loài nấm thuộc chi Isaria thu thập ở Vườn
4.3 Sự đa dạng về vị trí phân bố của các loài nấm thuộc chi Isaria thu thập ở
Vườn quốc gia Pù Mát từ năm 2011 đến 2013 57 4.4 Kết quả giám định tên 4 mẫu phân lập của loài nấm I javanica bằng kỹ
4.5 Thành phần vật chủ và vị trí phân bố của các mẫu phân lập loài nấm
I javanica thu thập ở Vườn quốc gia Pù Mát từ năm 2011 đến 2013 60 4.6 Sự sinh trưởng và phát triển nấm I javanica trên môi trường PDA 64 4.7 Đặc điểm nhận dạng của 3 loài nấm gây bệnh cho côn trùng thu thập
4.8 Thời gian phát triển của nấm I javanica VN1487 trên sâu khoang S litura 67 4.9 Triệu chứng trên sâu khoang S litura bị bệnh do nấm I javanica 72 4.10 Các tiêu chí đánh giá về khả năng gây bệnh của loài nấm I javanica trên
4.11 Các tiêu chí đánh giá về khả năng phát triển của nấm I javanica trên sâu
4.16 Thời gian phát triển của nấm trên sâu khoang S litura ở các nồng độ
Trang 64.17 Tỷ lệ sâu khoang S litura chết ở các tương quan mật độ giữa sâu nhiễm
4.18 Tỷ lệ sâu khoang S litura mọc nấm ở các tương quan mật độ giữa sâu
nhiễm nấm I javanica VN1487 và sâu khỏe 89 4.19 Thời gian phát triển của nấm trên sâu khoang S litura ở các tương quan
mật độ giữa sâu nhiễm nấm I javanica VN1487 và sâu khỏe 90 4.20 Khả năng gây bệnh của nấm I javanica VN1487 cho một số loài vật chủ 91 4.21 Tỷ lệ sâu chết ở các mức mật độ sâu khoang S litura 93 4.22 Tỷ lệ sâu mọc nấm I javanica VN1487 ở các mật độ sâu khoang S litura 94 4.23 Thời gian phát triển của nấm I javanica VN1487 ở các mật độ sâu
4.24 Tỷ lệ sâu chết ở các tuổi sâu khoang S litura 95 4.25 Tỷ lệ sâu mọc nấm I javanica VN1487 ở các tuổi sâu khoang S litura 96 4.26 Thời gian phát triển của nấm I javanica VN1487 ở các tuổi sâu khoang
4.33 Hiệu lực gây bệnh trên sâu khoang S litura sau khi phun nấm I javanica
4.34 Hiệu lực gây bệnh khi thả sâu khoang S litura nhiễm nấm I javanica
4.35 Tỷ lệ sâu khoang S litura mọc nấm I javanica VN1487 trên ô lưới ngoài
4.36 Mật độ bào tử nấm I javanica VN1487 lưu tồn trong đất qua các mùa vụ
Trang 7DANH MỤC HÌNH
1.1 Chu kỳ xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng 14 1.2 Cơ chế xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng 14 4.1 Mẫu vật các loài nấm thuộc chi Isaria thu thập ở Vườn quốc gia Pù Mát
4.2 Tỷ lệ thành phần vật chủ và vị trí phân bố của loài nấm I javanica thu
thập ở Vườn quốc gia Pù Mát từ năm 2011 đến 2013 59 4.3 Mẫu vật loài nấm I javanica thu thập ở Vườn quốc gia Pù Mát từ năm
4.5 Mẫu vật và tản nấm của 3 loài nấm sau 10 ngày nuôi cấy trên môi trường PDA 66 4.6 Thời gian phát triển của nấm I javanica VN1487 trên 3 loài vật chủ 68 4.7 Vòng đời và chu kỳ phát triển của nấm I javanica VN1487 trên sâu
4.13 Tỷ lệ sâu khoang S litura chết và mọc nấm ở các tương quan mật độ
giữa sâu nhiễm nấm I javanica VN1487 và sâu khỏe 89 4.14 Nấm I javanica VN1487 ký sinh trên một số loài vật chủ 92 4.15 Tỷ lệ sâu chết và mọc nấm I javanica VN1487 ở các mật độ sâu khoang
Trang 84.18 Tỷ lệ sâu khoang S litura chết và mọc nấm I javanica VN1487 ở các
4.19 Tỷ lệ sâu khoang S litura chết và mọc nấm I javanica VN1487 ở các độ
4.20 Diễn biến tỷ lệ sâu khoang S litura chết và mọc nấm hàng ngày sau khi
phun nấm I javanica VN1487 ở ô lưới ngoài đồng ruộng 107 4.21 Diễn biến tỷ lệ sâu khoang S litura chết và mọc nấm hàng ngày sau khi
phun nấm I javanica VN1487 ở trong phòng thí nghiệm 107 4.22 Diễn biến tỷ lệ sâu khoang S litura chết và mọc nấm hàng ngày sau khi
thả sâu nhiễm nấm I javanica VN1487 ở ô lưới ngoài đồng ruộng 109 4.23 Sâu khoang S litura bị nấm I javanica VN1487 ký sinh ở ô lưới ngoài
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Thúy
Tên luận án: Nghiên cứu đặc điểm gây bệnh của nấm Isaria javanica (Friederichs &
Bally) Samson & Hywel-Jones ký sinh sâu khoang ở Nghệ An
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 62.62.01.12
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica trên vật chủ
sâu khoang trong mối quan hệ với các yếu tố liên quan, từ đó đánh giá, lựa chọn các mẫu phân lập triển vọng cũng như đề xuất các biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng chế phẩm sinh học từ nấm ký sinh côn trùng trong bảo vệ thực vật
Phương pháp nghiên cứu
* Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu thành phần loài nấm thuộc chi Isaria và vật chủ của chúng thu thập ở
Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An;
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài nấm Isaria javanica thu thập ở
Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An;
- Tuyển chọn các mẫu phân lập của loài nấm Isaria javanica triển vọng để phòng
trừ sâu khoang;
- Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica VN1487 trên sâu khoang ở phòng thí nghiệm;
- Đánh giá khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica VN1487 trên sâu khoang ở
ô lưới ngoài đồng ruộng
* Vật liệu nghiên cứu:
- Chi Isaria, loài Isaria javanica (Friederichs & Bally) Samson & Hywel-Jones
(Hypocreales: Cordycipitaceae) thu thập tại Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An
- Vật chủ sâu non sâu khoang Spodoptera litura Fabricius (Lepidoptera: Noctuidae)
thu bắt trên các ruộng lạc tại huyện Nghi Lộc, Nghệ An
* Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập, phân lập, định loại, nhân nuôi nấm thuộc chi Isaria
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài nấm Isaria javanica thu thập ở
Vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An;
- Tuyển chọn các mẫu phân lập triển vọng của loài nấm Isaria javanica để phòng
Trang 10trừ sâu khoang
- Nghiên cứu ảnh hưởng nấm, vật chủ, nhiệt độ, độ ẩm đến khả năng gây bệnh nấm
Isaria javanica VN1487 trên sâu khoang ở phòng thí nghiệm;
- Nghiên cứu khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica VN1487 trên sâu
khoang ở ô lưới ngoài đồng ruộng
Kết quả chính và kết luận
- Kết quả điều tra từ năm 2011 đến 2013 tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An đã
thu thập được 146 mẫu vật của 10 loài nấm thuộc chi Isaria, phổ biến là Isaria tenuipes (89 mẫu) và Isaria javanica (18 mẫu)
- Chu kỳ phát triển của nấm Isaria javanica VN1487 trên sâu khoang gồm pha
gây bệnh và pha hoại sinh với 5 giai đoạn Thời gian mỗi giai đoạn (1) Lây nhiễm nấm đến sâu khoang chết 2,08±0,09 ngày, (2) Sâu khoang chết đến sợi nấm mọc ra ngoài cơ thể 2,92±0,19 ngày, (3) Sợi nấm mọc ra ngoài đến hình thành bào tử 2,82±0,15 ngày, (4) Bào tử hình thành đến nấm bao phủ cơ thể sâu khoang 2,63±0,14 ngày, (5) Nấm bao phủ cơ thể sâu khoang đến bào tử phát tán từ xác chết sâu khoang; Vòng đời phát triển của nấm trên sâu khoang 7,82±0,23 ngày; Chu kỳ phát triển của nấm trên sâu khoang 12,79±0,36 ngày
- Đã tuyển chọn được 4 trong 18 mẫu phân lập của loài nấm Isaria javanica có
triển vọng để phòng trừ sâu khoang gồm VN1472, VN1487, VN1801 và VN1802
- Trong phòng thí nghiệm, điều kiện thích hợp cho nấm Isaria javanica VN1487
gây bệnh trên sâu khoang gồm nồng độ dung dịch bào tử phun 2,6x107
- 2,6x108 bào tử/ml hoặc thả 4 - 5 sâu nhiễm nấm cùng với 10 sâu khỏe; mật độ sâu khoang 20 sâu/hộp nhựa (25x15x12 cm), sâu khoang tuổi tuổi 1 - 3, nhiệt độ 25oC và độ ẩm 70 - 80% RH
- Ngoài đồng ruộng, điều kiện thích hợp cho nấm Isaria javanica VN1487 gây
bệnh trên sâu khoang là phun dung dịch bào tử nấm nồng độ 2,6x107
bào tử/ml hoặc thả
15 sâu nhiễm nấm cùng 30 sâu khỏe trên ô lưới 1,5m2 Bào tử nấm có thể lưu tồn 3 - 4 tháng trong đất ở Nghi Lộc, Nghệ An, tuy tỷ lệ sâu nhiễm nấm còn thấp 8,05%
Trang 11THESIS ABSTRACT
PhD candidate: Nguyen Thi Thuy
Thesis title: Research of pathogenic characteristics of Isaria javanica (Friederichs &
Bally) Samson & Hywel-Jones against Spodoptera litura (Fabr.) in Nghe An province
Major: Plant protection Code: 62.62.01.12
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives:
Based on these studies of inoculation and pathogenesis ability of Isaria javanica
on Spodoptera litura in the relevant factors related, which evaluate, choose the potential
specimen as well as proposals the impact of measures to improve the efficiency of
application of biological products from fungal entomopathogens in plant protection Materials and Methods
* Research contents
- Research of species composition of Isaria genus and hosts collected at Pu Mat
National Park, Nghe An province;
- Research of biological and ecological characteristics of Isaria javanica collected
in Pu Mat National Park, Nghe An province;
- Selection of potential isolates of Isaria javanica to biocontrol agents Spodoptera litura;
- Evaluation of several factors affect on the inoculation and pathogenesis ability of Isaria javanica on Spodoptera litura in laboratory
- Evaluation of inoculation and pathogenesis ability Isaria javanica VN1487 on Spodoptera litura in the field
* Materials:
- Isaria genus, Isaria javanica (Friederichs & Bally) Samson & Hywel-Jones
(Hypocreales: Cordycipitaceae) species collected in Pu Mat National Park, Nghe An province
- Spodoptera litura Fabricius larvae (Lepidoptera: Noctuidae) collecting in the
field in Nghi Loc district, Nghe An province
* Methods:
- Collection, isolation, identification and cultivation Isaria genus;
- Research of biological and ecological characteristics of Isaria javanica collected
in Pu Mat National Park, Nghe An province;
- Evaluation and selection of potential specimen of Isaria javanica to biocontrol
Trang 12agents Spodoptera litura;
- Research of several factors affect on the inoculation and pathogenesis ability of Isaria javanica on Spodoptera litura in laboratory;
- Research of inoculation and pathogenesis ability Isaria javanica VN1487 on Spodoptera litura in the field
Main findings and conclusions
- Field surveys of entomopathogenic fungi were carried out in Pu Mat National
Park from 2011 to 2013 A total of 146 specimens of 10 species of Isaria genus were collected, isolated and identified, popular Isaria tenuipes (89 specimens) and Isaria javanica (18 specimens)
- Development cycle of Isaria javanica VN1487 isolates on Spodoptera litura
larvae includes pathogenesis phase and saprogenesis phase with 5 stages Duration of each stage was (1) Inoculation to the host died 2.08±0.09 days; (2) Host died to start mycelium 2.92±0.19 days; (3) Start mycelium to spore formation 2.82±0.15 days; (4) Spore formation to totally covered with mycelium 2.63±0.14 days; (5) Mycelium covering to spore discharge 2.34±0.15 days Life cycle of the fungus was 7.82±0.23 days, development cycle was 12.79±0.36 days
- Based on these parameters only 4/18 isolates of Isaria javanica merited further
study, includes VN1472, VN1487, VN1801 and VN1802
- In the laboratory, the suitable conditions for inoculation and pathogenesis of
Isaria javanica VN1487 on Spodoptera litura including spraying concentration of
2,6x107 - 2,6x108 conidia/ml, 4 - 5 infections insects/10 health insects; 20 insect/plastic box (25x15x12 cm), 1 - 3rd instar Spodoptera litura larvae, 25°C and 70 - 80% RH
- In the field, the suitable conditions for discharge, inoculation and pathogenesis
of Isaria javanica VN1487 on Spodoptera litura was spraying concentration of 2,6x107
conidia/ml or 15 infections insects/30 health insects/1.5m2 Conidia deposited on the
surface of soil 3 - 4 months in Nghi Loc, Nghe An in 2014, but mortality rate low
8.05%
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh nấm gây chết côn trùng là một hiện tượng phổ biến trong tự nhiên Cùng với các nhóm thiên địch khác, nấm ký sinh gây bệnh cho côn trùng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà số lượng côn trùng trong tự nhiên ở khắp mọi nơi Do đó, việc khai thác sử dụng nấm ký sinh gây bệnh cho côn trùng được xem là hướng đi triển vọng, thu hút sự chú ý của các nhà khoa học côn trùng học
và bảo vệ thực vật Chế phẩm sinh học trừ sâu hại từ nấm ký sinh côn trùng là một giải pháp quan trọng trong biện pháp sinh học Tuy nhiên, hạn chế hiện nay đối với việc ứng dụng thuốc trừ sâu sinh học từ nấm ký sinh côn trùng là hiệu quả gây bệnh cũng như khả năng duy trì hiệu lực với sâu hại còn kém ổn định
Để khai thác tốt tiềm năng của giải pháp hữu ích này, cần có những kiến thức cơ bản và toàn diện về nấm gây bệnh trên côn trùng Trong đó, những hiểu biết về đặc điểm gây bệnh của nấm trên côn trùng vật chủ liên quan đến cơ chế gây bệnh
và mối liên quan với các yếu tố sinh thái là chìa khoá để nâng cao hiệu quả của thuốc trừ sâu sinh học từ nấm ký sinh côn trùng trong bảo vệ thực vật
Hiệu lực nấm gây bệnh cho côn trùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là khả năng gây bệnh của mầm bệnh, đặc điểm của côn trùng vật chủ và điều kiện ngoại cảnh Trong đó, cơ chế gây bệnh là yếu tố quyết định đến hiệu quả gây bệnh của nấm đối với côn trùng Vận dụng các hiểu biết về cơ chế gây bệnh là để giải đáp các vấn đề liên quan đến sinh thái của quá trình gây bệnh làm cơ sở để lựa chọn các mẫu phân lập triển vọng và phương pháp sử dụng hợp
lý Quá trình gây bệnh của nấm ký sinh côn trùng bao gồm con đường lây nhiễm, quá trình tiếp xúc, xâm nhiễm, làm chết vật chủ đến khi nấm phát tán bào tử ra bên ngoài hoàn thành chu kỳ phát triển; cùng với đó là sự biến đổi về hình thái, sinh lý,
sinh hóa của vật chủ trong quá trình nhiễm bệnh nấm (Alcides et al., 2002; Posada and Vega, 2005; Tian Zhi-lai, 2008; Vega et al., 2008)
Trên thế giới, nghiên cứu về nấm gây bệnh côn trùng đã đạt được những thành tựu đáng kể Các loài nấm ký sinh côn trùng đã được ứng dụng phòng trừ
sâu hại như Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, Hirsutela lecaniicola,
Isaria fumosoroseus, Isaria javanica, Nomuraea rileyi (Lin et al., 2007; Thomas
and Read, 2007; Toledo et al., 2010) Một số tác giả đã nghiên cứu về sự gây
Trang 14bệnh, cơ chế tác động của các loài nấm ký sinh trên côn trùng (Posada and Veg,
2005; Tian Zhi-lai, 2008; Vega et al., 2008) Ở Việt Nam cho đến nay chủ yếu là các nghiên cứu ứng dụng phòng trừ sâu hại của 2 loài nấm truyền thống là B
Thuỳ và cs., 2004, 2005); các nghiên cứu cơ bản về sự gây bệnh của nấm trên côn trùng còn ít được quan tâm
Nghiên cứu ứng dụng nấm gây bệnh cho côn trùng chưa đạt được kết quả như mong muốn, hiệu quả gây bệnh còn thấp và kém ổn định Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó vấn đề dễ nhận thấy là việc nghiên cứu nấm gây bệnh cho côn trùng thường mới chỉ chú ý nhiều đến khâu sản xuất ứng dụng chế phẩm mà chưa quan tâm thích đáng đến các nghiên cứu cơ bản, như cơ chế gây bệnh của các loài nấm ký sinh trên côn trùng, mối quan hệ giữa nấm ký sinh và côn trùng vật chủ trong mối quan hệ với các yếu tố liên quan Đây là những hiểu biết không thể thiếu, làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá, lựa chọn các mầm bệnh tiềm năng cũng như đề xuất các biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nấm gây bệnh cho côn trùng
Trên đồng ruộng, sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) là loài đa thực gây
hại nghiêm trọng trên rất nhiều cây trồng với 290 loài thuộc 99 họ thực vật, nhất
là các cây rau, lạc, đậu, cây công nghiệp, cây lương thực Ở Việt Nam, đây là đối tượng gây hại mạnh nhất trên cây lạc, có thể gây hại 70 - 81% diện tích lá, làm giảm tới 18% năng suất lạc và đã phát triển thành dịch ở nhiều nơi (Đặng Trần Phú và cs., 1997; Lê Văn Thuyết và cs., 1993; Phạm Thị Vượng, 1996) Đã có nhiều biện pháp phòng trừ sâu khoang được đưa ra như biện pháp hóa học, sinh
học (chi nấm Beauveria, Nomuraea, Isaria; vi khuẩn NPV), canh tác,… Hiện
nay, phòng trừ sâu khoang chủ yếu bằng thuốc hoá học đã không đem lại hiệu quả và hướng sử dụng thuốc trừ sâu sinh học từ nấm ký sinh côn trùng là giải
pháp hữu ích ngày càng được quan tâm (Lin et al., 2007; Vijayavani et al., 2009; Vimala et al., 2003)
Loài Isaria javanica có tiềm năng trong phòng trừ sâu hại, trước đây gọi là
Paecilomyces javanicus (1957) và ban đầu được mô tả bởi Friederichs and Bally
(1923) gọi là Spicaria javanica, đến năm 2005 sử dụng tên gọi chính thức là Isaria
javanica Trong những năm gần đây, một số tác giả đã phát hiện một hiện tượng
khá thú vị và hữu ích là ở một số chi nấm, bên cạnh khai thác làm dược liệu, chúng
còn được sử dụng như một tác nhân phòng trừ sinh học, như chi nấm Isaria mà
Trang 15điển hình là loài I javanica Loài nấm này chỉ mới được quan tâm nghiên cứu
trong những năm gần đây và các dẫn liệu nghiên cứu còn hạn chế, nhưng đánh giá bước đầu đều cho thấy nhiều mẫu phân lập có triển vọng trong phòng trừ sinh
học (Scorsetti et al., 2008; Shimazu and Takatsuka, 2010)
Ở Việt Nam, Vườn quốc gia Pù Mát được đánh giá là một trong những trung tâm có tính đa dạng sinh học cao, chứa đựng nguồn lợi lớn về nấm ký sinh côn trùng Các nghiên cứu bước đầu phát hiện một số loài nấm hữu ích trong phòng trừ
sinh học và dược liệu, trong đó có loài I javanica (Trần Ngọc Lân, 2008; Trần Ngọc Lân và cs., 2008a, 2011a; Nguyễn Thị Thanh và cs., 2011a, 2011b; Phạm
Quang Thu và cs., 2011)
Các vấn đề đặt ra khi nghiên cứu ứng dụng loài nấm I javanica trong phòng
trừ sâu khoang như: Đặc điểm sinh vật học? Phương pháp đánh giá tuyển chọn những mẫu phân lập có tiềm năng trong phòng trừ sinh học sâu khoang? Khả năng gây bệnh của nấm trên sâu khoang như thế nào? Mối liên quan giữa nấm và
sâu khoang trong với các yếu tố sinh thái ra sao? Các mẫu phân lập I javanica nghiên cứu được thu thập ở hệ sinh thái rừng của VQG Pù Mát liệu có thích ứng
với điều kiện hệ sinh thái nông nghiệp? Đây là những nghiên cứu cơ bản cần thiết để làm cơ sở khoa học cho việc ứng dụng có hiệu quả nấm gây bệnh côn trùng Ở Việt Nam, các nghiên cứu về đặc điểm gây bệnh của nấm ký sinh trên côn trùng vật chủ còn ít được quan tâm, nên hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có những đóng góp cho vấn đề này ở Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở nghiên cứu về khả năng gây bệnh của nấm Isaria javanica trên
vật chủ sâu khoang trong mối quan hệ với các yếu tố liên quan, từ đó đánh giá, lựa chọn các mẫu phân lập triển vọng cũng như đề xuất các biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng chế phẩm sinh học từ nấm ký sinh côn trùng trong bảo vệ thực vật
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Điều tra xác định về thành phần loài nấm thuộc chi Isaria và vật chủ của
chúng được thu thập tại VQG Pù Mát, Nghệ An
- Đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài nấm Isaria
javanica được thu thập tại VQG Pù Mát, Nghệ An
- Nghiên cứu khả năng gây bệnh của nấm I javanica VN1487 trên sâu khoang
Trang 161.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung dẫn liệu về thành phần loài nấm thuộc chi Isaria gồm 10 loài và vật chủ của chúng; các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài I javanica thu thập tại
VQG Pù Mát, Nghệ An
- Đã mô tả đƣợc đặc điểm về chu kỳ xâm nhiễm, gây bệnh và phát triển bên
ngoài của nấm I javanica trên sâu khoang, gồm 5 giai đoạn chính và mỗi giai
đoạn thể hiện những triệu chứng đặc trƣng cho loài
- Đã tuyển chọn đƣợc 4 trong 18 mẫu phân lập của loài nấm I javanica có
triển vọng trong phòng trừ sâu khoang gồm VN1472, VN1487, VN1801 và
VN1802 Nấm I javanica VN1487 có khả năng tồn tại và thích ứng đƣợc trong hệ
sinh thái tại khu vực thử nghiệm
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung các dẫn liệu về thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái của
các loài nấm thuộc chi Isaria làm cơ sở cho việc đánh giá tiềm năng và ứng dụng
trong phòng trừ sinh học sâu hại cây trồng
- Cung cấp một số dẫn liệu khoa học cho nghiên cứu cơ bản về khả năng
gây bệnh của nấm I javanica trên sâu khoang ở Việt Nam (giai đoạn, thời gian,
triệu chứng bệnh, )
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất các tiêu chí để áp dụng trong quá trình đánh giá, tuyển chọn các mẫu phân lập mục tiêu Kết quả của đề tài cũng đã xác định đƣợc 4 mẫu phân lập
của loài I javanica có triển vọng trong phòng trừ sâu khoang
- Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng
nấm I javanica trong phòng trừ sâu khoang
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Khái niệm “Nấm ký sinh côn trùng - Entomopathogenic fungi (EPF)” hay
“nấm côn trùng - Insect fungi” được các nhà khoa học sử dụng như là thuật ngữ đồng nghĩa, đề cập về nhóm nấm ký sinh gây bệnh cho côn trùng Nấm ký sinh côn trùng dùng để mô tả hiện tượng nấm ký sinh trên hoặc trong cơ thể côn trùng Nấm ký sinh nguyên phát thường nhiễm vào ký chủ côn trùng khỏe mạnh gây bệnh và sau đó giết chết côn trùng Trong khi đó, nấm ký sinh thứ phát chỉ có thể
ký sinh trên côn trùng đã bị suy yếu bởi một loại bệnh nào đó hoặc côn trùng bị
thương (Samson et al., 1988; Tzean et al., 1997)
Các loài nấm ký sinh côn trùng thường phân bố trong các khu rừng nhiệt đới, một số loài có ở cả hệ sinh thái nông nghiệp Đây là nguồn tài nguyên phong phú và có giá trị trong phòng trừ sinh học sâu hại và làm dược liệu Nấm là nhóm
vi sinh vật đầu tiên được chứng minh về khả năng lây nhiễm từ vật chủ này sang vật chủ khác Những phát hiện về nấm gây bệnh trên côn trùng ra đời cùng với sự xuất hiện ngành khoa học nghiên cứu về bệnh côn trùng Từ đây đã hình thành 2 hướng nghiên cứu chính về nấm ký sinh côn trùng là làm dược liệu và ứng dụng phòng trừ sinh học Trong những năm gần đây, một số chi nấm được đánh giá có thể làm dược liệu đồng thời cũng là một tác nhân phòng trừ sinh học, điển hình là
chi Isaria (Marcos and Stephen, 2007; Scorsetti et al., 2008)
Khoa học nghiên cứu bệnh côn trùng gọi là bệnh lý học côn trùng Bệnh lý học côn trùng không chỉ đơn thuần mô tả những biến đổi bệnh lý trong cơ thể côn trùng và nghiên cứu các tác nhân gây bệnh, dịch bệnh, cũng như nghiên cứu các đặc điểm cơ bản và những diễn biến của nấm ở bên trong và bên ngoài cơ thể vật chủ (dẫn theo Tạ Kim Chỉnh, 2009) Trong các tác nhân gây bệnh, nấm ký sinh côn trùng thường có vai trò quan trọng nhất
Nấm ký sinh côn trùng có thể xâm nhiễm vào cơ thể côn trùng qua con đường tiêu hóa (miệng côn trùng), hô hấp (lỗ thở), qua cơ quan sinh dục, nhưng phần lớn là qua lớp vỏ, tức là phải có khả năng tiếp xúc, bám dính của bào tử nấm trên bề mặt vỏ cơ thể côn trùng; sự xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể của côn trùng gồm giai đoạn bám dính, hình thành cấu trúc xâm nhập và sản sinh các
Trang 18enzyme Bào tử nấm xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể là sự tổ hợp của sức ép cơ học và
sự tác động của enzyme phân giải tầng cuticun Sau đó là quá trình sinh trưởng bên trong xoang cơ thể vật chủ và sự sinh sản của bào tử đính làm vật chủ bị chết Các loài côn trùng có thể phản ứng lại sự xâm nhiễm này của nấm bằng cả hai phương thức là tế bào và thể dịch Các loài nấm nói chung đều có hai phương thức để chiến thắng các phản ứng tự vệ của vật chủ: Sự phát triển của các dạng sinh trưởng giai đoạn tiềm ẩn là sự ngụy trang hữu hiệu từ các phản ứng tự vệ của côn trùng và sự sản xuất ra các chất miễn dịch phân hóa thuận nghịch của bộ phận
ức chế hệ thống bảo vệ
Trên bề mặt vỏ cơ thể sâu hại bị nhiễm nấm thường xuất hiện các vệt chấm đen Đây có thể là vị trí mà bào tử nấm tiếp xúc, mọc mầm và xâm nhiễm vào bên trong cơ thể vật chủ Cơ thể sâu bị bệnh ngày càng trở nên hóa cứng Cơ thể côn trùng bị chết do nấm côn trùng không bị nát mà thường giữ nguyên hình dạng như khi còn sống Toàn bộ bên trong cơ thể côn trùng chứa đầy sợi nấm Sau đó, các sợi nấm này mọc ra ngoài qua vỏ cơ thể và bao phủ toàn bộ bề mặt ngoài của cơ thể Đây là đặc điểm rất đặc trưng để phân biệt sâu chết bệnh do nấm côn trùng với các bệnh khác (Phạm Văn Lầm, 2000)
Chi nấm Isaria mặc dù phát hiện khá lâu nhưng chủ yếu khai thác làm dược liệu mà chưa chú ý nhiều đến hướng phòng trừ sinh học Loài nấm I javanica
mới được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây và các dẫn liệu còn hạn chế Do đó, trong đề tài này sẽ dựa trên cơ sở khoa học các nghiên cứu về đặc
điểm gây bệnh của chi nấm Isaria và các loài nấm truyền thống như B bassiana,
M anisopliae, N rileyi
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm nấm ký sinh côn trùng chi Isaria
2.2.1.1 Nghiên cứu thành phần loài nấm chi Isaria và vật chủ của chúng
Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện có khoảng 1,5 triệu loài nấm, với khoảng 2000 loài nấm ký sinh côn trùng Trong đó, đa dạng nhất là chi
Cordyceps với 500 loài, tiếp theo là chi Verticilium với 261 loài, chi Entomophthora với 152 loài, chi Hypocrella 112 loài, chi Torrubiella 83 loài, chi Aschersonia 79 loài, chi Isaria 42 loài,… (Aung et al., 2008; Luangsa-ard et al.,
2006; Sung et al., 2007a)
Ở Thái Lan, nấm ký sinh côn trùng mới được nghiên cứu trong những năm
Trang 19gần đây Sau 15 năm nghiên cứu, các nhà khoa học BIOTEC đã phát hiện hơn
400 loài nấm ký sinh côn trùng thuộc 15 giống được phát hiện ở Thái Lan, trong
đó có hơn 120 loài chi Cordyceps, 24 loài chi Isaria, (Morakot, 2003) Các
nghiên cứu vẫn tiếp tục từ 2005 - 2006 tại Chiang Mai, Thái Lan đã thu thập được
301 mẫu vật gồm 34 loài thuộc 15 chi nấm ký sinh côn trùng, ký sinh trên 10 bộ côn
trùng và nhện Các loài phổ biến là Ophiocordyceps myrmecophila chiếm 2,61%, O
unilateralis chiếm 13,78%, I fumosoroseus chiếm 13,07%, Paecilomyces marquandii chiếm 7,42% và I tenuipes chiếm 5,3% Côn trùng bị nấm ký sinh
nhiều nhất thuộc là bộ Cánh màng, bộ Cánh nửa và bộ Cánh vảy (Aung et al.,
2008) Trung tâm BIOTEC đã có nhiều thành công trong nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng tạo chế phẩm sinh học trừ sâu hại cây trồng và làm dược
liệu từ các chi nấm Beauveria, Metarhizium, Cordyceps, Ophiocordyceps, Isaria (Luangsa-ard et al., 2006); các kết quả phân loại nấm ký sinh côn trùng về hình
thái, sinh học phân tử DNA (Luangsa-ard et al., 2006, 2007; Sung et al., 2007b)
Ở Nam Mỹ phát hiện đầu tiên về 2 loài nấm I fumosorosea và I javanica gây bệnh trên trưởng thành bọ phấn Bemisia tabaci (Gennadius) và Trialeurodes
vaporariorum (Westwood) (Hemiptera: Aleyrodidae) trên sâu hại cây trồng nông
nghiệp (Scorsetti et al., 2008) Loài nấm I javanica cũng là ghi nhận đầu tiên ký sinh trên sâu non sâu róm Lonomia obliqua Walker ở Brazil Sau khi phân lập, nuôi cấy và lây nhiễm lại trên loài L obliqua và phân tích về hình thái và phân tử không có khác biệt so với mẫu gốc ban đầu (Alexandre et al., 2009)
Shimazu and Takatsuka (2010) lần đầu tiên phát hiện và phân lập được loài
I javanica ký sinh trên sâu non sâu róm Lymantria dispar ở miền Bắc, Nhật Bản
vào mùa hè năm 2008 Nấm phát triển trên môi trường SDAY với nhiệt độ 10 -
30oC, tốt nhất ở 25o
C Loài I javanica đang nghiên cứu ứng dụng được xem là
giải pháp triển vọng để phòng trừ loài sâu nguy hiểm này ở Nhật Bản
Wazeer et al (2012) đã tiến hành khảo sát các loài nấm trong đất nông
nghiệp và rừng tự nhiên, ở những nơi có côn trùng qua đông tại Kurdistan, Iraq, trong tháng 10 - 12 năm 2009 Kết quả đã phân lập và xác định được 2 loài nấm
ký sinh côn trùng là I javanica và B bassiana chiếm 38,46% Tỷ lệ chết của loài I javanica trên hai loài rệp Hyalopterus pruni Geoff và Aphis pomi De
Geer đạt khá cao 66,67% và 75,59% sau 6 ngày lây nhiễm nấm Đây là ghi nhận
đầu tiên về loài I javanica tại Iraq Nghiên cứu cũng cho thấy một số loài nấm
ký sinh côn trùng có thể lưu tồn một thời gian nhất định trong đất
Trang 20Trước đây chi Isaria và chi Peacilomyces không có sự tách biệt, loài I
javanica được xem là loài Peacilomyces javanicus Vấn đề này đã gây ra nhiều
tranh luận cho các nhà khoa học và đến nay đã tách biệt thành 2 chi thuộc 3 họ
riêng biệt, trong đó chi Isaria thuộc họ Cordycipitaceae, chi Peacilomyces thuộc 2
họ là Clavicipitaceae và Ophiocordycipitaceae, bộ Hypocreales Kết quả phân tích
phát sinh loài dựa trên trình tự RNAs riboxom, β-tubulin cho thấy chi Isaria cùng nhóm với chi Cordyceps Các loài nấm thuộc chi Isaria có sinh sản dạng vô tính
(Anamorph), còn sinh sản dạng hữu tính (Telemorph) không có hoặc chưa được
biết (Luangsa-ard et al., 2009; Sung et al., 2007a; Petch, 2009)
Bảng 2.1 Lịch sử các tên gọi của loài Isaria javanica
Tên gọi Chi, Họ, Bộ Tài liệu tham khảo
Spicaria javanica Bally Spicaria,
Trichocomaceae, Eurotiales
Friedrichs and Bally (1923)
Paecilomyces javanicus (Friedrichs
& Bally) A.H.S Br & G Sm
Peacilomyces,
Trichocomaceae, Eurotiales
Brown and Smith (1957)
Paecilomyces javanicus (Friederichs
& Bally) Brown & Smith
Peacilomyces,
Trichocomaceae, Eurotiales
Samson (1974)
Isaria javanica (Friederichs & Bally)
Samson & Hywel-Jones
Isaria,
Cordycipitaceae, Hypocreales
Luangsa-ard et al (2005)
Nhìn chung các nghiên cứu về đa dạng sinh học hay nguồn lợi tự nhiên
của chi nấm Isaria còn ít Một số kết quả bước đầu cho thấy, các loài nấm Isaria
phân bố khá rộng ở nhiều nước trên thế giới nhưng không phổ biến Chi nấm này chủ yếu thu thập được ở hệ sinh thái rừng nhiệt đới, với phổ vật chủ ký sinh khá
đa dạng thuộc bộ Cánh màng, bộ Cánh vảy, bộ Cánh nửa, bộ Nhện lớn, ở pha sâu
non, nhộng và trưởng thành Ngoài ra, một số loài như I fumosorosea và
I javanica cũng mới phát hiện có phân bố ở cả rừng trồng và hệ sinh thái nông
nghiệp nhưng không phổ biến
2.2.1.2 Nghiên cứu nhân nuôi các loài nấm thuộc chi Isaria
Theo Chun-Ping et al (2003) khi nhân sinh khối nấm Isaria tenuipes ở các
điều kiện nuôi thay đổi về nguồn dinh dưỡng cacbon, khoáng, ni tơ và độ pH đã
Trang 21ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của nấm Nguồn dinh dưỡng tối ưu cho nhân sinh khối là đường glucose, meat peptone hoặc tryptone và K2HPO4 hoặc MgSO4, pH = 6
Nghiên cứu của Ali et al (2009) đã cải tiến thành phần môi trường lỏng nuôi cấy nấm I fumosorosea để tạo ra sinh khối chủ yếu là các bào tử đính dạng
chìm Với các môi trường nuôi cấy bình thường sinh khối thu được có màu trắng
và chủ yếu là sợi nấm (80 - 97%) Với môi trường có chứa 20 - 30 mg/lít FeSO4·7H2O và 6 - 1 2 mg/lít CuSO4·5H2O tạo ra sắc tố nâu lớn nhất Khi bổ sung 25ml/lít Polyethylene glycol (200MW) làm giảm sự hình thành sợi nấm sinh dưỡng thì nồng độ bào tử đính đạt tối đa là 1,0x1012 bào tử/lít sau 120 giờ nuôi cấy Sinh khối thu được chủ yếu là bào tử đính chiếm hơn 60%
Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm đến khả năng nảy mầm của bào
tử nấm I fumosorosea cho thấy, sự nảy mầm yếu trong điều kiện có ánh sáng
(43% RH, 28oC) và ổn định trong điều kiện không có ánh sáng hoặc luân phiên (98% RH, 15oC) với mô phỏng khí hậu ôn đới Sự nảy mầm giảm khi nhiệt độ tăng cao và khả năng tồn tại của bào tử khá cao ở nhiệt độ 45oC và 50oC, 33%
RH trong 160 giờ (Bouamama et al., 2010)
Kết quả nghiên cứu của Gabriel et al (2010) đã lựa chọn được môi trường nhân sinh khối nấm I fumosorosea và I farinosa: Giai đoạn 1, môi trường lỏng
là mật mía (30g/l) + nước gạo ninh nhừ (200g/l); nước gạo ninh nhừ (200g/l) + nấm men (5g/l) và mật mía (30g/l) + nước gạo ninh nhừ (200g/l) + nấm men
(5g/l); Giai đoạn 2: nhân nuôi trên môi trường rắn, nấm I farinosa phát triển tốt
nhất với bột đậu nành + ngô vỡ (ngâm nước 60 phút) và gạo nguyên kích thước
dài 7 mmxdày 2 mm (ninh 8 - 10 phút với nước) Đối với nấm I fumosorosea
môi trường gạo vỡ 3 mm dàix2 mm dày (ngâm nước 40 phút) và gạo nguyên (ninh 8 - 10 phút với nước) đều cho kết quả tốt về khả năng phát sinh bào tử
Nghiên cứu của Jae et al (2014) cho thấy bảo quản bào tử bột của nấm
I fumosorosea trên môi trường rắn từ gạo để duy trì các bào tử chịu nhiệt tốt với
điều kiện làm khô ở nhiệt độ thấp (10o
C và 20oC) trong 48 giờ (độ ẩm < 5%)
2.2.1.3 Nghiên cứu hoạt chất sinh học của các loài nấm thuộc chi Isaria
Các nghiên cứu gần đây cho thấy có nhiều loài nấm thuộc chi Isaria, bên
cạnh khai thác làm dược liệu, còn được sử dụng như một tác nhân phòng trừ sinh học Trong những nấm gần đây, các hoạt chất sinh học có trong một số loài nấm
Trang 22chi Isaria đã được nghiên cứu chiết xuất ứng dụng làm dược liệu
Yan Shen et al (2007) xác định hợp chất FTY720 trong nấm Isaria
sinclairii có khả năng ức chế các tế bào ung thư tuyến tụy
Theo Ichiro et al (2001) khi tách chiết từ hệ sợi nấm I japonica trên môi
trường lỏng đã tìm thấy 2 enzym Chitinaese bằng phương pháp sắc ký DEAE
Bio-Gel Pae et al (2003) tách chiết từ quả thể nấm chất Trichothecene
mycotoxin 4-acetyl-12,13-epoxyl-9-trichothecene-3,15-diol (AETD) có tác dụng
chữa trị bệnh bạch cầu Theo Kikuchi et al (2004) phân tích trong sinh khối nấm
I tenuipes chứa chất Paecilomycine A, B và C có hoạt tính sinh học cao Nghiên
cứu tiếp sau đó của Akira et al (2005, 2009) đã phát hiện hợp chất mới chống oxy hóa và tiền chất của nó được chiết xuất từ nấm I japonica
Từ nấm I farinosa B05 chiết xuất được loại Polysaccharides có khả năng
chống kháng u và chống oxy hóa, có chứa 90,3% carbohydrate, 8% axit uronic, 7,15% protein và 3 loại monosacarit bao gồm mannose, galactose và glucose với
tỷ lệ 8.0:4.8:1.0 Chất ngoại polysaccharides hòa tan chứa 93,4% carbohydrate, 8,06% axit uronic, 4,40% protein và ba loại monosaccharides gồm mannose,
galactose and glucose với tỷ lệ 21.6:4.7:1.0 (Yan et al., 2008)
Beauvericin là cyclohexadepsipeptide tự nhiên có trong nấm B bassiana, một số loài nấm chi Fusarium và chi Isaria Theo Luangsa-ard et al (2009) nhiều loài nấm chi Isaria có chứa chất Beauvericin (một cyclohexadepsipeptide
tự nhiên) như Isaria cicadae, I fumosorosea, I japonica, I tenuipes, Cordyceps
cf takaomontana và Cordyceps dạng hữa tính của I cicadae Chất này không
phát hiện được ở một số loài như I amoenerosea, I cateniannulata và
I cateniobliqua, N atypicola, P sensulato
2.2.1.4 Nghiên cứu ứng dụng chi Isaria trong phòng trừ sinh học
Cho đến nay, đi tiên phong trong phòng trừ sinh học của nấm ký sinh côn
trùng chủ yếu 2 loài B bassiana và M anisopliae Tuy nhiên, các nghiên cứu gân đây cho thấy các loài nấm chi Isaria cũng có nhiều triển vọng để để phòng trừ sâu hại nông nghiệp Hiện nay, một số loài nấm chi Isaria được sử dụng phòng trừ sâu hại cây trồng như I javanica, I fariosa, I fumosorosea Các loài nấm này
đã được nghiên cứu và ứng dụng vào phòng trừ một số đối tượng sâu hại thuộc
bộ Lepidoptera, Hemiptera, Diptera, Coleoptera, Hymenoptera,… ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Brazil, Thái Lan và cho kết quả tốt
Trang 23Các nghiên cứu của Nigel and Hywel-Jones (2005) cho thấy, chi Isaria có triển vọng trong phòng trừ sâu hại cây trồng điển hình như loài I fumosorosea,
I javanica, I tenuipes Năm 2008 ở Argentina đã sử dụng nấm Isaria phòng trừ
sâu hại cây trồng ở nồng độ 107 bào tử/ml đạt hiệu quả 26,6 - 76,6% sau 7 ngày
sau lây nhiễm Mặt khác, các loài nấm chi Isaria thường dễ phân lập, phát triển
nhanh, có số lượng bào tử nhiều nên có lợi thế nhân nuôi và ứng dụng phòng trừ
Loài I fumosorosea và P fumosoroseus là tác nhân quan trọng phòng trừ rầy chổng cánh Diaphorina citri Cho trưởng thành rầy chổng cánh tiếp xúc với
nấm sau 72 giờ, ở nhiệt độ 24 - 25oC làm 100% số rầy chết và không có cá thể chết ở công thức đối chứng Rầy bị bệnh nấm co giật chân và râu, sau 2 - 3 ngày xuất hiện sợi nấm mọc ở chân, sau một tuần sợi nấm phủ đầy bên trong cơ thể,
sau đó xuất hiện bào tử dạng bột khô màu xám (Jason et al., 2009) Trong phòng
thí nghiệm dùng lá sạch hoặc tấm dính vàng chứa môi trường nhân tạo phun nấm
xúc từ 4,9±0,21 đến 6,1±0,37 ngày (Pasco et al., 2009) Cho trưởng thành rầy
chổng cánh tiếp xúc với tấm dính vàng đã phun bào tử chồi nấm I fumosorosea,
trong phòng thí nghiệm ở 27°C tỷ lệ chết đạt 70%; trong nhà kính ở 25 - 37°C tỷ lệ
chết thấp < 40% sau 1 tuần (Patrick et al., 2011) Phun dịch nấm I fumosorosea
lên trưởng thành rầy chổng cánh ở phòng thí nghiệm, tỷ lệ chết đạt 100% ở nồng
độ 106
và 107 bào tử/ml sau 12 ngày lây nhiễm, nồng độ gây chết trung bình LC50
là 1,4x105 và 2,0x106 sau 7 ngày lây nhiễm (Karen et al., 2012)
Một số kết quả ghi nhận bước đầu về việc sử dụng nhiều loài nấm Isaria để phòng trừ bọ phấn trắng Bemisia tabaci Theo Scorsetti et al (2008) khi thử nghiệm 2 loài nấm I fumosorosea và I javanica trên 2 loài là bọ phấn trắng và
76,6% sau 7 ngày lây nhiễm Enrique and Walker (2009) đánh giá khả năng gây
bệnh của loài Isaria sp trên bọ phấn (biotype B) hại khoai lang, trong điều kiện
phòng thí nghiệm (27oC, 70 %RH, thời gian chiếu sáng 14L : 10D) ở các nồng
độ 20, 200, 1000 bào tử/mm2 đối với bọ phấn tuổi 2, 3 và 4 đã thu được kết quả như sau: nồng độ gây chết trung bình rệp non tuổi 2 là 72 - 118 bào tử/mm2, tuổi
3 là 101 - 170 bào tử/mm2, tuổi 4 là 166 - 295 bào tử/mm2 Hiệu lực của Isaria
sp trên bọ phấn trưởng thành chậm hơn và tỷ lệ chết thấp hơn so với sâu non
Theo Rahim et al (2013) ở trong phòng thí nghiệm, hiệu lực của nấm
Trang 24phấn tuổi 2, 3 và tuổi 4, tương ứng là 91, 90, 86 và 89% Nghiên cứu của Hong Z
et al (2013), nấm I javanica có khả năng gây bệnh cho loài bọ phấn hại khoai
lang trong phạm vi nhiệt độ khá rộng 15 - 35oC Tỷ lệ chết của bọ phấn đạt thấp
ở độ ẩm tương đối thấp và không đổi, nhưng khi giữ độ ẩm cao trong 24 giờ đầu rồi chuyển sang độ ẩm thấp các mẫu phân lập có thể xâm nhiễm gây bệnh ở tất cả các giai đoạn phát triển từ trứng đến nhộng Những kết quả này cho thấy loài
I javanica có tác dụng phòng trừ tốt loài bọ phấn ở các điều kiện môi trường
khác nhau, có triển vọng để phát triển thành một loại thuốc trừ sâu vi sinh vật để kiểm bọ phấn trắng hại khoai lang
Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ một số loài sâu róm cho thấy, nấm
bào tử/ml) đạt 30% và Lymantria dispar (4x108
bào tử/ml) đạt 28,8% trong
phòng thí nghiệm tại Thổ Nhĩ Kỳ (Manana et al., 2013) Tuy nhiên, loài nấm
I javanica lại có hiệu lực khá cao đối với ấu trùng sâu róm L dispar ở nồng độ
108 bào tử/ml đạt tỷ lệ chết từ 58 - 100% (Shimazu and Takatsuka, 2010) Ngoài
ra, nấm I javanica còn có tiềm năng ứng dụng để kiếm soát sâu tơ Plutella
xylostella hại rau họ thập tự (Yin et al., 2010)
Theo Murat et al (2011) nấm I farinosa là tác nhân gây chết đối với bọ xít trưởng thành Aelia rostrata với tỷ lệ chết đạt 70% sau 12 ngày lây nhiễm ở điều
kiện nhiệt độ 27±1°C; 16L: 8D, 70% RH và nồng độ bào tử 108 bào tử/ml
Bên cạch đó, đã có một số dẫn liệu đánh giá về khả năng kết hợp của nấm
I fumosoroseus và ong ký sinh trong phòng trừ sâu hại Theo Pasco et al (2008),
kết hợp nấm với loài ong ký sinh Encarsia formosa phòng trừ bọ phấn
Trialeurodes vaporariorum trên cây đậu cô ve Phaseolus vulgaris và cây Pelargonium domesticum Kết quả là trên cả hai cây khi cho bọ phấn tiếp xúc với
ong ký sinh trong 2 ngày và 4 ngày, sau đó phun nấm thì tỷ lệ chết lần lượt đạt 99,5% và 75,5%; 94,6% và 59,4% Như vậy, trên cây đậu cô ve sự kết hợp giữa
nấm và ong ký sinh mang lại hiệu quả rõ rệt, nhưng trên cây P domesticum việc
kết hợp không mang lại hiệu quả so với tác động riêng biệt Còn theo nghiên cứu
của David et al (2012), đã đánh giá khả năng kết hợp của nấm với ong ký sinh
Lysiphlebus testaceipes phòng trừ rệp Toxoptera citricidus Kirkaldy hại cam quýt
tại Florida, Mỹ Trong 2 tuần đầu tỷ lệ rệp chết không sai khác so với đối chứng, nhưng sau đó rệp có hiện tượng nhiễm bệnh nhiều Vì vậy, có thể kết hợp hai tác nhân này trong phòng trừ rệp hại cam quýt
Trang 25Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã và đang nghiên cứu, ứng dụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sinh học sâu hại Bên cạnh các loài nấm truyền
thống thuộc chi Beauveria và Metarhizium, thì chi nấm Isaria cũng đã bắt đầu
được nghiên cứu và hứa hẹn có thể tạo ra chế phẩm hiệu quả Kết quả bước đầu
cho thấy các loài nấm chi Isaria điển hình như I fumosorosea, I javanica,
I fariosa có nhiều triển vọng trong phòng trừ nhiều loài sâu hại cây trồng
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm vòng đời và chu kỳ phát triển của nấm ký sinh trên côn trùng
Trong công trình nghiên cứu về sự gây bệnh của nấm ký sinh côn trùng, Charnley (1989) cho rằng, chu kỳ phát triển của nấm gây bệnh trên cơ thể côn trùng gồm 8 giai đoạn sau: (1) Bào tử phát tán và bám dính trên lớp vỏ cơ thể, (2) Bào tử nảy mầm và hình thành giác bám, (3) Xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể và tăng sinh, (4) Xâm nhập biểu bì và nội bì, (5) Sợi nấm xâm nhập mô hoặc hình thành bào tử chồi trong xoang máu, (6) Côn trùng bị chết, (7) Sinh trưởng hoại sinh, (8) Bào tử nấm phát tán
Tuy nhiên, theo Clarkson and Charnley (1996), chu kỳ nấm gây bệnh côn trùng có thể chia thành 5 giai đoạn như sau: (1) Bào tử bám dính trên lớp vỏ cơ thể, (2) Bào tử nảy mầm và hình thành giác bám, (3) Hình thành ống mầm và sợi nấm xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể, (4) Hình thành bào tử chồi tạo tản nấm trong xoang máu (haemolymph) của côn trùng vật chủ, (5) Sợi nấm mọc ra bên ngoài
Cheah et al (2004), nghiên cứu phòng trừ sinh học sâu Adelges tsugae Annand (Homoptera: Adelgidae) gây hại cây Tsuga (thuộc nhóm cây thông)
Nấm có thể xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể để gây bệnh làm chết côn trùng Sau khi côn trùng bị chết, một số lượng lớn bào tử nấm được phát tán từ xác chết để tiếp tục chu trình lây nhiễm mới trong quần thể côn trùng Chu kỳ xâm nhiễm tổng quát của nấm ký sinh côn trùng gồm 6 giai đoạn: (1) Bào tử bám dính lên vỏ cơ thể vật chủ, (2) Bào tử nảy mầm, (3) Xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể vật chủ, (4) Sợi nấm tăng sinh bên trong cơ thể vật chủ, (5) Hình thành bào tử bên ngoài xác chết vật chủ, (6) Bào tử phát tán và tiếp tục chu kỳ xâm nhiễm mới (hình 1.1)
Thomas and Read (2007) đưa ra chu kỳ phát triển in vivo của nấm gây bệnh
côn trùng diễn ra 5 bước: (1) Bào tử bám dính trên lớp biểu bì, (2) Bào tử nảy mầm hình thành ống mầm và giác bám, (3) Xâm nhập vào lớp biểu bì bằng kết hợp của áp lực cơ học và hoạt tính của các enzyme làm mất lớp biểu bì, (4) Nấm tăng trưởng trong thể xoang vật chủ, (5) Hình thành bào tử bên ngoài và phát tán khi vật chủ bị chết (hình 1.2)
Trang 26Hình 1.1 Chu kỳ xâm nhiễm của nấm
ký sinh côn trùng
Hình 1.2 Cơ chế xâm nhiễm của nấm
ký sinh côn trùng
Nguồn: Cheah et al (2004) Nguồn: Thomas and Read (2007)
Theo Vega et al (2008), chu kỳ xâm nhiễm của nấm B bassiana và
Clonostachys rosea trên trưởng thành sâu đục quả cà phê Hypothenemus hampei
gồm 5 giai đoạn: (1) Côn trùng chết, (2) Sợi nấm bắt đầu phát triển, (3) Sợi nấm bao phủ cơ thể côn trùng, (4) Hình thành bào tử và (5) Phát tán bào tử Còn theo
Gao et al (2011), chu kỳ xâm nhiễm của nấm Metarhizium trên côn trùng vật
chủ có 4 giai đoạn chính như sau: (A) Bào tử nảy mầm hình thành giác bám, (B) Sợi nấm tấn công tế bào máu sau khi xâm nhập qua lớp biểu bì, (C) Nấm nảy mầm sản sinh bào tử chồi để tạo điều kiện thuận lợi cho phát tán trong xoang cơ thể côn trùng, (D) Xác chết phủ đầy sợi nấm và hình thành bào tử
Khi bàn về sử dụng chế phẩm nấm phòng trừ côn trùng gây hại, Sandhu
et al (2012) cho rằng cơ chế xâm nhiễm của nấm gây bệnh côn trùng gồm 4 giai
đoạn: (1) Bào tử bám dính vào vỏ cơ thể vật chủ, (2) Bào tử nảy mầm và hình thành cấu trúc xâm nhiễm, (3) Sự xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể vật chủ, (4) Sản sinh độc tố
2.2.2.1 Nghiên cứu về sự xâm nhập của nấm qua lớp vỏ cơ thể của côn trùng
Theo nghiên cứu của Sue (1979), bào tử nấm B bassiana có tốc độ nảy
mầm nhanh (trong vòng 18 giờ) trên bề mặt của sâu non sâu xanh hại ngô
(Heliothis zea) và ngay sau đó bắt đầu xâm nhập vào lớp biểu bì Enzyme được
sản sinh bởi các sợi nấm xâm nhập làm suy giảm chức năng của lớp biểu bì kể từ
Dịch thể máu
Bào tử chồi Lớp nội bì
Vòi xâm nhập Biều bì trên Giác bám Bào tử
Biều bì dưới
Trang 27khi lỗ hổng được hình thành tại thời điểm xâm nhập Bằng chứng trực tiếp cho thấy bào tử cũng có thể nảy mầm bên trong lỗ thở của sâu non và có thể xâm nhập vào cơ thể sâu non theo con đường lỗ thở vào bên trong xoang máu và sau
đó nấm phát triển nhanh lấp đầy nội quan trong xoang cơ thể
Bào tử nấm bám vào bề mặt vỏ cơ thể vật chủ, khi đủ điều kiện độ ẩm, bào
tử mọc mầm và xâm nhiễm vào bên trong cơ thể côn trùng Giai đoạn xâm nhập được tính từ khi bào tử nấm mọc mầm cho đến lúc hoàn thành xâm nhập vào trong xoang cơ thể côn trùng Bào tử nấm sau khi mọc mầm, sản sinh các enzyme ngoại bào tương ứng với các thành phần chính của lớp vỏ côn trùng để phân hủy như protease, chitinase, lipase, Các enzyme được tạo ra nhanh chóng, liên tục và với mức độ khác nhau giữa các loài, các mẫu phân lập của một loài nấm Hai enzyme quan trọng nhất tham gia phân hủy lớp vỏ cơ thể côn trùng là protease và chitinase, liên quan trực tiếp đến hiệu lực diệt côn trùng của nấm
(Charley, 2003; Luangsa-ard et al., 2006)
Theo Vineet et al (1999) khả năng nảy mầm, xâm nhập của nấm
B bassiana trên lớp vỏ cơ thể tằm Bombyx mori, bào tử nảy mầm khoảng 8 giờ
sau khi lây nhiễm, hình thành giác bám (appressorium) trong vòng 24 giờ và các sợi nấm gắn vào lớp biểu bì tạo thành một lỗ tròn rõ rệt Các sợi nấm xâm nhập vào trong xoang máu (haemocoel), sinh trưởng nhanh, tạo thành phức hợp sợi nấm, gây chết tằm trong khoảng 5 - 6 ngày
Các lớp biểu bì của vỏ cơ thể vật chủ là nơi đầu tiên chống lại sự xâm nhiễm của nấm Nếu nấm xâm nhập qua lớp biểu bì thì khả năng xâm nhiễm thành công phụ thuộc vào khả năng sau khi nấm bệnh chiến thắng được các phản ứng miễn dịch của côn trùng Côn trùng có thể phản ứng theo cách thức tế bào và thể dịch đối với khả năng xâm nhiễm của nấm, với hoạt tính miễn dịch xảy ra sớm như suy thoái lớp biểu bì trong quá trình xâm nhập Nấm thường có 2 hình thức tác động là sinh trưởng và phát triển nhanh chống lại phản ứng tự vệ của côn trùng, hoặc sản sinh các chất ngăn chặn hệ thống bảo vệ của vật chủ
(Gillespie et al., 2000; Roberto et al., 2001)
Như vậy, cơ chế xâm nhập của nấm qua lớp vỏ cơ thể của côn trùng hiện nay chưa rõ ràng Các nghiên cứu cho rằng bào tử nấm xâm nhập được qua lớp
vỏ do tác dụng chủ yếu và quyết định là của enzyme phân huỷ biểu bì côn trùng
như protease, chitinase và lipase (Charley et al., 1989; Luangsa-ard et al., 2006;
Trang 28Pornpoj et al., 2005); hoặc do tác dụng cơ học của ống mầm hoặc giác bám tạo lỗ
đâm xuyên lớp vỏ cơ thể; hoặc kết hợp cả tác dụng cơ học và enzyme (Sue,
1979; Vineet et al., 1999; Wang et al., 2010;…) Mặt khác, các loài nấm và vật
chủ khác nhau thì quá trình này khác nhau cả về cấu trúc và cách thức xâm nhập, khả năng sản sinh enzyme, vai trò tác động cơ học, thời gian, đặc điểm của vật chủ như cấu tạo lớp vỏ cơ thể, hàm lượng nước, khả năng tự vệ, điều kiện nhiệt
độ, độ ẩm, ánh sáng,… đều có ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh côn trùng của
nấm Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu vì khả năng xâm nhập qua lớp
vỏ cơ thể của vật chủ côn trùng là pha đầu tiên và quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến khả năng xâm nhiễm gây bệnh của nấm với côn trùng vật chủ
2.2.2.2 Nghiên cứu giai đoạn phát triển bên trong và gây chết vật chủ côn trùng của nấm
Giai đoạn phát triển của nấm ký sinh trong cơ thể đến khi côn trùng chết là giai đoạn sống ký sinh của nấm và gây chết vật chủ Nấm ký sinh côn trùng thường sản sinh ra các chất chuyển hóa với bản chất là các độc tố làm cho vật
chủ suy yếu Nấm Beauveria spp sản sinh một số chất chuyển hóa gồm
bassianine, beauvericine, bassianolide, beauveriolide, bassiacridine, osporeine và
tenelline (Quesada and Vey, 2004; Vining et al., 1962) (dẫn theo Vega et al., 2008) Các loài Isaria spp sản sinh chất độc isariine (Briggs et al., 1966);
Hirsutella thompsonii sản sinh phomalactone (Krasnoff and Gupta, 1994) và
hirsutellin A (Mazet et al., 1995), Metarhizium spp sản sinh destruxine và cytochalasine (Roberto, 1981); P tenuipes (= I tenuipes) sản sinh tenuipesine (Kikuchi et al., 2004) (dẫn theo Vega et al., 2008)
Trong xoang cơ thể côn trùng nấm tiếp tục phát triển, hình thành hàng loạt sợi nấm và bào tử chồi, chúng phân tán khắp xoang cơ thể theo dịch máu, phá hủy các tế bào máu và làm giảm tốc độ lưu thông máu Toàn bộ các nội quan bị xâm nhập Nấm thường xâm nhập vào khí quản làm suy yếu hô hấp, hoạt động của côn trùng trở nên chậm chạp và phản ứng kém với các tác nhân kích thích bên ngoài, kết quả là vật chủ mất khả năng phòng trừ hoạt động sống và dẫn đến
chết (Luangsa-ard et al., 2006)
Pornpoj et al (2005), khi nghiên cứu khả năng gây bệnh của nấm N rileyi
trên sâu non sâu khoang cho biết khả năng xâm nhập qua bề mặt lớp biểu bì sau
48 giờ lây nhiễm Khả năng phân giải lớp biểu bì bên trong vỏ cơ thể sau 2,5 ngày lây nhiễm, diễn ra trước khi sợi nấm xâm nhập và xâm chiếm các lớp biểu
Trang 29bì, cấu trúc xâm nhập của nấm sau đó chuyển thành các cấu trúc tăng sinh trong xoang máu Các cơ quan trong xoang cơ thể bị biến đổi và để sợi nấm xâm lấn sau 5 - 6 ngày xâm nhiễm
Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy ở pha tăng sinh và gây chết vật chủ côn trùng, sau khi xâm nhập qua lớp vỏ vào trong cơ thể vật chủ côn trùng thì nấm bắt đầu sinh trưởng nhanh chóng, xâm nhập vào xoang cơ thể và đi vào máu, hoặc xâm nhập bằng đường tiêu hoá qua thành ruột rồi cũng đi vào xoang máu Quá trình sinh trưởng trong xoang máu côn trùng hình thành blastospore và khả năng sản sinh của bào tử và nấm thường tiết ra độc tố ức chế khả năng miễn
dịch của vật chủ và làm vật chủ bị chết (Luangsa-ard et al., 2006, 2009; Pornpoj
et al., 2005; Vega et al., 2008; Vineet et al., 1999;…)
2.2.2.3 Khả năng hình thành và phát tán bào tử pha hoại sinh
Giai đoạn sinh trưởng của nấm sau khi vật chủ chết là giai đoạn sống hoại sinh của nấm ký sinh Nấm ký sinh côn trùng có khả năng sản sinh ra các chất có hoạt tính như thuốc kháng sinh ức chế hoạt động của vi khuẩn và nấm hoại sinh khác nên chúng có thể cạnh tranh với các sinh vật này để tồn tại và phát triển, làm cho xác vật chủ không bị phân hủy Sau khi nấm ký sinh côn trùng đã sử dụng cạn kiệt nguồn dinh dưỡng bên trong cơ thể vật chủ, chúng chuyển sang giai đoạn hình thành bào tử Lúc này nấm đâm xuyên qua vỏ cơ thể mọc thành sợi ra bên ngoài cơ thể vật chủ thông qua tác động cơ học, sau đó các bào tử được hình thành trên lớp sợi nấm ở bề mặt cơ thể vật chủ Nói chung các loài vật chủ bị bao bọc toàn bộ bên ngoài bởi hệ sợi nấm và bào tử, vì vậy khó xác định
loài côn trùng vật chủ (Luangsa-ard et al., 2006)
Nghiên cứu phương thức lây nhiễm N rileyi gây bệnh trên sâu non sâu khoang Pornpoj et al (2005) cho biết, vào cuối chu kỳ xâm nhiễm, sợi nấm mọc
lên từ lớp biểu bì và hình thành cuống bào tử đính (condiophores) Sau 7 ngày lây nhiễm, cơ thể sâu được bao phủ hoàn toàn bởi sợi nấm màu trắng, 1 - 2 ngày tiếp theo chuyển sang màu xanh xanh lá cây và sản sinh bào tử Như vậy, chu kỳ
phát triển của nấm N rileyi trên sâu non sâu khoang hoàn thành sau 8 - 9 ngày Vega et al (2008), nghiên cứu khả năng xâm nhiễm nấm B bassiana và nấm Clonostachys rosea trên trưởng thành sâu đục quả cà phê Hypothenemus
hampei cho thấy, tỷ lệ nảy mầm của bào tử nấm B bassiana đạt 83% sau 48 giờ,
nấm C rosea đạt 83% sau 24 giờ Tỷ lệ chết sau 21 ngày lây nhiễm đạt là 100% đối với B bassiana và 82,5% đối với C rosea Mật độ bào tử nấm B bassiana
Trang 30hình thành trên mỗi vật chủ là 1,2x107±4,0x106 và C rosea là 3,6x106±9,3x105 Chu kỳ phát triển tính từ khi lây nhiễm đến khi phát tán bào tử từ xác chết của
côn trùng của nấm B bassiana là 9,9±0,2 ngày, của C rosea là 16,4±1,1 ngày
Chu kỳ phát triển của nấm ký sinh trên côn trùng hoàn thành khi chúng hình thành và phát tán bào tử vô tính trên xác vật chủ chết (và bắt dầu chu kỳ xâm nhiễm mới) Các sợi nấm bên ngoài tạo ra các bào tử vô tính, khi thành thục bào tử phát tán ra môi trường xung quanh kết thúc một chu trình nhiễm bệnh Khả năng hình thành và phát tán bào tử ảnh hưởng đến khả năng lây lan bệnh sang các cá thể khác Trong lúc đó, khả năng tồn tại của nấm sau khi xâm nhiễm phụ thuộc vào loài, mẫu phân lập, đối tượng vật chủ và điều kiện môi trường Như vậy, cho đến nay các công trình nghiên cứu đề cập về cơ chế gây bệnh hay quá trình xâm nhiễm của nấm gây bệnh côn trùng chưa đưa ra được mẫu hình thống nhất của chu kỳ phát triển của nấm trên côn trùng vật chủ Đó là (i) chu kỳ xâm nhiễm bao gồm các pha, các giai đoạn khác nhau có tính tuần tự nhưng phân chia thành các pha, các giai đoạn chưa thống nhất giữa các công trình nghiên cứu, như chu kỳ xâm nhiễm có 8 giai đoạn (Charnley, 1989), có 4
giai đoạn (Sandhu et al., 1993), có 6 giai đoạn (Clarkson and Charnley, 1996; Cheah et al., 2004), có 3 pha chính (Charnley, 2003), có 5 giai đoạn (Thomas and Read, 2007; Vega et al., 2008), 4 giai đoạn chính (Gao et al., 2011); (ii) hoặc
là chỉ tập trung vào khả năng xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể (Sandhu et al., 2012;
Thomas and Read, 2007), hoặc là chỉ tập trung vào khả năng phát triển của nấm
(Gao et al., 2011), hoặc là chỉ tập trung vào pha hoại sinh bên ngoài (Posada and
Vega, 2005; Vega and Posada, 2008) Trong đó, khả năng phát triển của nấm bệnh trong xoang cơ thể côn trùng vật chủ còn ít được nghiên cứu
2.2.3 Nghiên cứu tuyển chọn nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu hại
Có thể nói, nghiên cứu tuyển chọn được các chủng nấm triển vọng giữ vai trò rất quan trọng, là cơ sở để tạo ra được chế phẩm nấm có hiệu quả cao đối với sâu hại Nấm sau khi được phân lập từ các nguồn khác nhau tuyển chọn các chủng có hoạt tính diệt côn trùng cao, phục vụ cho mục đích tạo chế phẩm nấm
Có nhiều phương pháp đánh giá tuyển chọn chủng có hiệu lực cao và ổn định như nhân nuôi trên môi trường dinh dưỡng đặc biệt hoặc gây đột biến bằng hóa chất, chiếu tia tử ngoại, bằng sinh học phân tử Trong đó, phương pháp được sử dụng nhiều nhất là thử lây nhiễm bệnh trực tiếp lên sâu hại để đánh giá hiệu lực gây bệnh và phổ vật chủ ký sinh
Trang 31Rhichard (1962) đã tách được hàng trăm chủng M anisopliae từ một nhóm
côn trùng trong đất trồng mía ở Australia Trong số 95 chủng thử nghiệm trực tiếp, chỉ chọn được 2 chủng (F114 và F1153) là có khả năng diệt được loài sâu
hại rễ mía Lepidota frenchi và L consobrina và chủng F114 diệt được loài
nấm/g đất Hanel (1982) đã chọn lọc từ 22 chủng thì chỉ có 1 chủng
M anisopliae là phù hợp để sử dụng trong phòng trừ loài mối Nasutiterm esexitiosus (Hill) (dẫn theo Phạm Văn Nhạ, 2013)
Đánh giá hiệu lực của 4 chủng nấm B bassiana phân lập ở Argentina (Bb 1,
10, 25, và 65) từ loài bọ xít Triatoma infestans căn cứ vào tỷ lệ chết ở các mức nhiệt độ khác nhau, Roberto et al (2001) đã xác định được chủng Bb10 đạt cao
nhất ở nhiệt độ 26oC và được lựa chọn để tiếp tục nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của Posada and Vega (2005) đã phát triển một phương pháp mới nhằm lựa chọn các chủng có tiềm năng phòng trừ sinh học từ 50 chủng
nấm B bassiana trên sâu đục quả cà phê Các phương pháp sàng lọc được dựa
trên tỷ lệ chết của côn trùng, thời gian gây chết trung bình (LT50), tỷ lệ chết phân phối, khả năng nảy mầm bào tử, Chu kỳ phát triển nấm, nông độ bào tử hình thành trên côn trùng Dựa trên các thông số đó, chỉ có 11 chủng có tiềm năng được tuyển chọn để tiếp tục nghiên cứu
Cũng dựa trên cơ sở phương pháp mới trên, Lopes et al (2011) đã đánh giá tuyển chọn từ 3 chủng nấm I javanica là URM4993, URM4994, URM4995 ký sinh trên loài mối Coptotermes gestroi dựa vào tỷ lệ chết, LC50, LT50, nồng độ
bào tử hình thành trên xác chết Kết quả xác định được chủng I javanica
URM4993 tốt nhất với tỷ lệ chết đạt 100% sau 6 ngày lây nhiễm, LC50 là 4,86x106 bào tử/ml và LT50 là 26,2 ngày Nồng độ bào tử hình thành trên côn
trùng không có sự khác biệt giữa các chủng nấm
Kết quả nghiên cứu của Wilberth et al (2013) cho thấy các chủng nấm
I fumosorosea (4 chủng bản địa: Pf-Tim, Pf-Tiz, Pf-Hal and Pf-Tic và 1 chủng
nhập ngoại Pae-sin) đều gây chết trên thiếu trùng tuổi 2 của loài bọ phấn Bemisia
lần lượt là 2,6x104 và 5,5x104 bào tử/ml Các chủng Pf-Tiz và Pf-Hal cho LC50thấp nhất lần lượt là 3,5x105
và 2,3x106 bào tử/ml LT50 của thiếu trùng ở nồng
độ 107 bào tử/ml của các chủng là khác nhau Chủng nhập ngoại Pae-sin có LT50thấp nhất 3,7 ngày so với các chủng nội địa dao động 4,3 - 6,3 ngày
Trang 32Có thể nói, nghiên cứu tuyển chọn các chủng nấm triển vọng đã có từ trước đây, nhưng việc đánh giá chủ yếu dựa trên các tiêu chí về tỷ lệ chết, LC50, LT50khả năng phát triển trên môi trường nuôi cấy nên chưa đánh giá được đầy đủ tiềm năng của các chủng Hiện nay, bên cạnh dựa trên tiêu chí hiệu lực, việc tuyển chọn còn đánh giá thêm các tiêu chí phản ảnh về khả năng phát triển của nấm cả sau khi gây chết vật chủ như tỷ lệ mọc nấm, chu kỳ phát triển của nấm, nồng độ bào tử hình thành Việc đánh giá như trên sẽ giúp xác định được những chủng tốt nhất, tăng tính ổn định và khả năng lưu tồn của nấm trên đồng ruộng
2.2.4 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh của nấm trên côn trùng
Khả năng gây bệnh của nấm ký sinh trên vật chủ côn trùng chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm nguồn nấm, vật chủ, điều kiện ngoài cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng) Mỗi yếu tố có những ảnh hưởng nhất định, đồng thời
có mối quan hệ tác động lẫn nhau
2.2.4.1 Nguồn nấm ký sinh
Nấm ký sinh côn trùng có phổ ký chủ rộng nhất trong các vi sinh vật gây bệnh cho các loài chân khớp Sự gây bệnh của nấm lên cơ thể côn trùng phụ thuộc vào khả năng sản sinh các enzyme và các độc tố, sức sống của loài/chủng; đồng thời cũng chịu ảnh hường bởi sinh lý của ký chủ (kháng thể) và điều kiện môi trường Yếu tố quan trọng trong việc lựa chọ loài/chủng là độc lực, đó là số lượng của bào tử có thể gây lên bệnh trong một nhóm của côn trùng Mật độ các bào tử phải đủ lớn đảm bảo tốt khả năng côn trùng tới sẽ tiếp xúc với số lượng
đủ, cho nên số lượng bào tử trong môi trường phải nhiều hơn ngưỡng gây nhiễm tối thiểu Khi một nấm có độc tố cao sẽ cần ít bào tử để gây bệnh, còn nấm yếu sẽ cần nhiều hơn Mật độ bào tử được xác định qua nồng độ, liều lượng bằng g (ml)
Hiệu lực của nấm I javanica đối với loài mối Coptotermes gestroi đạt hiệu
lực khá cao với tất cả các nồng độ thí nghiệm từ 104
- 108 bào tử/ml ở nhiệt độ 25±1oC và độ ẩm 80±10% Kết quả cho thấy, nấm I javanica có triển vọng trong phòng trừ loài mối này (Lopes et al., 2011)
Nấm Isaria sp là tác nhân gây bệnh loài bọ phấn trắng Bemisia tabaci
(biotype B) hại khoai lang Trong điều kiện phòng thí nghiệm (27oC, 70%RH, thời gian chiếu sáng 14L : 10D) ở các nồng độ bào tử khác nhau 20, 200, 1000 bào tử/mm2
đối với rệp non tuổi 2, 3 và 4 đã thu được kết quả như sau: nồng độ gây chết trung bình rệp non tuổi 2 là 72 - 118 bào tử/mm2, tuổi 3 là 101 - 170 bào tử/mm2, tuổi 4 là 166 - 295 bào tử/mm2 (Enrique and Walker, 2009)
Trang 332.2.4.2 Vật chủ côn trùng
Đặc điểm hình thái và sinh lý của côn trùng liên quan tới tính mẫn cảm đối với nấm ký sinh côn trùng Các yếu tố liên quan đến hiệu lực gây bệnh của nấm như mật độ phân bố, tập tính, giai đoạn phát triển, dinh dưỡng, hoạt chất, các yếu
tố môi trường, dinh dưỡng, vẫn chưa được hiểu rõ Thường những loài côn trùng hoạt động nhiều thì mẫn cảm hơn những loài ít hoạt động (Vago, 1963) Mật độ côn trùng là một trong những yếu tố đóng vai trò quyết định đến khả năng gây bệnh của nấm Khi mật độ côn trùng tăng, xác suất để chúng tiếp xúc với tác nhân gây bệnh như nấm (tác nhân gây bệnh trực tiếp hoặc lây nhiễm
từ cá thể bị bệnh khác) cũng tăng lên Mật độ còn ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng hoạt động, tập tính, sức khỏe, khả năng cạnh tranh trong loài, từ đó ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý và tính mẫn cảm của côn trùng Mật độ quá cao cũng đã được chỉ ra sự cạnh tranh trong loài, và sau đó làm ảnh hưởng tới sự nhiễm bệnh của côn trùng do các nhân tố không phải là nấm (Steinhaus, 1958) Tập tính của côn trùng cũng có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của bệnh và
có thể làm ảnh hưởng tới sự lây lan của bệnh sang các côn trùng khỏe Ví dụ, tập tính sống quần tụ, vị trí và phương thức gây hại cây trồng, thời điểm hoạt động, khả năng di chuyển, Một số loài côn trùng bị nhiễm các bệnh do nấm thường
bò lên ngọn cây, khi chết bám vào cây (như châu chấu khi bị nhiễm nấm
Entomophaga grylli) Đặc điểm này làm tăng khả năng phát tán và khả năng bắt
gặp vật chủ Tuy nhiên, những vấn đề này cũng chưa được ghi nhận nhiều Các giai đoạn phát triển của côn trùng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng gây bệnh của nấm Các nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các giai đoạn hay độ tuổi của côn trùng đều có tỉnh mẫn cảm như nhau đối với sự gây bệnh bởi nấm Thường thì giai đoạn sâu non của côn trùng mẫn cảm
hơn so với khi trưởng thành, như sâu non sâu đục thân ngô Ostrinia nubilalis ở tuổi nhỏ mẫn cảm hơn các tuổi lớn đối với nấm B bassiana (Feng et al., 1985); tốc độ gây bệnh của loài Isaria sp trên trưởng thành bọ phấn chậm hơn và tỷ lệ
chết thấp hơn so với sâu non (Enrique and Walker, 2009) Nhưng cũng có một số
loài thì ngược lại, như bọ trĩ Frankliniella occidentalis trưởng thành mẫn cảm hơn sâu non đối với nấm Verticillium ecanii (Vestergaard et al., 1995)
2.2.4.3 Điều kiện ngoại cảnh
Sự gây bệnh của nấm ký sinh trên côn trùng vật chủ có quan hệ chặt chẽ với
điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng Nghiên cứu của Sandhu et al
Trang 34(1993), nhiệt độ và độ ẩm tương đối ảnh hưởng đến khả năng tồn tại bào tử đính
và hoạt lực độc của nấm đối với sâu xanh (Helicoverpa armigera) Bào tử
khác nhau (0, 33, 53, 75, 85 và 98% RH) và được xác định trong một khoảng thời gian 24 tháng Bào tử sống dài nhất ở nhiệt độ thấp (0 - 20o
C) và độ ẩm thấp (0 - 53% RH) Ở nhiệt độ cao hơn (30 - 40oC) bào tử không tồn tại Khi nhiệt độ được giảm từ 30oC đến 0oC, tại gần như tất cả các mức độ ẩm tuổi thọ của bào tử
tăng Bào tử vẫn gây độc nguy hiểm cho sâu non tuổi ba của H armigera trong
điều kiện lưu giữ đảm bảo sau 24 tháng
Theo nghiên cứu của Steven and Matthew (2001), độ ẩm tương đối và nhiệt
độ ảnh hưởng đến hình thành bào tử nấm M anisopliae var acridum trên châu chấu (Schistocerca gregaria) trong phòng thí nghiệm Sau 10 ngày khả năng phát
sinh bào tử đạt tối ưu ở độ ẩm > 96% và ở nhiệt độ 20 - 30oC, tốt nhất 25oC với nồng độ đạt > 109
bào tử/con Bào tử ít hình thành ở 15oC (< 3x107 bào tử/con)
và 40oC (< 4x106 bào tử/con) và bào tử không hình thành ở 10 hoặc 45oC
Roberto et al (2001) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức nhiệt độ khác
nhau (18, 22, 26, 30, và 34oC) và độ ẩm tương đối (35 và 90% RH) đến khả năng
gây chết của 4 chủng B bassiana phân lập từ Argentina (Bb 1, 10, 25, và 65) đối với loài bọ xít Triatoma infestans Kết quả, tỷ lệ chết đạt cao nhất là chủng Bb10,
16L: 8D thấp hơn so với 24L Tỷ lệ lột xác thành trưởng thành của sâu non bọ
phấn phụ thuộc vào tốc độ nhiễm nấm và chế độ chiếu sáng (Pasco et al., 2004)
Hiệu lực phòng trừ sâu khoang ở nhiệt độ liên tục là 25±1o
C hoặc ở chu kỳ nhiệt độ 32±2oC trong 8 giờ và 21±2oC trong 16 giờ khi sử dụng một loài nấm
hoặc kết hợp cả 2 loài nấm N rileyi và B bassiana đều cho kết quả tương tự
nhau Như vậy, 2 loài nấm không có tác động hỗ trở để tăng hiệu quả gây bệnh
Khi nhiệt độ tăng làm giảm tính độc của nấm, trong đó loài N rileyi mẫn cảm hơn loài B bassiana (Rao et al., 2006)
Như vậy, nấm ký sinh - vật chủ côn trùng - điều kiện ngoại cảnh là 3 nhóm yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả gây
Trang 35bệnh của nấm ký sinh trên côn trùng Đồi với hầu hết các loài nấm thì yếu tố nhiệt độ và độ ẩm thường có ảnh hưởng lớn nhất tới sự gây bệnh trên côn trùng Mặc dù nấm ký sinh côn trùng đã được ứng dụng hơn 100 năm nay nhưng nghiên cứu về sự gây bệnh của nấm trong mối quan hệ với các yếu tố sinh thái còn rất ít được biết đến Hiện nay đã có một số nghiên cứu còn mang tính độc lập, chưa đủ
để khái quát thành mối quan hệ về sự gây bệnh của nấm ký sinh côn trùng với
các yếu tố sinh thái (Jason et al., 2009; Sandhu et al., 1993; Vega et al., 2009)
Cho nên, cần có các nghiên cứu để hiểu biết mối quan hệ này nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng chế phẩm nấm ký sinh côn trùng phòng trừ sâu hại
2.2.5 Nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu khoang
Sâu khoang là đối tượng dịch hại nguy hiểm trên nhiều loài cây trồng, nhất
là cây lạc ở nhiều nước trên thế giới Các biện pháp phòng trừ sâu khoang bằng thuốc hóa học không đem lại hiệu quả Cho nên, việc nghiên cứu ứng dụng nấm
ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu khoang là giải pháp triển vọng và đang được
quan tâm nhưng cho đến nay mới có một số nghiên cứu bước đầu
Theo kết quả của Vimala et al (2003) khi đánh giá hiệu lực phòng trừ của nấm N rileyi đối với sâu khoang thì ở nồng độ 2x108
bào tử/ml cho tỷ lệ chết cao
nhất đạt 77 - 80% sau 7 ngày
Đánh giá khả năng gây bệnh của 4 loài nấm trên sâu khoang thì 2 loài
B brongniartii và N rileyi có tác dụng gây bệnh cao nhất, với thời gian gây chết
trung bình (LT50) tương ứng là 2,95 và 4,10 ngày và tỷ lệ chết tương ứng là
100% và 95,2% Hai loài P fumosoroseus và B bassiana cũng có độc tính với
sâu khoang nhưng thấp hơn với giá trị LT50 tương ứng là 4,89 và 6,34 ngày và tỷ
lệ chết tương ứng là 85,7% và 71,4% (Lin et al., 2007)
Các nghiên cứu khác cũng cho thấy loài B bassiana có nhiều triển vọng phòng trừ sâu khoang Vijayavani et al (2009) đã nghiên cứu khả năng gây bệnh trên sâu khoang của 2 chủng B bassiana (SBT 11 và SBT 16) trong điều kiện phòng thí nghiệm đều có tỷ lệ chết đạt 100% Chủng B bassiana SBT11 hiệu lực nhanh hơn so với chủng B bassiana SBT16 có thời gian gây chết trung bình
LT50 tương ứng là 5,1 và 6,0 ngày Bào tử nấm hình thành trên 87% xác chế sâu
khoang Theo Joseph et al ( 2010) ở mức nồng độ 109 bào tử/ml nấm B bassiana
cho đạt tỷ lệ chết đạt 100% với nồng độ gây chết trung bình là 0,5x106 bào tử/ml
Baskar et al (2012) thì chủng B bassiana (Bb10) thu thập ở Tamil Nadu, Ấn Độ
ở nồng độ 108 bào tử/ml cho tỷ lệ chết cao nhất đỗi với sâu khoang tuổi 3 là
Trang 3668,06%, trọng lượng nhộng tối thiểu 183 mg, giảm tỷ lệ vũ hoá từ 22,91% đến 100%; trưởng thành bị dị tật phát triển không bình thường Chủng Bb10 được xem một giải pháp thay thế hữu ích thay thế dần thuốc trừ sâu hóa học
Nhìn chung, trên thế giới các nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sâu khoang còn hạn chế, mới chỉ có một số nghiên cứu thời gian
gần đây Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các loài B bassiana và N rileyi, còn các loài nấm chi Isaria còn ít được quan tâm
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
2.3.1 Nghiên cứu về nấm ký sinh côn trùng chi Isaria
2.3.1.1 Thành phần loài nấm chi Isaria và vật chủ của chúng
Ở Việt Nam có một số điều tra khảo sát về thành phần các loài nấm ký sinh
côn trùng chi Isariai ở hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái nông nghiệp
Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao, chứa đựng nguồn lợi lớn về nấm ký sinh côn trùng Theo kết quả nghiên cứu
của Trần Ngọc Lân và cs (2008a, b) đã thu thập và xác định được 71 loài nấm
thuộc 17 chi ký sinh trên vật chủ thuộc 3 bộ côn trùng khác nhau, trong đó chi
Isaria có 4 loài là I farinosa, I javanica, I tenuipes, Isaria sp Trần Ngọc Lân
và cs (2011a) đã xác định được 101 loài nấm thuộc 21 chi ký sinh trên 11 bộ côn trùng, 1 bộ nhện Chi Isaria có 10 loài, 134 mẫu, trong đó I tenuipes phổ biến nhất, tiếp theo là I javanica
Theo Trần Ngọc Lân và cs (2011a, b) loài nấm I tenuipes thu thập tại
VQG Pù Mát, Nghệ An chỉ ký sinh trên nhộng sâu cánh vảy, quả thể có 4 dạng hình thái (hoa cúc trắng, lục bình trắng, bông tuyết, dạng vô tính kết hợp hữu tính), sinh trưởng nhanh trên PDA, bào tử dạng bột và có triển vọng trong phòng trừ sâu hại cây trồng
Theo Nguyễn Thị Thúy và cs (2012b) đã phát hiện dạng sinh sản hữu tính
của loài I tenuipes là Cordyceps takaomontana tại VQG Pù Mát Nấm
C takaomontana ký sinh trên nhộng côn trùng bộ Cách vảy, quả thể từ 2 - 4 cái;
màu vàng nhạt đến da cam nhạt; hình trụ hoặc hình chuỳ; dài 3,90 - 11,20 mm Nuôi cấy trên PDA ở 25oC nấm phát triển tương đối nhanh, đường kính tản nấm
sau 12 ngày đạt 38,18±4,74 mm Đây là một trong ít loài nấm thuộc chi Isaria xác định được dạng hữu tính và thuộc chi Cordyceps
Tại Vườn Quốc gia Cát Tiên đã thu thập được 259 mẫu, định loại xác định
Trang 37được 41 loài nấm ký sinh côn trùng thuộc 17 chi Trong đó, chi Aschersonia đa dạng nhất với 8 loài, tiếp theo là chi Cordyceps và Torrubiella với 5 loài, chi
Isaria có 3 loài là I javanica, I tenuipes, Isaria sp (Lê Tấn Hưng và cs., 2010)
Ở hệ sinh thái nông nghiệp, Phạm Thị Vượng và cs (2014) đã thu thập, phân lập và xác định được tên khoa học của 6 loài nấm ký sinh rầy nâu hại lúa tại
Thái Bình, loài P javanicus chiếm ưu thế với 20,83% so với các loài nấm ký
sinh côn trùng khác Trần Thị Tho và cs (2014) đã thu thập được 7 chủng
P javanicus ký sinh trên rệp sáp giả gây hại vườn cây ăn quả tại Cần Thơ, Vĩnh
Long và Sóc Trăng
2.3.1.2 Nghiên cứu về nhân nuôi các loài nấm chi Isaria
Trong thời gian qua ở Việt Nam chủ yếu là những nghiên cứu về công
nghệ lên men nhân sinh khối để sản xuất chế phẩm sinh học từ nấm Beauveria và
Metarhizium để phòng trừ dịch hại nông lâm nghiệp (Tạ Kim chỉnh, 2009; Tạ
Kim chỉnh và cs., 2006; Phạm Thị Thuỳ, 1993; Phạm Thị Thùy và cs., 2005; )
Nghiên cứu nhân nuôi các loài nấm chi Isaria mới chỉ có một số kết quả bước đầu Theo Trần Ngọc Lân và cs (2012) khối lượng cơ chất khác nhau ảnh hưởng đến khả năng hình thành bó cuống bào tử đính (synnema) của nấm Isaria
tenuipes Lượng cơ chất 40g phù hợp nhất cho hộp nhựa 700 ml với thời gian thu
hoạch synnema là 45,67±1,53 ngày và sản lượng synnema thu được 19,52±0,61(g/hộp) Chất dinh dưỡng trong nhộng tằm thích hợp cho sự hình thành synnema
của I tenuipes, với thời gian thu hoạch synnema là 43,33±0,58 ngày và sản
lượng synnema là 17,82±1,66 (g/hộp) Chu kỳ sinh trưởng synnema của
I tenuipe trong nhân nuôi tạo gồm 4 giai đoạn là (1) Bao phủ hệ sợi nấm, (2)
Chuyển màu, (3) Mọc mầm và (4) Tăng trưởng của synnema
Theo Nguyễn Thị Thúy và cs (2012), nấm I javanica sinh trưởng và phát
triển nhanh trên môi trường lên men rắn, với hàm lượng cơ chất 150 gam gạo lứt
và 3 gam nhộng tằm trong bình 500ml Nấm bao phủ toàn bộ môi trường sau 10 ngày và đạt nồng độ bào tử cao nhất là 67,58x106 bt/g sau 12 ngày nuôi cấy Bên cạnh đó, môi trường SDAY3 gồm 10g cao thịt (pepton), 40g đường (dextrose), 2g cao nấm men (yeast extract), khoáng, 1000ml nước cất) cũng thích
hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm P javanicus, mật độ đạt 108 bào tử/cm2 Hai hoạt chất Hexaconazole và Carbendazim trong thuốc trừ nấm ức chế hoàn toàn khả năng phát triển của loài nấm này (Trần Thị Tho và cs., 2014)
Trang 382.3.1.3 Nghiên cứu về hoạt chất sinh học của chi Isaria
Ở Việt Nam, các nghiên cứu hoạt chất sinh học của nấm ký sinh côn trùng
còn hạn chế Đối với các loài nấm chi Isaria mới chỉ có nghiên cứu đầu tiên của Trần Ngọc Lân và cs (2008) về nguồn lợi nấm ký sinh côn trùng ở VQG Pù Mát
Từ năm 2007 đến 2008 đã xác định có 5 loài nấm chi Cordyceps và một số loài chi Isaria có nhiều hoạt chất sinh học mới đang được thử nghiệm Đặc biệt loài nấm I javanica được phát hiện có 5 hoạt chất sinh học, trong đó có 3 chất được
ghi nhận là chất mới trên thế giới nhưng chưa được định danh
2.3.1.4 Nghiên cứu ứng dụng chi Isaria trong phòng trừ sinh học
Nghiên cứu sử dụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sinh học ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ 20 và đến nay đã có một số kết quả nhất định Các nghiên cứu của Tạ Kim Chỉnh (1992, 2005, 2006); Nguyễn Văn
Cảm (1994); Nguyễn Lân Dũng (1981); Đàm Ngọc Hân và cs (2007); Phạm Văn Lầm (2000); Trần Ngọc Lân và cs (2008, 2011a, 2011b, 2012); Võ Thị Thu Oanh và cs (2008); Nguyễn Thị Thanh và cs (2011a, 2011b); Phạm Thị Thuỳ và
cs (1993, 2005, 2013); Phạm Thị Vượng và cs (2014), Tuy nhiên, các nghiên
cứu mới tập trung vào 2 loài nấm truyền thống là B bassiana, M anisoplae; các
loài nấm chi Isaria mới có một số dẫn liệu bước đầu
Kết quả đánh giá bước đầu cho thấy loài I javanica có khả năng phòng trừ một số loài sâu hại như sâu khoang, rệp và rệp muội (Trần Ngọc Lân và cs., 2011a) Đối với sâu khoang hiệu lực phòng trừ của nấm I javanica ở nồng độ
8,50x107 bt/ml ở điều kiện ô lưới sau 10 ngày lây nhiễm đạt 83,18% với nấm dạng lỏng và 54,54% với nấm dạng bột khô Hiệu lực phòng trừ của nấm
I javanica khác nhau theo các tuổi của sâu non sâu khoang, cao nhất là tuổi 1, 2
đạt 81,39% (Nguyễn Thị Thanh và cs., 2011a)
Nấm I javanica có hiệu lực cao đối với 2 loài rệp (Brevicoryne brasiceae
Linn.) và rệp muội (Aphis medicaginis Koch) với tỷ lệ chết đạt trên 90% ở nồng
độ 8,50x107 bt/ml sau 10 ngày lây nhiễm ở cả trong phòng thí nghiệm và ô lưới
(Nguyễn Thị Thanh và cs., 2011b)
Phí Thị Thu Hà và cs (2014) đã nghiên cứu sản xuất và ứng dụng nấm tím
P javanicus phòng chống rầy nâu hại lúa Kết quả cho thấy, sử dụng công nghệ
sản xuất lên men xốp với môi trường gạo hấp 100g trộn 30ml dung dịch CaCO30,5% từ chủng PaeR2 có thể sản xuất chế phẩm nấm đạt nồng độ 2,5x109 bào tử/g chế phẩm khô Chế phẩm có hiệu lực trừ rầy đạt 82,26 - 86,09% sau 11 - 14
Trang 39ngày trong điều kiện nhà lưới; đạt 57,24% hiệu lực sau phun 10 và 14 ngày tương đương với thuốc hóa học Actara 25WG khi sử dụng trên đồng ruộng tại Thái Bình trong vụ mùa 2012
Có thể nói, những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi
thế của Việt Nam về nguồn lợi nấm ký sinh côn trùng Loài I javanica đã được
nghiên cứu ở một số nước trên trên thế giới như Thái Lan, Nhật Bản, Trung
Quốc Ở Việt Nam, loài I javanica mới được phát hiện và nghiên cứu từ năm
2008 nên các dẫn liệu rất khá hạn chế Các nghiên cứu mới chỉ là những nét chấm phá như điều tra khảo sát một vài địa điểm, một số nghiên cứu về nhân nuôi và thử nghiệm phòng trừ trên sâu khoang, rệp và rầy nâu Song theo các
đánh giá đều cho thấy loài nấm I javanica hứa hẹn sẽ tạo ra được một số chế
phẩm sinh học hiệu quả trong phòng trừ sâu hại
2.3.2 Nghiên cứu tuyển chọn nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu hại
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu sàng lọc để lựa chọn các nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu hại Phương pháp chủ yếu bằng nuôi cấy để đánh giá khả năng sản sinh enzyme ngoại bào; hoặc lây nhiễm bệnh nhân tạo lên sâu hại
để đánh giá về hiệu lực gây chết sâu hại Tuy nhiên các tiêu chí đánh giá này chưa phản ảnh được đầy đủ sức sống, khả năng phát triển của nấm
Tạ Kim Chỉnh (1994) đánh giá hiệu lực gây chết đối với mối nhà, mối hại cây và khả năng sản sinh enzyme ngoại bào đã tuyển chọn từ 18 chủng được 2
chủng tốt nhất là M anisopliae Ma.82C và B bassiana Bb.75KC Nghiên cứu
tiếp theo, Tạ Kim Chỉnh và cs (2006) đã áp dụng phương pháp đơn giản là đánh giá phổ tác dụng của các chủng trên nhiều sâu hại, để chọn ra chủng có hoạt tính sinh học ổn định và hiệu lực cao để sản xuất chế phẩm Nghiên cứu đã xác định
được 8/18 chủng nấm M anissopliae và B bassian để phòng trừ côn trùng trong
đất hại cây trồng là Ma5, MARN, Ma0M5, MaLC, Ma3C, Ma4C, Bb1 và Bb2 Nghiên cứu gần đây của Phạm Văn Nhạ và cs (2013), đã đánh giá khả năng sản sinh enzym ngoại bào xác định được 8/12 chủng tốt nhất Sau đó tiếp tục đánh giá hiệu lực gây chết đối với rệp sáp trong phòng thí nghiệm, thì xác định
được 2 chủng đạt cao nhất là B bassiana BR5 đạt 77,78% trên rệp sáp bột hại quả và M anisopliae MR4 đối với rệp bột hại gốc rễ 74,45%
Đánh giá tuyển chọn từ 2 chủng PaeRi và PaeR2 của loài nấm P javanicus
thu thập trên lúa ở Thái Bình Dựa vào hiệu lực gây chết thì chủng PaeR2 cho hiệu lực phòng trừ rầy nâu đạt cao hơn từ 68,6% tới 81,3% sau 7 và 10 ngày phun trong điều kiện nhà lưới (Phạm Thị Vượng và cs., 2014)
Trang 402.3.3 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xâm nhiễm và gây bệnh của nấm trên côn trùng
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Nhạ và cs (2012), về sự phát triển của nấm ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau cho thấy: Nhiệt độ 25 - 28oC tất cả các chủng đều phát triển tốt, ở 35oC nấm không phát triển, ở 30oC các chủng nấm
B bassiana là BR2, BR4, BR7, BR10, BR11, BR13 và BR16 có phát triển tốt
Chủng PaeR2 của loài P javanicus phát triển được cả trên 2 môi trường
PDA và SDAY ở nhiệt độ 20, 25, 30oC Trong đó, nấm phát triển tốt nhất trong ở nhiệt độ 25 - 30oC trên môi trường PDA (Phạm Thị Vượng và cs., 2014)
2.3.4 Nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâu khoang
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều loại dịch hại nguy hiểm trên đồng ruộng, trong đó có sâu khoang Sử dụng nấm ký sinh côn trùng là một hướng đi triển vọng nhằm tạo ra những sản phẩm an toàn Cho đến
nay đã nghiên cứu một số loài nấm gây bệnh cho sâu khoang như B bassians,
N rileyi và I javanica Cũng như nhiều nghiên cứu khác về nấm gây bệnh côn
trùng ở Việt Nam, ứng dụng nấm I javanica gây bệnh cho sâu khoang mới dừng
lại ở thử nghiệm nhân nuôi và đánh giá hiệu lực gây chết (Trần Ngọc Lân và cs., 2011a; Nguyễn Thị Thanh và cs., 2011a; Phạm Thị Thùy và cs., 2013)
Một số kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân và cs (2011a); Nguyễn Thị
Thanh và cs (2011a) cho thấy nấm I javanica có nhiều triển vọng trong phòng
trừ sâu khoang hại cây trồng, hiệu lực phòng trừ ở mức nồng độ 8,50x107
bào tử/ml đạt trên 90% sau 10 ngày lây nhiễm, cao nhất là tuổi 1, 2
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Thùy và cs (2013), đã tạo ra được chế
phẩm sinh học NOMURI từ nấm N rileyi, phòng trừ được các sâu hại rau như
sâu khoang, sâu xanh bướm trắng và sâu tơ hại bắp cải, suplơ, đậu xanh, đậu tương, đạt hiệu lực cao từ 65 - 75,5 % sau 10 - 15 ngày phun và hiệu quả kéo dài
vì bào tử nấm có khả năng lây lan
Nhìn chung, cho đến nay ở Việt Nam nghiên cứu nấm ký sinh côn trùng
trong phòng trừ sâu hại chủ yếu vào 2 loài nấm truyền thống là B bassiana,
M anisopliae Hiện nay mới tập trung đến khâu sản xuất ứng dụng chế phẩm mà
ít chú trọng đến nghiên cứu cơ bản như đánh giá tuyển chọn các chủng nấm mục tiêu, quá trình xâm nhiễm gây bệnh, mối quan hệ nấm ký sinh, sâu hại và môi trường Đây cũng là khoảng trống mà đề tài có thể tập trung nghiên cứu tìm hiểu