Nghiên cứu điều tra cắt ngang kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh SXHD của người dân tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc được thực hiện từ tháng 10 – 11/2011 thông qua phỏng vấn, thu th
Trang 1Điều tra kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue
TÓM TẮT: Bệnh Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính do muỗi truyền, hiện nay bệnh vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu Một trong những chiến lược toàn cầu phòng chống SXHD
là phòng chống véc tơ có chọn lọc kết hợp huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng và các ban ngành đoàn thể Nghiên cứu điều tra cắt ngang kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh SXHD của người dân tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc được thực hiện từ tháng 10 – 11/2011 thông qua phỏng vấn, thu thập thông tin của 1.100 người dân tại đây bằng bộ câu hỏi Tỷ lệ người dân biết triệu chứng cơ bản của bệnh SXHD là 35,3%, kiến thức của họ về cách phòng chống bệnh SXHD đúng chỉ đạt 10,1% Nhưng khi quan sát thực hành của họ về các biện pháp diệt bọ gậy, phòng muỗi đốt và thói quen tàng trữ nước chúng tôi thấy 26,6% người dân đã áp dụng đúng các biện pháp Các yếu tố giới tính, nghề nghiệp có liên quan đến hiểu biết về bệnh SXHD và những người hiểu biết về SXHD có hành vi đúng về phòng chống SXHD cao hơn 4,17 và 4,95 lần so với nhóm không hiểu biết về SXHD Từ khoá: Sốt xuất huyết Dengue, Kiến thức - thực hành, khu vực miền núi phía Bắc, Aedes albopictus.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh SXHD do muỗi truyền là một trong những nguy hại toàn cầu ảnh hưởng tới 50% dân số thế giới Trong 20 năm trở lại đây, số mắc mới tăng gấp 3 lần so với 30 năm về trước [1] Mật độ và thời gian di chuyển giữa các khu vực tăng cao cùng với khí hậu toàn cầu thay đổi đã làm cho SXHD ngày càng mở rộng vùng phân
bố và số mắc Bởi chưa có vacxin phòng bệnh nên phòng chống muỗi véc tơ là biện pháp được Tổ chức Y tế thế giới và các nhà hoạch định chiến lược y tế sử dụng làm chiến lược chính nhằm đương đầu với căn bệnh toàn cầu này [2, 3]
Tại Việt Nam, bệnh SXHD là bệnh dịch lưu hành địa phương, nhất là các tỉnh đồng bằng châu thổ Nam bộ, duyên hải Trung bộ và vùng đồng bằng, duyên hải Bắc bộ [4,5] Tuy vậy, từ năm 2008 đến nay,một số tỉnh miền núi phía Bắc đã ghi nhận có các ca bệnh SXHD rải rác, cụ thể:năm 2008 có 4 trường hợp được ghi nhận mắc SXHD tại Sơn La (2 ca) và Tuyên Quang (2 ca), năm 2009 có 13 trường hợp được ghi nhận mắc SXHD tại Sơn
La (11 ca) và Bắc Kạn (2 ca), năm 2010 đã ghi nhận 12 ca SXHD tại các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc[5,6] Đặc biệt, những ca bệnh này phần lớn là sinh viên hoặc những người đi làm ăn tại Hà Nội hoặc khu vực có dịch SXHD lưu hành [4].Năm 2010, một vụ dịch SXHD đã xảy ra tại 1 huyện Hương Khê, Hà Tĩnh – huyện miền núi,
với số ca mắc được ghi nhận là 155 ca và tại đây 100% nhà điềutra đều phát hiện thấy sự có mặt của muỗi Aedes albopictus, trong khi chỉ có 4,0% (2/50) nhà phát hiện có muỗi Aedes aegypti [7]
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế, dân số và sự đô thị hóa thì sự giao lưu thương mại giữa các vùng miền của chúng ta cũng ngày càng lớn sẽ đẩy mạnh mối liên quan giữa người mang vi rút dengue, loài
muỗi Aedes truyền bệnh và người lành tại cộng đồng Những mối quan hệ này làm tăng nguy cơ phát tán virút
dengue từ nơi khác tới [8,9] Vì thế dịch SXHD có thể xuất hiện và lan rộng đến những vùng núi, vùng cao nguyên biên giới phía Bắc Các thành phố, thị trấn miền núi cũng đang được đô thị hóa mạnh mẽ với nhiều công trình xây dựng mới, thay đổi môi sinh và cả hành vi của con người sẽ có thể làm tăng nguy cơ bùng phát SXHD tại khu vực này Mặc dù, dự án phòng chống SXHD đã được mở rộng, bổ sung 11 tỉnh miền núi phía Bắc vào diện cần thiết phải thực hiện giám sát và phòng chống SXHD Tuy nhiên, do nguồn lực còn nhiều hạn chế nên cáchoạt động phòng chống SXHD tại các tỉnh này mới chỉ tập trung một phần vào công tác giám sát, tuyên truyền [4,6] Trước hiện trạng cảnh báo một nguy cơ bùng phát dịch SXHD tại các tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi tiến hành điều tra kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh SXHD tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc nhằm củng cố, bổ sung và nâng cao chất lượng công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh SXHD và các biện pháp phòng chống
II ĐỐITƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bắc gồm Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Phú Thọ (Biểu đồ 1) Mỗi tỉnh được lựa chọn hai điểm nghiên cứu gồm 01 điểm thành thị và 01 điểm nông thôn
3.Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu điều tra cắt ngang Mỗi điểm lựa chọn ngẫu nhiên 50 hộ gia
đình và tiến hành phỏng vấn một người đại diện cho mỗi hộ gia đình thông qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
Trang 2III KẾTQUẢ VÀ BÀN LUẬN
Các tỉnh miền núi được phân chia
theo các vùng địa giới Vùng Tây Bắc Bộ
bao gồm: Điện Biên, Sơn La, Lai Châu,
Lào Cai, Yên Bái và vùng Đông Bắc Bộ
bao gồm: Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn,
Cao Bằng, Tuyên Quang, Phú Thọ Phú
Thọ và Sơn La là 2 tỉnh trong các tỉnh
Miền Núi phía Bắc có số dân cao nhất
tương ứng là 1.313 và 1.080 triệu người,
ngược lại tỉnh Bắc Cạn và Lai Châu là 2
tỉnh có số dân thấp nhất tương ứng là
0,294 và 0,370 triệu người Tỉnh Yên Bái
và tỉnh Phú Thọ có độ cao thấp nhất so với
mặt nước biển tương ứng là 41 và 40 mét
trong khi Lai Châu có độ cao là 846 mét
Mười một tỉnh miền núi phía Bắc có tổng
số 2.181 xã, phường thuộc 94 quận,
huyện
Biểu đồ 1: Bản đồ các tỉnh Miền Núi phía Bắc và số mắc
SXHD giai đoạn 2006-2011
Đây là các tỉnh loại C (các tỉnh có nguy cơ thấp) trong chương trình phòng chống SXHD quốc gia, số mắc
SXHD ghi nhận trong giai đoạn 2006 đến 2011 là 37 trường hợp, 6/11 tỉnh có bệnh nhân SXHD chủ yếu là bệnh nhân đi làm ăn từ nơi khác về, hai tỉnh Sơn La và Phú Thọ có số mắc SXHD cao trong giai đoạn với 13 trường hợp (Biểu đồ 1)
1 Kiến thức của người dân tại 11 tỉnh miền núi hiểu biết về bệnh SXHD
Nhóm điều tra đã tiến hành phỏngvấn 1.100 người dân sinh sống tại hai điểm thành thị và nông thôn thuộc
11 tỉnh miền núi phía Bắc Trong đó, số người được phỏng vấn nữ là 580 và 520 nam, độ tuổi của người được phỏng vấn trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao (41%) so với các độ tuổi khác nhưng trong số đó là cán bộ, công chức nhà nước đã nghỉ hưu chỉ chiếm có khoảng 12,8% Nghề nghiệp còn của người được phỏng vấn chủ yếu là người lao
động tự do hoặc những người phụ nữ ở nhà nội trợ và nông dân (Bảng 1)
Bảng 1 Kiến thức cơ bản của người dân về triệu chứng và cách phòng chống bệnh SXHD
Đối tượng
tham gia
phỏng vấn
(n = 1.100)
Triệu chứng sốt xuất huyết
dengue
Giá trị P
Cách phòng chống bệnh SXHD
Giá trị P Đúng hoặc
đúng nhưng chưa đủ
Không biết hoặc biết nhưng sai
Độ tuổi
Trang 3<= 20 11
(45,8%)
13 (54,2%)
X2 = 7,87
P = 0,096
3 (12,5%) 21 (87,5%)
X2 = 0,66
P = 0,62
(43,5%)
95
(31,7%)
153 (68,3%)
23 (10,2%) 201 (89,7%)
(33,3%)
156 (66,7%)
22 (9,4%) 212 (90,6%)
>=50
155 (34,4%)
295
Giới tính
Nam
205 (39,4%)
315 (60,6%)
X2 = 7,44
P = 0,01
49 (9,4%) 471 (90,6%)
X2 = 0,48
P = 0,49
Nữ
183 (31,5%)
397
Nghề nghiệp
Nông dân
117 (26,3%)
328 (73,7%)
X2 = 35,65
P < 0,01
35 (7,9%) 410 (92,1%)
X2 = 30,5
P <0,01
Giáo Viên
21 (61,8%)
13
Trang 4Cán bộ nghỉ
hưu
65 (46,1%)
76 (53,9%)
21 (14,9%) 120 (85,1%)
Nghề khác
185 (38,1%)
295
Trong nghiên cứu này để phân tích được dễ dàng hơn chúng tôi phân chia sự hiểu biết của người dân về
triệu chứng của bệnh SXHD thành 2 nhóm Nhóm 1 là những người hiểu đúng hoàn toàn hoặc hiểu đúng nhưng
chưa đủ về triệu chứng của bệnh SXHD, nhóm còn lại là những người trả lời “không biết” hoặc trả lời nhưng sai
hoàn toàn Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ người dân được hỏi rơi vào nhóm 1 chiếm 35,3%, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Hải và cộng sự năm 2008 [10] tại Mỹ Tho, Tiền Giang cho thấy tỷ lệ các bà mẹ nhận biết được các dấu hiệu của SXHD từ 50 – 90% và cũng thấp hơn nghiên cứu của Thanh và cộng sự [11] tại Hà Nội năm 2011 là 61% Nghiên cứu cho thấy ở các độ tuổi khác nhau sự hiểu biết về triệu chứng của bệnh SXHD
là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P> 0,05) Nhận thức về triệu chứng của bệnh SXHD của nam (39,4%) cao hơn của nữ (31,5%) (P < 0,05) Nghề nghiệp của những người được phỏng vấn lại ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức về triệu chứng của bệnh SXHD và sự khác nhau này có nghĩa mạnh trong thống kê (P < 0,01)
Tỷ lệ giáo viên nằm trong nhóm 1 đạt tỷ lệ cao nhất (61,8%), trong khi đó những người thuần nông lại đạt tỷ lệ thấp nhất (26,3%) (Bảng 1)
Mặt khác kết quả nghiên cứu còn cho thấy không có sự khác nhau về kiến thức trong phòng chống bệnh SXHD của người dân ở các độ tuổi khác nhau và giới tính khác nhau (P> 0,05) Tuy nhiên nghề nghiệp của những người được phỏng vấn lại có sự ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức phòng chống bệnh SXHD và sự khác nhau này có nghĩa thống kê cao (P < 0,01) Tỷ lệ hiểu đúng cao nhất (35,3%) là giáo viên, tiếp sau đó là cán bộ nghỉ hưu (14,9%) và những người thuần nông lại đạt tỷ lệ thấp nhất (7,9%)
Bảng 2 Nguồn cung cấp kiến thức của người dân tại 11 tỉnh miền núi về bệnh SXHD
Kiến thức cơ bản về bệnh SXHD
Đông Bắc Bộ (n = 600)
Tây Bắc Bộ (n=500)
Tổng cộng (n=1.100)
Số
Nguồn cung cấp kiến thức
Trang 5Kiến thức cơ bản về bệnh SXHD
Đông Bắc Bộ (n = 600)
Tây Bắc Bộ (n=500)
Tổng cộng (n=1.100)
Số
Nguồn thông tin giúp người dân hiểu biết về bệnh SXHD chủ yếu được xem qua tivi (68,6%), ngoài ra kiến
thức về bệnh SXHD còn được biết qua các phương tiện truyền thông khác như đài tiếng nói(33,4%); nhân viên y
tế (31,7%); sách, báo, tạp chí (23,5%) Nguồn cung cấp kiến thức của 2 khu vực Đông Bắc Bộ và Tây Bắc Bộ nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể nào Sau gần 7 năm kể từ khi tham gia Chương trình mục tiêu phòng chống SXHD đến nay, hoạt động tuyên truyền về bệnh SXHD tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc đã cơ bản giúp người dân hiểu và nhận biết được một số đặc điểm quan trọng của bệnh SXHD Năm 2012 cũng là năm đầu tiên triển khai mạng lưới công tác viên tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tuy nhiên so với yêu cầu của Dự án SXHD quốc gia 90% hộ gia đình tại xã có cộng tác viên được cung cấp kiến thức trong phòng chống dịch bệnh và cam kết không có bọ gậy tại hộ gia đình là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi Ban điều hành Dự án khu vực miền Bắc phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong tập huấn, tuyên truyền và phát huy tối đa vai trò, nhiệm vụ của mạng lưới cộng tác viên
2 Kiến thức về loài và một số tập tính của muỗi truyền bệnh SXHD
Kiến thức về loại muỗi gây bệnh và thời gian hoạt động của loại muỗi này ở khu vực Tây Bắc Bộ cao hơn khu vực phía Đông Bắc Bộ nhưng nhìn chung cho cả khu vực miền núi còn khá thấp Chỉ có
55,8% người dân biết đúng loài muỗi Aedes (dân gian thường gọi là muỗi vằn) và tỷ lệ người dân hiểu
về một số tập tính của muỗi Aedes còn rất thấp: 10,1% người dân biết muỗi thường đốt vào ban ngày;
24,1% người có khả năng phát hiện vị trí trú đậu của muỗi ở quần áo, chăn màn, vật trong nhà; 24,7% biết bọ gậy sống ở dụng cụ phế thải, bát kê chân chạn, lọ hoa, chậu cảnh; 16,3% người biết bọ gậy ở trong dụng cụ chứa nước ăn Hiểu biết về các biện pháp phòng chống bọ gậy và muỗi truyền bệnh SXHD; 37,5% biết thả cá diệt bọ gậy; 19,5% biết thau rửa dụng cụ chứa nước và 14,5%biết thu nhặt, phá hủy dụng cụ phế thải loại trừ ổ chứa bọ gậy Như vậy, kiến thức sai, chưa đầy đủ và không đồng đều có thể là nguyên nhân dẫn đến việc thựchành và áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh SXHD chưa cao (Bảng 3)
Bảng 3.Hiểu biết về đặc điểm loài và một số tập tính của muỗi truyền bệnh SXHD
Trang 6Kiến thức về loài và một số tập tính của
muỗi truyền bệnh SXHD
Đông Bắc Bộ (n = 600)
Tây Bắc Bộ (n=500)
Tổng cộng (n=1.100)
Số
Trang 7Kiến thức về loài và một số tập tính của
muỗi truyền bệnh SXHD
Đông Bắc Bộ (n = 600)
Tây Bắc Bộ (n=500)
Tổng cộng (n=1.100)
Số
3 Thực hành về phòng chống SXHD của người dân tại 11 tỉnh miền núi
Tại các điểm nghiên cứu, tỷ lệ người dân thực hành áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh SXHD còn rất
thấp Họ có thể hiểu biết về triệu chứng bệnh SXHD, cách phòng ngừa muỗi đốt, cách loại trừ ổ bọ gậy, nhưng kết quả thực hành đúng cho thấy: người dân thả cá vào bể nước (23,4%); thu nhặt và phá hủy dụng cụ phế thải(13,3%); thau rửa dụng cụ chứa nước (12,3%); nằm màn tránh muỗi đốt (10,1%); hộ gia đình dùng bình xịt hóa chất để diệt muỗi (10,2%)
Bảng 4 Kiến thức của người dân về SXHD liên quan đến thực hành của họ về phòng chống muỗi và bọ
gậy Aedes.
Kiến thức về SXHD
Thực hành PC SXHD
Thực hành PC SXHD
Trang 8Đúng, đúng nhưng
chưa đủ
X2 = 75,8 P < 0,01
OR = 4,95
X2 = 70,2 P < 0,01
Như vậy, tỷ lệ người dân áp dụng và thực hành các biện pháp phòng chống bệnh SXHD là 26% còn rất thấp so với kiến thức mà họ đang có Kết quả nghiên cứu này cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Thanh và cộng sự [11] tiến hành tại Hà Nội năm 2011 là 41,8% Điều này cho thấy tại các tỉnh miền núi phía Bắc do công tác truyền thông còn yếu, không thường xuyên nên kiến thức và thực hành phòng chống SXHD thiếu hụt, không đồng đều Mặt khác, tỷ lệ mắc bệnh SXHD ở 11 tỉnh này thấp nên chưa nhận được sự quan tâm đúng mực của các cấp chính quyền cũng như sự lơ là của cộng đồng ở đây Để phân tích rõ hơn mối quan hệ giữa kiến thức và thực hành của người dân trong phòng chống SXHD chúng tôi phân tích mối tương quan trên bảng 2 x 2 (Bảng 4) Kết quả cho thấy tại khu vực phía Đông Bắc Bộ những người có kiến thức về bệnh SXHD thực hành đúng về phòng chống bệnh SXHD cao gấp 4,17 lần so với những người không có kiến thức về bệnh và tại khu vực phía Tây Bắc Bộ những người có kiến thức về bệnh SXHD cũng thực hành đúng về phòng chống bệnh SXHD cao gấp 4,95 lần so với những người không có kiến thức về bệnh Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Thanh và cộng sự [11] tiến hành tại phường Hàng Bài, Hà Nội năm 2011 là những người có kiến thức không đạt có thực hành không đúng cao gấp 3 lần người có kiến thức đạt
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tỷ lệ người dân biết nguyên nhân mắc SXHD là do muỗi truyền và cách phòng chống bệnh SXHD là diệt
muỗi và bọ gậy tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc tương đối thấp Ngoài ra, kiến thức về loài muỗi Aedes vàmột số
tập tính của loài (thời gian thường đốt người; vị trí trú đậu của muỗi;nơi sinh sống của bọ gậy; các biện pháp diệt
bọ gậy và phòng muỗi đốt) chưa cao,hiểu biết chưa đầy đủ Do đó, các biện pháp thực tế áp dụng để diệt muỗi và
bọ gậy Aedes còn rất thấp Tầng lớp trí thức như giáo viên và cán bộ nghỉ hưu có nhận thức về bệnh SXHD, cách
phòng chống SXHD đúng và thực hành đúng chiếm tỷ lệ cao hơn những người có học vấn thấp
Các tỉnh trong nghiên cứu là các tỉnh loại C trong Chương trình phòng chống SXHD quốc gia, mặc dù số
ca mắc SXHD đã được ghi nhận nhưng tỷ lệ mắc bệnh còn thấp, do đó ý thức của cộng đồng dân cư còn lơ là, chủ quan, các hoạt động phòng chống SXHD chưa nhận được sự quan tâm, hỗ trợ đồng bộ của ngành y tế và của chính quyền các cấp Trước nguy cơ tiềm tàng xảy ra dịch SXHD tại các tỉnh này, hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cần được củng cố, tăng cường hơn nữa để nâng cao nhận thức và cung cấp những kỹ năng về phòng chống bệnh SXHD cho người dân trên địa bàn Hơn nữa, các hoạt động về phòng chống bệnh SXHD cần được triển khai tăng cường và đồng bộ tại ít nhất 2% số xã, phường điểm của các tỉnh này
LỜI CÁM ƠN
Chúng tôi trân trọng cám ơn Ban điều hành Dự án phòng chống SXHD quốc gia và Trung Tâm Y tế Dự phòng 11 tỉnh miền núi phía Bắc gồm Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Phú Thọ đã nhiệt tình ủng hộ, tham gia và phối hợp chặt chẽ với Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương trong quá trình thực hiện nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Secretariatof Fifty-fifth World Health Assembly, Dengue prevention and control DengueBull 26 (2002), pp.
218–220
2. DJ Gubler, Epidemic dengue/denguehemorrhagic fever as a public health, social and economic problem in
the 21stcentury Trends Microbiol 10(2002), pp 100–103.
Trang 93. DJ Gubler, Aedes aegypti and Aedesaegypti-borne disease control in the 1990s: top down or bottom
up AmTrop Med Hyg 40 (1989), pp.571–578.
4. Tài liệu "Hướng dẫn giám sát và phòng chống sốt xuất huyết Dengue” ban hành kèm theo quyết định số 1499/GĐ-BYT ngày 17/5/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế
5. Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương 2011 Báo cáo tổng kết giai đoạn 1990 – 1995 và giai đoạn 1996 – 2010, Dựán Phòng chống SXHD khu vực phía Bắc
6. Kế hoạch phòng chống SXHD khu vực Miền Bắc giai đoạn 2011 – 2015
7. Vũ Trọng Dược, Đinh Thị Vân Anh, Thẩm Chí Dũng, Trần Vũ Phong, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Mai Anh và Trần Như Dương 2011 Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, 2010 Tạp chí Y học dự phòng, tập XXI, số 2, 63 – 68
8. Vũ Trọng Dược, Đinh Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Mai Anh, Ninh Văn Chủ, Trần Thị Diệp, Vũ Quyết Thắng, Nguyễn Văn Dũng và Trần Như Dương 2012 Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tạp chí Y học dự phòng, tập XXI, số 1,27 – 33
9. Vũ Trọng Dược, Thẩm Chí Dũng, Trần Vũ Phong,Chen Cheng – Chen 2011 Khoảng cách phát tán tối đa
của muỗi cái trưởng thành Aedes aegypti và Aedes albopictus tại khu vực thành thị Tạp chí thông tin
YDược, số 9: 30-34
10. Tạ Thạnh Hải, Tạ Văn Trâm 2008 Kiến thức, thái độ,hành vi của các bà mẹ về phòng chống sốt xuất huyết Dengue Tạp chí Y Hoc TP Ho Chi Minh, tập12, số 4: 142 – 146
11. Nguyễn Hồng Thanh, Vũ Sinh Nam, Nguyễn Thị Kim Tiến và Phan Trọng Lân 2011 Kiến thức và thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại hai phường Lý Thái Tổ và Hàng Bài quận Hoàn Kiếm, Thành Phố Hà Nội, năm 2009 Tạp chí Y Hoc Dự Phòng, tập XXI, số 3, 187 – 196
KNOWLEDGE AND PRACTICE ON DENGUE HEMORRHAGIC FEVER IN 11 NORTH
Vu Trong Duoc, Dinh Thi Van Anh, Tran Vu Phong, Nguyen Hoang Le, Vu Trong Thang, Tran Dưc Dong, Tran Chi Cuong, Nguyen Tra Giang, Nguyen Van Soai, Tran Hai Son, Nguyen Thi Mai Anh va Tran Nhu Duong National Institute of Hygiene and Epidemiology
Abstract:
Denguefever (DHF) disease is an acute viral disease transmitted by mosquitoes Atpresent, there is no specific treatment for dengue and a vaccine is still underdevelopment An approach that has proved to be effective in dengue controlamong a number of global prevention strategies, is an intergration of denguevector control and community mobilization A cross-sectional study on communityknowledge, attitudes and practices on DHF control has been conducted in 11northern mountainous provinces during October and November 2011 35.3% ofrespondents could identify the correct sign and symptoms of DHF However, only10.1% of respondents could nominate any dengue control activities In terms ofdengue vector control practices, the percentage of householders who applied appropriate methodsto eliminate dengue vectors through other means as well as through monitoringwater containers was 26.6% Gender and the occupation of participants showedsome correlation to the reported knowledge on dengue control and their actual control practices and thesepeople have had right pracices on DHF prevention 4,17 and 4,95 times higherthan no understanding of DHF on
Keyworks: dengue fever, KAP (Knowledge –Practice), the northen mountainous region, Aedes albopictus.