Nội dung chuyên đề này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học ở trường THCS, đề cập đến những vấn đề lí luận chung, lí luận riêng về Hướng dẫn học sinh giải một số dạng bài tập hóa học 9 trao đổi học tập những kinh nghiệm giảng dạy đặc biệt với bộ môn Hóa 9 để thống nhất biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học, hình thành cho học sinh kĩ năng giải bài tập Hóa học 9 để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Hóa học. Nghiên cứu, phân loại một số dạng bài tập cơ bản Hóa học 9 giúp học sinh biết nhận dạng một số bài tập hóa học, có phương pháp giải bài tập Hóa học. Phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh trong học tập đặc biệt là trong việc giải bài tập Hóa học 9.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THCS
*****
HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC
Trang 2
Tên sáng kiến, tác giả, chủ đầu tư, lĩnh vực áp dụng, ngày áp dụng đầu 7
Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 40
Tài liệu tham khảo
1 SGK – SGV – SBT Hoá Học 8,9
2 Những chuyên đề hay và khó Hóa Học THCS
(Nhà xuất bản giáo dục – Hoàng Thành Trung.)
3 Hình thành kĩ năng giải bài tập Hoá học
(Nhà xuất bản giáo dục -Cao Thị Thặng)
4 Chuyên đề bồi dưỡng HSG Hoá Học 8,9
( Nhà xuất bản Đà Nẵng - Lê Đình Nguyên – Hà Đình Cẩn)
5 150 câu hỏi trắc nghiệm và 350 bài tập hoá học chọn lọc dùng cho học sinh THCS
Trang 3(Nhà xuất bản Hà Nội – Đào Hữu Vinh)
6 Bồi dưỡng học sinh giỏi THCS Hoá Học
(Nhà xuất bản giáo dục - Trần thạch Văn(Chủ biên)- Lê Thế Duẩn)
7 Rèn luyện kỹ năng giải toán Hoá Học 8,9 Ngô Ngọc An
8 Câu hỏi và bài tập Hoá Học trắc nghiệm 8,9 Ngô Ngọc An
9 Ôn luyện Hóa Học 9
(Nhà xuất bản giáo dục - Phan Thanh Bình - Đỗ Thị Lâm)
10 Đề kiểm tra theo chuẩn kiến thức kĩ năng hóa học 9
(Nhà xuất bản giáo dục - Đặng Thị Oanh - Trần Cẩm Tú)
Bảng 1: Bảng thống kê điểm kiểm tra đầu vào
Bảng 2: Bảng thống kê điểm kiểm tra đầu ra (sau khi tác động)
Phần I: LỜI GIỚI THIỆU
I LỜI GIỚI THIỆU
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, chất lượng Giáo dục - Đào tạo là vấn đề mà toàn xã hội quan tâm Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng Giáo dục - Đào tạo là vấn đề lớn đặt ra đối với toàn xã hội, nhưng chịu trách nhiệm trực tiếp nhất chính là những người làm công tác trong ngành giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học,
Trang 4cấp học, trong đó có bậc THCS Trong bối cảnh toàn ngành đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập Trong điều kiện hiện nay khi khoa học kĩ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng
to lớn: đào tạo những con người "lao động, tự chủ, sáng tạo" có năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, năng lực giải quyết được những vấn đề thường gặp, biết cách vân dụng kiến thức vào cuộc sống
Ở cấp THCS, Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên mà học sinh được tiếp cận muộn hơn so với các môn học khác, nhưng nó lại có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông Môn Hoá học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản và thiết thực về hoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khả năng trực quan nhanh nhạy Vì vậy giáo viên bộ môn Hoá học cần hình thành cho các em phương pháp giải một số dạng bài tập cơ bản, từ đó tạo cho học sinh thói quen học tập và làm việc khoa học, làm nền tảng để các em phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động, hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác
Học hoá học không những học sinh học lí thuyết mà còn đòi hỏi học sinh vận dụng lí thuyết đã được học vào giải quyết các bài tập lí thuyết thực tiễn và thực hành thí nghiệm
1.2 Cơ sở thực tiễn
Môn Hoá học ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường THCS Môn học này cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản và thói quen làm việc khoa học, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho học sinh học lên các lớp trên Cũng như các môn khoa học khác, Hoá học cũng đang từng bước đổi mới: Đổi mới hoạt động dạy của giáo viên, đổi mới hoạt động học tập của học sinh, đổi mới các hình thức tổ chức và phương tiện hoạt động Kết hợp một cách tổng hợp và linh hoạt các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn Hoá học với cách thiết kế tổ chức hoạt động dạy học, phương pháp giải một số dạng bài tập cơ bản lớp 9 làm cơ sở và tiền đề cho các năm học tiếp theo Hiện nay việc giải một số bài tập cơ bản trong chương trình Hoá học 9 ở trường THCS Thổ Tang còn gặp khó khăn Nhiều học sinh không tự giải được các bài tập, một số học sinh chỉ biết làm bài tập một cách máy móc mà không hiểu được bản chất Với những lí do nêu trên và tình hình thực tế của việc dạy và học Hoá học ở trường THCS chúng tôi mạnh dạn đề cập đến chuyên đề:
"HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC 9 ".
Trang 51.3 Mục đích nghiên cứu:
Nội dung chuyên đề này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học ở trường THCS, đề cập
đến những vấn đề lí luận chung, lí luận riêng về "Hướng dẫnhọc sinh giải một số dạng
bài tập hóa học 9" trao đổi học tập những kinh nghiệm giảng dạy đặc biệt với bộ môn
Hoá 9 để thống nhất biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học, hình thành cho học sinh kĩ năng giải bài tập Hoá học 9 để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy - học môn Hoá học Nghiên cứu, phân loại một số dạng bài tập cơ bản Hoá học 9 giúp học sinh biết nhận dạng một số bài tập hoá học, có phương pháp giải bài tập hoá học Phát huy tính tích cực
và tạo hứng thú cho học sinh trong học tập đặc biệt là trong việc giải bài tập Hoá học 9
1.4 Bản chất
Thông qua môn Hoá học học sinh không chỉ được trang bị những kiến thức cơ bản về các khái niệm, định luật, phương trình hoá học mà còn rèn luyện được kĩ năng thực nghiệm, phân loại, tra cứu, sử dụng thông tin, kĩ năng phân tích, tổng hợp phán đoán vận dụng kiến thức để giải một số bài tập cơ bản Từ đó giúp học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh nâng cao những tri thức hiểu biết về thế giới con người, là cơ sở phát huy tính sáng tạo, biết vận dụng kiến thức kỹ năng phục vụ cho đời sống con người
II
TÊN SÁNG KIẾN :
" HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC 9 ".
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hường
Địa chỉ: Trường THCS Thổ Tang - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc.
Điện Thoại: 0914590459
Email: nguyenthithuhuong.gvcsthotang@vinhphuc.edu.vn
Trang 6IV CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG TẠO:
V
LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN :
- Môn Hoá học 9, Học sinh lớp 9
- Nhằm nâng cao chất lượng môn hóa học THCS
VI NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU
- Từ ngày 20 tháng 8 năm 2014
Phần II: MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA ĐỀ TÀI
(NỘI DUNG SÁNG KIẾN)
1 Cơ sở lí luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu:
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu: "Cùng với khoa học và
Công nghệ, Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" Như vậy, Giáo dục - Đào tạo nói chung và bồi dưỡng
Trang 7nhân tài nói riêng là vấn đề cấp bách, bởi hơn hết đất nước ta đang cần có những con người tài năng, nhiệt huyết để đón đầu tiếp thu những thành tựu khoa học mới, những công nghệ hiện đại, những phát minh, sáng chế mới có giá trị cao để đáp ứng những yêu cầu của đất nước nhất là trong thời kì hiện nay Do đó, việc phát triển quy mô giáo dục - đào tạo phải trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Hoá học là môn khoa học thực nghiệm có khả năng cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức phong phú về các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống và vũ trụ, là cơ sở của nhiều ngành công nghiệp quan trọng, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ qua lại với các môn học khác Việc tổ chức dạy học Hoá học 9 cần cho học sinh biết phương pháp giải một số bài tập cơ bản là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Muốn học sinh hứng thú, yêu thích môn học giáo viên cần có phương pháp giảng dạy thích hợp, rèn cho học sinh có kĩ năng, phương pháp giải một số bài tập cơ bản một cách độc lập sáng tạo, phát huy thêm khả năng tự học, tự nhận thức của học sinh
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
2.1 Thực trạng, nguyên nhân
Trường THCS Thổ Tang có bề dày truyền thống trong công tác giảng dạy, ban giám hiệu luôn quan tâm giúp đỡ tới đội ngũ giáo viên và học sinh, đa số học sinh có ý thức học tập tốt Phát huy những thuận lợi và những kết quả đạt được trong những năm học trước, cùng với sự tích cực nghiên cứu hoàn thiện chuyên đề này, cũng như nhận được sự giúp
đỡ, tạo điều kiện từ nhiều phía, chúng tôi đã và đang áp dụng chuyên đề này tại trường.Qua thực tế giảng dạy cho thấy: môn Hoá học trong trường phổ thông là môn học mà học sinh thấy khó khăn ngại học, ảnh hưởng đến kết quả học tập Đa số học sinh không tự giải quyết được các bài tập tính toán trong sách giáo khoa, mặc dù trong giảng dạy đã chú
ý đến việc hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho từng phần kiến thức có liên quan đến các dạng bài tập, có những bài tập đã hướng dẫn chi tiết nhưng khi gặp lại học sinh vẫn còn bỡ ngỡ không làm được Cụ thể: Khi đọc một bài tập hoá học đa số các em chưa xác định được đề bài đã cho những đại lượng gì, có liên quan đến công thức nào cần sử dụng đại lượng đề bài yêu cầu Các em chưa xác định được hướng giải phù hợp Mặt khác, học sinh chưa nắm vững được công thức cơ bản và kĩ năng lập PTHH nên ảnh hưởng đến khả năng giải
Trang 8bài tập hoá học vì thế chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu nghuyên nhân để tìm bịên pháp khắc phục Chúng tôi nhận thấy có một sơ nguyên nhân dẫn đên tình trạng trên:
- Một số gia đình học sinh mải làm kinh tế, mức độ nhận thức của phụ huynh học sinh còn hạn chế, không có điều kiện quan tâm đến việc học tập của con em mình
- Nhiều học sinh còn ham chơi nên thời gian dành cho học tập không nhiều
Việc học tập của học sinh chủ yếu ở giờ chính khoá nên thời gian ôn tập, củng cố cũng như hướng dẫn các dạng bài tập cho học sinh ít
- Việc áp dụng lí thuyết vào giải bải tập hoá học của học sinh chưa linh hoạt sáng tạo
- Khi tiếp cận với môn học, học sinh gặp phải những khái niệm khá trừu tượng: nguyên tử, phân tử, PƯHH, PTHH vì thế phần lớn học sinh ngại học, ít say sưa tìm tòi khám phá Qua tìm hiểu có tới 60% học sinh THCS ngại học môn Hoá học
2.2 Kết quả của thực trạng trên
Vì những nguyên nhân trên dẫn đến chất lượng học tập của học sinh về môn Hoá còn thấp Cụ thể kết quả học tập của học sinh đầu năm học 2014 - 2015 như sau:
Bảng 1: bảng thống kê điểm kiểm tra đầu vào
Bảng 1: Bảng thống kê điểm kiểm tra đầu vào
3 Các giải pháp thực hiện:
3.1 Đối với giáo viên
Thực hiện giảng dạy theo phương pháp mới, sử dụng tối đa đồ dùng học tập để học sinh nắm vững lí thuyết, trong quá trình giảng dạy, cần quan tâm đến từng đối tượng học sinh, động viên khuyến khích kịp thời giúp các em học tập tốt
Giáo viên cần trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản về hoá học, với học sinh trung bình, yếu, kém giáo viên cần ghi tóm tắt, hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ, như vậy
Trang 9sẽ kích thích được hứng thú học tập của đại đa số các đối tượng học sinh Các em sẽ ít ngại học môn Hoá học.
Giáo viên chọn các bài tập từ dễ đến khó sẽ tạo được sự tích cực tính độc lập, tính sáng tạo cho học sinh, sử dụng triệt để hệ thống bài tập trong việc củng cố kiến thức cơ bản, trong đó người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh, tạo ra giờ học hứng thú, thoải mái
Với mỗi dạng bài tập, giáo viên cần giúp học sinh phân tích tìm hiểu kĩ đề bài, tái hiện được kiến thức cần áp dụng qua đó định hướng được phương pháp giải các dạng bài tập hoá
Để rèn học sinh có phương pháp giải các dạng bài tập hoá học bản thân giáo viên phải không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến bộ môn học, thường xuyên dự giờ, trau dồi học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong công tác giảng dạy để đưa ra giải pháp tốt nhất trong việc nâng cao chất lượng môn Hoá học
Thông qua bài tập Hoá học giúp học sinh hình thành, rèn luyện, củng cố kiến thức kĩ năng về Hoá học, qua đó yêu cầu học sinh thực hiện các thao tác tư duy như tái hiện kiến thứccũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng, học sinh phải phân tích, tổng hợp, phán đoán suy luận để tìm ra lời giải
Giáo viên phải lấy bài tập hoá học là phương tiện hiệu nghiệm trong dạy học hoá học,
là nguồn để hình thành kiến thức mới, kĩ năng mới, để phát hiện trình độ, những khó khăn sai lầm của học sinh , từ đó có biện pháp khắc phục những sai lầm đó
3.2 Đối với học sinh:
Học sinh chủ động nắm bắt kiến thức, có điều kiện để tư duy, phát huy được óc sáng tạo Học sinh được trao đổi, tiếp nhận kiến thức một cách thoải mái trên lập trường khoa học
Chú ý cách học tập từ khâu nghe giảng, ghi chép bài đến khâu giải bài tập
Giáo viên cần giành nhiều thời gian để hướng dẫn kỹ cho học sinh cách giải các bài tập mẫu nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
Giáo viên cần yêu cầu cao với học sinh, yêu cầu học sinh phải thực sự nghiêm túc trong quá trình học tập như: trên lớp chú ý nghe giảng, học bài và làm bài đầy đủ thường xuyên để nắm vững những khái niệm hoá học cơ bản, là cơ sở cho các bài tập tính toán của hoá học
Trang 10Vốn kiến thức Hoá học cơ bản là cơ sở, là nền tảng để rèn kỹ năng, mỗi học sinh phải nắm chắc kiến thức hoá học cơ bản để linh hoạt áp dụng kiến thức trong giải bài tập hoá học Ngược lại việc giải bài tập hóa học học sinh sẽ được củng cố, khắc sâu, mở rộng, khái quát hoá
4 Một số dạng bài tập cơ bản Hoá học lớp 9:
Trước khi tìm hiểu một số dạng bài tập hóa học trong chương trình hóa học 9 ta cần biết Để việc rèn kĩ năng giải bài tập hóa học mang lại kết quả cao, giáo viên phải cho học sinh thấy được mặc dù mỗi bài tập hóa học có nhiều cách giải khác nhau nhưng đều được thực hiện theo qui trình đủ 4 bước như sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề bài: Xác định đại lượng đã cho và đại lượng cần cần tìm, hiểu
ý nghĩa của từng đại lượng mở rộng Cần tóm tắt đề bài bằng kí hiệu hóa học, chuyển đổi đơn vị nếu cần thiết
Bước 2: Xác định hướng giải bài tập: Tái hiện lại các khái niệm, các qui tắc, công thức, có liên quan.Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa điệu kiện đề bài cho với yêu cầu bài tập
Bước 3: Trình bày lời giải: Thực hiện các bước đã vạch ra
Bước 4: Kiểm tra kết quả: Xem lại đã trả lời đúng yêu cầu của bài chưa? Tính toán
có sai sót không?
4.1.Dạng bài tập định tính ( bài tập lí thuyết)
4.1.1.Bài tập về thực hiện tính chất của các chất viết PTHH.
a Đặc điểm bài toán- Phương pháp
Trong dạng bài tập này thường thực hiện việc viết PTHH trên cơ sở các tính chất
hóa học của các chất vì vậy người giáo viên yêu cầu học sinh phải nắm chắc, thuộc các tính chất hóa học của các chất vô cơ hay hữu cơ đã học trên cơ sở tính chất chung thực hiện các yêu cầu của bài
Dạng bài tập này dải đếu ở hấu hết tất cả các phần bài tập sau học lý thuyết, nhằm củng cố khắc sâu kiến thức lý thuyết của học sinh
Trang 11Hãy viết PTHH của mỗi phản ứng trong mỗi trường hợp sau:
a/ Magie oxit và axit nitric
b/ Đồng (II) oxit và axit clohidđric
c/ nhôm oxit và axit sunfuric
c Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 2,3,4 SGK trang 6), ( Bài 4,5 SGK trang 11), ( Bài 2,3, SGK trang 14), ( Bài 2,3, SGK trang 14), ( Bài 1,5, SGK trang 18), ( Bài 1,2, SGK trang 21), ( Bài 2 SGK trang 143) …
4.1.2.Bài tập về thực hiện dãy chuyển hóa.
Đây là dạng bài củng cố khắc sâu kiến thức lí thuyết và rèn kĩ năng viết PTHH trên cơ
sở các tính chất đã học Để thực hiện được loại bài này học sinh ngoài việc nắm được tính chất hóa học còn phải thành thạo kĩ năng viết PTHH Để thực hiện dãy biến hóa thì học sinh phải vận dụng linh hoạt các tính chất Dạng bài tập này cũng có ở hấu hết tất cả các phần bài tập và các bài luyện tập chương, học kì, các bài kiểm tra hay khảo sát chất lượng
Trang 125/ Ca(OH)2 + 2HNO3→ Ca(NO3)2 + 2H2O
c Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 5 SGK trang 21,) ( Bài 3, 4 SGK trang 41), ( Bài 4, SGK trang 51), ( Bài 4, SGK trang 69), ( Bài 1,2 SGK trang 71), ( Bài,2, SGK trang 143) …
4.1.3.Bài tập về nhận biết các chất.
A Phương pháp chung làm bài tập nhận biết
Cơ sở để giải bài tập này là dựa vào các tính chất khác nhau của từng chất Vậy học sinh cần hiểu rõ về tính chất vật lý, tính chất hóa học của các chất, các loại hợp chất
Nguyên tắc: Dùng hóa chất thông qua phản ứng có hiện tượng xuất hiện để nhận biết các hóa chất đựng trong các bình mất nhãn
Phản ứng nhận biết: Phản ứng hóa học được chọn để nhận biết là phản ứng đặc trưng đơn giản, nhanh nhạy, có hiện tượng rõ ràng (kết tủa, hòa tan, sủi bọt khí, mùi, thay đổi màu sắc)
Cách trình bày bài tập nhận biết:
Bước 1: Trích mẫu thử (Đánh số thứ tự tương ứng)
Bước 2: Chọn thuốc thử để nhận biết (Tùy theo yêu cầu của đề bài: thuốc thử không giới hạn, có giới hạn hay không dùng thuốc thử nào khác)
Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu thử, trình bày hiện tượng quan sát được (mô tả hiện tượng xảy ra) rút ra kết luận đã nhận biết được chất nào
Bước 4: Viết phương trình phản ứng xảy ra khi nhận biết để minh họa
Trang 13B Một số dạng bài tập nhận biết
I Dạng toán không giới hạn thuốc thử:
1 Nhận biết chất rắn:
Khi nhận biết các chất rắn cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Nếu đề yêu cầu nhận biết các chất ở thể rắn, hãy thử nhận biết theo thứ tự:
Bước 1: Thử tính tan trong nước.
Bước 2: Thử bằng dung dịch axit (HCl, H2SO4, HNO3…)
Bước 3: Thử bằng dung dịch kiềm.
- Có thể dùng thêm lửa hoặc nhiệt độ, nếu cần
b.Ví dụ
Ví dụ 1: Bài 3 SGK trang 72): Có 3 kim loại là nhôm, bạc, sắt Hãy nêu phương pháp
hoá học để nhận biết từng kim loại Các dụng cụ hóa chất coi như có đủ Viết các phương trình hóa học để nhận biết
Hướng dẫn giải
GV cần hướng dẫn để học sinh biết dựa vào tính chất riêng của từng chất để nhận biết chúng Như trong bài này chỉ có Al tác dụng với NaOH (nhận ra Al), còn Fe phản ứng được với HCl (nhận ra Fe), còn lại là Ag không phản ứng được với HCl hay NaOH HDHS viết PTPƯ
2 Nhận biết dung dịch
- Nếu phải nhận biết các dung dịch mà trong đó có axit hoặc bazơ và muối thì nên dùng quì tím (hoặc dung dịch phenolphtalein) để nhận biết axit hoặc bazơ trước rồi mới nhận biết đến muối sau
- Nếu phải nhận biết các muối tan, thường nên nhận biết anion (gốc axit) trước, nếu không được thì mới nhận biết cation (kim loại hoặc amoni) sau
Trang 14PTPƯ: BaCl2 + Na2SO4→ BaSO4 ↓trắng + 2NaCl
b/ - Dùng quì tím để nhận biết được Na2CO3 làm quì tím hóa xanh, NaCl không đổi màu quì tím, HCl và H2SO4 làm quì tím hóa đỏ
- Dùng dung dịch BaCl2 để nhận biết 2 dung dịch làm quì tím hóa đỏ: H2SO4 phản ứng tạo kết tủa trắng, HCl không phản ứng
PTPƯ: BaCl2 + H2SO4 → BaSO4 ↓trắng + 2HCl
c/ - Dùng quì tím chia thành hai nhóm
+ Nhóm 1: NaOH, Ba(OH)2 làm quì tím hoá xanh
+ Nhóm 2: BaCl2, NaCl không đổi màu quì tím
- Cho dung dịch Na2SO4 vào từng mẫu thử ở hai nhóm Ở nhóm 1: mẫu tạo kết tủa trắng là Ba(OH)2, NaOH không phản ứng Nhóm 2: mẫu tạo kết tủa trắng là BaCl2, NaCl không phản ứng
PTPƯ: Ba(OH)2 + Na2SO4 → BaSO4 ↓trắng + 2NaOH
BaCl2 + Na2SO4 → BaSO4 ↓trắng + 2NaCl
d/ - Dùng dung dịch HCl để nhận biết được K2CO3 vì có khí thoát ra, AgNO3 có kết tủa trắng tạo thành
PTPƯ: K2CO3 + 2HCl → 2KCl + CO2↑ + H2O
AgNO3 + HCl → AgCl↓trắng + HNO3
-Dùng dung dịch BaCl2 để nhận biết Na2SO4 vì có kết tủa trắng tạo thành, BaCl2
không phản ứng
PTPƯ:
BaCl2 + Na2SO4 → BaSO4 ↓trắng + 2NaCl
e/ - Dùng dung dịch NaOH để nhận biết: Thấy tạo kết tủa xanh chất ban đầu là Cu(NO3)2; tạo kết tủa trắng sau đó hóa đen chất ban đầu là AgNO3; tạo kết tủa đỏ nâu chất ban đầu là Fe(NO3)3; KNO3 không phản ứng
PTPƯ: Cu(NO3)2 + 2NaOH → Cu(OH)2 ↓xanh + 2NaNO3
AgNO3 + NaOH → AgOH↓trắng + NaNO3
2AgOH → Ag2O↓đen + H2O
Trang 15Fe(NO3)3 + 3NaOH → Fe(OH)3 ↓nâu đỏ + 3NaNO3
Ví dụ 2: (Bài 1 SGK trang 27): có 3 lọ không nhãn, mỗi lọ đựng một chất rắn sau:
NaOH, Ba(OH)2 NaCl Trình bày chất đựng trong mỗi lọ bằng phương pháp hóa học Viết PTHH nếu có
Hướng dẫn giải
- Hòa tan các chất trên váo nước và trích mẫu thử
- Dùng giấy quỳ tím nhúng vào các lọ chứa các chất lỏng, xuất hiện hai nhóm
+ nhóm 1: Quỳ tím hóa xanh đó là dung dịch NaOH, Ba(OH)2
+ nhóm 2: Quỳ tím không đổi màu đó là dung dịch NaCl ( nhận ra lọ đựng NaCl)
- Các lọ còn lại, trích mỗi lọ một ít làm các mẫu thử Sau đó dùng thuốc thử Na2SO4
nhỏ vào các mẫu thử, mẫu thử nào xuất hiện kết tủa trắng đó là dung dịch Ba(OH)2 Dung dịch không phản ứng là dung dịch NaOH
PTPƯ: Na2SO4+ Ba(OH)2 → BaSO4 ↓trắng + 2 NaOH
CO2 + Ca(OH)2→ CaCO3↓ + H2O
II Dạng toán có giới hạn thuốc thử
Nguyên tắc: Dạng bài tập này dùng thuốc thử đã cho nhận biết được một trong vài chất cần nhận biết Sau đó dùng lọ vừa tìm được cho phản ứng với các lọ còn lại để nhận biết các chất cần tìm
- Hai lọ còn lại trích mỗi lọ một ít làm các mẫu thử sau đó dùng dung dịch HCl vừa nhận được nhỏ vào các mẫu thử ta thấy có một lọ xuất hiện kết tủa trắng nhận được dung dịch AgNO3, một lọ xuất hiện bọt khí có mùi trứng thối nhận được lọ chứa dung dịch
Na2S
- Các phương trình phản ứng:
AgNO3 + HCl → AgCl↓trắng + HNO3
Na2S + 2HCl → 2NaCl + H2S↑ mùi trứng thối
Trang 16Hoặc HS có thể làm Na2S, dd NaOH làm quỳ tím hóa xanh HCl làm quỳ tím hóa
đỏ Sau đó dùng HCl vừa nhận biết được để nhận biết các chất còn lại
Ví dụ 2: Chỉ được dùng phenolphtalein, hãy nhận biết 3 dung dịch bị mất nhãn sau:
KOH, KCl, H2SO4
Hướng dẫn giải
- Dung dịch KOH làm hồng phenolphtalein
- Khi cho dung dịch KOH có màu hồng ở trên vào 2 dung dịch còn lại nhận ra dung dịch H2SO4 làm mất màu hồng
PTPƯ: H2SO4 + 2KOH → K2SO4 + 2H2O Còn lại là KCl
c Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 1, 2 SGK trang 9) ( Bài 2 SGK trang 11), ( Bài 3, SGK trang 19) ( Bài 4, SGK trang 25), ( Bài 2 SGK trang 30), ( Bài,2, SGK trang 33) …
4.1.4.Dạng bài tập tách chất ra khỏi hỗn hợp
- Dùng phương pháp hóa học tách riêng 1 chất ra khỏi hỗn hợp hoặc tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp
` - Phản ứng dùng để tách chỉ tác dụng lên 1 chất trong hỗn hợp( thường là chất muốn tách), sản phẩm tạo thành có thể tách dễ dàng khỏi hỗn hợp, sản phẩm đó dễ tái tạo lại được chất ban đầu
* Bước 1: Chọn chất X chỉ tác dụng với A( mà không tác dụng với B) để chuyển A thành AX ở dạng kết tủa, bay hơi hoặc hòa tan; tách khỏi B( bằng cách lọc hoặc tự tách)
* Bước 2: Điều chế lại chất A từ AX
+ Sơ đồ tổng quát:
B XY
A,B + X AX (↓ , ↑ , tan) + Y A
PƯ tách PƯ tái tạo
Sơ đồ trên cho thấy: khi có hỗn hợp A,B Muốn tách A, ta cho hỗn hợp trên phản ứng với chất X, đảm bảo chỉ có chất X phản ứng với A tạo ra AX, từ AX ta lại tái tạo được A
Trang 17Zn + FeSO4 → ZnSO4 + FeĐây là loại bài tập đòi hỏi sự chuẩn xác cao (thu được sản phẩm khá tinh khiết và không bị mất mát nhiều) Với đối tượng học sinh khá, giỏi thì nên làm chính xác, triệt để hơn Nếu thực hiện như trên thì Fe thu được sẽ lẫn Zn mà không được xử lý hay có những phản ứng phụ do dung dư lượng hoá chất đã không được xét đến, có thể dễ làm sai lạc kết quả.
CaCO3 to CaO + CO2
* Phương pháp loại bỏ: Phương pháp này dùng để tách 1 chất ra khỏi hỗn hợp khi chất
cần tách khó hoặc không tham gia phản ứng hóa học:
* Sơ đồ tổng quát:
Có hỗn hợp A,B Ta muốn tách A:
+ X AA,B XB
Sơ đồ trên ta thấy: khi có hỗn hợp A,B Muốn tách A, ta cho hỗn hợp trên phản ứng với chất X, đảm bảo chỉ có X phản ứng với B tạo ra XB, còn lại thu được A
Trang 18Ví dụ 1 (Bài 3 SGK trang 21): Khí CO được dùng làm chất đốt trong công nghiệp, có lẫn
tạp chất là các khí CO2, SO2 làm thế nào để loại bỏ các tạp chất ra khỏi CO bằng cách rẻ tiền nhất
Hướng dẫn:Dựa vào tính chất hóa học của oxit để giải quyết bài toán
- Dẫn hỗn hợp khí trên đi qua dung dịch Ca(OH)2 có dư Khi đó các khí CO2, SO2 bị hấp thụ theo phản ứng
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
SO2 + Ca(OH)2 → CaSO3 + H2O
- Khí còn lại là CO
Ví dụ 2: ( Bài 7 SGK trang 72): Bạc dạng bột có lẫn tạp chất đồng, nhôm Làm thế nào
để thu hồi được Ag tinh khiết Các hóa chất coi như đủ
Hướng dẫn: Dựa vào tính chất hóa học của kim loại để giải quyết bài toán
- Hòa tan hỗn hợp Ag, Cu, Al vào dung dịch AgNO3 dư, thì Al, Cu bị hòa tan hết
Al + 3AgNO3 → Al(NO3)3 + 3Ag
Cu + 2AgNO3 → Cu(NO3)2 + 2Ag
- Lọc dung dịch và rửa sạch được Ag
c.Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 5 SGK trang 6), ( Bài 2 SGK trang 54), ( Bài 4, SGK trang 58), ( Bài 3, SGK trang 60,) ( Bài 4 SGK trang 116) ) …
Một số lưu ý khi tách một số chất vô cơ:
g pháp tách
Zn (ZnO) Zn ddNaOH → Na 2 ZnO 2 CO2 → Zn(OH) 2 ↓ → t0 ZnO + H2( t0) →Zn Lọc,
nhiệt luyện
nhiệt luyện
Fe (FeO hoặc
Fe 2 O 3 )
Fe →dd HCl Fe Cl 2 NaOH → Fe(OH) 2 ↓ t →0(ck) FeO + → CO Fe Lọc,
nhiệt luyện Cu(CuO) Cu H2 SO 4(đn)→CuSO4 NaOH → Cu(OH) 2 ↓ → t0 CuO ()→
0
2 t
Trang 19nhiệt luyện
4.1.5.Dạng bài tập điều chế các chất
1 Điều chế oxit:
Phi kim + o xi Nhiệt phân axit(axit mất nước)
Kim loại + oxi OXIT Nhiệt phân muối
O xi + hợp chất Nhiệt phân ba zơ không tan
Kim loại mạnh + oxit kim loại yếu
3Fe + 2O2 →t0 Fe3O4 ; CaCO3 →t0 CaO + CO2
4FeS2 + 11O2 →t0 2Fe2O3 + 8 SO2 ; Cu(OH)2 →t0 CuO + H2O
2Al + Fe2O3 →t0
Al2O3 + 2Fe
Trang 20Ví dụ:
2K +H2O →2KOH + H2 ; Ca(OH)2 + K2CO3 → CaCO3 + 2 KOH
Na2O + H2O →2 NaOH ; 2KCl + 2 H2O đpnc → 2KOH +H2 + Cl2
4 Điều chế hiđroxit lưỡng tính:
Muối của nguyên tố lưỡng tính+ NH4OH( hoặc kiềm vừa đủ)→Hi ddroxxit lưỡng tính+ muối mới
Axit+ Oxit bazơ
Kim loại +Phi Kim MUỐI Muối axit + Oxit ba zơ
Axit + dd muốiKiềm + dd muối
- Thực chất đây là kiểu bài tập thực hiện quá trình biến hoá nhưng chỉ cho biết chất đầu
và chất cuối Học sinh phải suy nghĩ và lựa chọn con đường đúng nhất và ngắn nhất để thực hiện (Vì chất điều chế được phải tinh khiết và về nguyên tắc nếu đi bằng con đường dài hơn nhưng không sai thì vẫn giải quyết được yêu cầu của đề bài nhưng sẽ mất nhiều thời gian để viết các phương trình đã dùng đến một cách không cần thiết)
- Xét bài tập trên: Mg → MgSO4
Trang 21Sẽ thấy ngay cho Mg tác dụng với dung dịch axit sunfuric loãng tạo ra MgSO4
Các bài tập tương tự tự luyện:
( Bài 1 SGK trang 19), ( Bài 3 SGK trang 25), ( Bài 2 SGK trang 27), ( Bài 7,8 SGK trang 81), ( Bài 5 SGK trang 143,) ( Bài 3 SGK trang 167) …
4.2 Dạng bài tập định lượng ( bài tậpcó tính toán)
4.2.1 / Bài toán tính theo PTHH dạng cơ bản
Là dạng bài toán hóa học cơ bản, tính khối lượng, thể tích chất khí dựa vào PTHH của phản ứng xảy ra Học sinh phải nắm tốt các bước để làm bài toán và thực hiện thành thạo
Ví dụ 1: đốt cháy 5,6 gam Sắt trong bình chứa khí oxi sau phản ứng thu được sắt từ
oxit Hãy tính thể tích khí oxi cần dùng( ĐKTC) đốt cháy lượng sắt trên
Giải
n Fe = = 0,1(mol)
3 Fe + 2 O2 → Fe3O4 (1)
Theo PT (1) n O2 = n Fe = 0,1 = (mol)