1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hệ chuyên gia tư vấn chọn mua smartphone

37 1,2K 32

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 879,96 KB
File đính kèm ChuongTrinh.rar (6 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có chương trình demo kèm theoNỘI DUNGITổng quan hệ chuyên gia và giới thiệu về bài toán1.Tổng quan hệ chuyên giaKhái niệm:Hệ chuyên gia là một loại hệ cơ sở tri thức được thiết kế cho một lĩnh vực ứng dụng cụ thể. Ví dụ: Hệ chuyên gia về chẩn đoán bệnh trong y khoa, hệ chuyên gia chẩn đoán hỏng hóc máy tính và cung cấp các ý kiến dựa trên kinh nghiệm của chuyên gia con người đã được đưa vào hệ chuyên gia.Các hệ chuyên gia làm việc như một chuyên gia thực thụHệ chuyên gia được thiết kế để giải quyết các vấn đề phức tạp về lý luận tri thức.Thiết kế của một HCG dựa trên luật: (Rule–Based ES)Hình 1_1 cho thấy các module quan trọng nhất tạo nên một hệ chuyên gia dựa trên luật. Người dùng tương tác với hệ chuyên gia thông qua một giao diện người dùng (user interface), giao diện này đơn giản hóa việc giao tiếp và che giấu phần lớn sự phức tạp của hệ thống (ví dụ như cấu trúc bên trong của cơ sở các luật). Các hệ chuyên gia sử dụng một số lượng phong phú các kiểu giao diện, bao gồm hỏi và trả lời, điều khiển bởi trình đơn, ngôn ngữ tự nhiên, hay đồ họa,… Việc quyết định sử dụng giao diện như thế nào là sự thỏa hiệp giữa nhu cầu của người dùng với những đòi hỏi của cơ sở tri thức và hệ suy diễn.Trái tim của hệ chuyên gia là cơ sở tri

Trang 1

Môn: HỆ CHUYÊN GIA

Đề tài: Hệ chuyên gia tư vấn chọn mua smartphone

Sinh viên thực hiện:

Trang 2

Hà Nội, tháng 6 năm 2016

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

Nguyễn Thị Anh

- Viết báo cáo

- Xây dựng tập luật về hệ điều hành window

- Đưa ra yêu cầu chức năng của chương trình

I- Tổng quan hệ chuyên gia và giới thiệu về bài toán

1. Tổng quan hệ chuyên gia

Khái niệm:

Trang 5

Hệ chuyên gia là một loại hệ cơ sở tri thức được thiết kế cho một lĩnh vực ứng dụng cụ thể Ví dụ: Hệ chuyên gia về chẩn đoán bệnh trong y khoa, hệ chuyên gia chẩn đoán hỏng hóc máy tính và cung cấp các ý kiến dựa trên kinh nghiệm của chuyên gia con người đã được đưa vào hệ chuyên gia.

Các hệ chuyên gia làm việc như một chuyên gia thực thụ

Hệ chuyên gia được thiết kế để giải quyết các vấn đề phức tạp về lýluận tri thức

Thiết kế của một HCG dựa trên luật: (Rule–Based ES)

Hình 1_1 cho thấy các module quan trọng nhất tạo nên một

hệ chuyên gia dựa trên luật Người dùng tương tác với hệ

chuyên gia thông qua một giao diện người dùng (user

interface), giao diện này đơn giản hóa việc giao tiếp và chegiấu phần lớn sự phức tạp của hệ thống (ví dụ như cấu trúcbên trong của cơ sở các luật) Các hệ chuyên gia sử dụng một

số lượng phong phú các kiểu giao diện, bao gồm hỏi và trảlời, điều khiển bởi trình đơn, ngôn ngữ tự nhiên, hay đồ họa,

… Việc quyết định sử dụng giao diện như thế nào là sự thỏahiệp giữa nhu cầu của người dùng với những đòi hỏi của cơ

sở tri thức và hệ suy diễn

Trái tim của hệ chuyên gia là cơ sở tri thức tổng

quát (general knowledge base), chứa tri thức giải quyết vấn

đề của một ứng dụng cụ thể Trong một hệ chuyên gia dựatrên luật tri thức này được biểu diễn dưới dạng các luật if…then… Cơ sở tri thức bao gồm tri thức tổng quát (general

Trang 6

knowledge) cũng như thông tin của một

tình huống cụ thể (case-specific) Hình 1_1 Kiến trúc của một hệchuyên gia tiêu biểu

Động cơ suy diễn (inference engine) áp dụng tri thức cho việc giải

quyết các bài toán thực tế Về căn bản nó là một trình thông dịchcho cơ sở tri thức Trong hệ sinh (production system), động cơ suydiễn thực hiện chu trình điều khiển nhận dạng – hành động(recognize-act control cycle) Việc tách biệt cơ sở tri thức ra khỏiđộng cơ suy diễn là rất quan trọng vì nhiều lý do:

• Sự tách biệt của tri thức dùng để giải quyết vấn đề và động cơ suy diễn sẽ tạo điều kiện cho việc biểu diễn tri thức theo một cách tự nhiên hơn Ví dụ, các luật if…then… gần gũi với cách con người

Trang 7

mô tả những kỹ thuật giải quyết vấn đề của họ hơn so với một chương trình đưa luôn tri thức này vào phần mã máy tính cấp thấp.

• Bởi vì cơ sở tri thức được cách ly khỏi các cấu trúc điều khiển cấp thấp của chương trình, các nhà xây dựng HCG có thể tập trung một cách trực tiếp vào việc nắm bắt và tổ chức GQVĐ hơn là phải thực hiện trên các chi tiết của việc cài đặt vào máy tính

• Sự phân chia tri thức và điều khiển cho phép thay đổi một phần cơ

sở tri thức mà không tạo ra các hiệu ứng lề trên các phần khác của chương trình

• Sự tách biệt này cũng cho phép một phần mềm điều khiển và giao

tiếp có thể được sử dụng cho nhiều hệ thống khác nhau Một trình

cốt lõi của HCG (expert system shell) có tất cả các thành phần của

hình 1_1, trừ phần cơ sở tri thức và dữ liệu của tình huống cụ thể

Các nhà lập trình có thể sử dụng “trình cốt lõi rỗng của HCG” và

tạo ra một cơ sở tri thức mới thích hợp với ứng dụng của họ Các đường chấm chấm trong hình 1_1 biểu thị các module của trình cốt lõi

• Như đã thảo luận trong chương 5 về hệ sinh, sự module hóa này cho phép chúng ta thử nghiệm nhiều chế độ điều khiển khác nhau trên cùng một cơ sở luật

Một hệ con giải thích (explanation subsystem) ch phép chương

trình giải thích quá trình suy luận của nó cho người dùng Các giảithích này bao gồm các lập luận biện minh cho các kết luận của hệ

thống (trả lời cho câu hỏi how), giải thích vì sao hệ thống cần dữ liệu đó (trả lời cho câu hỏi why),…

Trang 8

Nhiều HCG còn bao gồm một trình soạn thảo cơ sở tri

thức (knowledge-base editor) Trình soạn thảo này giúp các nhà lập

trình xác định và hiệu chỉnh lỗi trong quá trình làm việc củachương trình, thường là bằng cách truy xuất những thông tin cungcấp bởi hệ con giải thích Chúng cũng có thể hỗ trợ cho việc bổsung tri thức mới, giúp duy trì cú pháp luật chính xác, và thực hiệncác kiểm tra tính nhất quán trên cơ sở tri thức đã cập nhật

Việc sử dụng trình cốt lõi HCG có thể giúp ta giảm đáng kể thờigian thiết kế và cài đặt chương trình Ví dụ, HCG MYCIN dùng đểchẩn đoán bệnh viêm màng não xương sống và nhiễm trùng máuđược phát triển trong khoảng 20 năm-người (person-year).EMYCIN (Empty MYCIN) là một trình cốt lõi của MYCIN đượctạo ra bằng cách loại bỏ tri thức chuyên ngành khỏi chương trìnhMYCIN Sử dụng EMYCIN, các kỹ sư tri thức đã cài đặt PUFF,một chương trình phân tích các vấn đề về phổi cho các bệnh nhân,trong khoảng 5 năm-người Đây là một sự tiết kiệm đáng kể và làmột khía cạnh quan trọng chứng tỏ sức sống trên phương diệnthương mại của công nghệ hệ chuyên gia

Đối với người lập trình, điều quan trọng là phải lựa chọn đúng trìnhcốt lõi HCG để phát triển một HCG mới Các bài toán khác nhauđòi hỏi các quá trình lập luận khác nhau: tìm kiếm hướng đích sovới tìm kiếm hướng dữ liệu chẳng hạn Chiến lược điều khiển cungcấp bởi trình cốt lõi cần phải thích hợp với ứng dụng; phương phápsuy luận y học dùng cho ứng dụng PUFF rất giống với phươngpháp mà HCG MYCIN sử dụng; điều đó làm cho việc sử dụng trìnhcốt lõi EMYCIN trở nên thích hợp Nếu trình cốt lõi có quá trìnhsuy luận không thích hợp, thì việc sử dụng nó có thể là một sai lầm

và tệ hơn là bắt đầu từ xây dựng từ đầu

Trang 9

Các vấn đề phù hợp để xây dựng HCG

Các HCG thường đòi hỏi sự đầu tư đáng kể về tiền bạc và sức lựccon người Những cố gắng để giải quyết một bài toán quá phức tạp,quá ít hiểu biết, hoặc có những yếu tố không phù hợp khác đối vớicông nghệ hiện tại có thể dẫn đến những thất bại hao tiền tốn của.Các nhà nghiên cứu đã xây dựng một tập hợp các chỉ dẫn có tínhkhông hình thức cho việc xác định xem khi nào thì một bài toánthích hợp để giải quyết bằng HCG:

Sự cần thiết phải có một giải pháp phải biện minh cho chi phí

và sức lực của việc xây dựng HCG, vì nếu không đó sẽ là một sự lãng phí Công ty máy tính DEC đã bỏ ra tiền và công sức để xây

dựng HCG XCON để tự động hóa công tác tạo cấu hình cho máy tính Kết quả, XCON đã giúp công ty tiết kiệm được tài chính và duy trì lòng tin của khách hàng Tương tự, người ta đã cây dựng nhiều HCG trong các lĩnh vực như khai thác khoáng sản, kinh doanh quốc phòng, và y học, là những nơi tồn tại tiềm năng to lớn cho việc tiết kiệm tiền bạc, thời gian và sinh mạng con người

Hiểu biết chuyên môn của con người không sẵn có ở mọi nơi cần đến nó Có rất nhiều HCG đã được xây dựng trong ngành y, vì

sự chuyên môn và tính phức tạp trongkỹ thuật của y học hiện đại đãkhiến cho các bác sĩ gặp nhiều khó khăn trong việc theo kịp những tiến bộ của các phương pháp chẩn đoán và điều trị Số lượng các chuyên gia đáp ứng được các yêu cầu này rất hiếm và phải trả thù lao cao cho công việc của họ, do đó mà các hệ chuyên gia được nhìn nhận như là một cứu cánh Nhờ có HCG, các bác sĩ ở địa phương có thể chẩn đoán và điều trị bệnh ở mức độ chuyên gia Trong ngành địa chất, bằng cách bố trí HCG tại những nơi khai

Trang 10

thác, nhiều vấn đề có thể được giải quyết mà không cần các chuyêngia con người phải có mặt Tương tự, sự lãng phí những kiến thức chuyên môn có giá trị do việc chuyển đổi nhân viên hay những người sắp về hưu có thể biện minh cho việc xây dựng các hệ

Phạm vi xác định vấn đề được cấu trúc tốt và không đòi hỏi sự suy luận theo lẽ thường tình (commonsense reasoning) Mặc dù

các hệ chuyên gia đã được xây dựng trong nhiều lĩnh vực đòi hỏi trithức kỹ thuật chuyên môn hóa, nhiều sự suy luận theo lẽ thường của con người vẫn nằm ngoài khả năng hiện tại của chúng Các lĩnhvực mang tính kỹ thuật cao có ưu điểm là được hiểu biết và hình thức hóa kỹ lưỡng: các thuật ngữ được định nghĩa đấy đủ và các chủ đề đã có sẵn những mô hình khái niệm rõ ràng và cụ thể

Vấn đề có thể không giải quyết được bằng cách sử dụng các phương pháp tính toán truyền thống Không nên sử dụng công

nghệ HCG để “phát minh lại chiếc bánh xe” (reinvent the wheel) Nếu một bài toán có thể giải quyết một cách thỏa đáng bằng những

kỹ thuật truyền thống hơn như các phương pháp số, thống kê, … thìchúng không phải là một cử ứng viên cho việc thiết kế HCG

Trang 11

Có sự hợp tác và hiểu ý nhau giữa các chuyên gia Tri thức sử

dụng bởi các chuyên gia hiếm khi tìm thấy trong các sách giáo khoa

mà chỉ có được nhờ kinh nghiệm và sự đánh giá của con người khi làm việc trong lĩnh vực đó Điều quan trọng là các chuyên gia đó sẵn sàng và có khả năng chia sẻ tri thức Các chuyên gia có thể sẽ không hợp tác khi họ cảm thấy bị đe dọa bởi hệ thống, sợ rằng hệ thống có thể thay thế họ, hoặc nghĩa rằng đề án không thể thành công, chỉ lãng phí thời gian của họ, khi đó họ sẽ không bỏ ra thời gian và nỗ lực cần thiết.Một điều quan trọng khác là ban quản lý phải hỗ trợ dự án và chi phép các chuyên gia sử dụng thời gian làm việc chính thức của họ để cộng tác với các kỹ sư tri thức

Vấn đề cần giải quyết phải có kích thước và quy mô đúng

mức Vấn đề không được vượt quá khả năng của công nghệ hiện

tại Ví dụ, một chương trình cố gắng nắm bắt mọi hiểu biết chuyên môn của một bác sĩ y khoa sẽ không khả thi trong khi đó một

chương trình cố vấn cho các bác sĩ trong việc sử dụng một phần nào đó của thiết bị chẩn đoán sẽ thích hợp hơn

Mặc dù một vấn đề lớn có thể không phù hợp với giải pháp của hệchuyên gia, ta có thể phân chia nó thành các vấn đề nhỏ hơn, độclập nhau và phù hợp với HCG Điều này tương ứng với chiến lượcphân rã “top-down” sử dụng trong công nghệ phần mềm truyềnthống Một cách giải quyết khác là ta bắt đầu bằng một chươngtrình đơn giản có khả năng giải quyết một phần của vấn đề rồi từngbước tăng dần chức năng của nó để xử lý phạm vi lớn hơn của vấn

đề Chiến lược này gọi là “đường kẻ mỏng” (thin line), ám chỉ mụctiêu của nó là tạo ra một khuôn mẫu hy sinh bề rộng của khả năngứng dụng nhằm ưu tiên việc tạo ra một lời giải đầy đủ cho tập hợp

Trang 12

nhỏ các bài toán thử nghiệm Kỹ thuật này tỏ ra hiệu quả để khámphá các vấn đề phức tạp và chưa được hiểu rõ Người ta sử dụngthành công kỹ thuật này trong việc tạo ra XCON: ban đầu chươngtrình được thiết kế chỉ để định cấu hình cho các máy tính VAX 780;sau đó nó được mở rộng để xử lý luôn tất cả các hệ máy VAX và hệmáy PDP-11.

Qui trình công nghệ tri thức

Những người liên quan chủ yếu trong việc xây dựng một HCG

là kỹ sư tri thức (knowledge engineer), chuyên gia (domain expert)

và người dùng cuối (end-user)

Kỹ sư tri thức là chuyên gia về ngôn ngữ và biểu diễn trong TTNT,

với nhiệm vụ chính là chọn các công cụ phần mềm và phần cứngcho đề án, giúp đỡ chuyên gia phát biểu các tri thức cần thiết, và càiđặt các tri thức đó vào một cơ sở tri thức đúng đắn và hiệu quả.Thông thường, kỹ sư tri thức này ban đầu không hiểu biết gì về lĩnhvực ứng dụng

Chuyên gia cung cấp tri thức về lĩnh vực ứng dụng Thông thường,

đây là một người đã từng công tác trong lĩnh vực ứng dụng và hiểubiết những kỹ thuật giải quyết vấn đề của nó, chẳng hạn như cáccách làm tắt, xử lý dữ liệu không chính xác, đánh giá những giảipháp cục bộ, và tất cả những kỹ năng khác chứng tỏ anh ta có đẳngcấp của một chuyên gia Chuyên gia chịu trách nhiệm chính trongviệc giải thích rõ những kỹ năng này với kỹ sư tri thức

Trong phần lớn các ứng dụng, người dùng cuối quyết định nhữngràng buộc thiết kế chính Chừng nào người dùng đó còn chưa hàilòng, thì còn phải đầu tư sức lực cho việc phát triển chương trình

Trang 13

Những kỹ năng và nhu cầu của người dùng cần phải xem xét trongsuốt quá trình thiết kế: chương trình có làm cho công việc củangười dùng dễ dàng hơn, nhanh hơn, thuận tiện hơn không? Ngườidùng cần sự giải thích ở mức độ nào? Môi trường làm việc củangười dùng có đặt ra những hạn chế nào đó cho việc sử dụngchương trình? Ví dụ như, một giao diện đòi hỏi việc gõ bàn phím sẽkhông phù hợp với thao tác trong khoang lái của một máy baychiến đấu phản lực.

Giống như hầu hết các công việc lập trình trong TTNT, việc xâydựng HCG đòi hỏi một chu trình phát triển theo kiểu không truyềnthống dựa trên một bản mẫu được tạo ra ban đầu và việc xem xét lại

mã lệnh một cách tăng dần Phương pháp lập trình này còn gọi làlập trình thăm dò (exploratory programming)

Nói chung quá trình xây dựng hệ thống bắt đầu với việc kỹ sư trithức cố gắng làm quen với phạm vi xác định vấn đề (problemdomain) Điều này giúp ích cho việc giao tiếp với chuyên gia Nóđược thực hiện bằng những bài phỏng vấn mở đầu với chuyên gia

đó, bằng sự quan sát các chuyên gia trong quá trình họ làm việc,hoặc thông qua việc đọc những tài liệu giới thiệu về lĩnh vựcchuyên ngành đó Tiếp theo kỹ sư tri thức và chuyên gia bắt đầuquá trình khai thác những tri thức giải quyết vấn đề của chuyên gianày Công việc này được thực hiện bằng cách đưa cho chuyên giamột loạt các bài toán ví dụ và yêu cầu anh ta giải thích những kỹthuật được sử dụng để đạt được lời giải Trong giai đoạn này, việc

sử dụng các băng video hoặc audio là rất quan trọng

Thông thường, sẽ tốt hơn nếu kỹ sư tri thức là một người mới làmquen với lĩnh vực ứng dụng, vì những chuyên gia có thể quên đề

Trang 14

cập đến những bước thao tác đã trở thành hiển nhiên hay thậm chí

là tự động đối với họ sau nhiều năm công tác trong lĩnh vực đó Vìvậy, các kỹ sư tri thức không biết gì về lĩnh vực này có thể sẽ pháthiện những bước nhảy cóc này, và do đó sẽ yêu cầu chuyên gia làmsáng tỏ vấn đề

Ngay sau khi kỹ sư đã có được cái nhìn tổng quát về lĩnh vực củavấn đề và đã cùng chuyên gia giải quyết một số bài toán, anh ta sẽbắt tay vào thiết kế hệ thống: chọn phương pháp biểu diễn tri thức,như luật hay frame chẳng hạn, xác định chiến lược tìm kiếm, tiến(forward), lùi (backward), theo chiều sâu (depth-first), tốt nhất(best-first),… và thiết kế giao diện người dùng Sau khi triển khaithiết kế này đến mức có thể hài lòng, kỹ sư tri thức bắt đầu xâydựng một bản mẫu (prototype)

Bản mẫu này cần phải có khả năng giải quyết những bài toán trongmột phạm vi nhỏ của lĩnh vực và cung cấp một nền thử nghiệm chonhững xác nhận thiết kế sơ bộ Ngay sau khi bản mẫu được cài đặtxong, kỹ sư tri thức và chuyên gia sẽ thử nghiệm và cải tiến tri thứccủa nó bằng cách cho nó giải quyết một số bài toán và hiệu chỉnhnhững khuyết điểm của nó Sau mỗi lần như vậy, họ thường có mộtphiên bản chương trình sáng sủa hơn Nếu những giả thiết trongquá trình thiết kế bản mẫu tỏ ra là đúng đắn, thì bản mẫu có thểđược dùng để xây dựng hệ thống cuối cùng Tuy nhiên, bản mẫucũng có thể bị loại bỏ nếu nó trở nên cồng kềnh hoặc các nhà thiết

kế quyết định thay đổi phương pháp tiếp cận cơ sở đối với vấn đề.Đặc trưng lớn thứ hai của lập trình HCG là cần xem chương trìnhnhư không bao giờ “kết thúc” Một cơ sở tri thức kiểu heuristic lớn

Trang 15

sẽ luôn luôn có những hạn chế của nó, vì tri thức thì luôn đổi mới

và vì vậy cần phải được cập nhật

Mô hình khái niệm và vai trò của chúng trong việc thu thập tri thức

Trong HCG, tri thức đóng vai trò quyết định cho sự thành côngcũng như hiệu quả giải quyết vấn đề của HCG Tri thức này cóđược từ quá trình thu thập tri thức của các chuyên gia, tri thức nàythường mơ hồ, không chính xác, và chỉ được phát biểu dài dòngtheo từng bộ phận Người kỹ sư tri thức có nhiệm vụ dịch nhữnghiểu biết không hình thức này sang một ngôn ngữ hình thức thíchhợp cho máy tính (xem hình 1-2) Đây là một nhiệm vụ khó khăn,tuy nhiên, khó khăn trước tiên vẫn là việc tích lũy tri thức do nhiềunguyên nhân:

• Các kỹ năng của con người có được thường thông qua thực nghiệm.Sau nhiều năm thực hành, những kỹ năng này tích hợp chặt chẽ với nhau và hoạt động ở một cấp độ vô thức cao Vì vậy, sẽ rất khó khăn cho các chuyên gia khi phải mô tả chính xác những gì họ làm trong quá trình giải quyết vấn đề

• Tri thức của con người thường nằm ở dạng là “biết làm thế nào” (how) để đối phó với tình huống hơn là biết cần phải khắc họa trong óc một cách lý trí xem tình huống ấy là cái gì (what) Một ví

dụ dễ thấy về đặc điểm này ở người biểu diễn xe đạp một bánh: trong thực tế, một người biểu diễn thành công không thể cùng lúc giải nhiều phương trình sai phân nhằm giữ thế cân bằng; mà thực raanh ta chỉ phối hợp có tính trực giác những cảm giác về “trọng

Trang 16

lực”, “xung lực” và “quán tính” để tạo thành một thủ tục điều khiểnthích hợp.

• Tri thức của con người không căn cứ theo sự thật, không khách quan, vì hiểu biết của con người thể hiện một mô hình của cá nhân hay cộng đồng về thế giới Những mô hình đó bị ảnh hưởng bởi những tập quán, những quá trình xã hội, và những quá trình tiềm ẩnkhác…

• Tri thức luôn luôn thay đổi Điều đó không chỉ do các chuyên gia tiếp nhận thêm những tri thức mới, mà còn do tri thức đang tồn tại

có thể trở thành mục tiêu của những cải cách triệt để

Hệ quả là, công nghệ tri thức là một quá trình khó khăn và cầnđược xem xét khi kéo dài chu trình sống của bất kỳ HCG nào Để

đơn giản hóa nhiệm vụ này, người ta cài đặt một mô hình khái

niệm (conceptual model) nằm giữa hiểu biết chuyên môn của con

người với chương trình như trong hình 1_2 Mô hình khái niệm nàythể hiện nhận thức của người kỹ sư tri thức về lĩnh vực đó, nó cóthể bao gồm các từ điển dữ liệu, các biểu diễn đồ họa của khônggian trạng thái và những lời bình đi kèm đều có thể là một phần của

mô hình này

Mô hình khái niệm không có tính hình thức hoặc có thể thi hànhtrực tiếp trên máy tính Nó chỉ là một cấu trúc thiết kế trung gian,một mô hình mẫu để có thể bắt đầu đưa ra các ràng buộc và mã hóacác kỹ năng của con người Nếu như kỹ sư tri thức sử dụng mô hìnhphép tính mệnh đề, thì nó có thể bắt đầu như một tập hợp các mạngđaon giản biểu diễn những trạng thái suy luận của người chuyên giathông qua các tình huống giải quyết vấn đề điển hình Chỉ sau khi

Trang 17

được cải tiến thêm, mạng này mới trở thành các luật if… thentường minh.

2. Giới thiệu bài toán

Hiện nay, khoa học công nghệ phát triển rất nhanh chóng làm thay đổi rấtnhiều trong đời sống hàng ngày của chúng ta.Ngày nay, ta thấy rằng chiếcđiện thoại di động dường như là vật bất ly thân đối với mỗi người ở mọitầng lớp Bởi nó đáp ứng rất nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sốnghiện đại ngày nay từ nhu cầu thiết yếu trao đổi thông tin tới nhu cầu giảitrí, tới phục vụ cho các mục đích chuyên môn khác

Những chiếc điện thoại ngày nay không những chỉ giúp con người traođổi thông tin mà nó còn cung cấp rất nhiều các tiện ích khác: nghe nhạc,chụp hình, truy cập internet

Nhưng hiện tại có rất nhiều hãng và sản phẩm điện thoại di động ra đờivới rất nhiều các kiểu dáng màu sắc tính năng, giá cả khiến cho việcviệc lựa chọn một chiếc điện thoại phù hợp với mục đích sử dụng, côngviệc, khả năng tài chính trở nên khó khăn hơn

Trang 18

Hệ tư vấn mua điện thoại di động sẽ hỗ trợ cho người sử dụng chọn đượcchiếc điện thoại phù hợp với cá nhân người sử dụng.

II- Cơ sở lý thuyết

1 Biểu diễn tri thức

- Biểu diễn tri thức (knowledge representation) là một lĩnh vực nghiên cứuquan trọng của Trí tuệ nhân tạo Nhằm phát triển các phương pháp, cáchthức biểu diễn tri thức và các công cụ hỗ trợ việc biểu diễn tri thức

- Có rất nhiều phương pháp biểu diễn tri thức, và phải phụ thuộc vào trithức cụ thể của từng bài toán ta mới chọn được một phương pháp biểudiễn hợp lý nhất

• Biểu diễn tri thức bằng luật sản xuất (Production rules)

• Biểu diễn tri thức bằng khung (Frames)

• Biểu diễn tri thức sử dụng mạng ngữ nghĩa (Semantic networks )

• Biểu diễn tri thức bằng ontology

1.1 Biểu diễn tri thức dựa trên luật

Phương pháp biểu diễn tri thức bằng luật sinh được phát minh bởi Newell vàSimon trong lúc hai ông đang cố gắng xây dựng một hệ giải bài toán tổng quát.Đây là một kiểu biểu diễn tri thức có cấu trúc và được sử dụng phổ biến nhấttrong các hệ cơ sở tri thức

Ngày đăng: 10/01/2017, 18:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w