Theo khẳng định trong nghiên cứu của Klibi và cộng sự 2010 thì một trong những ảnh hưởng của bài toán thiết kế hệ thống đến doanh nghiệp đó là vấn đề thiết kế sẽ ảnh hưởng đến việc vận h
Trang 1vi
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ xi
DANH MỤC BẢNG BIỂU xii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xiii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1
1.1 Tổng quan 1
1.2 Khoảng trống và vấn đề nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu của luận án 7
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của luận án 8
1.5 Phạm vi nghiên cứu của luận án: 10
1.6 Quy trình thực hiện luận án: 10
1.7 Bố cục của luận án 12
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 15
2.1 Giới thiệu và định nghĩa về chuỗi cung ứng 15
2.2 Cấu trúc và hoạt động chuỗi cung ứng 17
2.2.1 Nhà cung cấp (Nhà CC – Suppliers – Vendors): 18
2.2.2 Nhà sản xuất (Manufacturers): 19
2.2.3 Nhà phân phối (Distributors): 20
2.2.4 Nhà bán lẻ – đại lý (Retailers): 21
2.2.5 Khách hàng (Customers/end-users): 21
2.3 Tìm hiểu nghiên cứu về chuỗi cung ứng 23
2.3.1 Nhóm nghiên cứu không dựa trên mô hình toán (non-mathematical model): 23
2.3.2 Nhóm nghiên cứu theo mô hình toán (mathematical model): 27
2.4 Khoảng trống và vấn đề nghiên cứu cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng: 36
2.4.1 Lựa chọn và phân bổ nguồn lực trong bài toán thiết kế (the capacitated facilities location in supply chain network design problems): 37
2.4.2 Khoảng trống và vấn đề nghiên cứu của luận án: 39
2.5 Phát triển mô hình và định hướng giải thuật cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng: 44 2.5.1 Bài toán đơn sản phẩm, một thời đoạn (single product, single period) 45
2.5.2 Bài toán đa sản phẩm, một thời đoạn (multi-product, single period) 46
Trang 2vii
2.5.3 Bài toán đơn sản phẩm, nhiều thời đoạn (single product, multi-period) 47
2.5.4 Bài toán đa sản phẩm, nhiều thời đoạn (multi-product, multi-period) 48
2.5.5 Định hướng mô hình cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng: 50
2.5.6 Định hướng giải thuật cho các mô hình toán: 50
2.6 Tóm tắt chương: 53
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH ĐA SẢN PHẨM CHO BÀI TOÁN THIẾT KẾ CHUỖI CUNG ỨNG 54 3.1 Giới thiệu mô hình 1: Mô hình đa sản phẩm, nhiều thời đoạn 54
3.2 Giới thiệu tập các thông số của mô hình 1 56
3.2.1 Tập các chỉ số: 56
3.2.2 Tập các tham số: 56
3.2.3 Tập các biến quyết định: 57
3.3 Xây dựng mô hình lý thuyết 1: 58
3.3.1 Hàm mục tiêu 58
3.3.2 Các ràng buộc 58
3.4 Phát triển giải thuật Lagrange cho mô hình 1 62
3.4.1 Hiệu chỉnh mô hình 1: 62
3.4.2 Bài toán 1 (L1): 66
3.4.3 Bài toán 2 (L2): 66
3.5 Bộ ràng buộc thêm: 66
3.5.1 Bộ ràng buộc thêm 1 67
3.5.2 Bộ ràng buộc thêm 2 67
3.5.3 Bộ ràng buộc thêm 3 67
3.6 Quy trình của giải thuật Lagrange: 68
3.7 Sơ đồ giải thuật Lagrange 70
3.8 Kiểm tra tính khả thi của mô hình 1 71
3.8.1 Giới thiệu các bài toán: 71
3.8.2 Mô phỏng dữ liệu: 72
3.8.3 Kết quả tính toán: 73
3.9 Những đóng góp của mô hình 1 74
3.9.1 Về học thuật: 74
3.9.2 Về quản lý: 75
Trang 3viii
CHƯƠNG 4 MÔ HÌNH THIẾT KẾ CHUỖI CUNG ỨNG – XEM XÉT SẢN
LƯỢNG VẬN HÀNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH 77
4.1 Giới thiệu mô hình 2: xem xét sản lượng vận hành của các đơn vị kinh doanh khi được mở trong hệ thống 77
4.2 Giới thiệu tập các thông số của mô hình 2 80
4.2.1 Tập các chỉ số: 80
4.2.2 Tập các tham số: 80
4.2.3 Tập các biến quyết định: 81
4.3 Xây dựng mô hình lý thuyết 2: 82
4.3.1 Hàm mục tiêu 82
4.3.2 Các ràng buộc 82
4.4 Phát triển giải thuật Lagrange cho mô hình 2 86
4.4.1 Hiệu chỉnh mô hình 2: 86
4.4.2 Bài toán 1 (L1): 89
4.4.3 Bài toán 2 (L2): 89
4.5 Bộ ràng buộc thêm: 90
4.6 Quy trình của giải thuật Lagrange: 90
4.7 Kiểm tra tính khả thi của mô hình 2 92
4.7.1 Giới thiệu các bài toán: 92
4.7.2 Mô phỏng dữ liệu: 93
4.7.3 Kết quả tính toán: 94
4.8 Những đóng góp của mô hình 2 98
4.8.1 Về học thuật: 98
4.8.2 Về quản lý: 99
CHƯƠNG 5 MÔ HÌNH THIẾT KẾ CHUỖI CUNG ỨNG – XEM XÉT VIỆC CẤP HÀNG TRỰC TIẾP TỪ NHÀ MÁY SẢN XUẤT ĐẾN CÁC ĐẠI LÝ 101
5.1 Giới thiệu mô hình 3: cho phép cấp hàng trực tiếp từ nhà máy sản xuất đến các đại lý trong hệ thống 101
5.2 Giới thiệu tập các thông số của mô hình 3 103
5.2.1 Tập các chỉ số: 103
5.2.2 Tập các tham số: 104
5.2.3 Tập các biến quyết định: 105
Trang 4ix
5.3 Xây dựng mô hình lý thuyết 3: 106
5.3.1 Hàm mục tiêu 106
5.3.2 Các ràng buộc 106
5.4 Giải thuật Lagrange cho mô hình 3 110
5.4.1 Hiệu chỉnh mô hình 3: 110
5.4.2 Bài toán 1 (L1): 113
5.4.3 Bài toán 2 (L2): 113
5.5 Bộ ràng buộc thêm: 113
5.5.1 Bộ ràng buộc thêm 1 114
5.5.2 Bộ ràng buộc thêm 2 114
5.6 Mở rộng mô hình 3 115
5.7 Quy trình của giải thuật Lagrange: 116
5.8 Kết quả tính toán cho mô hình 3 116
5.9 Những đóng góp của mô hình 3 119
5.9.1 Về học thuật: 119
5.9.2 Về quản lý: 120
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
6.1 Kết luận 121
6.2 Ứng dụng trong quản lý 124
6.3 Kiến nghị 125
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC 135
Phụ lục 1A: Chương trình máy tính cho mô hình 1 135
1A.1 Chương trình LINGO cho bài toán ban đầu của mô hình 1: 135
1A.2 Chương trình LINGO cho 2 bài toán nhỏ (L1) và (L2) của mô hình 1: 136
1A.2.1 Chương trình LINGO cho bài toán 1 (L1) của mô hình 1: 136
1A.2.2 Chương trình LINGO cho bài toán 2 (L2) của mô hình 1: 138
1A.3 Chương trình chính cho giải thuật của mô hình 1: 139
Phụ lục 1B: Chương trình máy tính cho mô hình 2 145
1B.1 Chương trình LINGO cho bài toán ban đầu của mô hình 2: 145
Trang 5x
1B.2 Chương trình LINGO cho 2 bài toán nhỏ (L1) và (L2) của mô hình 2: 147
1B.2.1 Chương trình LINGO cho bài toán 1 (L1) của mô hình 2: 147
1B.2.2 Chương trình LINGO cho bài toán 2 (L2) của mô hình 2: 148
1B.3 Chương trình chính cho giải thuật của mô hình 2: 149
Phụ lục 1C: Chương trình LINGO cho mô hình 3 155
Phụ lục 2: Kết quả chi tiết của các ví dụ minh họa 157
2.1 Kết quả chi tiết của ví dụ 1: 157
2.2 Kết quả chi tiết của ví dụ 2: 160
Trang 6xi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu 12
Sơ đồ 2.1: Đặc trưng của chuỗi cung ứng 15
Sơ đồ 2.2: Ngôi nhà quản lý chuỗi cung ứng 16
Sơ đồ 2.3: Ma trận hoạch định với sự hỗ trợ của máy tính 18
Sơ đồ 2.4: Thể hiện sự tham gia của nhà cung cấp vào hệ thống 19
Sơ đồ 2.5: Mô hình nghiên cứu SCI 24
Sơ đồ 2.6: Mô hình nghiên cứu – research framework của Baihaqi và Sohal (2013) 25
Sơ đồ 2.7: Chuỗi cung cấp phụ tùng 26
Sơ đồ 2.8: Mô hình nghiên cứu – a research framework of SCM 27
Sơ đồ 2.9: Mô hình AHP cho những yếu tố trong mô hình SCOR 32
Sơ đồ 2.10: Cấu trúc mạng cung ứng – Transshipment Scenario 37
Sơ đồ 2.11: Cấu trúc mạng cung ứng 38
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ giải thuật Lagrange 70
Trang 7xii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp của Dickson 30
Bảng 3.1: Một số bài toán ứng dụng 71
Bảng 3.2: Khoảng cấp phát của tập dữ liệu mô phỏng cho các thông số đầu vào 72
Bảng 3.3: Bảng tóm tắt kết quả tính toán 73
Bảng 4.1: Một số bài toán ứng dụng 93
Bảng 4.2: Khoảng cấp phát của tập dữ liệu mô phỏng cho các thông số đầu vào 94
Bảng 4.3: Bảng tóm tắt kết quả tính toán 95
Bảng 4.4: So sánh việc mở nhà máy sản xuất của 2 ví dụ 97
Bảng 4.5: So sánh việc mở tổng kho của 2 ví dụ 98
Bảng 5.1: So sánh kết quả mở nhà máy và tổng kho giữa mô hình 2 và mô hình 3 118
Bảng 5.2: So sánh kết quả giá trị hàm mục tiêu giữa mô hình 2 và mô hình 3 118
Trang 8xiii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AHP Analytical hierarchy process – Quy trình phân tích trật tự thứ bậc
CRS Coordination & resource sharing – Hợp tác và chia sẻ nguồn lực
GA Genetic algorithm – Giải thuật gen
II Information integrated – Tích hợp thông tin
MILP Mixed integer linear programming – Quy hoạch nguyên hỗn hợp
ORL Organizational relationship linkage – Mối liên kết quan hệ trong tổ chức
PCDM Product chain decision model – Mô hình quyết định chuỗi hàng hóa
POS Point of sale – Điểm bán hàng (có sự hỗ trợ của máy tính và software)
SC Supply chain – Chuỗi cung ứng
SCM Supply chain management – Quản lý chuỗi cung ứng
SCND Supply chain network design – Thiết kế mạng cung ứng
SCOR Supply chain operations reference – Mô hình vận hành chuỗi cung ứng
Trang 9và Selladurai (2014) có định nghĩa tương tự đó là xem xét chuỗi cung ứng là tập hợp gồm nhiều đơn vị kinh doanh (sets of facilities) hợp tác với nhau để đáp ứng nhu cầu cho các đại lý, điều này nhấn mạnh cấu trúc phức tạp của hệ thống, cũng như vai trò quản lý và điều hành để tạo nên hiệu quả chung của doanh nghiệp, quan điểm này còn được khẳng định trong sách giáo khoa của Simchi-Levi và cộng sự (2009) Thêm vào
đó, nghiên cứu của Alfalla-Luque và cộng sự (2013) nhận định rằng, tính chất phức tạp cũng như cấu trúc không rõ ràng nên việc quản lý mạng cung ứng tích hợp nhiều chức năng kinh doanh bao gồm cung ứng đầu vào, tồn kho, vận tải, kinh doanh, hợp tác với khách hàng,…luôn luôn là thách thức đối với những nhà quản lý và đầu tư Với nền kinh tế mở như hiện nay, việc thay đổi các đơn vị kinh doanh trong chuỗi xảy ra thường xuyên hơn, gia tăng tính bất định trong hệ thống Chúng ta biết rằng, trong bối cảnh môi trường cạnh tranh gay gắt toàn cầu, quản lý chuỗi cung ứng đóng vai trò then chốt trong chiến lược tồn tại và phát triển của doanh nghiệp (Chan và Qi, 2003; Matinrad và cộng sự, 2013) Những phân tích và nhận định trên đây càng khẳng định tầm quan trọng của quản lý và vận hành chuỗi cung ứng quyết định đến hiệu quả kinh doanh và sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 102
Để có thể hỗ trợ tốt cho vận hành và những chiến lược dài hạn đối với hệ thống cung ứng, trong nhiều tình huống thực tế, đặc biệt là bài toán lựa chọn và phân bổ nguồn lực (đơn vị kinh doanh) khi xây dựng hệ thống (specializing in capacitated facilities location problems) (Babazadeh và cộng sự, 2013), mạng cung ứng nên được xem xét một cách nghiêm túc ngay từ những bài toán thiết kế ban đầu Theo khẳng định trong nghiên cứu của Klibi và cộng sự (2010) thì một trong những ảnh hưởng của bài toán thiết kế hệ thống đến doanh nghiệp đó là vấn đề thiết kế sẽ ảnh hưởng đến việc vận hành lâu dài và ổn định của doanh nghiệp, nên việc chọn lựa những đơn vị kinh doanh nào để mở trong hệ thống cũng được xem xét một cách cẩn thận Hơn nữa, theo nhận định trong nghiên cứu của Farahani và cộng sự (2014) thì thiết kế mạng cung ứng không những xác định cấu trúc chuỗi mà còn xác định cả chi phí và hiệu quả vận hành của hệ thống sau thiết kế Điều này càng khẳng định trong thực tế rằng, ảnh hưởng của bài toán thiết kế đến hiệu quả vận hành lâu dài của doanh nghiệp, những nhà quản lý
và nghiên cứu trong lĩnh vực này đã và đang nỗ lực khỏa lấp khoảng trống với nhiều
mô hình khác nhau đã được công bố Như vậy, bài toán thiết kế chuỗi cung ứng vẫn còn giá trị và hấp dẫn những nhà nghiên cứu cũng như quản lý và đầu tư Ngoài ra, chúng ta biết rằng, ngày nay những nhà quản lý cấp cao trong các công ty lớn gia tăng
sự chú ý của mình đến cấu trúc và vận hành chuỗi cung ứng của họ (điều này được trình bày và thảo luận trong sách giáo khoa của Simchi-Levi và cộng sự, 2009) Bổ sung thêm những nhận định trên, trong bài tổng hợp của mình về những mô hình thiết
kế mạng cung ứng, Matinrad và cộng sự (2013) đã khẳng định rằng một vài xu hướng
của bài toán thiết kế chuỗi cung ứng liên quan đến một số vấn đề như: i) mô hình thiết
kế cho nhiều giai đoạn (multi-period) để nhà đầu tư có thể xem xét một cách tổng thể
hệ thống trong suốt quá trình thiết kế; ii) mô hình xem xét nhiều nhóm thành phần (multi-echelon/stage) để dễ dàng tổng quát hóa và áp dụng vào thực tế bởi bản chất cấu trúc của chuỗi cung ứng là phức tạp nhiều thành phần; hoặc iii) xem xét những
chiến lược cũng như vận hành chuỗi,…để mở rộng ứng dụng trong thực tế đa dạng về chiến lược trong vận hành và quản lý chuỗi, khẳng định hướng nghiên cứu cho các mô hình thiết kế Từ những phân tích và nhận định trên, tác giả cho rằng, bài toán thiết kế chuỗi cung ứng vẫn còn rất cần thiết cho cả lý thuyết đối với nhà nghiên cứu, và cả thực tế đối với nhà đầu tư, điều này cho thấy tầm ảnh hưởng của bài toán thiết kế đối
Trang 113
với vận hành, tồn tại và phát triển của chuỗi cung ứng Như vậy vấn đề nghiên cứu về chuỗi cung ứng hiện nay vẫn còn thách thức các nhà nghiên cứu và quản lý Hướng nghiên cứu này hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh, do đó, chủ
đề này vẫn còn giá trị cho nghiên cứu
Một lý do ủng hộ khá mạnh mẽ cho tác giả thực hiện nghiên cứu về chủ đề này đó là những mô hình thiết kế hệ thống bằng cách lựa chọn và phân bổ nguồn lực
(capacitated facilities location problems) vẫn thường xuyên được nghiên cứu và công
bố trên các tạp chí uy tín theo thời gian như nghiên cứu của Geoffrion và Graves, 1974; Hinojosa và cộng sự, 2000 và 2008; Amiri (2006); Pishvaee và Razmi (2012); Sadjady và Davoudpour (2012); Babazadeh và cộng sự (2013);…Với nhiều mô hình
về chủ đề này liên tục được công bố trên các tạp chí, bài toán thiết kế chuỗi cung ứng vẫn còn có ý nghĩa cho nghiên cứu cũng như hấp dẫn những nhà nghiên cứu và quản
1.2 Khoảng trống và vấn đề nghiên cứu
Với những phân tích được trình bày trên đây, việc phát triển mô hình toán là thực sự cần thiết đối với bản thân tác giả trong vấn đề học thuật, cũng như giải quyết được những vấn đề thực tế, giúp cho những nhà đầu tư và quản lý có những quyết định phù hợp
Theo quan điểm về quản lý và vận hành của chuỗi cung ứng, để hỗ trợ lâu dài cho các quyết định hiệu quả và hợp lý, những nhà quản lý và điều hành cần thiết phải có những công cụ hỗ trợ phù hợp hơn nữa Hơn nữa, như phân tích và nhận định từ những chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực này ở trên, chúng ta thấy rằng khoảng trống cho việc phát triển mô hình toán là chưa được khỏa lấp hoàn toàn Như vậy, để có thêm
Trang 12Thực tế hiện nay chúng ta có rất nhiều mô hình từ đơn giản đến phức tạp để hỗ trợ cho bài toán thiết kế mạng cung ứng Tuy nhiên, với những nét đặc thù riêng của từng mạng cung ứng đòi hỏi các mô hình phải hiệu chỉnh và thích nghi Như nghiên cứu tổng hợp của Matinrad và cộng sự (2013) đã đưa ra một số định hướng cho bài toán thiết kế, và hiện nay chưa có mô hình tổng quát cho tất cả các tình huống thực tế, đồng thời nghiên cứu này cũng nhấn mạnh rằng việc nghiên cứu bằng mô hình toán là không có giới hạn Hơn nữa, bài toán trong lĩnh vực chuỗi cung ứng mang tính đặc thù rất cao như trong nghiên cứu của New (1997) hay Farahani và cộng sự (2014), nên đòi hỏi phải có càng nhiều mô hình tổng quát lẫn đặc thù càng tốt Do đó, đây cũng là một khoảng trống cho tác giả đầu tư nghiên cứu phát triển thêm những mô hình và mở rộng thêm trường hợp ứng dụng thực tế cho bài toán thiết kế
2 Những yếu tố đặc trưng nào nên được xem xét khi hình thành mạng cung ứng Đây cũng là một vấn đề rất khó khăn cho những nhà nghên cứu khi dùng các mô hình toán để giải quyết các bài toán thực tế Việc xem xét đồng thời nhiều yếu tố trong cùng một mô hình sẽ làm gia tăng tính phức tạp của mô hình cũng như giải thuật, nên các nhà nghiên cứu thường sẽ đơn giản hóa hoặc giảm bớt một số yếu tố hoặc điều kiện để bài toán dễ giải quyết hơn Theo đề cập về xu hướng nghiên cứu liên quan bài toán thiết kế chuỗi cung ứng của Farahani và cộng sự (2014) thiết kế hệ thống nên xem xét nhiều yếu tố và mục tiêu của bài toán phải cụ thể và thực tế gần với vấn đề của từng doanh nghiệp Trong khi đó, mỗi mô hình đã công bố thường xem xét một hoặc vài yếu tố cơ bản làm giới hạn phạm vi ứng dụng của mô hình Do đó, đây cũng là một
Trang 13thống là lựa chọn và phân bổ nguồn lực (capacitated facilities location problems) Do
đó, lựa chọn những đơn vị kinh doanh tiềm năng để mở khi thiết kế mạng cung ứng, cũng như thời điểm mở cũng là vấn đề rất được quan tâm của những nhà đầu tư và quản lý Một trong những hướng nghiên cứu cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng trong nghiên cứu tổng hợp của Matinrad và cộng sự (2013) đó là thiết kế cho bài toán
đa thời đoạn, và lựa chọn thời điểm thích hợp để mở các đơn vị kinh doanh nhằm gia tăng hiệu quả vận hành chung của toàn hệ thống, rất được quan tâm từ những nhà nghiên cứu và đầu tư Ngoài ra, một vấn đề rất được quan tâm của những nhà đầu tư
đó là lựa chọn những đơn vị kinh doanh nào và thời điểm thích hợp tương ứng để có thể tiết giảm được rủi ro đầu tư Sự cần thiết để mở của những đơn vị kinh doanh nên được xem xét trên tổng thể hệ thống suốt quá trình thiết kế, để loại bỏ những đơn vị kinh doanh kém hiệu quả Đồng thời giảm thiểu số lượng những đơn vị kinh doanh trong hệ thống để tiết giảm rủi ro đầu tư cũng là vấn đề cần được quan tâm trong nghiên cứu Đây cũng là một trong những khoảng trống và vấn đề mà luận án này sẽ nghiên cứu và giải quyết
4 Xác định mạng vận tải, kết nối nguồn cung và nguồn cầu, xác định lượng vận chuyển giữa các nguồn này
Bản chất của bài toán thiết kế đó là hình thành mạng cung ứng (các nút mạng/đơn vị kinh doanh) và bài toán cấp hàng hóa tương ứng giữa các nút mạng này hay bài toán vận chuyển hàng hóa (distribution and distribution network/transportation network) Đây cũng là một xu hướng đề cập trong nghiên cứu tổng quan của Matinrad và cộng
sự (2013) Một vấn đề phát sinh khi mạng cung ứng thay đổi theo thời gian (thời điểm
mở các đơn vị kinh doanh khác nhau), lượng hàng hóa tồn kho tương ứng với từng thời điểm tại các đơn vị kinh doanh đồng thời được xem xét cũng gây ra những khó
Trang 146
khăn nhất định cho những mô hình thiết kế trước đây Việc xem xét nhiều yếu tố, đa thời đoạn, đa sản phẩm sẽ làm cho bài toán thiết kế càng thêm phức tạp và tạo nên những khoảng trống cho nghiên cứu Luận án này sẽ phát triển những mô hình để đáp ứng khoảng trống nghiên cứu này, giúp cho những nhà đầu tư và quản lý có thêm công
cụ hỗ trợ trong quản lý và vận hành chuỗi cung ứng
5 Có thể đánh giá hiệu quả những đơn vị kinh doanh khi vận hành thông qua sản lượng vận hành tại các đơn vị kinh doanh khi được mở trong hệ thống,…
Khi hình thành mạng cung ứng, mục tiêu của hầu hết những mô hình đã công bố là lựa chọn và mở những đơn vị kinh doanh trong hệ thống để đáp ứng nhu cầu như những
mô hình được đề cập trong nghiên cứu của Geoffrion và Graves (1974); Hinojosa và cộng sự (2000 và 2008); Amiri (2006); Tsiakis và Papageorgiou (2008); Pishvaee và Razmi (2012); Sadjady và Davoudpour (2012); Babazadeh và cộng sự (2013),… Đây
là những mô hình đặc trưng cho bài toán lựa chọn và phân bổ nguồn lực trong thiết kế Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu của tất cả các đại lý, những mô hình trên đây sẽ ưu tiên
mở các đơn vị kinh doanh trong hệ thống Tuy nhiên, trong thực tế vận hành thì nhu cầu hàng hóa trong hệ thống thường biến động, như vậy ở thời điểm nhu cầu cao, những mô hình này sẽ cho phép mở nhiều đơn vị kinh doanh để đáp ứng Khi chuyển qua thời đoạn nhu cầu thấp thì các đơn vị kinh doanh đã mở sẽ kém hiệu quả dẫn đến lãng phí đầu tư Đây là vấn đề rất được các nhà đầu tư quan tâm, các nhà đầu tư muốn nắm thông tin về hiệu quả vận hành của các đơn vị kinh doanh sau khi mở trong hệ thống thông qua sản lượng vận hành thực tế tại mỗi thời điểm Do vậy, để cung cấp thông tin sản lượng vận hành của các đơn vị kinh doanh sau khi mở, thì vấn đề này cần được nghiên cứu và đưa vào mô hình
Để khỏa lấp khoảng trống và những vấn đề nghiên cứu vừa được đề cập, tác giả sẽ phát triển 3 mô hình toán cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng Mỗi mô hình sẽ giải quyết một vài vấn đề nghiên cứu để góp phần khỏa lấp khoảng trống đặt ra của nghiên cứu, với mục tiêu sẽ cung cấp những mô hình lý thuyết đóng góp vào cơ sở lý thuyết chung của bài toán thiết kế, và cung cấp những hỗ trợ ra quyết định cho những nhà đầu
tư và quản lý, lời giải từ các mô hình có thể giúp ra quyết định kịp thời và hợp lý cho bài toán thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp của mình
Trang 157
1.3 Mục tiêu của luận án
Luận án này tập trung giải quyết những mục tiêu sau:
1 Phát triển mô hình lý thuyết 1: được trình bày trong chương 3 của luận án này, đây
là mô hình lý thuyết tổng quát áp dụng cho bài toán đa sản phẩm, nhiều thời đoạn,
2 nhóm đơn vị kinh doanh được lựa chọn trong hệ thống, xem xét mức tồn kho của các đơn vị kinh doanh cho từng thời đoạn trong suốt quá trình xây dựng hệ thống Mục tiêu của mô hình này là đáp ứng các khoảng trống và các vấn đề 1, và 3 – 4 trong phần 1.2 ở trên
2 Phát triển mô hình lý thuyết 2: được trình bày trong chương 4 của luận án này, đây
là mô hình nhánh phát triển dựa trên mô hình 1 Mô hình này áp dụng cho trường hợp đơn sản phẩm, tuy nhiên, điểm nhấn của mô hình 2 là xem xét mức độ hiệu quả của các đơn vị kinh doanh khi được mở trong hệ thống thông qua sản lượng vận hành Điều này giúp cho những nhà đầu tư nhận diện tổng thể những đơn vị kinh doanh khi được mở, đây là điểm khác biệt giữa mô hình 2 với những mô hình nghiên cứu trước Mục tiêu chủ yếu của mô hình 2 là đáp ứng các khoảng trống và các vấn đề 2 – 5 trong phần 1.2 ở trên
3 Phát triển mô hình lý thuyết 3: được trình bày trong chương 5 của luận án này, đây
là cũng là một mô hình nhánh của 2 mô hình trên Mô hình 3 cho phép việc cấp hàng trực tiếp từ nhà máy sản xuất đến các đại lý thông qua tổng kho giả Với khái niệm tổng kho giả, tác giả có thể áp dụng giải thuật của mô hình 1 và 2 để giải quyết cho mô hình 3 Ngoài ra, mô hình này có thể mở rộng cho trường hợp thuê ngoài bằng cách xem xét mở rộng tập nhà máy sản xuất với tập các nhà cung cấp bên ngoài Mục tiêu chủ yếu của mô hình 3 là đáp ứng các khoảng trống và các vấn
đề 1, và 3 – 4 trong phần 1.2 ở trên
4 Định hướng ứng dụng vào thực tế và những đóng góp có giá trị về mặt quản trị, đây cũng là mục tiêu quan trọng của luận án ngành quản trị kinh doanh của tác giả Đây là những đóng góp về mặt ứng dụng và quản lý từ lời giải của những mô hình
đã được phát triển trong việc thiết kế mạng cung ứng
Trang 168
5 Phát triển giải thuật cho các mô hình Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ hoàn thiện giải thuật cho các mô hình Giải thuật cũng là nét đặc trưng của những bài toán quy hoạch tuyến tính, hoặc quy hoạch nguyên hỗn hợp Hoàn thiện giải thuật cũng là mục tiêu quan trọng của luận văn tiến sĩ của tác giả
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Với việc hoàn thành 03 mô hình toán cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng, luận án này tập đã hoàn thành mục tiêu cơ bản đặt ra trong nghiên cứu của tác giả Từ đó, luận án cũng mang lại những ý nghĩa thực tế quan trọng, cụ thể như sau:
- Xây dựng được những mô hình lý thuyết để giải quyết vấn đề xây dựng mạng cung ứng nhanh chóng và hiệu quả, đóng góp vào cơ sở lý thuyết chung của bài toán thiết kế chuỗi cung ứng;
- Với việc xem xét nhiều yếu tố thực tế khi thiết kế làm cho phạm vi ứng dụng của mô hình dễ dàng, và rộng hơn như đa sản phẩm, nhiều thời đoạn, xem xét mức tồn kho của từng đơn vị kinh doanh qua từng thời đoạn, việc mở các đơn
vị kinh doanh theo từng thời điểm khi cần, điều này làm cho những nhà đầu tư
và quản lý có thể đánh giá trực quan hệ thống khi được mở và vận hành theo từng thời điểm trong suốt quá trình thiết kế Những thông tin có được từ lời giải của các mô hình rất hữu ích cho các nhà quản lý và đầu tư khi xây dựng và vận hành chuỗi, đây là những đóng góp quan trọng về mặt quản lý của luận án;
- Việc xem xét mức sản lượng yêu cầu cũng mở ra cơ hội cho những nhà đầu tư đánh giá những đơn vị kinh doanh khi được mở trong hệ thống Đối với những
hệ thống mà nhu cầu có xu hướng giảm hay biến thiên, thì kết quả của luận án
sẽ giúp cho những nhà đầu tư xem xét việc có nên mở những đơn vị kinh doanh trong hệ thống hay không nếu như đơn vị kinh doanh đó vận hành kém hiệu quả Đây là thông tin rất thực tế và giá trị cho những nhà đầu tư xem xét trước khi quyết định đầu tư vào hệ thống;
- Mở rộng ứng dụng trong trường hợp đáp ứng nhu cầu sản phẩm trực tiếp từ những nhà máy trong hệ thống đến các đại lý bằng cách sử dụng tập tổng kho giả để kết nối Kết quả của luận án này có thể ứng dụng cho trường hợp giao
Trang 179
hàng trực tiếp, một chiến lược rất được thịnh hành đối với chuỗi cung ứng hiện đại, hoặc có thể ứng dụng cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistic thực tế;
- Bên cạnh đó, khi mở rộng tập các nhà máy sản xuất bao gồm thêm những nhà cung cấp bên ngoài hệ thống, khi đó, kết quả của luận án này có thể áp dụng cho trường hợp thuê ngoài, một chiến lược không thể thiếu trong quản lý và vận hành chuỗi cung ứng hiện đại;
- Tiết giảm rủi ro đầu tư cũng có một ý nghĩa quan trọng của luận án này Trong trường hợp áp dụng giao hàng trực tiếp hoặc thuê ngoài, hệ thống mới sẽ xem xét việc mở đơn vị kinh doanh trong hệ thống khi thật sự cần thiết Điều này làm cho hệ thống không cần thiết mở nhiều đơn vị kinh doanh (nhà máy và tổng kho), giúp các nhà đầu tư tiết giảm chi phí đầu tư, tiết giảm rủi ro đầu tư khi phát triển hệ thống mới Đây cũng là một quyết định chiến lược rất phổ biến trong kinh doanh hiện đại;
- Giải thuật Lagrange mà tác giả xây dựng trong luận án cũng có ý nghĩa trong việc mở rộng phạm vi ứng dụng của giải thuật này Trong thực tế, hầu hết những ứng dụng của giải thuật Lagrange, các mô hình trước thường tìm cách giảm bớt ràng buộc để bài toán dễ giải quyết hơn, và kiểm tra các ràng buộc này thỏa mãn từng lời giải cụ thể trong quá trình thực hiện giải thuật Tuy nhiên, giải thuật mà tác giả xây dựng trong luận án này là hiệu chỉnh mô hình gốc bằng cách loại bỏ những ràng buộc lỏng trong tập ràng buộc gốc, sau đó biến đổi tương đương một số ràng buộc để phân tách bài toán gốc trước khi sử dụng giải thuật Lagrange Đây là đóng góp có ý nghĩa trong việc ứng dụng giải thuật Lagrange, giải thuật khẳng định tính riêng của giải thuật Lagrange đối với từng bài toán cụ thể;
- Ngoài ra, luận án tiến sĩ của tác giả có ý nghĩa rất lớn trong định hướng nghề nghiệp của tác giả, cũng như có ý nghĩa chuyên môn sâu của bộ môn Quản lý sản xuất và điều hành, Khoa Quản lý Công nghiệp, Trường Đại học Bách khoa
Tp Hồ Chí Minh
Trang 1810
1.5 Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Trong phạm vi của luận án tiến sĩ này, tác giả phát triển 3 mô hình toán cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng Trong cả 3 mô hình này, những thông số cho các mô hình đều được xác định trước như (những thông số này có được từ những khảo sát trước khi xây dựng chuỗi của nhà đầu tư):
- Nhu cầu mỗi loại sản phẩm cho từng thời đoạn tại tất cả các đại lý;
- Định phí mở các đơn vị kinh doanh (nhà máy, tổng kho) trong hệ thống và các mức công suất tương ứng là biết trước;
- Chi phí sản xuất đơn vị tại các nhà máy;
- Chi phí vận tải đơn vị cho mỗi sản phẩm từ nhà máy đến tổng kho và từ tổng kho đến đại lý;
- Chi phí bảo quản hàng hóa tồn kho đơn vị cho mỗi sản phẩm tại nhà máy, tổng kho, và đại lý;
- Chi phí phạt khi đơn vị kinh doanh vận hành dưới mức sản lượng cho phép,…
Do vậy, việc ứng dụng của các mô hình trong luận án này cũng giới hạn cho bài toán tất định Những mở rộng cho các mô hình với thông số thay đổi có thể là hướng nghiên cứu cho những nghiên cứu tiếp theo
1.6 Quy trình thực hiện luận án:
Quy trình chung thực hiện toàn bộ luận án/phát triển các mô hình toán được tóm lược trong sơ đồ 1.1 Theo sơ đồ các bước thực hiện của quy trình như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề
Đây là bước quan trọng trong việc hình thành và phát triển các mô hình Dựa trên những phân tích và tổng hợp cơ sở lý thuyết trong chương 2, những khoảng trống và các vấn đề cần nghiên cứu cũng được định hình Từ đây cấu trúc bài toán được xác định và mô hình toán tương ứng được lựa chọn và triển khai sơ bộ
Bước 2: Xác định những thông số tham gia vào mô hình
Trang 1911
Để tạo nên sự khác biệt cùng những đóng góp về mặt học thuật và quản trị, những thông số được xác định để đưa vào mô hình khi hoàn thiện mô hình trong bước 1 Những thông số này rút ra từ thực tế, và những phân tích, nhận định những khiếm khuyết từ những mô hình đã được công bố
Bước 3: Hoàn thiện mô hình
Đây là bước kết hợp tất cả những thông số, chỉ số, biến quyết định để hoàn thiện hàm mục tiêu và các ràng buộc của mô hình Xác định tất cả các loại chi phí liên quan của bài toán khi các đơn vị kinh doanh được mở và vận hành trong hệ thống để hoàn thiện hàm mục tiêu Xác định tất cả các mối quan hệ giữa các đơn vị kinh doanh khi được
mở và điều kiện vận hành tương ứng để chỉ ra tất cả các ràng buộc của bài toán
Bước 4: Xây dựng giải thuật
Bước này liên quan định hướng giải thuật trong chương 2 Trong luận án này, tác giả
sẽ sử dụng giải thuật lagrange để xác định lời giải cho tất cả các mô hình trong bước 3
Bước 5: Kiểm định mô hình
Sau khi có được mô hình trong bước 3 và giải thuật trong bước 4, tác giả sẽ phát triển các chương trình máy tính tương ứng để xác định lời giải Kiểm tra tính khả thi và hợp
lý của mô hình và lời giải, bước này cho phép hiệu chỉnh mô hình khi cần thiết
Bước 6: Kết thúc quy trình
Sau khi mô hình đã được kiểm định và hoàn chỉnh, dựa trên kết quả thu được từ các chương trình máy tính, xác định những đóng góp của các mô hình cả về học thuật lẫn ứng dụng thực tế trong quản lý Đây cũng là những đóng góp chính của luận án
Trang 20Xác định vấn đề
(dựa trên cơ sở lý thuyết và các khoảng trống nghiên cứu)
Xác định thông số
(phân tích thực tế và những khiếm khuyết từ những mô hình đã có)
Hoàn thiện mô hình
(hoàn thiện hàm mục tiêu và các ràng buộc tương ứng)
Xây dựng giải thuật
(theo định hướng giải thuật – áp dụng giải thuật Lagrange)
Trang 2113
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này tác giả trình bày những khái niệm, định nghĩa, và cấu trúc chuỗi cung ứng Tác giả giới thiệu về những nghiên cứu trong lĩnh vực chuỗi cung ứng, cấu trúc và những nền tảng lý thuyết về bài toán thiết kế Tác giả phân tích và giới thiệu các khoảng trống cùng các vấn đề nghiên cứu Từ những khoảng trống này, tác giả định hướng nghiên cứu của luận án là phát triển 3 mô hình toán cho bài toán thiết kế chuỗi cung ứng Đây là sản phẩm chính của luận án được trình bày lần lược trong các chương 3, 4, và 5 Cuối chương 2, tác giả định hướng giải thuật lagrange để tìm lời giải khả thi cho cả 3 mô hình
Chương 3: MÔ HÌNH ĐA SẢN PHẨM CHO BÀI TOÁN THIẾT KẾ CHUỖI CUNG ỨNG
Trong chương này tác giả phát triển mô hình 1, mô hình áp dụng cho bài toán đa sản phẩm, đa thời đoạn, xem xét mức tồn kho của tất cả các đơn vị kinh doanh đang vận hành trong hệ thống tại mỗi thời điểm, xem xét quyết định mở 02 nhóm đơn vị kinh doanh tiềm năng (nhà máy và tổng kho) tại những thời điểm thích hợp Do vậy, mô
hình 1 xây dựng được mạng cung ứng (distribution network) theo thời gian, hình thành mạng vận tải (transportation network) theo thời gian, tạo nét đặc trưng cho mô hình
Sau khi mô hình được phát triển, tác giả xây dựng giải thuật Lagrange để xác định lời giải và kiểm chứng mô hình thông qua số liệu mô phỏng của 03 nhóm gồm 15 bài toán Từ kết quả kiểm chứng cho thấy, mô hình 1 có những đóng góp nhất định cả về mặt học thuật và quản lý
Chương 4: MÔ HÌNH THIẾT KẾ CHUỖI CUNG ỨNG – XEM XÉT SẢN LƯỢNG VẬN HÀNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH
Trong chương này tác giả phát triển mô hình 2, một nhánh nghiên cứu từ mô hình 1
Mô hình 2 áp dụng cho bài toán đơn sản phẩm, đa thời đoạn, xem xét mức tồn kho của tất cả các đơn vị kinh doanh đang vận hành trong hệ thống tại mỗi thời điểm, xem xét quyết định mở 02 nhóm đơn vị kinh doanh tiềm năng (nhà máy và tổng kho) tại những thời điểm thích hợp Điểm khác biệt của mô hình 2 so với những mô hình đã công bố
Trang 2214
trước đây đó là mô hình cho phép kiểm soát sản lượng vận hành của những đơn vị kinh doanh khi được mở Đơn vị kinh doanh nào vận hành dưới mức sản lượng cho phép sẽ phải đóng chi phí phạt, điều này sẽ làm hạn chế việc mở các đơn vị kinh doanh
tự do trong hệ thống, giảm bớt được áp lực về chi phí đầu tư Ngoài ra, những đơn vị kinh doanh nào vận hành dưới mức yêu cầu sẽ được ghi nhận để đánh giá đơn vị kinh doanh đó vận hành có hiệu quả hay không sau khi được mở trong hệ thống Đây là thông tin quan trọng giúp cho những nhà đầu tư có thể hiệu chỉnh quyết định của mình
Chương 5: MÔ HÌNH THIẾT KẾ CHUỖI CUNG ỨNG – XEM XÉT VIỆC CẤP HÀNG TRỰC TIẾP TỪ NHÀ MÁY SẢN XUẤT ĐẾN CÁC ĐẠI LÝ
Trong chương này tác giả phát triển mô hình 3, một nhánh nghiên cứu từ mô hình 1 và
mô hình 2 Mô hình 3 áp dụng cho bài toán đơn sản phẩm, đa thời đoạn, xem xét mức tồn kho của tất cả các đơn vị kinh doanh đang vận hành trong hệ thống tại mỗi thời điểm, xem xét quyết định mở 02 nhóm đơn vị kinh doanh tiềm năng (nhà máy và tổng kho) tại những thời điểm thích hợp Điểm khác biệt của mô hình 3 đó là mô hình cho phép cấp hàng trực tiếp từ nhà máy sản xuất đến các đại lý trong hệ thống, tác giả sử dụng tập tổng kho giả để kết nối, công suất của tổng kho giả bằng với tải trọng của xe tải dùng trong hệ thống Trong lời giải minh họa tác giả mô phỏng 3 loại tải trọng xe tải Mô hình này áp dụng cho trường hợp giao hàng trực tiếp, kiểm soát số lượng mỗi loại xe tải, tổng số xe sử dụng tại mỗi thời điểm, từ đó có thể kiểm soát lượng hàng hóa đi trong hệ thống Ngoài ra, mô hình còn mở rộng cho trường hợp thuê ngoài bằng cách thêm tập các nhà cung cấp vào tập các nhà sản xuất, tạo ra nét riêng cho mô hình
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Với việc phát triển thành công 3 mô hình, luận án đã hoàn thành được tất cả các mục tiêu đặt ra, cũng như khỏa lấp được tất cả các khoảng trống và các vấn đề nghiên cứu của luận án Luận án có những đóng góp nhất định cả về học thuật và quản lý Đây là điểm thành công của luận án
Trang 2315
2.1 Giới thiệu và định nghĩa về chuỗi cung ứng
Ngày nay theo rất nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực này, đặc biệt là Simchi-levi và cộng sự (2009), và Das (2011) thì quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management – SCM) trở nên quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay Hầu hết các doanh nghiệp đều có xu hướng đầu tư nguồn lực của mình để xây dựng mạng cung ứng hiệu quả Đây cũng là những cơ hội cũng như thách thức đối với các nhà nghiên cứu, đầu tư và quản lý
Chúng ta biết rằng, chuỗi cung ứng đặc trưng được thể hiện trong sơ đồ 2.1 như sau:
Từ sơ đồ khối 2.1 chúng ta thấy rằng một chuỗi cung ứng chứa đựng nhiều thành phần
và nhiều quan hệ kinh doanh phức tạp, điều này càng làm cho những nghiên cứu về bài toán thiết kế, vận hành, đo lường và quản lý chuỗi cung ứng trở nên hấp dẫn hơn Những nét đặc thù riêng của từng loại chuỗi cũng đòi hỏi nhiều mô hình riêng, cụ thể cho từng bài toán, đây cũng là động lực cho tác giả nghiên cứu các bài toán thiết kế trong lĩnh vực này
Ngày nay, có nhiều định nghĩa khác nhau cho một chuỗi cung ứng đặc trưng, những định nghĩa này được chọn lọc từ những công trình nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực chuỗi cung ứng, có thể kể đến những định nghĩa như sau: Theo Simchi-levi và cộng sự (2009), Oliver và Weber (1992), Burt (1984): “Một chuỗi cung ứng đặc trưng là một chuỗi các hoạt động bao gồm: thu mua nguyên vật liệu, sản xuất sản phẩm, chuyển vào hệ thống kho, và cuối cùng chuyển đến các đại lý và khách
hàng” (A typical SC is a chain operation such as: raw materials are procured,
Các nhà
cung cấp
Nguyên phụ liệu
Hệ thống nhà máy
Hệ thống tổng kho
Hệ thống đại lý
Hoạt động mua hàng Hoạt động sản xuất Hoạt động phân phối
Sơ đồ 2.1: Đặc trưng của chuỗi cung ứng
Trang 24Trong khi đó Stadtler (2005) xây dựng ngôi nhà quản lý chuỗi cung ứng (xem sơ đồ 2.2) và đồng thời cũng đề cập đến ma trận hoạch định (xem sơ đồ 2.3) chuỗi cung ứng
bao gồm: việc thu mua, sản xuất, vận chuyển và phân phối, và kinh doanh (built the house of SCM and mentioned to the SC planning matrix which related business functions: procurement, production, transportation and distribution, and sales)
Sơ đồ 2.2 thể hiện ngôi nhà quản lý chuỗi cung ứng từ nghiên cứu của Stadtler
Theo cấu trúc ngôi nhà quản lý chuỗi cung ứng, chúng ta thấy rằng tích hợp hệ thống
và hợp tác nguồn lực để có thể phát huy tốt nhất nội lực cơ bản của doanh nghiệp Đây
là cơ sở để xây dựng chuỗi cung ứng một cách hiệu quả, tạo ra dịch vụ khách hàng tốt
Áp lực Cạnh tranh Dịch vụ khách hàng
thông tin và viễn thông
để kết nối thông tin
Hợp tác giữa tổ chức nội bộ và tổ chức mạng
cung ứng Nền tảng lãnh đạo
Định hướng hoạt động Hoạch định trước Nguồn lực hệ thống:
Hỗ trợ hệ thống, tiếp thị, lý thuyết vận hành và tổ chức, mua hàng và
cung ứng …
Sơ đồ 2.2: Ngôi nhà quản lý chuỗi cung ứng
Trang 25đa dạng sản phẩm, chất lượng, cũng như thời gian giao hàng ngắn (A SC network commonly defined as the integrated system encompassing raw material vendors, manufacturing and assembly plants, and distribution centers, to ensure solutions for effectively meeting customer requirements such as low costs, high product variety, quality and shorter lead times) Những định nghĩa theo nhiều tác giả khác nhau nhưng nhìn chung thể hiện những cấu trúc thành phần tương tự trong ma trận hoạch định
Từ những định nghĩa xuyên suốt theo thời gian đến nay, chúng ta thấy rằng, mặc dù chuỗi cung ứng được nghiên cứu từ nhiều thập kỷ trước, nhưng thực tế chuỗi cung ứng luôn tồn tại những thách thức mới, liên quan đến hiệu quả trong vận hành Đặc biệt, trong bối cảnh bài toán đầu tư mới, cũng ảnh hưởng đến quản lý và vận hành chuỗi cung ứng một cách lâu dài đối với các doanh nghiệp, do vậy bài toán này cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc
2.2 Cấu trúc và hoạt động chuỗi cung ứng
Để nghiên cứu các mô hình toán cho bài toán thiết kế mạng lưới cung ứng một cách hiệu quả, trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể về chuỗi cung ứng, cũng như các thành phần cấu tạo nên một chuỗi cung ứng, và các hoạt động của các thành phần này như thế nào khi cấu thành chuỗi cung ứng Trước tiên chúng ta xem xét ma trận hoạch định của Stadtler (2005) được thể hiện trong sơ đồ 2.3
Trang 26Theo sơ đồ 2.1 chúng ta có thể nhận ra những thành phần cơ bản cấu tạo nên một chuỗi cung ứng như sau:
2.2.1 Nhà cung cấp (Nhà CC – Suppliers – Vendors):
Cung cấp nguyên vật liệu từ đầu của quá trình sản xuất, cung cấp các chi tiết (linh kiện) trong quá trình sản xuất, cung cấp sản phẩm trực tiếp vào hệ thống Ngày nay, do nhu cầu đa dạng của sản phẩm, và những đòi hỏi khắt khe từ khách hàng, nên hầu hết các hệ thống cung cấp rất khó thực hiện việc tự cung cấp toàn bộ những sản phẩm trong hệ thống Các nhà cung cấp hoàn toàn có thể đưa hàng hóa vào hệ thống như một
nhà sản xuất của hệ thống Đây cũng là một hình thức thuê ngoài (outsource) khá phổ
biến hiện nay Theo Simchi levi và cộng sự (2009) thì thuê ngoài là một trong những
Hoạch định chiến lược mạng cung ứng
Kế hoạch vật tư và mua hàng
Kế hoạch sản xuất
Kế hoạch phân phối
Lịch trình sản xuất
Kế hoạch vận chuyển
Hoạch định nhu cầu
Đáp ứng nhu cầu
Trang 2719
chiến lược giúp các chuỗi cung ứng thành công Đặc biệt, có một số chuỗi cung ứng hoàn toàn không có nhà sản xuất, toàn bộ sản phẩm đi vào hệ thống đều thông qua các hợp đồng cung ứng từ các nhà cung cấp như lĩnh vực điện tử, hàng thời trang (quần áo, giầy dép,…) Nếu chúng ta xem xét nhà cung cấp với những hoạt động chức năng trong ma trận hoạch định thì nhà cung cấp sẽ tham gia vào các hoạt động chính trong công tác mua hàng và phân phối sản phẩm, tuy nhiên thực tế thì nhà cung cấp có thể tham gia vào hầu hết các hoạt động trong ma trận hoạch định (sơ đồ 2-4)
(outsources) cũng như chiến lược thuê ngoài đang thịnh hành hiện nay
Chúng ta có thể xét khái niệm nhà sản xuất của hệ thống theo nghĩa thuộc sở hữu của chuỗi và cung cấp hàng vào hệ thống Trong khi đó, nhà cung cấp không thuộc sở hữu của hệ thống và cũng cấp hàng vào hệ thống thông qua các hợp đồng cung ứng (theo các chiến lược thuê ngoài hoặc liên minh chiến lược – strategic alliance – phổ biến hiện nay) Nếu chúng ta chỉ quan tâm đến số lượng, chủng loại hàng hóa đi vào hệ thống, thì hàng hóa do nhà sản xuất hay nhà cung cấp là như nhau
Nhà CC
Nhà máy sản xuất
Khách hàng
Nhà CC
Nhà CC
Sơ đồ 2.4: Thể hiện sự tham gia của nhà cung cấp vào hệ thống
Trang 2820
Thêm vào đó, nếu nhìn vào ma trận hoạch định thì nhà sản xuất sẽ tham gia chủ yếu vào hoạt động sản xuất, kế hoạch sản xuất Việc này sẽ thuận lợi hơn nếu nhà máy thuộc sở hữu và nằm trong hệ thống Hơn nữa, số lượng và chủng loại hàng hóa đi vào
hệ thống sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch sản xuất này, nên hàng hóa có thể thiếu, không đáp ứng được đầy đủ chủng loại, do vậy, dựa vào nhà cung cấp trong việc bổ sung hàng hóa là một trong những chiến lược quan trọng trong quản lý và vận hành chuỗi cung ứng hiện đại (Simchi-Levi và cộng sự, 2009) Dựa theo những phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng khái niệm nhà sản xuất nếu nhà máy sản xuất thuộc sở hữu của người quản lý và điều hành chuỗi/hệ thống Như vậy, khi hệ thống đầu tư nhà máy sẽ làm cho tổng chi phí đầu tư cho hệ thống sẽ gia tăng, làm cho các nhà đầu tư
ưu tiên lựa chọn chính sách thuê ngoài trong đầu tư và vận hành chuỗi cung ứng hiện đại Đây cũng là một chiến lược quan trọng đang được xem xét khi phát triển mô hình thiết kế chuỗi cung ứng thời gian gần đây
2.2.3 Nhà phân phối (Distributors):
Quản lý và điều hành các tổng kho đáp ứng nhu cầu khách hàng, và các đại lý trong chuỗi cho từng vùng/khu vực,…
Nhà phân phối thường giữ vai trò quản lý và điều hành chuỗi Nhà phân phối phải nắm bắt số liệu dự báo nhu cầu cho từng loại sản phẩm trong hệ thống (về phương pháp, cách thức dự báo), kiểm soát hàng hóa trong hệ thống (hàng hóa trong hệ thống kho, đại lý), đặt hàng nhà sản xuất/cung cấp, dự trữ hàng hóa trong hệ thống, xác định nguồn cung để đáp ứng nhu cầu hàng hóa cụ thể của hệ thống (của đại lý) Theo ma trận hoạch định thì nhà phân phối giữ vai trò phân phối và vận chuyển Trong thực tế thì đây là hoạt động điều phối chính ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành của hầu hết các chuỗi cung ứng hiện đại Hoạt động này ảnh hưởng đến sản xuất, tồn kho hàng hóa trong hệ thống, đáp ứng đơn hàng, kế hoạch phân phối,…Đây hầu như là các hoạt động chính của các chuỗi cung ứng Đặc biệt đối với các chuỗi mà số lượng hàng hóa lớn, đa dạng chủng loại thì vai trò của nhà phân phối càng lớn
Một trong những vai trò quan trọng của nhà phân phối là lập kế hoạch đáp ứng nhu cầu cho từng tổng kho (tại các khu vực) và các đại lý (đây là các nguồn cầu cần được đáp ứng) Để làm được điều đó, nhà phân phối phải tìm nguồn cung tương ứng (nhà
Trang 2921
sản xuất, nhà cung cấp, và các tổng kho) thích hợp, sau đó là một kế hoạch vận chuyển hàng hóa giữa hai loại nguồn cung và nguồn cầu này Một trong những mục tiêu của bài toán thiết kế là xác định mạng cung ứng và kế hoạch vận chuyển
2.2.4 Nhà bán lẻ – đại lý (Retailers):
Dự trữ hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của khách hàng tại khu vực xung quanh (local customers)
Đối với đại lý thì dự báo, nắm bắt nhu cầu từng loại sản phẩm là thật sự cần thiết Trên
cơ sở nhu cầu dự báo, hoặc từ những đơn hàng cụ thể, đại lý sẽ đặt hàng nhà sản xuất/nhà phân phối Hàng hóa được dự trữ, và cung cấp đáp ứng nhu cầu khu vực nhỏ Đối với hầu hết các hệ thống chuỗi cung ứng thì nhà bán lẻ là khách hàng của hệ thống Như vậy, vai trò của những nhà quản lý tại các đại lý cũng rất quan trọng trong việc vận hành chuỗi như nắm bắt nhu cầu, cập nhật thông tin nhu cầu lên hệ thống, đây
là thông tin cực kỳ quan trọng cho việc vận hành hệ thống một cách hiệu quả (như Wal-mart và một số hệ thống bán lẻ khác đang áp dụng)
2.2.5 Khách hàng (Customers/end-users):
Là những người/tổ chức có nhu cầu đối với sản phẩm của hệ thống Xét theo khía cạnh tài chính, thì nhóm khách hàng tạo ra nguồn thu cho hệ thống (dòng tiền vào hệ thống), lợi nhuận của hệ thống quyết định bởi nhóm này Do vậy, đáp ứng và làm hài lòng khách hàng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong kế hoạch nâng cao chất lượng phục vụ và đáp ứng hàng hóa của hệ thống Do thu nhập của hệ thống phụ thuộc rất lớn vào nhóm khách hàng của hệ thống nên thông tin bán hàng thường được
cập nhật ngay tại điểm bán hàng (point of sales – POS), đây là những thông tin quan
trọng giúp nhà điều hành rất nhiều trong việc lập kế hoạch, quyết định mức tồn kho, tốc độ, kế hoạch sản xuất, kế hoạch phân phối,…đặc biệt hữu hiệu đối với hệ thống bán lẻ Ngày nay, thông tin bán hàng được cập nhật thường xuyên lên hệ thống, đây cũng là một phần trong việc tích hợp và chia sẻ thông tin, hợp tác nguồn lực (Alfalla-Luque và cộng sự, 2013)
Trên thực tế nắm bắt nhu cầu, kỳ vọng của khách hàng về sản phẩm, hàng hóa và mức
độ phục vụ của hệ thống là nhiệm vụ quan trọng của những nhà điều hành hệ thống
Trang 3022
Những nhà điều hành hệ thống mong muốn nắm bắt nhu cầu thật sự của khách hàng để vận hành hệ thống hiệu quả, do vậy rất nhiều hệ thống thường tổ chức hội nghị khách hàng, các chương trình khách hàng thân thiện, khuyến mãi,… qua đó hệ thống có thể ước lượng nhu cầu thật, giảm nhu cầu giả ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành chung của
hệ thống (có thể gây ra hiệu ứng bullwhip)
Theo ma trận hoạch định chúng ta thấy rằng, nhóm khách hàng sẽ liên quan đến công tác bán hàng và công tác phân phối, đây cũng là hai công tác quan trọng của hệ thống Việc vận hành chuỗi cung ứng (hệ thống) là khá phức tạp Thực tế thì chuỗi cung ứng bao gồm rất nhiều thành phần (như ở trên) và mỗi thành phần có thể có nhiều phần tử tham gia vào hệ thống theo các mối quan hệ kinh doanh (có thể thông qua các hợp đồng cung ứng, hoặc các liên minh chiến lược,…) như trong ma trận hoạch định Một chuỗi cung ứng vận hành theo truyền thống tương tự như trong sơ đồ 2.1 và ma trận hoạch định (sơ đồ 2.3) Chuỗi cung ứng càng phức tạp khi thị trường phục vụ rộng, nhiều tỉnh thành hay nhiều khu vực, nhiều quốc gia, khi đó sơ đồ khối 2.1 sẽ trở
thành sơ đồ dạng mạng (supply chain network – rất phổ biến trong nhiều sách giáo
khoa hiện nay) Theo ma trận hoạch định thì tất cả các hoạt động vận hành của hệ thống đều được tóm lược, tuy nhiên trên thực tế có những hoạt động chưa được thể hiện rõ trong ma trận hoạch định, đó là việc cấp hàng từ bên ngoài thông qua các hợp đồng cung ứng của các nhà cung cấp vào hệ thống Đây là một hoạt động quan trọng
trong chiến lược thuê ngoài (outsource) phổ biến hiện nay (Simchi-Levi và cộng sự,
2009; Killingsworth, 2011)
Mặc dù chuỗi cung ứng vận hành ngày càng phức tạp, nhưng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin làm cho thông tin, dữ liệu được xử lý nhanh và chính xác, giúp các nhà điều hành dễ dàng vận hành chuỗi một cách hiệu quả Các phần mềm hỗ trợ và internet
đã làm thay đổi cách vận hành truyền thống của rất nhiều chuỗi cung ứng, từ cách đặt hàng, lưu trữ hàng hóa đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, đặc biệt chi phí phục vụ cũng giảm đi đáng kể so với cách vận hành truyền thống Đây cũng là những xu hướng
mở cho các nghiên cứu không dùng mô hình toán hiện nay
Trang 3123
2.3 Tìm hiểu nghiên cứu về chuỗi cung ứng
Như chúng ta biết rằng, trong vài thập niên trở lại đây, có rất nhiều đề tài nghiên cứu
về lĩnh vực quản lý và vận hành chuỗi cung ứng được công bố, chủ đề này trở thành phổ biến trong cộng đồng nghiên cứu (Chan và Qi, 2003) Theo nghiên cứu của New (1997) thì nét đặc thù của từng chuỗi cung ứng cũng là mối quan tâm không nhỏ của những nhà nghiên cứu, đầu tư và quản lý, đây cũng là những khó khăn khi triển khai những mô hình sẵn có vào thực tế Điều này cho thấy trên thực tế quản lý và vận hành chuỗi cung ứng, chúng ta cần thêm nhiều mô hình càng gần với thực tế càng hữu ích khi triển khai ứng dụng
Hiện nay số lượng những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố rất nhiều như Geoffrion và Graves (1974), Mazzola và Neebe (1999), Pirkul và Jayaraman (1998), Hinojosa và cộng sự (2000, và 2008), Canel và cộng sự (2001), Tsiakis và Papaageorgiou (2008), Hsu và cộng sự (2013), Kilic (2013), Chai và Liu (2014), Deng và cộng sự (2014), Chen và cộng sự (2013), Gonzalez-Benito và cộng sự (2013)… Do vậy để dễ dàng phân loại và nắm bắt những nghiên cứu trong lĩnh vực này, tác giả sẽ chia những nghiên cứu trong lĩnh vực này thành 02 nhóm chính đó là:
i) nhóm nghiên cứu không dựa trên mô hình toán; và nhóm còn lại ii) nhóm nghiên
cứu dựa trên mô hình toán Theo cách phân loại này, các nghiên cứu về quản lý và vận hành chuỗi cung ứng sẽ được tách thành 2 hướng cụ thể như sau
2.3.1 Nhóm nghiên cứu không dựa trên mô hình toán (non-mathematical model):
Chúng ta biết rằng những nghiên cứu dạng này thường dựa trên nền tảng những khảo
sát (survey) thông qua bảng câu hỏi thu thập được từ những đối tượng liên quan Kết
quả của nghiên cứu được rút ra từ những phân tích, đánh giá logic, rõ ràng, làm cho chúng ta hiểu rõ hơn về những yếu tố, bản chất, quá trình,… ảnh hưởng đến hiệu quả của quản lý và vận hành chuỗi cung ứng Điều này được khẳng định trong bài nghiên cứu tổng hợp của Alfalla-Luque và cộng sự (2013), thông qua việc khảo sát những nghiên cứu về quản lý và vận hành chuỗi cung ứng trong khoảng thời gian 1995 –
2009, nghiên cứu khẳng định tích hợp chuỗi cung ứng là chủ đề xuyên suốt cho những nghiên cứu trong giai đoạn này Mô hình nghiên cứu của Alfalla-Luque và cộng sự (2013) thể hiện trong sơ đồ 2.5
Trang 3224
Theo sơ đồ 2.5 chúng ta thấy rằng tích hợp chuỗi cung ứng là yếu tố quan trọng giúp các chuỗi cung ứng thành công, nổi bật trong những năm 1995 – 2009 Theo Alfalla-Luque và cộng sự thì tích hợp chuỗi cung ứng được quyết định bởi 3 yếu tố (thứ
nguyên) chính như tích hợp thông tin (information integration – II), hợp tác và chia sẻ nguồn lực (coordination & resource sharing – CRS), và mối liên kết quan hệ giữa các
tổ chức (organizational relationship linkage – ORL) Việc tích hợp chuỗi cung ứng là
một trong những vấn đề quan trọng trong các nghiên cứu về lĩnh vực này Bên cạnh
đó, trong nghiên cứu này Alfalla-Luque và cộng sự cũng đưa ra 11 định đề (11 propositions) cho những nghiên cứu sắp tới, những định đề liên quan đến việc tích hợp nguồn lực, hiệu quả vận hành, chia sẻ thông tin,… nhằm tăng cường hiệu quả trong quản lý và vận hành chuỗi cung ứng hiện đại
Tích hợp
chuỗi cung
ứng (SCI)
Tích hợp thông tin (II)
Hợp tác và chia sẻ nguồn lực (CRS)
Liên kết các quan hệ trong
ORL1 to ORL2 ORL4 to ORL7 ORL9 ORL1 to ORL9
ORL1 to ORL9
Sơ đồ 2.5: Mô hình nghiên cứu SCI
Trang 33đã nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng trong điều kiện Việt nam Nghiên cứu khảo sát 161 doanh nghiệp sản xuất ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận nhằm tìm ra mối liên hệ giữa sự tích hợp chuỗi cung ứng,
sự chia sẻ thông tin giữa các thành viên đến hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng Thông tin từ nghiên cứu này rất hữu ích cho các nhà quản lý và vận hành chuỗi cung ứng tại Việt nam
Chúng ta biết rằng, chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, đòi hỏi những nghiên cứu cụ thể cho từng ngành để dễ dàng triển khai ứng dựng thực tế như nghiên cứu của Olhager và Selldin (2004) đã tìm hiểu về quản lý chuỗi cung ứng từ những công ty sản
xuất của Thụy Điển (SCM survey of Swedish manufacturing firms), đây là nghiên cứu
tìm hiểu từ 128 công ty sản xuất ở Thụy Điển về chiến lược và thực tiễn vận hành của các chuỗi cung ứng Nghiên cứu cho thấy cả nhà cung cấp và khách hàng đều có tác
Tích hợp nội bộ thực tế
Mức độ chia sẻ thông tin
Sự hợp tác Kết quả của
doanh nghiệp
Sơ đồ 2.6: Mô hình nghiên cứu – research framework của Baihaqi và Sohal (2013)
Trang 3426
động đến kế hoạch cũng như mức độ kiểm soát vận hành chuỗi cung ứng Bên cạnh
đó, nghiên cứu cũng cho thấy việc lựa chọn các đối tác cung ứng dựa trên chất lượng Tuy nhiên những yếu tố khác như khả năng độc lập giao hàng, hiệu quả về chi phí, linh hoạt về sản lượng cũng như tốc độ giao hàng cũng được cân nhắc khi lựa chọn đối tác Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra nhận định công nghệ thông tin và viễn thông sẽ tác động đến hiệu quả vận hành trong tương lai Tiếp tục nhận định này, Goutsos và Karacapilidis (2004) đã nghiên cứu về những giao dịch điện tử ảnh hưởng đến quản lý
và vận hành chuỗi cung ứng như thế nào Nghiên cứu này nghiên cứu về những giao
dịch điện tử trong ngành công nghiệp dệt của Hy Lạp (Greek textile industry) với sự
hỗ trợ của hệ thống phần mềm hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (legacy ERP system) Đây là nghiên cứu về việc triển khai ứng dụng và đánh giá hiệu quả của phần
mềm ERP trong ngành dệt, nghiên cứu khẳng định việc tích hợp những mô đun tương ứng trong phần mềm đã hỗ trợ rất nhiều trong vận hành thông qua các giao dịch điện
tử từ những hoạt động quản lý vận hành, nhu cầu phát sinh, kế hoạch cấp hàng,…từ đây chúng ta thấy rằng công nghệ thông tin, viễn thông, và những phần mềm hữu dụng
đã và đang hỗ trợ rất tích cực đến hiệu quả quản lý và vận hành của chuỗi cung ứng
Để ủng hộ cho việc ứng dụng công nghệ trong quản lý và vận hành chuỗi cung ứng,
gần đây, Chen và cộng sự (2013) đã nghiên cứu ứng dụng sản xuất tin gọn (lean production) và công nghệ nhận diện hàng hóa bằng sóng radio (radio frequency identification technologies – RFID) để cải thiện hiệu quả vận hành của hệ thống cung
ứng Đây là một nghiên cứu ứng dụng cho việc cung cấp phụ tùng cho các trung tâm bảo trì theo sơ đồ 2.7 như sau:
Để nghiên cứu cụ thể những yếu tố tác động lên hiệu quả vận hành của các bên liên quan tham gia vào chuỗi cung ứng, Chen và Paulraj (2004) đã xây dựng khung lý
Trụ sở chính Một trung tâm phân phối chính
Mười trung tâm phân phối địa phương
Hơn 400 trung tâm bảo trì Dòng thông tin đặt hàng
Trang 35Qua những phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng nghiên cứu về quản lý và vận hành chuỗi cung ứng, đặc biệt là hiệu quả vận hành, đang được các nhà nghiên cứu, đầu tư
và quản lý quan tâm Đây cũng là một trong những hướng nghiên cứu có thể thực hiện trong tương lai Tuy nhiên, trong phần vấn đề nghiên cứu và lý do hình thành đề tài của mình, tác giả lại nghiên cứu theo hướng dùng mô hình toán để thiết kế mạng cung ứng Do vậy, đây là hướng nghiên cứu tham khảo, hướng này có thể được thực hiện trong thời gian sắp tới
2.3.2 Nhóm nghiên cứu theo mô hình toán (mathematical model):
Đối với nhóm nghiên cứu dùng mô hình toán để giải quyết bài toàn cho lĩnh vực chuỗi cung ứng hiện nay cũng rất nhiều, những nghiên cứu này cố gắng tập trung mô phỏng bài toán chuỗi cung ứng một cách tổng quát, tuy nhiên khi bài toán càng tổng quát thì
Biến động môi trường
Cấu trúc mạng cung ứng
Tích hợp cung ứng
Thành quả của nhà cung cấp
Thành quả của bên mua
Mối quan hệ giữa nhà CC - DN
Sơ đồ 2.8: Mô hình nghiên cứu – a research framework of SCM
Trang 3628
tính phức tạp càng tăng làm cho bài toán rất khó giải quyết một cách triệt để theo lý thuyết cũng như ứng dụng thực tế (Melo và cộng sự, 2009) Bên cạnh đó, theo New (1997) thì bài toán chuỗi cung ứng cũng mang tính đặc thù cho từng bài toán cụ thể, do vậy, giải quyết từng trường hợp riêng cũng hấp dẫn những nhà nghiên cứu và đầu tư
Để dễ nắm bắt những nghiên cứu trong nhóm này, tác giả sẽ phân những nghiên cứu này thành 03 nhóm chính đó là:
1 Bài toán liên quan đến quản lý và đánh giá hiệu quả (management and performance evaluation);
2 Bài toán liên quan đến lựa chọn nhà cung cấp (vendor / supplier selection problem);
3 Bài toán liên quan đến thiết kế (supply chain network design problem);
2.3.2.1 Bài toán liên quan đến quản lý và đánh giá hiệu quả (management and
performance evaluation):
Đây là nhóm nghiên cứu thường tập trung vào bài toán của những chuỗi đã và đang vận hành, đánh giá và đo lường chuỗi cung ứng thật sự là bài toán cũng khá phức tạp bởi nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nhưng rất khó nhận diện và đưa vào mô hình, nên sử dụng nhóm không dùng mô hình toán để nghiên cứu sẽ hiệu quả hơn Tuy nhiên, trong vài thập niên trước, quản lý và đánh giá hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng cũng hấp dẫn những nhà nghiên cứu, đầu tư và quản lý như Chan và cộng sự (2002) đã dùng kỹ thuật mô phỏng để đo lường chuỗi cung ứng, nghiên cứu này đã mô phỏng tình huống thực tế về các đơn hàng phát sinh trong hệ thống, xác lập kế hoạch đáp ứng Đo lường hiệu quả khi chuỗi cung ứng đã và đang vận hành với đầy đủ số liệu, tuy nhiên, trong một số tình huống nghiên cứu chúng ta không đủ thời gian chờ thu thập đầy đủ những số liệu cần thiết, nên mô phỏng cũng làm một cách giải quyết hợp lý
Chan và Qi (2003) cũng đã xây dựng một phương pháp đo lường mới trong việc quản
lý chuỗi ung ứng Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật hệ thống quá trình (a based systematic perspective) để xây dựng một mô hình đánh giá hiệu quả, lời giải của
process-mô hình có được từ giải thuật fuzzy Cũng trong năm 2003, Chan và cộng sự cũng đã
Trang 3729
xây dựng khung mô hình đánh giá hiệu quả chuỗi cung ứng (a conceptual model of performance measurement for SC) làm nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo trong
nhóm đánh giá hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng Nét nổi bật của mô hình này là có
xem xét các yếu tố hữu hình và vô hình (tangible and intangible) để đo lường những yếu tố đa hướng (multi-dimension), đo lường những yếu tố liên quan đến nhiều tổ chức (a cross-organizational performance) Những yếu tố này thực sự rất khó đo lường
trong thực tế, và cũng rất khó đưa vào mô hình toán, đây là điểm thành công của mô hình Tuy nhiên chúng ta thấy rằng đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng khá phức tạp nên theo tác giả nghiên cứu theo nhóm không dùng mô hình toán sẽ phù hợp trong thực tế
Tiếp theo Huan và cộng sự (2004) đã phân tích và tổng hợp mô hình SCOR (supply chain operations reference – SCOR model) để hỗ trợ cho các nhà quản lý ra quyết định
về chiến lược chuỗi cung ứng (assist managers for strategic decision making) Trong
nghiên cứu này, Huan và cộng sự đã phân tích và phát huy mô hình SCOR để hỗ trợ ra quyết định chiến lược cho các nhà quản lý, mô hình SCOR giúp tối ưu hóa mạng cung
ứng (network optimization using SCOR performance metrics) và hỗ trợ ra quyết định bằng kỹ thuật phân tích thứ bậc (decision making using analytical hierarchy process),
đây là những thành công của công trình này
Như trên đã phân tích và nhận xét, hiện nay việc đánh giá chuỗi cung ứng rất phức tạp
do chuỗi cung ứng tích hợp nhiều thành phần, và chia sẻ thông tin, cũng như hợp tác nguồn lực (Alfalla-Luque và cộng sự, 2013, Huỳnh và cộng sự, 2013) Chúng ta biết rằng, nhiều yếu tố có thể tác động lên thành quả chung của doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, do vậy, trên thực tế nghiên cứu theo hướng không dùng mô hình toán là khá hợp lý
2.3.2.2 Bài toán liên quan đến lựa chọn nhà cung cấp (vendor / supplier selection
problem):
Bài toán lựa chọn nhà cung cấp (Vendor/supplier selection problem – VSP) trở nên
phổ biến trong khoảng vài thập niên trở lại đây, lựa chọn nhà cung cấp phù hợp theo những tiêu chí cụ thể của công ty là quyết định quan trọng đặc biệt đối với bộ phận mua hàng cũng như những nhà quản lý chuỗi cung ứng Điều này ảnh hưởng đến hiệu
Trang 3830
quả vận hành chuỗi cung ứng thực tế, hơn nữa việc lựa chọn nhà cung cấp có thể thay đổi theo thời gian, hay nói một cách khác là việc thay đổi nhà cung cấp là việc làm có thể thường xuyên được xem xét theo thời gian vận hành của doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp cung cấp nhiều loại hàng hóa trong hệ thống Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh như hiện nay, hiệu quả vận hành của toàn hệ thống được ưu tiên xem xét, và hiệu quả vận hành của chuỗi cung ứng là yếu tố quyết định đến thành công của doanh nghiệp Vấn đề hiện nay cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp Việt nam là “làm thế nào để có thể đánh giá doanh nghiệp vận hành có hiệu quả hay không?”; “làm thế nào để có thể phân loại, đánh giá và xếp hạng các nhà cung cấp theo tiêu chí lựa chọn của doanh nghiệp?” Ngày càng nhiều những thước đo và tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp phù hợp được xây dựng và ứng dụng thành công trong thực
tế có thể được đề cập như trong phần tiếp theo dưới đây
Có rất nhiều tiêu chí được tổng hợp từ thực tế của rất nhiều doanh nghiệp trong nhiều nghiên cứu đã được công bố, Weber và cộng sự (1991) đã tổng hợp từ 74 nghiên cứu
đã được công bố từ năm 1966, Weber và cộng sự đã chỉ ra 23 tiêu chí chính trong nghiên cứu của Dickson là tổng quát nhất, những tiêu chí này cũng được đề cập trong nghiên cứu của Yahya và Kingsman (1999), các tiêu chí này được tóm tắt trong bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1: Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp của Dickson
3 Hiệu quả giao dịch trước 15 Dịch vụ sửa chữa
5 Công suất sản xuất 17 Độ ấn tượng, ảnh hưởng
8 Khả năng tài chính 20 Vị trí địa lý
9 Thủ tục đấu thầu 21 Tổng giao dịch tích lũy
10 Hệ thống viễn thông 22 Huấn luyện
11 Tầm ảnh hưởng trong ngành 23 Mức độ tương hỗ
12 Mức độ kỳ vọng
Trang 3931
Để đánh giá hệ thống cung ứng các nhà nghiên cứu sử dụng những yếu tố trong 23 tiêu
chí của Dickson (sub set) như nghiên cứu của Muralidhanran và các cộng sự (2002) sử dụng 9 tiêu chí chính như sau: chất lượng (quality – Q), phân phối (delivery – D), giá
cả (price – P), khả năng công nghệ (technical capability – TC), khả năng tài chính (financial position – FP), hiệu quả trong giao dịch trước (past performance attitude – PPA), thiết bị (facility – F), độ kinh hoạt (flexibility – FL), và dịch vụ (service – S);
Yahya và Kingsman (1999) đã xây dựng mô hình sắp hạng những nhà cung cấp theo 8
tiêu chí chính như sau: chất lượng (quality), độ đáp ứng (responsive), tính nguyên tắc (discipline), phân phối (delivery), tài chính (financial), quản lý (management), khả năng công nghệ (technical capability), và thiết bị (facility)
Tương tư như vậy, Li và các cộng sự (1997) đã đề nghị một mô hình đánh giá mới để đánh giá nhà cung cấp, trong nghiên cứu của mình, các tác giả sử dụng 5 tiêu chí cho
việc đánh giá bao gồm: chất lượng (quality), chi phí (cost), phân phối (delivery), độ linh hoạt (flexibility), và tính đáp ứng (response) (Q, C, D, F, R) (một tình huống
nghiên cứu để kiểm chứng được thực hiện tại bộ phận cung cấp nguyên phụ liệu thuộc Công ty điện tử Philips ở Đài Loan)
Trong năm 1999, Hiệp hội về quản lý cung ứng (Supply Chain Council – SCC) xây
dựng và đề nghị sử dụng khung vận hành được gọi là mô hình SCOR (Wang và cộng
sự, 2004; Huan và cộng sự, 2004) Mô hình SCOR bao hàm 12 yếu tố được phân thành
4 nhóm như sau:
1 Độ tin cậy trong phân phối – (delivery reliability):
- Hiệu quả phân phối (delivery performance – DR1)
- Tỷ lệ đáp ứng (fill rate – DR2)
- Thời gian đáp ứng đơn hàng (order fulfillment lead time - DR3)
- Những đơn hàng được đáp ứng hoàn chỉnh (perfect order fulfillment - DR4)
2 Sự đáp ứng và linh hoạt (Flexibility and responsiveness):
- Thời gian đáp ứng (supply chain response time – FR1)
Trang 4032
- Sự linh hoạt trong sản xuất (production flexibility – FR2)
3 Chi phí (Cost):
- Tổng chi phí vận chuyển (total logistics management cost – CT1)
- Giá trị gia tăng của năng suất (value-added productivity – CT2)
- Chi phí bảo hành hoặc sửa chữa (warranty cost or returns processing cost – CT3)
4 Tài sản (Assets):
- Thời gian quay vòng tiền mặt (cash-to-cash cycle time – AT1)
- Số ngày tồn kho trong cung ứng (inventory days of supply – AT2)
- Vòng quay tài sản (asset turns – AT3)
Những yếu tố này được Wang và cộng sự (2004), Huan và cộng sự (2004) phân lớp
theo trật tự thứ bậc (analytical hierarchy process – AHP) như sơ đồ 2.9 dưới đây:
Hiệu quả tổng thể của nhà cung cấp
Độ tin cậy phân phối