Một số chất hoạt động bề mặt hay dùng trong việc tổng hợp nano bạc là: AOT sodium sulfosuccinate, CTAB cetyltrimethylammonium bromide, SDS sodium dodecyl sulfate, … 7 CHƯƠNG I TỔNG QUAN
Trang 1TỔNG HỢP NANO BẠC BẰNG
PHƯƠNG PHÁP
VI NHŨ TƯƠNG VÀ ỨNG DỤNG
KHÁNG KHUẨN
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN
4
3 2
Trang 5www.trungtamtinhoc.edu.vn 5
CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.2 Tổng quan về nano bạc
Hình 1.10: Cơ chế diệt khuẩn của nano bạc
Hình 1.11: Sơ đồ ion bạc vô hiệu hóa enzyme chuyển hóa oxy của vi khuẩn
Trang 6Vi nhũ tương là hệ phân tán vi dị thể, gồm pha dầu và pha nước phân tán
đồng nhất vào nhau và được ổn định bởi phân tử các chất diện hoạt trên bề
mặt phân cách hai pha, có tính đẳng hướng về mặt quang học, ổn định về mặt nhiệt động học giống một dung dịch lỏng
6
CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.3 Giới thiệu về phương pháp vi nhũ tương
Trang 7 Pha dầu: gồm những chất lỏng không phân cực như isopropyl myristat,
triglycerid mạch cacbon trung bình, acid oleic, cyclohexance, dodecance, isooctane và các chất hòa tan hay đồng tan vào chúng như menthol, terpen, tinh dầu
Pha nước: gồm những chất lỏng phân cực như: nước, ethanol, propyle
glycol và các chất dễ hòa tan hay đồng tan vào chúng
Chất hoạt động bề mặt: là các chất có khả năng làm giảm sức căng bề mặt
pha, qua đó giúp hình thành vi nhũ tương Một số chất hoạt động bề mặt hay dùng trong việc tổng hợp nano bạc là: AOT (sodium sulfosuccinate), CTAB (cetyltrimethylammonium bromide), SDS (sodium dodecyl sulfate), …
7
CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.3 Giới thiệu về phương pháp vi nhũ tương
Trang 8Có hai loại vi nhũ tương:
Vi nhũ tương thuận – nhũ tương dầu trong nước, ký hiệu là o/w Trong
đó pha phân tán là dầu còn pha liên tục là nước
Vi nhũ tương đảo – nhũ tương nước trong dầu, ký hiệu là w/o Pha phân
tán là nước, pha liên tục là dầu
Thuật ngữ dầu ở đây bao gồm các chất lỏng hữu cơ không tan hoặc tan rất
Trang 9CHƯƠNG II QUY TRÌNH TỔNG HỢP NANO BẠC
BẰNG PHƯƠNG PHÁP VI NHŨ TƯƠNG
9
2.1 Quy trình tổng hợp nano bạc bằng phương pháp vi nhũ tương
• Hệ vi nhũ tương được sử dụng trong quá trình chế tạo hạt nano bạc là hệ
vi nhũ nước trong dầu (w/o)
• Chất hoạt động bề mặt là AOT
• Tỷ lệ mol giữa H2O và AOT là =5, =7.5 và =10 Chất hoạt động bề mặt AOT được đưa vào trong hệ vi nhũ tương nhằm mục đích hạn chế sự phát triển kích thước của hạt nano bạc
Trang 10CHƯƠNG II QUY TRÌNH TỔNG HỢP NANO BẠC
BẰNG PHƯƠNG PHÁP VI NHŨ TƯƠNG
10
2.1 Quy trình tổng hợp nano bạc bằng phương pháp vi nhũ tương
• Chuẩn bị hai hệ gồm AOT/dung môi (k/s dung môi khác nhau: cyclohexane, isooctane và dodecane) có cùng thể tích Khuấy từ trong khoảng 30 phút cho AOT tan hoàn toàn trong dung môi Cân khối lượng AgNO3 và NaBH4theo đúng tỷ lệ đã tính toán, sau đó hòa tan vào nước cất để tạo dung dịch AgNO3 (0.1-0.2M) và dung dịch NaBH4 0.2M
• Sau đó nhỏ giọt từ từ dung dịch AgNO3 và NaBH4 vào mỗi hệ AOT/dung môi nói trên để tạo hai hệ vi nhũ tương, một chứa tiền chất (AgNO3), một chứa chất khử (NaBH4) Tỷ lệ mol giữa AgNO3 và NaBH4 được chọn là 1:1
Ta nhận thấy có sự thay đổi màu sắc rõ rệt ở hệ vi nhũ tương chứa AgNO3
Từ không màu, chuyển dần sang màu vàng nhạt Tiếp tục khuấy từ trong vòng 30 phút
Trang 11CHƯƠNG II QUY TRÌNH TỔNG HỢP NANO BẠC
BẰNG PHƯƠNG PHÁP VI NHŨ TƯƠNG
11
2.1 Quy trình tổng hợp nano bạc bằng phương pháp vi nhũ tương
• Sử dụng tác nhân khử để khử Ag+ thành Ago bằng cách cho hệ vi nhũ tương chứa AgNO3 vào hệ vi nhũ tương NaBH4 với tốc độ nhỏ là 1 giọt/giây Trong quá trình nhỏ giọt, vẫn tiếp tục khuấy từ trong vòng 2 giờ ở mức độ 5, tương đương 500 vòng/phút Đồng thời quan sát thấy dung dịch dần chuyển màu
từ vàng nhạt đến vàng đậm, có khi chuyển sang màu nâu đậm
• Cơ chế hình thành nano bạc được diễn tả trong phương trình (2.1)
AgNO 3 + NaBH 4 Ag + ½ H 2 + ½ B 2 H 6 + NaNO 3 (2.1)
• Sản phẩm sau khi được tạo thành sẽ được chiết ra các lọ bi nhỏ đậy kín, đánh dấu và bảo quản ở nhiệt độ phòng
Trang 13Hình 2.2: Cường độ tia sáng trong phương pháp đo UV-VIS
Hình 2.3: Máy đo phổ hấp thu UV-Vis tại PTN Hình 2.4: Máy đo TEM, JEM – 1400
2.2 Các phương pháp phân tích mẫu
Trang 142.2.3 Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của dung
dịch nano bạc
Quá trình khảo sát hoạt tính kháng khuẩn được tiến hành tại Công ty cổ
phần dịch vụ Khoa học công nghệ Sắc ký Hải Đăng
Chủng vi khuẩn dùng trong thử nghiệm là khuẩn Escherichia coli ATCC
25922
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc đếm khuẩn lạc để xác định số lượng
tế bào vi sinh vật còn sống hiện diện trong mẫu Tế bào sống là tế bào có
khả năng phân chia và tạo thành khuẩn lạc trên môi trường chọn lọc Trong phương pháp này cần phải pha loãng mẫu thành nhiều độ pha loãng bậc 10
liên tiếp sao cho có độ pha loãng với mật độ tế bào thích hợp để xuất hiện
các khuẩn lạc riêng rẽ trên bề mặt thạch với số lượng đủ lớn hạn chế sai số
khi đếm và tính toán Đếm số khuẩn lạc mọc trên môi trường thạch dinh
dưỡng từ các nồng độ pha loãng sau khi nuôi cấy ở 37oC trong 48 giờ
14
Trang 15V là dung tích huyền phù tế bào cho vào mỗi dĩa (ml).
Hiệu suất kháng khuẩn:
Trong đó: N1 là số khuẩn lạc trong dĩa đối chứng
N2 là số khuẩn lạc trong dĩa chứa nano bạc
(2.5)
Trang 16CHƯƠNG III KẾT QUẢ 3.1 Tổng hợp dung dịch nano bạc
3.2 Kết quả phân tích UV – Vis
3.3 Kết quả phân tích TEM
3.4 Kết quả kiểm tra hàm lượng bạc trong mẫu thực tế 3.5 Kết quả phân tích khả năng diệt khuẩn
16
Trang 17sau khi tạo thành
Hình 3.2: Dung dịch nano bạc bị kết tủa
nhanh sẽ dẫn đến hiện tượng kết tủa như hình 3.2
Trang 18CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.2 Kết quả phân tích UV-Vis
3.2.1 Khảo sát theo dung môi và tỷ lệ mol giữa nước và chất hoạt động
bề mặt
Dung môi cyclohexane
18
Hình 3.3: Kết quả UV-Vis mẫu nano
bạc với dung môi cyclohexane với
các tỷ lệ mol giữa nước và AOT lần
lượt là là = 5,
Trang 19CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.2 Kết quả phân tích UV-Vis
3.2.1 Khảo sát theo dung môi và tỷ lệ mol giữa nước và chất hoạt động
bề mặt
Dung môi isooctane
19
Hình 3.3: Kết quả UV-Vis mẫu nano
bạc với dung môi isooctane với các
tỷ lệ mol giữa nước và AOT lần lượt
là là = 5,
Trang 20CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.2 Kết quả phân tích UV-Vis
3.2.1 Khảo sát theo dung môi và tỷ lệ mol giữa nước và chất hoạt động
bề mặt
Dung môi dodecane
20
Hình 3.3: Kết quả UV-Vis mẫu nano
bạc với dung môi dodecane với các
tỷ lệ mol giữa nước và AOT lần lượt
là = 5,
Trang 21CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.2 Kết quả phân tích UV-Vis
Nhận xét
Ta đều thấy sự xuất hiện của các đỉnh phổ đặc trưng của bạc với bề rộng
phổ tương đối dài và đối xứng, chứng tỏ các hạt nano tạo thành có dạng hình cầu Ngoài ra, ở tất cả các mẫu còn xuất hiện một đỉnh phổ ở 379
nm Đỉnh này thể hiện rõ nhất ở hình 3.3 với dung môi cyclohexane, đỉnh này cho thấy ngoài cấu trúc hình cầu ra, các hạt nano bạc tạo thành còn có hình dạng lăng kính
Khi tăng tỷ lệ mol giữa nước và chất hoạt động bề mặt AOT thì bước
sóng hấp thu cũng dịch chuyển dần về phía bước sóng dài
21
Trang 22CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.2.2 Khảo sát theo sự thay đổi nồng độ AgNO3
22
Hình 3.6: Phổ UV-Vis của dung dịch nano bạc
theo sự thay đổi nồng độ AgNO 3 khi sử dụng
dung môi dodecane với tỷ lệ
từ 0.1 đến 0.2 M thì bước sóng hấp thụ cũng tăng từ 420 nm đến 439 nm
Điều này có thể giải thích, theo lý thuyết động học, do khi tăng nồng độ, dễ dàng có sự va chạm giữa các hạt bạc với nhau làm cho kích thước của các hạt keo nano bạc tăng dần lên.
Trang 23CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.3 Kết quả phân tích TEM
23
Tiến hành phân tích kết quả đo TEM của các mẫu dung dịch nano bạc với các dung môi khác nhau trong cùng điều kiện
Trang 25CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.3 Kết quả phân tích TEM
Nhận xét
Các hình 3.7, 3.8 và 3.9 thể hiện ảnh TEM của các dung dịch nano bạc ở
thang đo 100 nm và 20 nm Nhìn chung ở các hình đều cho thấy các hạt nano bạc phân bố rải rác chứng tỏ AOT đã làm tốt vai trò chất bảo vệ, ngăn không cho các hạt nano bạc kết lại với nhau tạo thành đám
Các hạt nano bạc sau khi tạo thành có dạng hình cầu và có kích thước
hạt trên dưới 5nm Tuy nhiên, các hạt nano bạc tạo được trong dung môi dodecane lại có hình dạng đồng đều hơn so với trong dung môi cyclohexane và isooctane
25
Trang 26CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.4 Kết quả kiểm tra hàm lượng bạc thực tế trong mẫu
Bảng 3.5: Hàm lượng bạc thực tế trong dung dịch mẫu
Bảng 3.5 thể hiện hàm lượng bạc thực tế trong các mẫu với
tỷ lệ gữa nước và AOT là =5
Trang 27CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.5 Kết quả phân tích khả năng diệt khuẩn
27
Dung dịch
nano bạc
Dung môi
Trang 283.5 Kết quả phân tích khả năng diệt khuẩn
28
Trang 29Tóm lại:
Từ các kết quả phân tích phổ UV-Vis, TEM và hiệu suất diệt khuẩn như
trên, có thể kết luận rằng chúng tôi đã tổng hợp thành công dung dịch
nano bạc bằng phương pháp vi nhũ tương với các lựa chọn sau đây:
Chất hoạt động bề mặt là AOT
Dung môi được sử dụng là dodecane
Tỷ lệ mol giữa nước và chất hoạt động bề mặt là =5
Tỷ lệ mol giữa AgNO3 và NaBH4 là 1:1
Nồng độ dung dịch AgNO3 và NaBH4 sử dụng là 0.1M và 0.2M
29
Trang 30KẾT LUẬN
Với những kết quả đã đạt được, chúng tôi cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu
đề ra:
Tổng hợp thành công hạt nano bạc bằng phương pháp vi nhũ tương.
Các hạt nano bạc sau khi tạo thành có cấu trúc hình cầu khá đồng nhất, kích
thước nhỏ (chỉ trên dưới 5nm), phân bố đồng đều trong dung dịch, và có độ
ổn định tốt và có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng trong vài tháng
Nhờ có kích thước nhỏ và phân tán đều trong dung dịch nên diện tích bề mặt
của các hạt nano bạc tăng lên rất nhiều và do đó có khả năng diệt khuẩn rất tốt Chỉ với nồng độ 3.37 ppm (với dung môi cyclohexane), dung dịch nano
bạc đã có thể diệt đến gần 100% lượng vi khuẩn Escherichia coli trong thí
nghiệm chỉ sau 3 phút tiếp xúc
30
Trang 31TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ môn Vật liệu từ và Y – Sinh khoa khoa học vật liệu, Tổng hợp nano
bạc bằng phương pháp vi nhũ tương và ứng dụng để kháng khuẩn, Đại Học
Khoa Học Tự Nhiên, năm 2012
[2] Nguyễn Phước Trung Hòa, Tổng hợp hạt nano bạc sử dụng phương pháp
vi nhũ tương, Đại Học Quốc Gia TP HCM, năm 2013.
[3] Nguyễn Ngọc Hùng, Nghiên cứu chế tạo hạt nano bạc và khả năng sát
khuẩn của nó, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, năm 2011.
[4] Nguyễn Thị Anh, Nghiên cứu tổng hợp hạt nano bạc và ứng dụng, Đại
học Sư Phạm Hà Nội 2, năm 2012
[5] Trần Minh Hải, Nghiên cứu và chế tạo nano bạc ứng dụng trong sinh học,
Đại Học Quốc Gia Hà Nội, năm 2011
31