1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university

491 2,2K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 491
Dung lượng 4,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quản trị tài chính doanh nghiệp

Trang 1

Qu¶n trÞ Kinh doanh Quèc tÕ

TÀI LIỆU THAM KHẢO - LƯU HÀNH NỘI BỘ

 

 

8/2009 

MBA 

Trang 2

Trang   

CHƯƠNG 2 Đánh giá tình hình tài chính và các dòng tiền của doanh

 

Trang 3

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 1

Chương 1:

Đối tượng nghiên cứu

Sau khi học chương này, các bạn có thể:

1 Mô tả đối tượng của quản trị tài chính là gì?

2 Lý giải mục tiêu của công ty

3 So sánh các loại hình doanh nghiệp

và lý giải vì sao loại hình công ty

cổ phần là lựa chọn hợp lý nhất cho một công ty lớn hay một công ty đang phát triển

4 Xác định những ảnh hưởng của thuế thu nhập công ty cổ phần tới các quyết định kinh doanh như thế nào?

5 Lý giải 10 tiền đề để cơ sở của quản trị tài chính

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

Giới thiệu

Năm 1996, cổ đông của công ty Walt Disney thông

qua một gói đền bù cho ông Michael Eisner, chủ

tịch Disney, trong đó có quyền mua cổ phiếu trị

giá 196 triệu USD Trước đó, năm 1993 ông cũng

đã được nhận 203 triệu USD Không cần phải nói,

Disney đã đưa Eisner trở thành một người giàu có

Tuy nhiên, Eisner cũng làm giàu cho các cổ đông

của Disney Tại thời điểm gói đền bù mới được

thông qua, cổ phiếu của Disney đã tăng khoảng

2.400% kể từ năm 1984, khi Eisner tiếp quản công

ty Disney lúc đó đang trong thời kỳ khó khăn Kể

từ đó tới nay, lợi nhuận hàng năm của công ty

tăng trung bình 30% mỗi năm!

Trong chương này chúng ta không quan tâm tới

việc một Giám đốc điều hành của công ty thu nhập

bao nhiêu, nhưng chúng ta sẽ xem xét liệu gói đền

bù (compensation package) có giúp cân bằng lợi

ích của những người điều hành công ty với lợi ích

của cổ đông hay không Chúng ta sẽ thấy rằng để

đạt được mục tiêu của công ty mà chúng ta đã đề ra, sự cân bằng lợi ích giữa người

điều hành và cổ đông là rất cần thiết Chúng ta cũng thấy rằng việc cân bằng lợi ích của cổ đông và người điều hành có vai trò như một trong những tiền đề cơ bản của tài chính được đề cập trong chương này Ngoài ra, sự thay đổi gần đây của các luật thuế

khuyến khích các công ty hợp nhất việc đãi ngộ theo hiệu quả (pay for performance) vào các hợp đồng quản lý, qua đó cân bằng được lợi ích của cổ đông và nhà quản lý

Mục tiêu 1: Tài chính là gì?

Quản trị tài chính liên quan tới việc duy trì và tạo ra giá trị hay tài sản kinh tế Bởi vậy,

khoá học này chú trọng vào việc ra quyết định với mục tiêu tạo ra tài sản Có nghĩa,

chúng ta sẽ phải ra các quyết định tài chính như khi giới thiệu một sản phẩm mới, đầu tư

vào các tài sản mới, thay thế các tài sản hiện có, khi vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu

hay trái phiếu, khi gia hạn tín dụng cho một khách hàng và nên giữ bao nhiêu tiền mặt

Để minh hoạ, hãy xem xét hai công ty Merck và IBM Cuối năm 1995, tổng giá trị thị

trường của Merck, một công ty dược phẩm lớn, là 83 tỷ USD Trong suốt quá trình kinh doanh, các nhà đầu tư của Merck đã đầu tư khoảng 20 tỷ USD vào công ty Nói một

Tóm tắt chương:

Chương này giới thiệu cơ sở của toàn bộ cuốn sách Chúng ta sẽ lý giải tài chính là

gì, và mục tiêu chính chi phối việc ra quyết định tài chính, đó là: Tối đa hoá lợi ích

của cổ đông Chúng ta cũng sẽ xem xét môi trường thuế và pháp luật của những

quyết định tài chính Cuối cùng, chúng ta sẽ mô tả sợi chỉ vàng xâu chuỗi tất cả các

vấn đề với nhau, đó là: 10 tiền đề cơ bản của tài chính

Trang 4

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 2

cách khác, các nhà quản lý đã mang lại 63 tỷ USD cho các cổ đông Cũng cuối năm

1995, IBM được định giá 63 tỷ USD, nhưng suốt thời gian vừa qua, các nhà đầu tư thực

tế đã chi 69 tỷ USD, như vậy là lỗ 6 tỷ USD Như vậy, rõ ràng Merck đã tạo ra tài sản

cho cổ đông của mình, trong khi IBM làm mất tài sản của cổ đông

Qua việc giới thiệu các kỹ thuật ra quyết định, chúng ta sẽ nhấn mạnh tính logic đằng

sau các kỹ thuật này, từ đó đảm bảo chúng ta hiểu rõ những khái niệm khi tính toán Với

sinh viên lần đầu làm quen với tài chính, điều này nghe có vẻ ghê gớm một chút Tuy nhiên, như chúng ta sẽ biết, các kỹ thuật và công cụ được đề cập trong bài này đều chịu

sự chi phối của 10 nguyên tắc hay tiền đề cơ bản hướng dẫn chúng ta trong suốt quá trình ra quyết định

Mục tiêu 2: Mục tiêu của công ty

Chúng tôi tin rằng mục tiêu thích hợp hơn của một công ty phải là tối đa hoá lợi ích của

cổ đông - chúng tôi muốn nói tới việc tối đa hoá giá của cổ phiếu thường hiện có Mục

đích này không chỉ vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông, mà nó còn mang lại những lợi ích

tốt nhất cho xã hội Điều này sẽ xảy ra khi nguồn tài nguyên quý hiếm được sử dụng

một cách có hiệu quả nhất thông qua cạnh tranh nhằm tạo ra tài sản

Để hiểu rõ hơn mục tiêu này, đầu tiên chúng ta sẽ thảo luận về tối đa hoá lợi nhuận như

một mục tiêu của công ty Sau đó, chúng ta sẽ so sánh nó với tối đa hoá lợi ích của cổ

đông để tìm hiểu vì sao, trong quản trị tài chính, tối đa hoá lợi ích của cổ đông là mục

tiêu thích hợp hơn với công ty

Tối đa hoá lợi nhuận

Trong các bài học về kinh tế vi mô, tối đa hoá lợi nhuận thường được coi là mục tiêu của công ty Tối đa hoá lợi nhuận nhấn mạnh việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn,

nhưng nó không định rõ khung thời gian dùng để đánh giá lợi nhuận Chúng ta sẽ tối đa

hoá lợi nhuận trong năm nay, hay trong khoảng thời gian dài hơn? Một nhà quản lý tài chính có thể dễ dàng tăng mức lợi nhuận hiện tại bằng việc cắt bỏ các chi phí nghiên cứu và phát triển và giảm quy trình bảo dưỡng định kỳ Trước mắt, những hoạt động

này sẽ làm tăng lợi nhuận, nhưng rõ ràng nó không phải là lợi nhuận lâu dài tốt nhất của

công ty Nếu chúng ta đặt các quyết định tài chính lên một mục tiêu, thì mục tiêu đó

phải chính xác, không được phép hiểu sai và xử lý được tất cả những phức tạp trong thế

giới thực

Trong kinh tế vi mô, tối đa hoá lợi nhuận hoạt động chủ yếu như một mục tiêu lý thuyết,

và các nhà kinh tế học sử dụng nó để chứng minh các công ty hoạt động thế nào là hợp

lý để tăng lợi nhuận Đáng buồn là, nó bỏ qua nhiều điều phức tạp trong thế giới thực

mà các nhà quản lý tài chính phải đối mặt khi ra các quyết định của mình Trong quản

trị tài chính chặt chẽ hơn, các công ty hàng ngày phải xử lý hai vấn đề lớn mà mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không xem xét tới, đó là: sự không chắc chắn và thời gian

Các khoá học kinh tế vi mô không đề cập tới sự không chắc chắn và rủi ro để trình bày phần lý thuyết được dễ dàng hơn Các dự án và biện pháp đầu tư được so sánh qua đánh

giá giá trị dự kiến của chúng hay cân nhắc những lợi nhuận trung bình Một dự án có rủi

ro hơn so với dự án khác không không nằm trong những phép tính này; các nhà kinh tế

học cũng thảo luận về rủi ro nhưng rất hời hợt1 Trên thực tế, các dự án xử lý những đặc

tính rủi ro rất khác nhau, và việc coi nhẹ những khác biệt này trong thực tiễn quản trị tài chính có thể dẫn tới những quyết định thiếu chính xác Như chúng ta sẽ thảo luận ở

Trang 5

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 3

phần sau của chương này, giữa rủi ro và thu nhập dự tính có một mối quan hệ rất rõ ràng - đó là, nhà đầu tư yêu cầu thu nhập dự tính cao hơn khi chấp nhận rủi ro cao hơn –

và bỏ qua mối quan hệ này có thể dẫn tới những quyết định sai lầm

Một vấn đề khác trong mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận đó là nó không tính toán thời gian sinh lợi của dự án Nếu mục đích này chỉ quan tâm tới lợi nhuận trong năm nay, thì chúng ta đều biết rằng nó đã bỏ qua lợi nhuận của những năm sau này Nếu chúng ta hiểu nó là tối đa mức lợi nhuận trung bình của tương lai thì cũng không chính xác Bởi

vì những cơ hội đầu tư chỉ đến với những người có sẵn tiền trong tay, chúng ta không

bỏ qua việc tính toán thời gian sinh lợi Căn cứ vào dòng tiền tương đương từ lợi nhuận,

chúng ta muốn có dòng tiền này càng sớm càng tốt Bởi vậy, những yếu tố thực tế về sự

không chắc chắn và thời gian buộc chúng ta phải nhìn ra xa hơn mục tiêu đơn giản là tối

đa hoá lợi nhuận như một tiêu chuẩn quyết định Cuối cùng và có thể là quan trọng nhất,

việc hạch toán lợi nhuận không công nhận một trong những chi phí quan trọng nhất

trong kinh doanh Khi hạch toán lợi nhuận, chúng ta coi chi phí lãi vay như một chi phí của tiền vay, nhưng chúng ta bỏ qua chi phí của các khoản tiền do cổ đông (chủ sở hữu)

của công ty cung cấp Nếu một công ty có thể có thu nhập 8% trên một khoản đầu tư

mới, thì chắc chắn sẽ làm tăng lợi nhuận của công ty Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu

cổ đông của công ty có thể có tới 12% cũng chính với số tiền đó đầu tư vào một hoạt

động kinh doanh khác có cùng độ rủi ro? Liệu ban lãnh đạo công ty có chấp nhận đầu tư

vì nó sẽ làm tăng lợi nhuận của công ty? Nếu không phải họ muốn hành động vì lợi ích tốt nhất của các chủ sở hữu công ty (cổ đông) Giờ hãy xem điều gì đã xảy ra với

Burlington Northern

Burlington Northern là một ví dụ điển hình về suy nghĩ sai lầm Năm 1980, Richard Bressler được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành công ty Không giống như người tiền

nhiệm, Bressler không phải là “người của đường sắt” Ông là người ngoại đạo được

thuê với mục đích làm tăng giá trị cổ phiếu của cổ đông Lý do thay đổi là bởi

Burlington Northern chỉ mang lại thu nhập khoảng 4% cho cổ đông, trong khi chứng từ

ký thác (CDs) không hề rủi ro được trả 6% Chắc chắn ban lãnh đạo đã làm tăng thu nhập của công ty, nhưng họ đã làm cổ đông thua lỗ khi đầu tư vào các tuyến đường sắt

mà mức thu nhập chưa bằng thu nhập từ các loại chứng khoán của chính phủ Giờ

chúng ta sẽ chuyển sang nghiên cứu một mục tiêu khác lớn hơn đối với công ty, đó là: Tối đa hóa lợi ích của cổ đông

Tối đa hóa lợi ích của cổ đông

Để làm rõ mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông, chúng ta chỉ cần sửa đổi mục tiêu tối

đa hoá lợi nhuận để xử lý những phức tạp trong môi trường kinh doanh Chúng ta chọn

tối đa hóa lợi ích của cổ đông - có nghĩa là tối đa hoá giá trị thị trường của cổ phiếu

thường mà các cổ đông đang nắm giữ - bởi nó bao gồm những tác động của tất cả các quyết định tài chính Các nhà đầu tư phản ứng trước các quyết định đầu tư hay lợi tức

kém cỏi bằng việc làm cho giá cổ phiếu sụt giảm, và họ phản ứng với những quyết định

đúng đắn qua việc đẩy giá cổ phiếu tăng lên Trên thực tế, theo mục tiêu này các quyết

định đúng đắn chính là những quyết định tạo ra tài sản cho cổ đông

Hiển nhiên, có một số vấn đề thực tiễn nghiêm trọng trong việc thực hiện mục tiêu này

và trong sử dụng những thay đổi của cổ phiếu công ty để đánh giá những quyết định tài chính Chúng ta biết giá cổ phiếu của một công ty dao động, thường không vì một lý do

rõ ràng nào Tuy nhiên, về lâu dài, giá của cổ phiếu tương đương với giá trị Chúng ta sẽ

luôn ghi nhớ điều này và chú trọng vào những tác động từ những quyết định của chúng

ta đối với giá cổ phiếu, nếu mọi vấn đề khác không thay đổi Giá cổ phiếu của công ty

Trang 6

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 4

Doanh nghiệp tư nhân

một chủ là hình thức

kinh doanh thuộc sở

hữu của một cá nhân

Mục tiêu 3: Các hình thái pháp lý của tổ chức kinh doanh

Trong các chương tới đây, chúng ta sẽ chú trọng vào các quyết định tài chính của công

ty cổ phần (corporation) Mặc dù công ty cổ phần không phải là hình thái pháp lý kinh doanh duy nhất, nhưng nó là lựa chọn hợp lý nhất cho một công ty lớn hay đang trên đà

phát triển Nó cũng là hình thái kinh doanh chủ chốt xét về mặt doanh thu trên đất nước

này Trong phần này, chúng ta sẽ lý giải vì sao lại như vậy Điều này cũng cho phép chúng ta đơn giản hoá phần còn lại của bài học khi chúng ta giả định rằng luật thuế áp dụng trong bài học là luật thuế công ty cổ phần, không cần phải xem xét những luật thuế

khác áp dụng cho những hình thái kinh doanh khác Hãy nhớ rằng, mục tiêu chính của

chúng ta là nâng cao sự hiểu biết về sự logic trong việc ra quyết định tài chính Thuế chỉ

trở nên quan trọng khi chúng ảnh hưởng tới quyết định của chúng ta, và thảo luận của

chúng ta về việc lựa chọn hình thái pháp lý kinh doanh sẽ hướng vào việc tìm hiểu vì sao chúng ta chỉ giới hạn thảo luận về các loại thuế trong hình thái công ty cổ phần

Những hình thái pháp lý của tổ chức kinh doanh rất đa dạng Tuy nhiên, chỉ có ba loại

(Partnership) và Công ty cổ phần (Corporation) Để hiểu được sự khác biệt giữa những

hình thái này, chúng ta cần định nghĩa mỗi hình thái và hiểu rõ những ưu điểm cũng như

nhược điểm của nó Như các bạn sẽ thấy, khi doanh nghiệp phát triển, những ưu điểm

của công ty cổ phần bắt đầu hiện rõ Bởi vậy, đa phần các doanh nghiệp lớn đều chọn

hình thức công ty cổ phần

Doanh nghiệp tư nhân một chủ

Doanh nghiệp tư nhân một chủ là hình thức kinh doanh thuộc sở hữu của một cá nhân duy nhất Chủ sở hữu nắm giữ quyền sở hữu với các tài sản và tự chịu trách nhiệm, không giới hạn, đối với các nghĩa vụ pháp lý phát sinh Chủ

sở hữu được hưởng thu nhập từ kinh doanh nhưng cũng phải

tự gánh chịu thua lỗ Hình thái kinh doanh được hoàn tất chỉ bằng vài việc nhỏ khi bắt đầu hoạt động kinh doanh Thông thường, khi bắt đầu kinh doanh, chủ sở hữu không phải đáp ứng yêu cầu pháp luật nào, nhất là khi chủ sở hữu

tiến hành kinh doanh nhân danh mình Nếu sử dụng một cái tên đặc biệt, cần phải nộp

giấy chứng nhận mượn tên và phải đóng một khoản phí nhỏ Chấm dứt hoạt động xảy ra

khi chủ sở hữu chết hoặc tự quyết định ngừng kinh doanh Nói ngắn gọn, vì các mục

tiêu thực tế, doanh nghiệp tư nhân một chủ không có bất kỳ cơ cấu kinh doanh hợp pháp chính thức nào

Hợp danh (Partnership)

Sự khác biệt giữa hình thức hợp danh và doanh nghiệp tư nhân doanh một chủ là hợp

danh có ít nhất từ 02 chủ sở hữu trở nên Hợp danh là sự kết hợp giữa hai hay nhiều người cùng là đồng sở hữu một doanh nghiệp kinh doanh vì lợi nhuận Hợp danh có hai hình thức:

Hợp danh vô hạn và hợp danh hữu hạn

Hợp danh vô hạn (General Partnership): Trong hình thức

này, mỗi thành viên hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ pháp lý phát sinh trong hợp danh Vì vậy, bất kỳ hành

Trang 7

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 5

bằng văn bản chính thức

Hợp danh hữu hạn (Limited Partnership): Ngoài hình thức hợp danh vô hạn, trong đó

tất cả các thành viên cùng chịu trách nhiệm vô hạn, nhiều bang còn có thêm hình thức

hợp danh hữu hạn Luật pháp của bang cho phép một hay nhiều thành viên có trách nhiệm hữu hạn, giới hạn trong phần vốn đầu tư vào hợp danh Cần phải đáp ứng một số

điều kiện để được coi là thành viên hữu hạn Đầu tiên, ít nhất một thành viên nhận vốn

(general partner) được duy trì liên đới với những người mà đặc quyền của trách nhiệm

hữu hạn không áp dụng Thứ hai, tên của các thành viên hữu hạn không được xuất hiện

trong tên của công ty Thứ ba, những thành viên hữu hạn có thể không được phép tham gia điều hành công ty Nếu một trong những quy định này bị vi phạm, tất cả các thành viên sẽ bị mất quyền trách nhiệm hữu hạn Về bản chất, mục đích của pháp luật tạo ra hợp danh hữu hạn là để giới hạn trách nhiệm của người tham gia hợp danh chỉ đơn

thuần như một nhà đầu tư Cá nhân này có thể không đảm nhận chức năng điều hành công ty

Công ty cổ phần (Corporation)

Công ty cổ phần là một yếu tố quan trọng phát triển kinh tế nước Mỹ Ngay từ năm

1819, chánh án toà tối cao John Marshall đã đưa ra một định nghĩa pháp lý về công ty

cổ phần như “một vật thể vô hình, không nhìn thấy được, không cầm nắm được và chỉ tồn tại trong quy định của pháp luật”2 Thực thể này hoạt động riêng biệt và tách rời chủ sở hữu Bởi vậy, công ty cổ phần có thể khởi kiện và bị kiện một cách riêng biệt, và mua, bán hay cho mượn tài sản và nhân sự của nó có thể bị xử lý theo luật hình sự với những tội mà họ phạm phải Tuy nhiên, mặc dù có sự tách biệt về mặt pháp luật, nhưng đường lối và chính sách hoạt động của công ty cổ phần lại do các chủ sở hữu chi phối Các chủ sở hữu chọn ra hội đồng quản trị, rồi hội đồng

này lại tiếp tục chọn ra những người điều hành công ty, kể cả các chủ tịch, phó chủ tịch,

thư ký, thủ quỹ Quyền sở hữu thể hiện trong giấy chứng nhận cổ phiếu thường, chứng

nhận số cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ Tỷ lệ giữa cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ với

tổng số cổ phiếu phát hành sẽ quyết định tỷ lệ sở hữu của cổ đông trong doanh nghiệp

Bởi cổ phiếu có thể chuyển nhượng, nên quyền sở hữu trong công ty cũng có thể bị một

cổ đông thay đổi chỉ bằng một hành động đơn giản là chuyển cổ phiếu cho cổ đông mới

Trách nhiệm pháp lý của nhà đầu tư được giới hạn trong phạm vi số vốn đầu tư do vậy

ngăn chặn tình trạng chủ nợ tịch thu tài sản cá nhân của cổ đông trong trường hợp xảy

ra tranh chấp không giải quyết được Đây là một ưu điểm cực kỳ quan trọng của công ty

cổ phần Rốt cuộc, bạn có sẵn sàng đầu tư vào công ty General Electric nếu bạn có khả

năng gánh chịu trách nhiệm trong trường hợp một trong những động cơ máy bay mà họ

sản xuất bị hỏng hóc và làm chết nhiều người chết khi máy bay rơi? Sau cùng, vòng đời

của một công ty không phụ thuộc vào tình trạng của các nhà đầu tư Việc một nhà đầu

tư chết hay rút vốn không ảnh hưởng tới sự hoạt động liên tục của công ty Ban lãnh đạo

vẫn tiếp tục điều hành doanh nghiệp khi cổ phiếu đã bán hoặc khi nó được chuyển giao cho người khác qua thừa kế

So sánh các hình thái tổ chức

Những người mới tham gia thương trường thường phải có một số quyết định quan trọng

để chọn lựa hình thái tổ chức Trong khi mỗi hình thái kinh doanh dường như có một số

Trang 8

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 6

ưu điểm so với những hình thái khác, thì chúng ta sẽ thấy rằng khi doanh nghiệp phát triển và cần tiếp cận các thị trường vốn để huy động vốn thì những ưu thế của công ty

cổ phần bắt đầu được thể hiện rõ

Những doanh nghiệp lớn hoặc đang phát triển chọn hình thái công ty cổ phần vì một lý do: dễ huy động vốn Bởi tính trách nhiệm hữu hạn, dễ dàng chuyển giao quyền sở hữu

qua việc bán cổ phiếu thường, linh hoạt trong phân chia cổ phiếu nên công ty cổ phần là thực thể kinh doanh lý tưởng xét dưới góc động huy động vốn mới Ngược lại, trách nhiệm vô hạn của doanh nghiệp tư nhân một chủ và hợp danh vô hạn chính là những trở

ngại đối với việc huy động vốn cổ phần Giữa những thái cực như vậy, hình thức hợp

danh hữu hạn quy định trách nhiệm hữu hạn cho những thành viên hữu hạn nên có khuynh hướng thu hút được những nhà đầu tư giàu có Tuy nhiên, tính không thực tế

trong việc có lượng lớn thành viên và khó bán cổ phần trong hợp danh khiến hình thức

tổ chức này không thể cạnh tranh hiệu quả với công ty cổ phần Bởi vậy, khi phát triển

các mô hình quyết định của chúng ta, chúng ta sẽ giả định rằng mình đang điều hành một công ty cổ phần Các loại thuế liên quan tới hình thức này sẽ chỉ là các luật thuế

công ty cổ phần Bởi mục tiêu của chúng ta là nâng cao sự hiểu biết về quản lý, đánh giá

và tạo ra tài sản, và bởi không muốn trở thành một chuyên gia thuế nên chúng ta sẽ chỉ

chú trọng vào những đặc tính của pháp luật thuế công ty cổ phần có ảnh hưởng tới các quyết định tài chính của chúng ta

Trang 9

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 7

Quản trị tài chính cơ bản trong thực tiễn:

Chi phí quảng cáo cao hơn khoản đóng góp

Liệu hoạt động từ thiện của công ty có làm tăng tài sản của cổ đông?

(Tạp chí Wall Street Journal, 29/4/1994.)

Tờ tạp chí của Harper đưa tin mà không bình luận rằng mỗi năm, công ty Miller Brewing đóng góp 150.000 USD cho chương trình học bổng dành cho người da đen của mình, nhưng lại chi gấp đôi số tiền đó cho quảng cáo chương trình Miller không bình luận gì về những số liệu này nhưng lại khẳng định rằng Quỹ Học bổng Thurgood Marshall đã giúp 87 sinh viên giỏi người da đen được tiếp tục học tập

Noel Hankin, Giám đốc quan hệ công cộng của công ty con Philip Morris, cho biết một phần chi phí quảng cáo được dành cho những chương trình quảng cáo tốn kém trên truyền hình liên kết Miller với quỹ học bổng này Công ty còn mua quảng cáo trên những ấn phẩm của người

da đen, cổ vũ cho hoạt động giáo dục của người da đen Những quảng cáo này chỉ mang những logo khiêm tốn của Miller và quỹ học bổng với con số 800

Mỗi năm quỹ này chi khoảng 348.000 USD cho sinh viên, ông Hankin nói, và Miller là nhà tài trợ lớn nhất Hankin giải thích, Miller chi nhiều hơn cho quảng cáo quỹ học bổng là bởi muốn thu hút nhiều hơn những nhà tài trợ cho quỹ chứ không phải là để quảng cáo cho mình Ông cũng cho biết, quỹ học bổng nhỏ bé này muốn thoát ra khỏi cái bóng của quỹ học bổng nổi tiếng của trường United Negro, một nhà quyên góp vĩ đại Quỹ này cũng giúp đỡ các trường học tư của người da đen Quỹ Thurgood Marshall hỗ trợ cho rất nhiều trường đại học công của người da đen, chiêu sinh tới hơn 70% tổng số sinh viên của tất cả các trường học của người da đen “Vâng, chúng tôi có đề cập tới Miller nhưng là với một thiện ý rằng chúng tôi đang quảng cáo để công chúng biết rõ hơn về quỹ học bổng này”, ông Hankin nói

Quả là bất thường đối với những công ty mà khoản tiền tài trợ còn ít hơn cả chi phí quảng cáo cho các hoạt động từ thiện “Tỷ lệ 2-1 hay 3-1 là hoàn toàn bình thường”, Craig Smith, Chủ tịch Corporate Citizen, một nhóm chuyên gia tại Seattle chuyên nghiên cứu về các hoạt động tài trợ của các công ty cho biết

Nguồn: Trích từ bài báo “Chi phí quảng cáo cao hơn tài trợ”, tạp chí Wall Street số ra ngày 29/4/1994 của tác giả Leon E.Wynter

Phân tích và ý nghĩa

A Đa số công ty tài trợ cho những mục tiêu có giá trị Tuy nhiên, Milton Friedman, nhà kinh

tế đoạt giải thưởng Nobel, cho rằng bởi các nhà quản lý tài chính là nhân viên của công ty,

và công ty lại thuộc sở hữu của các cổ đông, nên các nhà quản lý tài chính phải điều hành công ty sao cho nó mang lại thu nhập cao nhất cho các cổ đông và sau đó để cổ đông quyết định có chuyển một phần thu nhập nào đó cho những mục tiêu thích đáng hay không Friedman cho rằng, nhà quản lý ra quyết định tài trợ phải đóng vai trò như một đại diện của các cổ đông Thực vậy, qua việc làm từ thiện một phần lợi nhuận đáng lẽ là của

cổ đông, các nhà quản lý vừa tránh thuế vừa quyết định những khoản thu thuế nên được

sử dụng như thế nào

B Trong trường hợp này, không rõ liệu Miller có quyên góp mà không suy tính tới những lợi ích mà nó có thể thu được hay không Đối với Miller, quyết định tài trợ có thể mang ý nghĩa tiếp thị nhiều hơn là trách nhiệm với xã hội Điều này sẽ lý giải thực tế số tiền Miller chi cho quảng cáo gấp đôi số tiền tài trợ cho quỹ Bằng cách này, những khoản quyên góp của công ty có thể tối đa hóa lợi ích của cổ đông qua việc mang lại cho công ty một hình ảnh tích cực hơn

A

B

Trang 10

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 8

-

3 Hợp danh báo cáo doanh thu của

mình nhưng không nộp thuế Doanh

thu sau đó sẽ được mỗi thành viên

thông báo lại và tự nộp thuế của mỗi

người

Mục tiêu 4: Môi trường thuế

Môi trường thuế đặt ra những nguyên tắc cơ bản chi phối các quyết định tài chính Khi môi trường chính trị của quốc gia thay đổi thì hệ thống thuế cũng thay đổi theo Mục

đích của việc xem xét cấu trúc thuế hiện nay không phải để trở thành các chuyên gia về

thuế, mà để nâng cao sự hiểu biết về các loại thuế và ảnh hưởng của chúng tới các quyết định kinh doanh như thế nào Đây cũng là cơ hội tốt để bạn cập nhật những thay đổi lớn về thuế suất trước khi đi làm Tuy nhiên, mặc dù thuế suất có thể thay đổi,

nhưng các loại thuế vẫn luôn là dòng tiền chảy ra và bởi vậy sẽ có điều gì đó nên tránh Bởi vậy, chúng ta sẽ xem xét kỹ lưỡng những loại chi phí được và không được khấu trừ

thuế, và như vậy chúng ta cũng sẽ tập trung vào ảnh hưởng của các loại thuế đối với các quyết định kinh doanh

Mục đích của thuế doanh thu

Ban đầu, mục tiêu duy nhất của chính quyền liên bang trong đánh thuế thu nhập là để

tăng nguồn thu trang trải cho các chi phí của chính phủ Mặc dù hiện mục tiêu này vẫn

quan trọng, nhưng nó đã mang thêm những mục tiêu kinh tế và xã hội Ví dụ, một công

ty có thể được giảm thuế nếu: (1) thực hiện một số nghiên cứu công nghệ nhất định, (2) trả lương cho những nhóm người nhất định có bất lợi về kinh tế, (3) nằm trong những

khu vực nhất định đang bị suy thoái kinh tế Những kích thích định hướng xã hội khác trong pháp luật thuế bao gồm miễn thuế cho người được bảo hộ, người già, người mù loà và giảm thuế thu nhập đối với các khoản thu từ hưu trí Ngoài ra, Chính phủ còn sử

dụng pháp luật thuế để ổn định nền kinh tế Trong những giai đoạn suy thoái, các khoản

thuế công ty có thể được giảm thấp để tạo thêm công việc cho người lao động

Tóm lại, ba mục tiêu của thuế là: (1) tạo nguồn thu trang trải cho các khoản chi của

Chính phủ, (2) thực hiện những mục tiêu xã hội, (3) ổn định nền kinh tế

Những người nộp thuế

Để hiểu về hệ thống thuế, điều đầu tiên chúng ta phải hỏi: “Ai là người nộp thuế?” Hầu

như ở nước Mỹ chỉ có ba loại thực thể có trách nhiệm nộp thuế là: cá nhân, các công ty

và những người được uỷ thác Cá nhân bao gồm nhân viên các công ty, những người tự

kinh doanh và thành viên của hợp danh Thu nhập được các cá nhân này báo cáo trong

nhập và nộp những loại thuế liên quan tới các lợi nhuận này Chủ sở hữu (cổ đông) của

công ty không cần báo cáo những thu nhập này trong bản kê khai thuế cá nhân của họ,

ngoại trừ khi tất cả hay một phần lợi nhuận được phân phối dưới hình thức cổ tức Cuối

cùng, những người được uỷ thác như bất động sản hay uỷ thác đầu tư, nộp bản kê khai thuế và nộp các loại thuế liên quan tới thu nhập phát sinh từ bất động sản hay các khoản

uỷ thác mà không bị phân chia cho (và bao gồm cả thu nhập phải chịu thuế của ) người

thụ hưởng

Mặc dù, đánh thuế thu nhập cá nhân và uỷ thác là một nguồn thu nhập quan trọng của

chính phủ, nhưng nó không đặc biệt liên quan tới nhà quản lý tài chính Bởi hầu hết các doanh nghiệp dù ở bất kỳ quy mô nào cũng đều được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, chúng ta sẽ giới hạn thảo luận trong hình thức này Tuy nhiên cũng cần nói trước là hệ thống pháp luật thuế có thể tương đối phức tạp với hàng loạt ngoại lệ của

Trang 11

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 9

đa số các nguyên tắc chung Luật pháp cũng có thể thay đổi nhanh chóng, và những chi

tiết nhất định thảo luận ở đây có thể không còn được áp dụng trong thời gian tới Tuy

nhiên, phương pháp tiếp cận chung vẫn giữ nguyên cho dù có những thay đổi nào

Tính toán thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế của một công ty được tính trên tổng thu nhập từ tất cả các nguồn,

trừ những ngoại lệ được cho phép, trừ đi những chi phí có thể khấu trừ thuế Tổng thu

nhập là doanh thu từ sản phẩm của công ty trừ đi chi phí sản xuất hay mua sản phẩm

Những chi phí được khấu trừ thuế bao gồm chi phí hoạt động như chi phí tiếp thị và chi

phí hành chính Ngoài ra, chi phí lãi vay trả cho những khoản nợ chưa thanh toán cũng

được coi là một loại chi phí khấu trừ thuế Tuy nhiên, cổ tức trả cho cổ đông của doanh

nghiệp không được coi là chi phí khấu trừ thuế, mà được coi là phân phối thu nhập Các

loại thu nhập chịu thuế khác bao gồm thu nhập từ lãi suất và thu nhập từ cổ tức mà công

ty nhận được

Để chứng minh việc tính toán doanh thu chịu thuế của một công ty được thực hiện như

thế nào, hãy xem xét công ty J&S, nhà sản xuất các thiết bị gia dụng Công ty này do

Kelly Stites thành lập và có doanh thu 50 triệu USD trong năm qua Chi phí sản xuất là

23 triệu USD Chi phí hoạt động là 10 triệu USD Công ty còn nợ 12.500.000 USD chưa

thanh toán với mức lãi suất là 8%/năm, và chi phí lãi vay là 1.000.000 USD (12.500.000

x 0,8 = 1.000.000 USD) Ban lãnh đạo trả 1 triệu USD cổ tức cho cổ đông thường của

công ty Công ty không còn khoản thu nhập nào khác như tiền lãi hay cổ tức Thu nhập

chịu thuế của công ty J&S sẽ là 16 triệu USD, như trình bày trong bảng 1.1 Khi chúng

ta đã biết thu nhập chịu thuế của J&S, chúng ta có thể xác định được mức thuế mà công

ty phải nộp

Tính toán mức thuế phải nộp

Các khoản thuế công ty phải nộp dựa trên thu nhập chịu thuế được đặt trên trên cấu trúc

thuế suất công ty Các mức thuế suất cụ thể áp dụng với công ty, như năm 1997, được

thể hiện trong Bảng 1.2 theo Luật Hợp nhất doanh thu năm 1993, một mức thuế suất cận

biên cao nhất mới áp dụng đối với công ty là 35% đối với thu nhập chịu thuế trên 10

triệu USD Mức thuế luỹ tiến 3% được áp dụng với thu nhập chịu thuế từ 15 triệu tới

Lưu ý: Cổ tức được trả cho các cổ đông thường (1 triệu USD) không được coi là chi

phí khấu trừ thuế

Trang 12

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 10

Bảng 1.2 Thuế suất của công ty

Lưu ý: Mức thuế luỹ tiến bổ sung:

• 5% với thu nhập từ 100.000 tới 335.000$

• 3% với thu nhập từ 15.000.000$ tới 18.333.333$

Kết hợp với mức thuế luỹ tiến 5% hiện nay áp dụng đối với thu nhập chịu thuế từ

100.000 USD-335.000 USD nên tính cả lợi nhuận của tỷ lệ cận biên thấp hơn và dẫn tới

cả thuế suất cận biên và thuế suất trung bình đối với thu nhập chịu thuế trên 18.333.333 USD là 35%

Khoản thuế phải nộp của công ty J&S với mức thu nhập chịu thuế sẽ là 5.530.000$, như

trình bày trong bảng 1.3:

Bảng 1.3: Bảng tính thuế của công ty J&S

Thu nhập x thuế suất cận biên = thuế

Thuế luỹ tiến bổ sung:

• 5% với thu nhập từ 100.000 USD-335.000 USD

(5% x {335.000$ - 100.000$} = 11.750$

• 3% với thu nhập từ 15.000.000 USD-18.333.333 USD

(3% x {16.000.000$ - 15.000.000 $} = 30.000$

Tổng mức thuế phải nộp: 5.530.000$

Thuế suất trong Bảng 1.2 được gọi là thuế suất cận biên, tỷ lệ có thể áp dụng với đồng

tiền thu nhập kế tiếp Ví dụ, nếu một công ty thu nhập 60.000$ và dự kiến sẽ thu được

thu nhập 10.000$ từ một khoản đầu tư, thuế suất được sử dụng để tính toán mức thuế

cho khoản thu tăng thêm này là 25%; có nghĩa thuế suất cận biên là 25% Tuy nhiên, nếu công ty dự kiến doanh thu khoảng 20 triệu $ và không có khoản đầu tư mới nào, khoản lợi nhuận bổ sung 10.000$ sẽ bị áp thuế 35%, mức thuế suất cận biên ở mức

doanh thu 20 triệu $ Trong ví dụ trên, công ty J&S có mức thu nhập chịu thuế là 16 triệu $, thuế suất cận biên của nó là 38% (bởi 16 triệu $ rơi vào giỏ thuế 35% cộng với

3% luỹ tiến); có nghĩa là bất kỳ thu nhập bổ sung nào từ những khoản đầu tư mới sẽ bị

áp thuế 38% Tuy nhiên, sau khi thu nhập chịu thuế vượt quá mức 18.333.333$, thuế

suất cận biên sẽ giảm xuống 35% bởi không bị áp 3% thuế luỹ tiến nữa

Trang 13

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 11

Khấu hao: Phương

tiện khấu trừ giá trị

về thu nhập do quyết định tài chính gây ra Bởi vậy khi đưa ra một quyết định tài chính

có liên quan tới thuế, hãy luôn sử dụng thuế suất cận biên trong tính toán của bạn4

Cấu trúc thuế suất được sử dụng trong tính toán thuế của công ty J&S giả định rằng thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Mỹ Với nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, có nhiều khoản

thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài Do vậy, thuế suất và phương pháp tính thuế

doanh nghiệp thường rất khác nhau Thuế suất quốc tế có thể rất khác nhau và công việc

của nhà quản lý tài chính là tối thiểu hoá khoản thuế phải nộp qua việc báo cáo doanh thu tại các nước có mức thuế thấp càng cao càng tốt và doanh thu tại các nước có mức

thuế cao càng thấp càng tốt Tất nhiên, các yếu tố khác như mức độ rủi ro chính trị có thể khiến bạn không muốn tối thiểu hoá các khoản thuế ở nước ngoài

Những xem xét khác về thuế

Một số vấn đề lớn khác trong hệ thống pháp luật về thuế hiện tại có liên quan tới nhà quản lý tài chính như: (1) khấu trừ thu nhập cổ tức từ những cổ tức mà công ty nhận

được, (2) tác động của khấu hao tới các khoản thuế của doanh nghiệp, (3) xử lý thuế đối

với những khoản thua lỗ trong kinh doanh, (4) công nhận những khoản lãi vốn và lỗ

vốn Chúng ta cũng xem xét những khoản thuế bổ sung có thể áp với doanh nghiệp cho khoản lợi nhuận “tích luỹ vượt quá” trong kinh doanh nhằm tránh bị đánh thuế hai lần

Cuối cùng, chúng ta phải làm quen với quy định thuế cho phép một công ty cổ phần

được nộp thuế như công ty hợp danh đang ngày càng trở nên quan trọng với Luật Cải tổ

thuế năm 1986 Hãy lần lượt xem xét những quy định về thuế này

Khấu trừ cổ tức Bình thường, một công ty có thể được khấu trừ tới 70% bất kỳ loại cổ

tức nào nhận được từ một công ty khác Ví dụ, nếu công ty A nắm giữ cổ phiếu phổ

thông trong công ty B và nhận được 1.000$ cổ tức mỗi năm, thì trong đó chỉ 300$ chịu

thuế và 700$ còn lại (70%) sẽ được miễn thuế Nếu khoản thu nhập lợi tức này rơi vào giỏ thuế 34%, thì chỉ phải nộp 102$ tiền thuế (34% của 300$)5

Khấu hao

Phương pháp tính chi phí khấu hao được trình bày trong Phụ lục 1C Về cơ bản, có ba phương pháp tính chi phí khấu hao: (1) phương pháp khấu hao tuyến tính, (2) phương

pháp khấu hao theo số dư giảm dần kép, (3) chế độ gia tốc thu hồi chi phí sửa đổi Bất

kỳ phương pháp nào trong ba phương pháp này đều mang lại chi phí khấu hao như nhau trong suốt vòng đời của tài sản; tuy nhiên, hai phương pháp cuối cho phép doanh nghiệp tính khấu hao nhanh hơn so với phương pháp đầu tiên để doanh nghiệp hoãn nộp thuế Công nhận rằng giá trị thời gian của tiền tệ là một lợi thế trong sử dụng các kỹ thuật khấu hao nhanh (Chương 5 sẽ trình bày kỹ hơn về giá trị thời gian của tiền tệ)

Trang 14

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 12

4 Với thu nhập chịu thuế trong khoảng từ 335.000$ tới 10 triệu $, cả thuế suất trung bình và thuế suất cận biên đều là 34%, do bị áp thuế 5% luỹ tiến áp dụng với thu nhập chịu thuế từ 100.000$ tới 335.000$ Sau khi thu nhập chịu thuế của công ty vượt quá 18.333.333$, cả thuế suất trung bình và thuế suất cận biên đều

là 35%, do bị áp thuế 3% luỹ tiến áp dụng với thu nhập chịu thuế từ 15 triệu $ tới 18.333.333$ trừ lợi nhuận thu được từ 10 triệu $ đầu tiên bị đánh thuế 34% chứ không phải là 35%

5 Nếu công ty A sở hữu ít nhất 20% công ty B nhưng dưới mức 80%, thì 80% của bất kỳ cổ tức nào nhận được có thể không bị tính vào thu nhập chịu thuế Nếu sở hữu từ 80% trở lên thì tất cả cổ tức có thể được khấu trừ.

Hồi tố và chuyển tiếp lỗ

thuần trong kinh doanh:

Luật thuế cho phép khấu trừ

khoản lỗ vào lợi nhuận của

và nếu chưa khấu trừ hết thì

có thể chuyển tiếp khấu trừ

sang 20 năm tiếp theo

(carryforward).

Ngoài ra, người quản lý cũng có thể sử dụng phương pháp khấu hao tuyến tính để báo cáo thu nhập với các cổ đông nhưng lại sử dụng phương pháp khấu hao nhanh để tính toán thu nhập chịu thuế

Khấu trừ lỗ thuần trong kinh doanh Nếu một công

khoản lỗ này có thể được khấu trừ vào thu nhập của những năm khác Luật thuế cho phép khấu trừ khoản lỗ

chưa khấu trừ hết thì có thể chuyển tiếp khấu trừ sang

20 năm tiếp theo (carryforward)6 Hết thời gian 20 năm, tất cả những khoản lỗ còn lại không được phép khấu trừ thuế Ví dụ, khoản lỗ năm 1998 có thể được hoàn thuế, toàn bộ hoặc một phần, những khoản thuế của năm

1997 hoặc 1996 Nếu khoản lỗ chưa được khấu trừ hết, số còn lại có thể được sử dụng

để giảm thu nhập chịu thuế trong khoảng thời gian 20 năm tiếp theo (từ 1999 đến 2018)

Trang 15

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 13

Lãi vốn và lỗ vốn: Như

định nghĩa trong Luật

Thuế doanh thu, khoản

lỗ hay lãi từ việc bán hay

trao đổi một tài sản vốn

khoản lỗ chưa được xử lý hết, phần còn lại có thể được chuyển tiếp khấu trừ cho lãi vốn

trong thời gian 5 năm tiếp theo Ví dụ, nếu một công ty bị lỗ vốn ròng 800.000$ năm

1998, nó có thể khấu trừ khoản lỗ này vào các khoản lãi vốn của ba năm 1995, 1996 và

1997 Nếu vẫn còn lỗ, số còn lại có thể được chuyển tiếp khấu trừ cho các khoản lãi tới

năm 2003

Thuế thu nhập lũy kế (Accumulated earnings tax)

Lợi tức của một công ty là đối tượng “bị đánh thuế hai lần”, đầu tiên là ở cấp công ty và sau đó là ở cấp cổ đông khi lợi nhuận của công ty được phân phối dưới hình thức cổ tức

Nếu cổ đông không cần lấy ngay cổ tức, công ty có thể giữ lại lợi nhuận của mình và thậm chí còn có thể huy động khoản tiền này để phục vụ lợi ích của các chủ sở hữu

công ty Ví dụ, người quản lý có thể giữ lại lợi nhuận của công ty nhưng cho các cổ

đông vay Tương tự như vậy, nếu lợi nhuận được tích luỹ trong doanh nghiệp, giá của

cổ phiếu thường sẽ tăng, với điều kiện lợi nhuận được tái đầu tư với tỷ lệ hoàn vốn cao hơn tỷ lệ mà cổ đông yêu cầu Còn chưa bán cổ phiếu thì nhà đầu tư sẽ không phải nộp

một khoản thuế nào

Để ngăn chặn những hành vi trốn thuế, mức thuế luỹ tiến 28% được bổ sung vào khoản

thuế thu nhập thường xuyên được áp dụng với công ty có hoạt động tích luỹ lợi tức với

mục đích giúp cổ đông trốn thuế Mức thuế này không áp dụng với việc giữ lại lợi tức vì

nhu cầu kinh doanh hợp lý Khoản tiền cũng không phải tái đầu tư ngay lập tức cho tới

khi có bằng chứng cho thấy trong tương lai sẽ cần sử dụng khoản lợi nhuận tích luỹ hiện

tại Mặc dù khó có thể nói chính xác khi nào tích luỹ lợi nhuận được coi là hợp lý, những ví dụ bao gồm: (1) cung cấp chi phí cho thay thế nhà máy và thiết bị, (2) thanh toán nợ của công ty, (3) tăng tín dụng cho khách hàng, và (4) đầu tư cho một lĩnh vực

kinh doanh mới, có thể coi là hợp lý Phần minh hoạ dưới đây cho bạn thấy bạn có thể

sử dụng lợi nhuận vào các mục đích kinh doanh, nhưng bạn không thể giữ lại lợi nhuận

với mục đích trốn thuế

Trang 16

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 14

Phụ chương công ty S Khi quyết định chọn lựa giữa hình thức doanh nghiệp tư nhân

một chủ, hợp danh và công ty cổ phần, những cân nhắc về thuế là rất quan trọng Chủ sở hữu cố gắng chọn hình thức doanh nghiệp có thể mang lại cho họ khoản lợi nhuận sau thuế cao nhất Để giảm những ảnh hưởng của thuế tới việc ra quyết định, Quốc hội Mỹ đã thông qua Phụ chương công ty S, cho phép một công ty cổ phần được áp thuế như một hợp danh Quy định này loại bỏ tình trạng “đánh thuế hai lần” với công ty cổ phần Phụ chương công ty S yêu cầu nộp báo cáo thuế chỉ với mục đích thông tin chứ không phải nộp thuế Các loại thuế từ kinh doanh do cổ đông nộp, bất kể lợi tức có được phân chia hay không Tuy nhiên, để đạt được điều kiện trong Phụ chương công ty S, doanh nghiệp phải đáp

ứng các yêu cầu sau:

1 Doanh nghiệp phải là công ty cổ phần trong nước

2 Số lượng thành viên ban đầu không được vượt quá 35 người và những cổ đông

này phải là các cá nhân, công ty bất động sản hay những quỹ uỷ thác nhất định

3 Công ty không phải là thành viên của một tập đoàn đủ điều kiện nộp bản báo cáo

thuế hợp nhất với công ty khác

4 Có thể chỉ có một loại cổ phiếu duy nhất

5 Người nước ngoài không được làm cổ đông của công ty

Chỉ có một số nhỏ doanh nghiệp quy mô trung bình có thể thoả mãn những yêu cầu của

Phụ chương công ty S Tuy nhiên, nếu đáp ứng được thì công ty có khả năng được

hưởng những lợi ích như công ty cổ phần nhưng chỉ bị áp thuế như hình thức hợp danh

Ví dụ về sự kết hợp những quy định về thuế

Để minh hoạ về những ảnh hưởng nhất định của pháp luật thuế đối với công ty, hãy giả

định doanh thu năm ngoái của công ty Griggs là 5 triệu USD; chi phí bán hàng là 3 triệu

USD, các chi phí hoạt động khác là 1 triệu USD Ngoài ra, công ty nhận được 185.000$ lãi suất và 100.000$ cổ tức từ một công ty khác Ngược lại, công ty cũng trả 40.000$ lãi suất và 75.000$ cổ tức Cuối cùng, công ty bán một mảnh đất với giá 100.000$ mà cách đây 6 năm chỉ mua với giá 50.000$ Dựa trên những thông tin này, có thể tính mức thu nhập chịu thuế của công ty là 1.225.000$ như tính toán ở phần đầu của Bảng 1.4

Dựa trên các mức thuế suất của Bảng 1.2, khoản thuế phải nộp của công ty Griggs là 416.500$ như thể hiện ở cuối Bảng 1.4 Lưu ý rằng khoản 75.000$ mà Griggs trả cổ tức

không được khấu trừ thuế Cũng vậy, bởi mức thu nhập chịu thuế của công ty vượt quá 335.000$ và không bị áp khoản thuế luỹ tiến 5%, tỷ suất thuế cận biên và thuế suất

trung bình đều là 34%; bởi vậy chúng ta có thể tính được mức thuế Griggs phải nộp là 34% của 1.225.000$ = 416.500$ Như chúng ta sẽ thấy, luật thuế thay đổi sẽ làm cho lợi

Trang 17

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 15

tức của những khoản đầu tư khác nhau tăng lên hay giảm đi Đây chính là minh hoạ về

vai trò của thuế trong các quyết định của người quản lý tài chính

Bảng 1.4: Bảng tính thuế của công ty Griggs

Các thu nhập chịu thuế và chi phí khác:

Mục tiêu 5: Mười tiền đề tạo nên cơ sở của quản trị tài chính

Chúng ta vừa thảo luận về những cơ sở pháp lý và thuế của các quyết định tài chính

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét những cơ sở Tài chính đằng sau quyết định của các nhà

quản lý tài chính Với những sinh viên lần đầu nhập môn tài chính, đối tượng nghiên

cứu giống như một bộ sưu tập các nguyên tắc chẳng liên quan gì tới tài chính Thực ra

không phải vậy Trên thực tế, những nguyên tắc quyết định của chúng ta và sự hợp lý

làm nền tảng của chúng đều xuất phát từ 10 tiền đề đơn giản không đòi hỏi phải có kiến

thức về tài chính thì mới hiểu được Tuy nhiên, trong khi không cần thiết phải hiểu tài

chính thì mới hiểu được những tiền đề này, thì lại cần phải hiểu những tiền đề này để

hiểu về tài chính Hãy luôn nhớ rằng mặc dù những tiền đề này ban đầu có vẻ đơn giản

hay thậm chí tầm thường, nhưng chúng là động lực thúc đẩy mọi việc Những tiền đề

này đan kết các khái niệm và những kỹ thuật đề cập trong phần này với nhau, nên cho

phép chúng ta chú trọng vào sự logic đằng sau thực tiễn quản trị tài chính Để quá trình

học tập được dễ dàng hơn cho sinh viên, chúng tôi sẽ liên tục nhắc lại các tiền đề này

trong toàn bộ cuốn sách dưới dạng “liên quan tới những ô hình ảnh lớn” - gắn kết tài

liệu với nhau và cho phép bạn “phân loại rừng từ cây cối”

Trang 18

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 16

Tiền đề 1:

Đổi rủi ro lấy thu nhập – Chúng ta không chấp nhận thêm rủi ro trừ khi được đền

bù thu nhập cao hơn

Tất cả chúng ta đều có lúc tiết kiệm tiền Tại sao phải làm như vậy? Câu trả lời rất đơn

giản: Để tăng thêm cơ hội tiêu dùng trong tương lai của chúng ta – ví dụ, tiết kiệm để

mua nhà, mua xe hay để chi tiêu khi nghỉ hưu Chúng ta hoàn toàn có thể đầu tư số tiền

tiết kiệm này và hưởng thu nhập từ đó bởi một số người thà bỏ những cơ hội tiêu dùng sau này để được tiêu dùng nhiều hơn ngay lúc này nên có thể họ vay tiền để kinh doanh mới hoặc một công ty vay tiền để xây dựng nhà máy mới Phải thừa nhận rằng có nhiều

người khác nhau thích dùng tiền tiết kiệm của chúng ta, vậy chúng ta sẽ quyết định đầu

tư tiền như thế nào?

Đầu tiên, các nhà đầu tư yêu cầu khoản thu nhập tối thiểu để trì hoãn tiêu dùng phải lớn

hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến Nếu thu nhập nhận được không đủ để đền bù cho tỷ lệ lạm

phát dự kiến, nhà đầu tư sẽ mua bất kỳ loại hàng hoá nào mà họ thích hoặc đầu tư vào các tài sản họ cho rằng có thể không bị ảnh hưởng của lạm phát và thu nhập chính là tỷ

lệ lạm phát trên tài sản này Nếu tiền tiết kiệm của bạn đang mất dần sức mua thì cũng

không nên trì hoãn tiêu dùng

Hình 1.1 Quan hệ rủi ro - thu nhập

Các hình thức đầu tư có tỷ lệ rủi ro và lãi suất dự kiến khác nhau Các nhà đầu tư đôi

khi chọn đặt tiền của mình vào những đầu tư đầy rủi ro bởi những đầu tư này sẽ mang lại thu nhập dự kiến cao hơn Đầu tư càng mạo hiểm khả năng thu lợi càng lớn Quan hệ

giữa rủi ro và thu nhập dự kiến được thể hiện trong hình 1.1

Lưu ý rằng chúng ta luôn đề cập tới thu nhập dự kiến hơn là thu nhập thực tế Chúng ta

có thể dự kiến mức thu nhập từ đầu tư sẽ như thế nào, nhưng chúng ta không thể biết

trước thu nhập thực tế sẽ là bao nhiêu Nếu các nhà đầu tư có thể biết trước tương lai, chắc hẳn sẽ chẳng có ai đầu tư vào nhà sản xuất dược phẩm Liposme, với cổ phiếu mất

Thu nhập dự

kiến

Rủi ro

Trang 19

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 17

giá tới 61,5% vào ngày 24/7/1997 Đó là khi kết quả nghiên cứu thực nghiệm mới nhất

về loại thuốc trị bệnh đường hô hấp Ventus của Liposme được thông báo rằng không có

sự khác biệt nào giữa những bệnh nhân sử dụng thuốc Ventus với những bệnh nhân sử

dụng liệu pháp tâm lý (placebo) Đó cũng là lý do vì sao trái phiếu của General Motor

có mức lãi suất cao hơn lãi suất cùng thời hạn của Kho bạc Mỹ Thu nhập gia tăng

thuyết phục một số nhà đầu tư chấp nhận rủi ro cao hơn khi mua trái phiếu của General Motor

Quan hệ rủi ro - thu nhập sẽ là một khái niệm chủ chốt khi chúng ta đánh giá cổ phiếu,

trái phiếu và những dự án mới đề xuất trong toàn bộ bài giảng này Chúng ta cũng dành một số thời gian để tìm hiểu cách tính toán rủi ro như thế nào Thú vị hơn là hầu hết tác phẩm được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1990 đều tập trung vào biểu đồ tại hình 1.1

và cách tính toán rủi ro như thế nào Cả biểu đồ và mối quan hệ rủi ro - thu nhập mà nó

mô tả sẽ xuất hiện thường xuyên trong bài giảng này

bạn mới nhận được Bởi chúng ta có thể thu được thu nhập từ đồng tiền chúng ta đang

có, nên nhận tiền sớm tốt hơn là nhận tiền muộn Trong các khoá học kinh tế của bạn,

khái niệm giá trị thời gian của tiền tệ này được coi như chi phí cơ hội làm tăng tiềm

năng thu nhập của một dollar hôm nay

Trong bài này, chúng ta chú trọng vào việc tạo ra và tính toán tài sản Để tính toán tài sản hay giá trị, chúng ta sẽ sử dụng khái niệm giá trị thời gian của tiền tệ để đưa thu nhập và chi phí tương lai của một dự án trở về hiện tại Sau đó, nếu thu nhập cao hơn

chi phí, dự án sẽ tạo ra tài sản và nên được chấp thuận; và ngược lại, nếu chi phí cao hơn thu nhập, dự án không tạo ra tài sản và phải bị từ chối Nếu không công nhận sự tồn

tại của giá trị thời gian của tiền tệ, sẽ không thể đánh giá được các dự án với thu nhập và

chi phí tương lai một cách có ý nghĩa

Để đưa thu nhập và chi phí tương lai của một dự án trở về hiện tại, chúng ta phải giả

định một chi phí cơ hội cụ thể của tiền tệ, hay tỷ lệ lãi suất Tiền đề 1: Đổi rủi ro lấy

thu nhập đã xác định chính xác tỷ lệ lãi suất nào được sử dụng, đó là nhà đầu tư yêu

cầu mức thu nhập cao hơn khi chấp nhận tham gia những dự án mạo hiểm hơn Vì vậy,

khi chúng ta xác định giá trị hiện tại của các chi phí và thu nhập tương lai, chúng ta cần

lưu ý rằng các nhà đầu tư luôn đòi hỏi một mức thu nhập cao hơn khi chấp nhận rủi ro nhiều hơn

Trang 20

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 18

Tiền đề 3:

Quan trọng là dòng tiền, chứ không phải là lợi nhuận

Để đánh giá tài sản hay giá trị, chúng ta sẽ sử dụng dòng tiền, chứ không dùng lợi nhuận

kế toán, như công cụ đánh giá của chúng ta Như vậy, chúng ta sẽ quan tâm tới vấn đề

khi nào thì tiền vào tay chúng ta, khi nào chúng ta có thể đầu tư nó và bắt đầu có lợi

nhuận từ nó, và khi nào chúng ta có thể trả nó lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức

Nên nhớ, đó là dòng tiền, không phải là lợi nhuận, thực tế mà công ty thu được và có thể được tái đầu tư Mặt khác, lợi nhuận kế toán xuất hiện khi bạn thực sự nắm được

khoản lợi nhuận đó chứ không phải là dòng tiền thực tế mà bạn đang có Do vậy, dòng tiền của một công ty và lợi nhuận kế toán có thể không phải là một Ví dụ, một chi phí vốn, như mua thiết bị mới hay xây một toà nhà, được khấu hao trong vài năm với khoản

khấu hao hàng năm được trừ từ lợi nhuận Tuy nhiên, dòng tiền, hay số tiền thực tế,

thường kết hợp với chi phí này ngay lập tức Bởi vậy, dòng tiền vào và ra liên quan tới

những khoản thu - chi thực tế khi tiền vào và ra khỏi túi bạn Bởi vậy, các dòng tiền

phản ánh chính xác thời gian của lợi nhuận và chi phí

Tiền đề 4:

Các dòng tiền gia tăng – chỉ theo dõi những thay đổi

Năm 1997, General Mills, nhà sản xuất các sản phẩm mang nhãn hiệu Cheerios, Frosted Cheerios, Apple Cinnamon Cheerios và Multi Grain Cheerios, giới thiệu sản phẩm bột

ngũ cố mới mang tên Team Cheerios – “Ba hương vị thơm ngon trong cùng một

muỗng” Rõ ràng, sản phẩm mới này cạnh tranh trực tiếp với các loại ngũ cốc khác của

General Mills, và đặc biệt là với các sản phẩm dòng Cheerios Thực tế, Team Cheerios, với lớp kem và đường vàng, có mùi vị rất giống với sản phẩm Frosted Cheerios Rõ ràng, một phần doanh thu của Team Cheerios đáng lẽ sẽ được người tiêu dùng dành mua các sản phẩm khác của General Mills hay các loại Cheerios khác nếu Team Cheerios không xuất hiện Mặc dù General Mills nhắm tới các khách hàng trẻ tuổi với

loại ngũ cốc ngọt này, nhưng rõ ràng Team đã ngoạm vào, hay thực ra là nuốt sống, thị

phần của Cheerios và các sản phẩm khác của General Mills Thực tế đây là loại ngũ cốc

được mọi người ưa chuộng nhất Sự chênh lệch giữa doanh thu mà General Mills có

được sau khi tung ra sản phẩm Team Cheerios với doanh thu khi duy trì các loại sản

phẩm ngũ cốc hiện có của mình chính là dòng tiền phát triển Sự chênh lệch này phản

ánh tác động thực sự của quyết định

Khi ra quyết định kinh doanh, chúng ta quan tâm tới những kết quả của các quyết định

này: đó là sự so sánh điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đồng ý với những gì xảy ra nếu

chúng ta không đồng ý? Tiền đề 3 nói rõ chúng ta phải sử dụng dòng tiền để đánh giá thu nhập phát sinh từ việc tham gia một dự án mới Hiện chúng ta đang điều chỉnh quá

cash flows). Dòng tiền gia tăng này là sự chênh lệch giữa các dòng tiền nếu dự án được

thực hiện so với những gì sẽ xuất hiện nếu dự án không được thực hiện

Điều quan trọng là những gì chúng ta nghĩ là gia tăng (incrementally) Nguyên tắc chủ

đạo của chúng ta trong việc quyết định một dòng tiền gia tăng hay không là nhìn vào

Trang 21

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 19

công ty có và không có sản phẩm mới Thực tế, chúng ta tách khái niệm gia tăng này ra khỏi dòng tiền và xem xét tất cả kết quả của các quyết định dựa trên một cơ sở gia tăng

Tiền đề 5:

Những trở ngại của thị trường cạnh tranh - tại sao khó tìm những dự án siêu lợi

nhuận

Công việc của các nhà quản trị tài chính chúng ta là tạo ra tài sản Bởi vậy, chúng ta sẽ

xem xét kỹ lưỡng cơ chế đánh giá và ra quyết định Chúng ta sẽ chú trọng đánh giá dòng tiền, xác định thu nhập đầu tư và đánh giá các tài sản và dự án mới Sẽ dễ dàng theo kịp các cơ chế đánh giá nhưng lại khó nhận ra quá trình tạo ra tài sản Tại sao tìm

ra những dự án và những khoản đầu tư siêu thu nhập lại khó khăn như vậy? Những dự

án sinh lợi nằm ở đâu? Trả lời những câu hỏi này sẽ cho chúng ta biết nhiều về thị

trường cạnh tranh hoạt động như thế nào và tìm những dự án sinh lợi ở đâu?

Thực tế, đánh giá các dự án sinh lợi dễ hơn nhiều so với việc tìm ra chúng Những

ngành sinh nhiều thu nhập thường thu hút nhiều người mới tham gia Cạnh tranh và công suất gia tăng có thể khiến thu nhập bị giảm xuống dưới mức tỷ lệ sinh lời cần thiết,

sau đó một số người tham gia thị trường bỏ cuộc dẫn tới cạnh tranh và công suất giảm,

rồi giá lại bị đẩy lên Đây chính là những gì đã xảy ra trên thị trường cho thuê đầu máy video vào giữa những năm 1980 Thị trường này bỗng nhiên phát triển với cơ hội mang lại thu nhập cực lớn Bởi không có rào cản nào trên thị trường nên nó nhanh chóng bị

tràn ngập bởi những người mới tham gia Tới năm 1987, cạnh tranh và giảm giá khiến

nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ và phải rút khỏi thị trường Khi cạnh tranh bớt khốc liệt

do một số công ty đã rời bỏ thị trường cho thuê đầu máy video, thu nhập lại tăng trở lại

với mức tỷ suất sinh lời phù hợp với vốn đầu tư

Trong các thị trường cạnh tranh, các khoản thu nhập cực lớn không thể tồn tại lâu dài Nghe có vẻ ảm đạm, làm thế nào để chúng ta có thể tìm ra những dự án tốt- là những dự

án có mức thu nhập cao hơn tỷ suất sinh lời dự kiến so với mức rủi ro của chúng (hãy nhớ Tiền đề 1) Mặc dù cạnh tranh khiến chúng ta khó tìm ra dự án sinh lời, nhưng

chúng ta phải đầu tư vào các thị trường không bị cạnh tranh tuyệt đối Có hai cách phổ

biến để giảm sự cạnh tranh trên thị trường là tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm hay tìm ra

những lợi thế chi phí so với các đối thủ cạnh tranh khác

Sự khác biệt của sản phẩm bảo vệ một sản phẩm trước sự cạnh tranh, do đó cho phép một công ty có thể đặt ra mức giá cao Nếu sản phẩm có sự khác biệt, thì sự lựa chọn

của khách hàng không chỉ do giá cả quyết định nữa Ví dụ, nhiều người sẵn sàng trả giá cao để mua cà phê Starbuck Đơn giản là họ chỉ muốn dùng cà phê Starbuck và giá cả

không quan trọng Trong ngành dược phẩm, bằng sáng chế là những trở ngại cho cạnh

tranh Thuốc chống dị ứng Claritin của công ty Schering-Plough và thuốc an thần

Valium của hãng Hoffman-La Roche được bảo vệ trước những nhãn hiệu cạnh tranh trực tiếp

Dịch vụ và chất lượng cũng luôn được sử dụng để tạo nên sự khác biệt của sản phẩm

Ví dụ, Levi’s từ lâu đã tự hào về chất lượng đồ jean của mình Kết quả là công ty đã duy

trì được thị phần của mình Tương tự, những nhãn hiệu như Toyota và Honda trung

Trang 22

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 20

Các thị trường hiệu

quả (efficient markets):

Một thị trường mà giá trị

của các tài sản và chứng

kháon tại bất kỳ thời

điểm nào đều phản ánh

đầy đủ tất cả thông tin

công khai

thành với chất lượng sản phẩm của mình Dịch vụ cũng có thể tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm, như sự phục vụ nhanh chóng, sạch sẽ và đảm bảo chất lượng sản phẩm của

hãng McDonald đã mang lại nhiều khách hàng cho hãng này

Bất kể sự khác biệt của sản phẩm là từ quảng cáo, sáng chế, dịch vụ hay chất lượng, thì càng khác biệt so với những sản phẩm cạnh tranh thì khả năng bị cạnh tranh của sản

phẩm càng thấp và khả năng thu lãi lớn càng cao

Những lợi ích sản xuất do quy mô lớn và khả năng sản xuất với chi phí thấp hơn các đối

thủ cạnh tranh có thể ngăn chặn một cách hiệu quả những người mới tham gia thị

trường và từ đó giảm sự cạnh tranh Wal-Mart là một điển hình như vậy Với Wal-Mart, chi phí cố định chủ yếu phụ thuộc vào quy mô của cửa hàng Ví dụ những chi phí hàng tồn kho, chi phí quảng cáo, lương nhân viên về cơ bản là giữ nguyên cho dù doanh số

bán hàng hàng năm có thay đổi như thế nào Bởi vậy, càng bán được nhiều hàng thì các chi phí hàng tồn kho, quảng cáo, quản lý tính theo doanh số càng giảm Việc bổ sung hàng hoá cho các nhà kho cũng hiệu quả hơn khi đội ngũ xe tải chở hàng được sử dụng

hết công suất

Cho dù lợi thế chi phí được tạo ra như thế nào - bằng quy mô sản xuất, công nghệ tiên tiến hay độc quyền nguyên liệu thô – thì chúng cũng ngăn cản những người mới tham gia thị trường trong khi cho phép sản xuất ở dưới mức chi phí của ngành Lợi thế chi phí

này có khả năng mang lại những thu nhập lớn

Vấn đề then chốt để xác định các dự án đầu tư sinh lợi đầu tiên là tìm hiểu chúng tồn tại

ở đâu và như thế nào trong các thị trường cạnh tranh Sau đó, công ty cần có chính sách tạo ra hay lợi dụng những kẽ hở trên các thị trường này, hoặc thông qua sự khác biệt của

sản phẩm hay tạo ra những lợi thế chi phí thì sẽ tốt hơn là tìm kiếm những thị trường

hay các ngành mới có thể mang lại thu nhập lớn Sẽ không có ngành nào bị cạnh tranh gay gắt kéo dài Cần phải hiểu điều này để biết tìm kiếm những dự án tốt ở đây và đánh

giá chính xác dòng tiền của dự án Chúng ta có thể làm tốt điều này nếu nhận ra tài sản

được tạo ra như thế nào và việc tạo ra chúng khó khăn như thế nào

Tiền đề 6:

Các thị trường vốn hiệu quả - Thị trường chuyển động nhanh và giá cả phản ánh

sự chính xác

Mục tiêu của các nhà quản trị tài chính chúng ta là tối đa hóa lợi ích của cổ đông Vậy

chúng ta đánh giá tài sản của cổ đông như thế nào? Nó chính là giá trị cổ phiếu mà cổ

đông đang nắm giữ Để hiểu điều gì khiến giá cổ phiếu, cũng như các loại chứng khoán

khác như trái phiếu, thay đổi và cổ phiếu được đánh giá hay định giá như thế nào trên các thị trường tài chính,

cần phải hiểu về khái niệm Các thị trường hiệu quả (efficient markets)

Đánh giá một thị trường hiệu quả hay không cần phải xem xét tốc độ thông tin tác động tới giá chứng khoán Một thị trường hiệu quả được tính bằng số lượng lớn cá

Trang 23

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 21

Vấn đề đại diện:

Vấn đề phát sinh do

xung đột quyền lợi

giữa người điều

hành (đại diện của

cổ đông) và cổ

đông

nhân hoạt động độc lập vì thu nhập Ngoài ra, còn có những thông tin mới liên quan tới

chứng khoán xuất hiện trên thị trường dưới hình thức tự do Trên cơ sở này, nhà đầu tư

điều chỉnh theo thông tin mới ngay lập tức để bán hay mua chứng khoán cho tới khi họ

cảm thấy giá thị trường phản ánh chính xác thông tin mới Theo lý thuyết thị trường

hiệu quả, tốc độ thông tin được phản ánh trong giá chứng khoán nhanh như vậy nên sẽ

không có cơ hội cho nhà đầu tư có thu nhập từ những thông tin công khai Cạnh tranh vì thu nhập của các nhà đầu tư là sự đảm bảo giá chứng khoán phản ánh đúng thu nhập dự

kiến và rủi ro liên quan và đúng giá trị thực của doanh nghiệp

Vậy ý nghĩa của các thị trường hiệu quả với chúng ta là gì? Đầu tiên, giá cả là chính xác Giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin công khai liên quan tới giá trị của

công ty Có nghĩa chúng ta có thể thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông qua việc chú trọng vào tác động tới giá chứng khoán của mỗi quyết định nếu những điều

khác không thay đổi Đó là, những quyết định đúng trong suốt thời gian dài sẽ khiến giá

cổ phiếu cao hơn và những quyết định kém hiệu quả sẽ khiến giá xuống thấp Thứ hai, những thay đổi lợi nhuận do thay đổi phương pháp kế toán sẽ không làm giá cổ phiếu

thay đổi Phân chia cổ phiếu và những thay đổi khác trong phương pháp kế toán không ảnh hưởng tới dòng tiền thì cũng không được phản ánh trong giá cả Giá cả thị trường

phản ánh dòng tiền dự kiến luân chuyển sang cổ đông, bởi vậy, sự quan tâm của chúng

ta tới dòng tiền để đánh giá thời gian của lợi nhuận là hoàn toàn đúng đắn

Như chúng ta sẽ thấy, chắc chắn giá cả phản ánh đúng giá trị Nó cho phép chúng ta xem xét giá cả và giá trị mà nó phản ánh Trong khi nó có thể khiến đầu tư bớt sôi động

một chút thì nó cũng khiến tài chính của công ty chắc chắn hơn nhiều

Tiền đề 7:

Vấn đề thuê mướn - người điều hành không làm việc cho chủ sở hữu trừ khi họ có quyền lợi trong đó

Mặc dù mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi ích của cổ đông, nhưng trên thực tế

problem) xuất hiện do có sự tách biệt giữa quản lý và quyền sở hữu công ty Ví dụ, một

công ty lớn có thể do các nhà quản lý chuyên nghiệp điều hành, những người này có ít hoặc không có quyền sở hữu trong công ty Bởi có sự tách biệt giữa người ra quyết định

và chủ sở hữu, nên người điều hành có thể ra quyết định không phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông

Họ có thể làm việc không mấy nhiệt tình và tự kiếm tiền cho bản thân thông qua tiền lương và các khoản thù lao như chi phí của cổ đông

Đại diện là người được uỷ quyền thay mặt người khác làm một việc gì đó, được gọi là người chủ Trong hình thái công

ty, cổ đông là người chủ bởi họ là chủ sở hữu thực tế của công ty Hội đồng Quản trị, Giám đốc điều hành, các nhà quản lý và những người khác

có quyền ra quyết định đều là người đại diện của cổ đông Đáng buồn là Hội đồng Quản

trị, Giám đốc điều hành và các nhà quản lý khác không phải lúc nào cũng hành động vì quyền lợi tốt nhất của cổ đông Thay vào đó, nhiều khi họ hành động vì quyền lợi của cá

nhân họ Họ không chỉ có thể thu nhập cho bản thân từ lương và các khoản thù lao, mà

Trang 24

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 22

họ còn có thể bỏ qua tất cả những dự án nào có rủi ro liên quan tới họ - kể cả những dự

án lớn có khả năng thu nhập cao và cơ hội thất bại thấp Tại sao lại như vậy? Bởi nếu dự

án không thành công, những đại diện của cổ đông có thể bị mất việc Rất khó đánh giá các chi phí liên quan tới Vấn đề thuê mướn, nhưng thi thoảng chúng ta có thể thấy ngay tác động của vấn đề trên thị trường Ví dụ, nếu thị trường cảm thấy ban lãnh đạo của

một công ty đang phá hoại lợi ích của cổ đông, chúng ta có thể nhận thấy một phản ứng

tích cực trong giá cổ phiếu nhằm loại bỏ ban lãnh đạo này Năm 1989, ngày John Dorrance, Jr., chủ tịch của công ty Campbell Soup chết, giá cổ phiếu của Campbell tăng

15% Một số nhà đầu tư cảm thấy tốc độ tăng trưởng thấp của Campbell có thể sẽ tăng

mạnh sau khi ngài chủ tịch ra đi Ngoài ra cũng có tin đồn rằng Dorrance là lực cản

chính đối với chương trình tái tổ chức tích cực của Campbell

Nếu ban lãnh đạo của công ty làm việc cho chủ sở hữu là những cổ động, thì tại sao họ

không bị kỷ luật nếu không hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông? Về lý thuyết, cổ

đông chọn ra hội đồng quản trị của công ty và tới lượt hội đồng quản trị lại chọn ra những người điều hành Không may là, trên thực tế hệ thống này lại hoạt động theo một

cách khác Những người điều hành lựa chọn các ứng cử viên của hội đồng quản trị và sau đó phát phiếu Bởi vậy, cổ đông chỉ được bầu những ứng cử viên mà ban lãnh đạo

công ty đã đề cử Kết quả là ban lãnh đạo đã chọn ra những uỷ viên hội đồng quản trị là những người trung thành với họ hơn là với cổ đông Cách làm này có nguy cơ gây ra những vấn đề về đại diện khi hội đồng quản trị không thay mặt cổ đông giám sát những

người điều hành làm việc theo đúng phận sự của họ

Chúng ta sẽ dành thời gian đáng kể để giám sát ban lãnh đạo và cố điều chỉnh quyền lợi

của họ phù hợp với cổ đông Ban điều hành có thể bị giám sát thông qua những báo cáo kiểm toán tài chính và những gói đền bù của người điều hành Lợi ích của ban điều

hành và cổ đông có thể được điều chỉnh phù hợp với nhau thông qua việc xác lập quyền

lựa chọn mua cổ phiếu cho những người điều hành, phần thưởng và thù lao sẽ trực tiếp

khiến các quyết định của họ sâu sát hơn với quyền lợi của cổ đông Vấn đề thuê mướn

còn tồn tại cho tới khi một cơ cấu khuyến khích được thành lập để điều chỉnh lợi ích của

những người điều hành và lợi ích của cổ đông Nói một cách khác, điều gì tốt cho cổ

đông cũng phải tốt cho các nhà quản lý Nếu không, nhà điều hành sẽ đưa ra quyết định

có lợi nhất cho họ chứ không vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông

Tiền đề 8:

Thuế ảnh hưởng tới quyết định kinh doanh

Ở phần đầu của chương này chúng ta đã thấy thuế ảnh hưởng tới các quyết định tài chính như thế nào Hiếm có quyết định nào của giám đốc tài chính đưa ra lại không xem xét tới tác động của các loại thuế Khi chúng ta nghiên cứu tiền đề 4, chúng ta biết rằng

chỉ có những dòng tiền gia tăng mới được xem xét trong quá trình đánh giá Cụ thể hơn,

dòng tiền chúng ta sẽ xem xét sẽ là dòng tiền gia tăng sau thuế với toàn bộ công ty

Khi đánh giá những dự án mới, chúng ta sẽ thấy thuế thu nhập có một vai trò quan trọng Khi công ty phân tích khả năng mua một nhà máy hay một thiết bị nào đó, những

khoản thu nhập từ đầu tư sẽ được tính toán trên cơ sở sau thuế Nếu không, công ty sẽ

không đánh giá đúng dòng tiền gia tăng phát sinh từ dự án

Trang 25

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 23

Chính phủ cũng công nhận thuế có thể ảnh hưởng tới các quyết định kinh doanh và sử

dụng thuế để khuyến khích chi tiêu trong một số lĩnh vực Giả sư nếu muốn khuyến

khích chi tiêu cho các dự án nghiên cứu và phát triển, chính phủ sẽ giảm thuế cho các

dự án này, như vậy sẽ làm tăng dòng tiền sau thuế của các dự án Dòng tiền tăng lên có thể biến một số dự án nghiên cứu và phát triển đang từ thua lỗ trở thành dự án sinh lợi

Thực tế, Chính phủ có thể sử dụng thuế như một công cụ để điều chỉnh đầu tư kinh doanh vào các dự án nghiên cứu và phát triển, tôn tạo các khu phố cổ hay các dự án tạo

công ăn việc làm cho người lao động

Tiền đề 9:

Không có rủi ro nào giống rủi ro nào - một số rủi ro có thể bị loại trừ bằng đa dạng

hoá và một số thì không thể

Đa phần trọng tâm tài chính xoay quanh Tiền đề 1: Đổi rủi ro lấy thu nhập Nhưng trước

khi chúng ta có thể sử dụng triệt để tiền đề 1, chúng ta phải xác định đánh giá rủi ro như

thế nào Như các bạn sẽ thấy, rất khó đánh giá rủi ro Tiền đề 9 trình bày cho chúng ta quá trình đa dạng hoá rủi ro và chứng minh nó có thể giảm rủi ro như thế nào Chúng tôi cũng sẽ cung cấp cho các bạn một cái nhìn về đa dạng hoá gây khó khăn như thế nào tới

việc đánh giá rủi ro của một dự án hay của một tài sản

Có thể bạn đã quen với khái niệm đa dạng hoá Có một câu thành ngữ cổ rằng “đừng đặt

tất cả trứng vào cùng một giỏ” Đa dạng hoá cho phép những sự việc hay những quan sát tốt, xấu có thể loại trừ lẫn nhau, từ đó làm giảm độ biến thiên tổng thể mà không ảnh

hưởng tới thu nhập dự kiến

Để xem sự đa dạng hoá khiến đánh giá rủi ro phức tạp như thế nào, hãy nghiên cứu

những khó khăn mà công ty Louisiana Gas vấp phải khi xác định tỷ lệ rủi ro liên quan tới dự án khoan một giếng gas mới Mỗi năm, Louisiana Gas có thể khoan hàng trăm

giếng, cơ hội thành công của mỗi giếng chỉ là 1/10 Nếu giếng khoan có khí, thu nhập sẽ

rất lớn và nếu không có khí, khoản đầu tư sẽ bị mất trắng Bởi vậy, với 90% khả năng

mất tất cả, chúng ta có thể coi đây là dự án cực kỳ rủi ro Tuy nhiên, nếu mỗi năm

Louisiana Gas khoan khoảng 2.000 giếng, với 10% thành công thì họ cũng có được 200 giếng khí thành công Ngoài ra, năm tệ thì có 190 giếng mới, năm tốt thì có được 210 giếng mới Nếu chúng ta liên kết tất cả những giếng này với nhau, và những kết quả cực

xấu và cực tốt có khuynh hướng loại trừ lẫn nhau, thì tổng thể các dự án rõ ràng không

có nhiều rủi ro hay độ biến thiên của thu nhập dự kiến cũng thấp

Mức độ rủi ro trong một dự án khoan giếng khí phụ thuộc vào quan điểm riêng của

chúng ta Nếu chỉ xem xét từng giếng riêng biệt thì rủi ro là rất cao; tuy nhiên, nếu xem xét trong tổng các giếng thì rủi ro lại thấp, bởi mức rủi ro cao của mỗi giếng đã bị giảm

bớt trong tổng thể các dự án của công ty Điểm trọng tâm là: Chúng ta không thể xem xét dự án một cách riêng biệt Sau này, chúng ta sẽ thấy rằng một số rủi ro này có thể bị

loại trừ hơn nữa trong quỹ đầu tư của cổ đông

Có lẽ cách dễ nhất để hiểu khái niệm đa dạng hoá là nhìn vào đồ thị của nó Hãy xem điều gì xảy ra khi chúng ta kết hợp hai dự án, như minh hoạ ở hình 1.2 Trong trường

hợp này, dòng tiền từ các dự án này di chuyển theo các hướng ngược nhau, và khi

Trang 26

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 24

chúng gặp nhau, độ biến thiên trong sự kết hợp của chúng bị loại trừ hoàn toàn Lưu ý rằng thu nhập không thay đổi - thu nhập trung bình của từng dự án và của cả hai dự án đều là 10% Trong trường hợp này, những quan sát cực tốt và cực xấu loại trừ lẫn nhau Mức độ rủi ro tổng thể bị giảm như một hàm số khi hai dòng tiền hay thu nhập gặp

nhau

Như chúng ta sẽ thấy đối với hầu hết các dự án và tài sản, một số rủi ro có thể bị loại trừ

thông qua đa dạng hoá, nhưng cũng có một số không thể loại trừ Quan điểm này sẽ trở

thành điểm khác biệt quan trọng trong các nghiên cứu sau này của chúng ta Còn giờ,

chúng ta phải thừa nhận rằng quá trình đa dạng hoá có thể giảm rủi ro và việc đánh giá rủi ro của một tài sản hay một dự án là rất khó Mức rủi ro của một dự án thay đổi dựa

vào việc liệu bạn đánh giá dự án đó riêng biệt hay kết hợp với những dự án khác mà công ty có thể thực hiện

Tiền đề 10:

Hành vi đạo đức đó là làm điều tốt, và những rắc rối đạo đức luôn xuất hiện trong tài

chính

Đạo đức, hay đúng hơn là thiếu đạo đức, trong tài chính là một chủ đề luôn được giới

báo chí đề cập Cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, sự sụp đổ của các công ty Ivan Boesky và Drexel, Burnham, Lambert và sự suýt phá sản của Salomon Brothers dường như là những đề tài bất tận Cùng lúc, bộ phim Phố Wall cũng rất ăn khách và cuốn sách Ván bài của kẻ lừa đảo (Liar’s Poker) của tác giả Michael Lewis viết về hành

vi phi đạo đức thường xuyên diễn ra trên các thị trường trái phiếu, cũng trở thành cuốn

sách bán chạy nhất Bài học từ Salomon Brothers và Drexel, Burnham, Lambert cho thấy những sai lầm đạo đức sẽ không được dung thứ trong thế giới kinh doanh Không chỉ vì hành động đúng đạo đức là điều tốt mà nó còn đồng nghĩa với việc thực hiện mục

tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông của chúng ta

Hành vi đạo đức có nghĩa là “làm những điều tốt” Tuy nhiên cũng khó định nghĩa được

thế nào là “làm những điều tốt” Vấn đề là mỗi chúng ta đều có quan điểm giá trị riêng làm nền tảng cho những đánh giá của cá nhân chúng ta về điều gì tốt nên làm Tuy nhiên, mỗi xã hội đều ban hành những nguyên tắc hay quy định pháp luật mô tả điều gì

mà xã hội cho là “tốt nên làm” Về một ý nghĩa nào đó, chúng ta có thể cho rằng pháp luật là một loạt các nguyên tắc phản ánh giá trị của toàn xã hội Vì mục tiêu của bài này,

chúng ta thừa nhận rằng mỗi cá nhân dều có quyền không tán thành cái tạo nên “làm điều tốt”, và chúng ta hiếm khi mạo hiểm vượt ra ngoài khái niệm cơ bản về hành vi đạo

đức liên quan tới việc tuân thủ các nguyên tắc xã hội Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ ra một

số rắc rối đạo đức xuất hiện trong thực tiễn quản trị tài chính những năm gần đây Bởi

vậy, khi chúng ta bắt tay nghiên cứu tài chính và vấp phải những rắc rối đạo đức, chúng tôi khuyến khích các bạn xem xét các vấn đề và có chính kiến riêng của mình

Nhiều sinh viên hỏi: “Vấn đề đạo đức có thực sự liên quan tới tài chính không?” Đây là một câu hỏi hay và đáng được trả lời Thứ nhất, mặc dù những sai lầm trong kinh doanh

có thể được tha thứ, nhưng những sai lầm về đạo đức có thể chấm dứt sự nghiệp và kết

liễu những cơ hội kinh doanh trong tương lai Tại sao? Bởi những hành vi phi đạo đức

làm mất lòng tin của người khác và mất lòng tin thì không thể cộng tác kinh doanh với

nhau được Thứ hai, trong kinh doanh, điều nguy hiểm nhất là đánh mất lòng tin của

Trang 27

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 25

công chúng vào tiêu chuẩn đạo đức của mình Trong tài chính, chúng ta đã thấy một số

vụ việc điển hình xảy ra trong thời gian gần đây Đó là những vụ bê bối đạo đức trong nội bộ các công ty Drexel, Burnham và Lambert khiến các công ty này sụp đổ Năm

1991, vụ bê bối đạo đức liên quan tới âm mưu của công ty Salomon Brother nhằm lũng

đoạn thị trường hối phiếu Kho Bạc khiến ban lãnh đạo công ty bị đuổi việc và công ty suýt bị phá sản

Ngoài vấn đề về đạo đức còn có vấn đề về trách nhiệm xã hội Nói chung, trách nhiệm

xã hội của công ty có nghĩa là ngoài mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông, một công

ty còn phải có trách nhiệm với xã hội Nó nhấn mạnh rằng một công ty còn phải chịu

trách nhiệm với nhiều công dân khác của xã hội chứ không phải chỉ riêng với cổ đông

của mình Không có câu trả lời dứt khoát cho những tranh cãi tập trung vào các vấn đề

đạo đức Một trong những ý kiến đó là bởi giám đốc tài chính là nhân viên của công ty,

và công ty thuộc sở hữu của cổ đông, nên giám đốc tài chính phải điều hành công ty nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của cổ đông và sau đó để cổ đông quyết định có thực

hiện trách nhiệm xã hội hay không qua việc chuyển một phần thu nhập thực hiện các mục tiêu có ích cho xã hội Rất ít công ty hành động theo cách này Ví dụ, năm 1992, công ty Briston-Myers Squibb tuyên bố tiến hành một chương trình đầy tham vọng là phát thuốc trị bệnh tim miễn phí cho người nghèo Tuyên bố này được đưa ra sau khi Hiệp hội bệnh tim báo cáo rằng, người lao động nghèo ở nhiều quốc gia đang phải đối

mặt với những nguy cơ nghiêm trọng về sức khoẻ bởi họ không có đủ tiền mua thuốc

chữa bệnh tim Rõ ràng Briston-Myers Squibb cảm thấy mình phải có trách nhiệm xã hội cung cấp loại thuốc này miễn phí cho người nghèo

Bạn nghĩ gì về quyết định này?

Lưu ý cuối cùng về những tiền đề

Hy vọng rằng những tiền đề này sẽ cho chúng ta thấy logic đằng sau việc ra quyết định

Chúng ta sẽ dựa trên các tiền đề này và cố gắng rút ra ý nghĩa của chúng trong việc ra quyết định Khi tiếp tục bài giảng, chúng ta luôn nhớ rằng mặc dù các chủ đề có thể thay

đổi theo từng chương nhưng động cơ logic của chúng ta không thay đổi và bắt nguồn từ

những tiền đề này

Tổng quan về bài giảng

Trong bài này, chúng ta sẽ chú trọng vào việc duy trì và tạo ra tài sản Mặc dù điều này

sẽ hướng sự chú ý tới các kỹ thuật ra quyết định, chúng ta sẽ nhấn mạnh logic đằng sau các kỹ thuật này để đảm bảo rằng các bạn hiểu rõ những khái niệm thúc đẩy tài chính và

sự tạo ra tài sản Bài học bắt đầu bằng việc thảo luận mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ

đông, một mục tiêu được sử dụng trong việc ra quyết định tài chính, và trình bày môi trường thuế và môi trường pháp luật chi phối các quyết định Bởi môi trường này đặt ra các nguyên tắc cơ sở, nên cần thiết phải hiểu nó trước khi các nguyên tắc quyết định

được hình thành Mười tiền đề chi phối đặt nền tảng cho những điều tiếp theo cũng

được giới thiệu

Trang 28

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 26

Mười tiền đề cơ sở của quản trị tài chính

Không may là các sinh viên rất dễ không nhận ra logic thúc đẩy tài chính mà lại chuyển

sang ghi nhớ những công thức và các thủ tục Do vậy sinh viên rất khó hiểu mối tương

quan giữa các chủ đề của bài giảng Hơn nữa, sau này khi vấp phải vấn đề trong cuộc

sống không giống như trong bài giảng, sinh viên có thể không ứng dụng được những gì

đã học Các nguyên tắc cơ bản thúc đẩy thực tế tài chính công ty được trình bày

dưới hình thức 10 tiền đề Những tiền đề này lần đầu tiên được đề cập tới trong Chương 1 và sau đó xuất hiện trong những phần đựoc đóng khung gọi là “liên quan tới bức tranh lớn” Những phần bổ sung thêm này nhằm nhắc lại cho sinh viên

những nguyên tắc cơ bản đằng sau những gì đã hoàn tất Bởi vậy, chúng có vai trò giữ

cho sinh viên không bị bao trùm trong những tính toán cụ thể và đánh mất các mối

tương quan và kế hoạch tổng thể

Trang 29

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 27

Sử dụng những tiền đề này, chúng ta chứng minh rằng việc ra quyết định tài chính gắn

chặt với lý thuyết tài chính hiện tại và hiện trạng các điều kiện kinh tế thế giới Mục tiêu của chúng ta là cung cấp cho sinh viên những lý thuyết và những hiểu biết liên quan tới

việc ra quyết định tài chính

Trang 30

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 28

Phụ lục

Thực tiễn quản trị tài chính cơ sở

Tuần báo kinh doanh quốc gia

đông vui hơn và bảo vệ công việc của đồng nghiệp”, ông ta nói

Bạn sẽ làm gì?

Rắc rối 2:

Bạn bè của bạn ghen tị với công việc trợ lý mua sắm cho một dây chuyền bán lẻ lớn của

bạn Mức lương không hẳn đã khiến bạn hài lòng và công ty cho phép nhân viên được

giảm giá khá lớn khi mua hàng Đột nhiên bạn bè và người thân đổ xô tới nài nỉ bạn sử

dụng quyền được giảm giá để mua hàng giúp họ Tuy nhiên, chính sách của công ty tuyên bố, chỉ nhân viên mới được giảm giá Bạn nghĩ: “Mọi người trong công ty đều

làm thế Ngoài ra cũng chẳng chết ai?” Nhưng bạn sẽ làm gì?

Theo một nghiên cứu mới đây của Trung tâm nguồn đạo đức, một tổ chức phi Chính phủ tại Washington D.C, nhiều sinh viên mới tốt nghiệp vấp phải vấn đề đạo đức khi đi

làm Trong số 4.000 người được hỏi, 30% thừa nhận rằng cảm thấy bị áp lực khi tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức của công ty bởi những vấn đề như thời hạn, các mục tiêu quá

lớn, lo lắng về sự tồn tại của công ty và những yếu tố khác

Ngoài ra, khoảng 30% cho rằng họ có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hay tiêu chuẩn của công ty trong năm qua Loại hành vi sai phạm thường hay phạm phải bao gồm nói dối cấp trên, lập báo cáo man trá, ăn cắp và quấy rối tình dục Tuy nhiên, chưa

tới một nửa số người được hỏi nói rằng họ đã cố gắng thông báo những quan sát của họ

với những nhân viên khác trong công ty Tính bảo mật kém của quy trình báo cáo và nỗi

lo sợ bị trả thù là lý do chính khiến nhiều người không dám báo cáo

Vấn đề đạo đức đặc biệt khó khăn đối với những sinh viên mới tốt nghiệp Những nhân viên trẻ tuổi thường cảm thấy bất an khi mạo hiểm nghi ngờ thực tiễn công việc hay báo cáo sự lo lắng của họ Bởi vậy, dường như họ sẽ tuân thủ sự chỉ đạo của cấp trên mà

A

B

Trang 31

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 29

không quan tâm tới ý nghĩa đạo đức của nó Thiếu kinh nghiệm cũng có thể khiến

những nhân viên mới nhạy cảm với sự giải thích duy lý như “đó là cách làm việc trên thực tế”, hay “Mọi người đều làm như vậy mà”

Nguồn: Trích từ “Right or Wrong” của tác giả Lori A.Tansey Số chuyên đề đại học của

tuần báo kinh doanh quốc gia (số xuân/hè 1994, quản lý nghề nghiệp của bạn)

B Theo Lori Tansey, giám đốc bộ phận tư vấn và là tư vấn của Trung tâm nguồn

đạo đức, để xác định hành vi hay quyết định của mình có liên quan tới vấn đề

đạo đức hay không, bạn có thể tự hỏi mình những câu hỏi sau:

1 Hành vi của mình có công bằng không? nếu mình bị ảnh hưởng bởi quyết định

này liệu bạn có cảm thấy thoải mái không?

2 Bạn có thể cảm thấy thoải mái khi báo chí đưa tin về hành vi của bạn không?

3 Hành vi đó có hợp pháp không?

Sau đó bà nói rằng nếu bạn chưa chắc chắn về câu trả lời của mình với những câu hỏi

này, bạn nên trò chuyện với cấp trên hay với người quản lý của cấp trên, nếu cấp trên của bạn có liên quan

-**** -

Các giám đốc tài chính sử dụng tài liệu này như thế nào?

Như tiêu đề của chương đã nói rõ, chương này giới thiệu với bạn về quản trị tài chính Những tiền đề giới thiệu trong chương này cung cấp cho bạn một số manh mối như

những vấn đề một giám đốc tài chính cần xử lý Như bạn sẽ thấy trong toàn khoá học,

có rất nhiều vấn đề tài chính Cuối năm 1997, những tiêu đề trên tạp chí Phố Wall tràn đầy những quyết định tài chính trong đó có quyết định của WorldCom cấp 37 tỷ USD cho MCI, quyết định của Apple Computer trực tiếp bán máy tính chế tạo theo đơn đặt

hàng của khách hàng, và Friendly Ice Cream bán cổ phiếu ra công chúng lần đầu tiên với giá 18$/cổ phiếu Nhưng những câu hỏi và các quyết định tài chính cũng xuất hiện

trên những tiêu đề của chuyên mục thể thao khi Florida Marlins, đội vô địch World Series, quyết định chuyển nhượng những cầu thủ giá cao, bán và trao đổi một số cầu thủ

bóng rổ hay nhất, và khi Big Ten và Pac 12 phân vân khi quyết định giữa gửi những đội

Trang 32

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 30

Điều gì khiến tất cả các quyết định tài chính này có điểm chung? Tất cả đều dựa trên các nguyên tắc đặt ra trong 10 tiền đề đã giới thiệu trong chương này, và đều có quan hệ với việc ra quyết định.Tất cả đều là các quyết định tài chính bởi trọng tâm của tài chính

là làm thế nào để huy động vốn hoặc đầu tư hay tiêu tiền Mục tiêu của chúng ta với tư cách là một nhà quản lý tài chính là quản lý công ty sao cho tài sản của cổ đông được tối

đa hoá Như bạn sẽ thấy, chỉ có một số ít quyết định lớn mà một nhà quản lý đưa ra không mang những ý nghĩa tài chính

Tóm tắt

Chương này vạch ra một cơ cấu để duy trì và tạo ra tài sản Trong phần giới thiệu những

kỹ thuật ra quyết định nhằm tạo ra tài sản, chúng ta sẽ chú trọng vào logic đằng sau những kỹ thuật này Chương này bắt đầu với việc nghiên cứu mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được chấp nhận phổ biến là trái ngược với mục tiêu đầy đủ hơn là tối đa hóa lợi ích của cổ đông Bởi nó xử lý tốt sự không chắc chắn

và thời gian trong môi trường thực tế, nên mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông được coi là mục tiêu đúng đắn của doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân một chủ là hoạt động kinh doanh thuộc sở hữu và quản lý của một cá nhân duy nhất Thủ tục thành lập doanh nghiệp này rất đơn giản và thường không tốn chi phí nào lớn cho vấn đề tổ chức Chủ sở hữu kiểm soát hoàn toàn doanh nghiệp nhưng cũng phải sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm đối với hậu quả của nó

Hợp danh vô hạn, chỉ đơn giản là sự kết hợp của từ hai cá nhân trở lên, tương đương như doanh nghiệp tư nhân một chủ Hợp danh hữu hạn là một hình thái khác của hợp danh được các bang ban hành cho phép tất cả thành viên trong hợp danh, trừ một người,

có trách nhiệm pháp lý hữu hạn nếu các bên chấp thuận

Công ty cổ phần huy động dòng vốn từ các nhà đầu tư trong công chúng cho cộng đồng kinh doanh Mặc dù các chi phí và quy định về tổ chức lớn hơn được áp dụng với pháp nhân này, thì công ty cổ phần vẫn có lợi thế hơn trong việc huy động số lượng vốn lớn

Trách nhiệm hữu hạn, hoạt đông liên tục và dễ chuyển giao quyền sở hữu đã làm tăng khả năng tiêu thụ của đầu tư, góp phần lớn trong việc thu hút số lượng lớn các nhà đầu

tư tham gia môi trường công ty Sự kiểm soát chính thức công ty được trao cho những người nắm giữ số lượng cổ phiếu lớn nhất Tuy nhiên, hoạt động hàng ngày lại do những người điều hành công ty quản lý, những người theo lý thuyết là người thay mặt các cổ đông phổ thông

Trong phần giới thiệu các loại thuế, chúng ta chú trọng các loại thuế ảnh hưởng tới các quyết định kinh doanh của chúng ta Có ba thực thể chịu thuế tồn tại là các nhân; kể cả hợp danh, công ty cổ phần; và hoạt động uỷ thác Chỉ có những thông tin về môi trường thuế công ty cổ phần được đưa ra thảo luận ở đây

Trang 33

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 31

Nói chung, thu nhập chịu thuế của công ty tương đương với thu nhập hoạt động của nó cộng với lãi vốn trừ đi những chi phí lãi vay Công ty cổ phần được khấu trừ 70% thu nhập là cổ tức nhận được từ các công ty khác Cũng vậy, nếu Cục Thuế thu nhập của

Mỹ cho rằng công ty giữ lại một phần lợi nhuận trong kinh doanh một cách không hợp

lý, thì họ sẽ áp dụng một mức thuế về thu nhập tích luỹ

Để giảm thiểu những ảnh hưởng từ thuế trong việc lựa chọn hình thái pháp lý trong kinh doanh, một công ty cổ phần có thể lựa chọn trở thành một công ty Phụ trương S và được

áp thuế như một hợp danh nhưng phải đáp ứng được một số điều kiện

Chương này kết thúc với việc xem xét 10 tiền đề để xây dựng tài chính và thúc đẩy các

kỹ thuật và công cụ giới thiệu trong bài này:

Tiền đề 1: Đổi rủi ro lấy thu nhập – Chúng ta không chấp nhận thêm rủi ro trừ khi được

đền bù thu nhập cao hơn

Tiền đề 2: Giá trị thời gian của tiền tệ - Một đồng hôm nay giá trị hơn nhiều một đồng

trong tương lai

Tiền đề 3: Quan trọng là dòng tiền, chứ không phải là lợi nhuận

Tiền đề 4: Các dòng tiền gia tăng – chỉ theo dõi những thay đổi

Tiền đề 5: Những trở ngại của thị trường cạnh tranh - tại sao khó tìm những dự án siêu lợi nhuận

Tiền đề 6: Các thị trường vốn hiệu quả -Thị trường chuyển động nhanh và giá cả phản

ánh chính xác

Tiền đề 7: Vấn đề thuê mướn - người điều hành không làm việc cho chủ sở hữu trừ khi

họ có quyền lợi trong đó

Tiền đề 8: Thuế ảnh hưởng tới quyết định kinh doanh

Tiền đề 9: Không có rủi ro nào giống rủi ro nào - một số rủi ro có thể bị loại trừ bằng

đa dạng hoá và một số thì không thể

Tiền đề 10: Hành vi đạo đức đó là làm điều tốt, và những rắc rối đạo đức luôn xuất

hiện trong tài chính

Trang 34

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 32

Những thuật ngữ chính:

chủ, 4

Khấu hao, 10

-*********** -

Các câu hỏi học tập

công ty là gì? Mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông xử lý những vấn đề này như thế nào?

của cổ đông ?

IBM và Mobil Oil thường tài trợ cho các đài truyền hình địa phương Những dự

án này có trái ngược với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của cổ đông không? Tại sao

có và tại sao không?

phải mọi nhà quản lý tài chính đều có quan điểm như nhau về trao đổi rủi ro và thu nhập?

phần

điều kiện và chi phí tổ chức, (b) trách nhiệm của chủ sở hữu, (c) sự liên tục trong

kinh doanh, (d) khả năng chuyển giao quyền sở hữu, (e) kiểm soát và quy định

về quản lý, (f) khả năng huy động vốn, và (g) các loại thuế thu nhập

Trang 35

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 33

thế nào?

1-10 Mục tiêu của khấu trừ các khoản lỗ hoạt động ròng là gì?

1-11 Nhân tố căn bản của thuế thu nhập lũy kế là gì?

1-12 Mục tiêu của công ty Phụ trương S là gì? Nói chung, loại hình công ty nào sẽ

được coi là công ty Phụ trương S

-***** -

Bài tập

ST-1 (Thuế thu nhập công ty) Công ty Dana Flatt có doanh thu 2 triệu $ trong năm qua

Chi phí bán hàng của nó là 1,2 triệu $, và chi phí hoạt động của nó là 400.000$ Chi phí lãi vay của các khoản nợ chưa thanh toán là 100.000$, và công ty đã thanh toán 40.000$

là cổ tức của cổ phiếu ưu đãi Công ty thu 10.000$ cổ tức ưu đãi và thu nhập lãi suất là 12.000$ Công ty bán cổ phiếu đã mua 2 năm nay với giá 40.000$; với vốn mua ban đầu

là 30.000$ Hãy tính doanh thu chịu thuế của công ty và khoản thuế phải nộp của nó

-***** -

Nghiên cứu các bài tập (Phần A)

1-1A (Thuế thu nhập công ty) Công ty William B.Waugh là một nhà đại lý cấp vùng

của Toyota Công ty kinh doanh các loại xe tải mới và đã qua sử dụng và có tham gia kinh doanh phụ tùng Trong năm ngoái, doanh thu của công ty đạt 3 triệu $ Tổng chi phí bán hàng và chi phí hoạt động là 2,1 triệu $ Ngoài ra công ty cũng thanh toán 400.000$ lãi suất Công ty nhận được 6.000$ tiền cổ tức của 1.000 cổ phiếu phổ thông

đã mua từ ba năm trước Tuy nhiên, cuối năm công ty bán số cổ phiếu với giá 100$/cổ

phiếu trong khi giá gốc chỉ là 80$/cổ phiếu Công ty cũng bán đất mới mua được bốn

tháng với giá 50.000$, trong khi giá vốn là 45.000$ Hãy tính khoản thuế phải nộp của

công ty

1-2A (Thuế thu nhập công ty) Doanh thu của công ty L.B Menielle Inc., trong năm qua

lên tới 5 triệu$ Công ty chuyên cung cấp phụ tùng và dịch vụ sửa chữa cho các công ty dịch vụ trong lĩnh vực dầu khí Lợi nhuận ròng trong năm là 3 triệu $ Tổng chi phí hoạt

động là 1 triệu $ Thu nhập từ lãi suất và cổ tức chứng khoán là 20.000$ và 25.000$ Chi phí lãi vay của công ty là 100.000$ Công ty bán chứng khoán hai lần trong năm

Trang 36

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 34

được lãi 40.000$ lần đầu nhưng lỗ 50.000$ lần hai Hãy tính khoản thuế phải nộp của

công ty

1-3A (Thuế thu nhập công ty) công ty Sandersen Inc kinh doanh máy tính mini Trong

năm qua, doanh thu của công ty đạt 3 triệu $ Chi phí bán hàng của nó là 2 triệu $, và chi phí hoạt động tiền mặt là 400.000$; chi phí khấu hao là 100.000$, và công ty đã trả

150.000 $ lãi suất ngân hàng Tuy nhiên, công ty thu được 50.000 $ tiền cổ tức nhưng

phải chi 25.000 $ dưới dạng cổ tức cho cổ đông phổ thông của mình Hãy tính mức thuế

phải nộp của công ty

1-4A (Thuế thu nhập công ty) A.Don Drennan, Inc., đạt doanh thu 6 triệu $ trong năm

ngoái Chi phí bán hàng của công ty là 70% doanh thu; chi phí hoạt động kể cả khấu hao

lên tới 800.000$ Công ty bán tài sản vốn (cổ phiếu) được 75.000 USD, khi mới mua 5 tháng trước với giá 80.000$ Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty

1-5A (Thuế thu nhập công ty) Công ty Robbins là đại lý bán buôn dầu lửa Trong năm

qua, doanh thu của công ty đạt 1 triệu $ Chi phí bán hàng của nó là 600.000$ Công ty

đã trả 200.000 $ lãi suất và chi phí hoạt động tiền mặt là 100.000$; Tuy nhiên, công ty thu được 40.000 cổ tức nhưng chỉ phải thanh toán 10.000 $ cổ tức cho cổ đông ưu đãi

của mình Chi phí khấu hao là 150.000$ Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty Dựa

trên câu trả lời của bạn, liệu ban lãnh đạo có cần áp dụng thêm hành động nào không?

1-6A (Thuế thu nhập công ty) Năm ngoái, công ty The Fair đạt doanh thu 3 triệu $ Chi

phí bán hàng là 4,3 triệu $ và chi phí hoạt động là 100.000$ Công ty nhận được 5.000$ tiền cổ tức Công ty cũng bán đất mới mua năm tháng trước với giá 150.000$, trong khi giá vốn là 100.000$ Công ty cũng nhận được 150$ mỗi cổ phiếu khi bán 1.000 cổ phiếu

cách đây ba năm chỉ mua với giá 100$/cổ phiếu Hãy tính khoản thuế phải nộp của công

ty

1-7A (Thuế thu nhập công ty) Năm ngoái, doanh thu của công ty J.P Helett Inc đạt 4

triệu $ Công ty chuyên cung cấp thông tin thống kê cho các công ty cơ khí Lãi ròng của công ty là 1 triệu $, và các chi phí hoạt động và khấu hao là 500.000$ và 350.000$ Thu nhập cổ tức trong năm là 12.000$ Hãy tính khoản thuế phải nộp của công ty

1-8A (Thuế thu nhập công ty) Anderson & Dennis Inc kinh doanh phần mềm máy tính

Trong năm qua, doanh thu của công ty đạt 5 triệu $ Chi phí bán hàng của nó là 3 triệu

$, và chi phí hoạt động tiền mặt là 175.000$; chi phí khấu hao là 125.000$, và công ty

đã trả 200.000 $ lãi suất ngân hàng Công ty cũng bán cổ phiếu được 40.000$ tiền lãi đối với số cổ phiếu mua đã sáu năm nay, nhưng lại lỗ 60.000$ với số cổ phiếu mới mua bốn tháng Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty

1-9A (Thuế thu nhập công ty) Công ty G.R.Edwin Inc., có doanh thu đạt 6 triệu $ trong

năm qua Chi phí bán hàng của nó là 3 triệu $ Chi phí hoạt động là 2,6 triệu $; chi phí lãi vay là 30.000$ Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty

1-10A (Thuế thu nhập công ty) Công ty Anatoly là một nhà kinh doanh và phân phối

thiết bị điện Trong năm qua, doanh thu của công ty đạt 4,5 triệu $ Tổng chi phí bán hàng và chi phí hoạt động là 3,2 triệu $ Anatoly đã trả 150.000 $ lãi suất ngân hàng và

Trang 37

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 35

chi phí khấu hao là 50.000$ Ngoài ra, công ty cũng bán chứng khoán được 120.000$

mà bốn năm trước mua với giá 40.000$ Hãy tính mức thuế phải nộp của Anatoly

1-11A (Thuế thu nhập công ty) Utsumi là nhà bán buôn hoá chất công nghiệp Trong

năm qua, doanh thu của công ty đạt 6,5 triệu $ Tổng chi phí bán hàng và chi phí hoạt

động chiếm tới 70% doanh thu, và chi phí lãi vay và khấu hao là 75.000$ và 160.000$; Ngoài ra, công ty cũng bán 40.000 cổ phiếu của Sumitomo Industries với giá 10$/cổ

phiếu Một năm trước, công ty mua số cổ phiếu này chỉ với giá 8$/cổ phiếu Ngoài ra, Utsumi đã nhận được 60.000 $ tiền cổ tức Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty

-**** -

Bài tập kết hợp

Vòng cuối của cuộc phỏng vấn cho vị trí trợ lý phân tích tài chính tại công ty Caledonia Products liên quan tới bài kiểm tra sự hiểu biết của bạn về những khái niệm tài chính cơ

bản và luật thuế công ty Bạn được nhận bức thư sau và phải trả lời những câu hỏi trong

đó Việc bạn có được tuyển vào công ty Caledonia hay không sẽ phụ thuộc vào độ chính

xác của câu trả lời:

Gửi: Ứng cử viên cho vị trí Phân tích tài chính

Người gửi: Ông V.Morrison, Giám đốc điều hành Caledonia Products

Tiêu đề: Bài kiểm tra sự hiểu biết của bạn về những khái niệm tài chính cơ bản và luật

thuế công ty

Hãy trả lời những câu hỏi sau:

đông là gì? Mục tiêu nào theo bạn là thích hợp hơn?

2 Trao đổi rủi ro - thu nhập nghĩa là gì?

giá trị của một tài sản?

phần

Trang 38

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 36

hàng của nó là 2,4 triệu $ và chi phí hoạt động là 600.000$ Chi phí lãi vay của

các khoản nợ chưa thanh toán là 300.000$ và công ty đã thanh toán 60.000 $ cổ

tức cho cổ đông ưu đãi của mình, nhưng cũng nhận được 30.000 cổ tức của cổ

phiếu ưu đãi và thu nhập từ lãi suất là 22.000$ Công ty cũng bán cổ phiếu đã mua

hai năm nay với giá 100.000$ với giá vốn là 60.000$ Hãy tính mức doanh thu chịu thuế và mức thuế phải nộp của công ty

-***** -

Bài tập (Phần B)

1-1B (Thuế thu nhập công ty) Công ty M.M Rose Corporation là một nhà đại lý xe tải

cấp vùng Công ty kinh doanh các loại xe tải mới và đã qua sử dụng và có tham gia kinh doanh phụ tùng Trong năm ngoái, doanh thu của công ty đạt 4 triệu $ Tổng chi phí bán hàng và chi phí hoạt động là 3,2 triệu $ Ngoài ra công ty cũng thanh toán 300.000$ lãi suất Công ty nhận được 5.000$ tiền cổ tức của 1.000 cổ phiếu phổ thông đã mua từ ba năm trước Tuy nhiên, cuối năm công ty bán số cổ phiếu với giá 100$/cổ phiếu trong khi giá gốc chỉ là 80$/cổ phiếu Công ty cũng bán đất mới mua được bốn tháng với giá 55.000$, trong khi giá vốn là 45.000$ Hãy tính khoản thuế phải nộp của công ty

1-2B (Thuế thu nhập công ty) Doanh thu của công ty J.P Enterprises trong năm qua

lên tới 5 triệu$ Công ty cung cấp phụ tùng và dịch vụ sửa chữa cho các công ty dịch vụ

trong lĩnh vực dầu khí Lợi nhuận ròng trong năm là 2,5 triệu $ Tổng chi phí hoạt động

là 900.000 $ Thu nhập từ lãi suất và cổ tức chứng khoán là 15.000$ và 25.000$ Chi phí

lãi vay của công ty là 100.000$ Công ty bán chứng khoán hai lần trong năm được lãi 45.000$ lần đầu nhưng lỗ 60.000$ lần hai Hãy tính khoản thuế phải nộp của công ty

1-3B (Thuế thu nhập công ty) Carter B Daltan, Inc., kinh doanh máy tính mini Trong

năm qua, doanh thu của công ty đạt 3,5 triệu $ Chi phí bán hàng lên tới 2 triệu $, và chi phí hoạt động tiền mặt là 500.000$; chi phí khấu hao là 100.000$, và công ty đã trả

1650000 $ lãi suất ngân hàng Tuy nhiên, công ty thu được 55.000$ cổ tức nhưng phải

trả 25.000 $ dưới dạng cổ tức cho cổ đông phổ thông của mình Hãy tính mức thuế phải

nộp của công ty

1-4B (Thuế thu nhập công ty) Kate Menielle, Inc., đạt doanh thu 8 triệu $ trong năm

ngoái Chi phí bán hàng của công ty là 60% doanh thu; chi phí hoạt động kể cả khấu hao

lên tới 900.000$ Công ty bán tài sản vốn (cổ phiếu) được 75.000$, khi mới mua 5 tháng

trước với giá 80.000$ Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty

1-5B (Thuế thu nhập công ty) Công ty Burgess Corporation là đại lý bán buôn dầu lửa

Trong năm qua, doanh thu của công ty đạt 2,5 triệu $ Chi phí bán hàng của nó là 700.000$ Công ty đã trả 200.000 $ lãi suất và chi phí hoạt động tiền mặt là 150.000$; Tuy nhiên, công ty thu được 50.000$ cổ tức nhưng chỉ phải thanh toán 15.000 $ cổ tức

cho cổ đông ưu đãi của mình Chi phí khấu hao là 150.000$ Hãy tính mức thuế phải

nộp của công ty

Trang 39

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 37

1-6B (Thuế thu nhập công ty) Năm ngoái, công ty A.K.U đạt doanh thu 5,5 triệu $ Chi

phí bán hàng là 4,6 triệu $ và chi phí hoạt động là 125.000$ Công ty nhận được 5.000$ tiền cổ tức Công ty cũng bán đất mới mua năm tháng trước với giá 150.000$, trong khi giá vốn là 100.000$ Công ty cũng nhận được 140$ mỗi cổ phiếu khi bán 1.000 cổ phiếu

cách đây ba năm chỉ mua với giá 100$/cổ phiếu Hãy tính khoản thuế phải nộp của công

ty

1-7B (Thuế thu nhập công ty) Năm ngoái, doanh thu của công ty Phil Schubert Inc., đạt

5 triệu $ Công ty chuyên cung cấp thông tin thống kê cho các công ty cơ khí Lãi ròng của công ty là 1,2 triệu $, và các chi phí hoạt động và khấu hao là 500.000$ và 400.000$ Thu nhập cổ tức trong năm là 15.000$ Hãy tính khoản thuế phải nộp của

công ty

1-8B (Thuế thu nhập công ty) William & Crisp, Inc., kinh doanh phần mềm máy tính

Trong năm qua, doanh thu của công ty đạt 4,5 triệu $ Chi phí bán hàng của nó là 2,2 triệu $, và chi phí hoạt động tiền mặt là 175.000$; chi phí khấu hao là 130.000$, và công ty đã trả 150.000 $ lãi suất ngân hàng Trong năm, công ty cũng bán cổ phiếu được

50.000$ tiền lãi với số cổ phiếu mua đã sáu năm nay, nhưng lại lỗ 70.000$ với số cổ

phiếu mới mua được bốn tháng Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty

1-9B (Thuế thu nhập công ty) Công ty J Johnson, Inc., có doanh thu đạt 7 triệu $ trong

năm qua Chi phí bán hàng của nó lên tới 4 triệu $ Tổng chi phí hoạt động là 2,6 triệu

$; chi phí lãi vay là 40.000$ Hãy tính mức thuế phải nộp của công ty

1-10B (Thuế thu nhập công ty) Công ty Kusomoto là một nhà kinh doanh và phân phối

thiết bị điện Trong năm qua, doanh thu của công ty đạt 6,9 triệu $ Tổng chi phí bán hàng và chi phí hoạt động là 4,3 triệu $ Anatoly đã trả 180.000 $ lãi suất và chi phí khấu hao là 40.000$ Ngoài ra, công ty cũng bán chứng khoán được 117.000$ mà bốn

năm trước mua với giá 37.000$ Hãy tính mức thuế phải nộp của Kusomoto

1-11B (Thuế thu nhập công ty) Martinez, Inc., là nhà bán buôn hoá chất công nghiệp

Trong năm qua, doanh thu của công ty đạt 8,3 triệu $ Tổng chi phí bán hàng và chi phí hoạt động chiếm tới 77% doanh thu, và chi phí lãi vay và khấu hao là 79.000$ và 150.000$; Ngoài ra, công ty cũng bán 50.000 cổ phiếu của Rose Corporation với giá 7,5$/cổ phiếu Một năm trước, công ty mua số cổ phiếu này chỉ với giá 5$/cổ phiếu Ngoài ra, Martinez đã nhận được 72.000 $ tiền cổ tức Hãy tính mức thuế phải nộp của

công ty

Trang 40

QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chương 1 – Giới thiệu về Quản trị tài chính 38

Bài tập Tình huống

Sống và chết với Amiăng

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn phát hiện rằng sản phẩm sinh lợi lớn nhất lại cũng rất

nguy hiểm - một rắc rối đạo đức cho nhà quản lý tài chính

Phần lớn những gì chúng ta giải quyết trong các trọng tâm quản trị tài chính là xung quanh việc đánh giá các dự án – chấp nhận thực hiện hay huỷ bỏ chúng Khi thông tin mới xuất hiện liên quan tới khả năng sinh lợi sau này của một dự án, công ty luôn lựa

chọn chấm dứt dự án Khi thông tin mới này đặt ra vấn đề liệu dự án sinh lợi có đúng

đạo đức hay không, quyết định sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều hơn Có nhiều dự án đã

phải cân nhắc giữa vấn đề lợi nhuận và vấn đề đạo đức Những quyết định này thậm chí trở nên khó khăn hơn nhiều khi pháp luật không cấm tiếp tục sản xuất sản phẩm

Amiăng là một loại sợi khoáng chất dùng để sản xuất các vật liệu chống cháy, cách ly điện, vật liệu xây dựng, gỗ không nứt và các bộ lọc hoá chất Những người tiếp xúc lâu dài với các hạt amiăng - thường từ 10 năm trở lên - có thể mắc bệnh viêm phổi kinh niên gọi là bệnh phổi phát sinh do hít phải hạt amiăng Hạt amiăng còn là nguyên nhân gây ra các chứng bệnh khác như mesethelioma, một dạng bệnh ung thư lồng ngực Căn

bệnh này đôi khi 40 năm sau mới phát bệnh, kể từ lần tiếp xúc đầu tiên Mặc dù mãi tới

năm 1964 một hội nghị khoa học lớn mới được tổ chức lần đầu tiên bàn về những nguy hiểm của amiăng, nhưng ngành công nghiệp amiăng thì đã biết rõ điều này từ hơn 60 năm trước

Ngay từ năm 1932, người Anh đã lập hồ sơ về những bệnh nghề nghiệp khi hít phải

amiăng Thực tế, ngày 25/9/1935, các biên tập viên của tờ tạp chí thương mại Amiăng

đã gửi thư cho Sumner Simpson, chủ tịch công ty sản xuất amiăng hàng đầu

Raybestos-Manhattan, xin phép đăng một bài viết về những nguy hiểm của amiăng Simpson từ

chối và sau đó đã khen ngợi tạp chí không cho in bài báo này Trong bức thư gửi

Vandivar Brown, giám đốc điều hành của Johns-Manville, một nhà sản xuất amiăng lớn

khác, Simpson nhận xét: “Càng nói ít về amiăng thì càng tốt cho chúng ta” Brown đồng

ý và bổ sung rằng bất kỳ bài viết nào về amiăng cũng phải mang số liệu của nước Mỹ,

chứ không phải của Anh

Thực tế, số liệu của Mỹ cũng sẵn có và Brown, với tư cách là một trong những biên tập

của tạp chí hoàn toàn biết rõ số liệu này Thay mặt Raybestos-Manhattan và

Johns-Manville và nhà bảo hiểm của họ là công ty bảo hiểm nhân thọ Metropolitant, từ năm

1929-193, nhà khoa học Anthony Lanza đã tiến hành nghiên cứu 126 công nhân có thời

gian tiếp xúc với amiăng từ 3 năm trở lên Nhưng Brown và một số người khác không hài lòng với kết quả nghiên cứu mà Lanza gửi đăng trong mục xã luận của tạp chí Amiăng Brown cho rằng Lanza đã không minh hoạ mức độ nguy hiểm của amiăng ở

nhẹ như bệnh bụi phổi, một loại bệnh phổi do hít thở bụi silic dioxyt trong một thời gian dài khiến người bệnh khó thở kinh niên Theo Luật Bồi thường bệnh nghề nghiệp lúc

đó, bệnh bụi phổi được xếp loại bệnh được hưởng bồi thường Nếu bệnh hít phải hạt

amiăng còn nguy hiểm hơn cả bệnh bụi phổi hay không phân biệt được thì các nhà sản

xuất cũng phải bồi thường cho công nhân của mình Rõ ràng Brown không thích như

vậy và ông ta đã yêu cầu Lanza mô tả bệnh hít phải hạt amiăng nhẹ hơn bệnh bụi phổi

Ngày đăng: 23/06/2013, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Báo cáo thu nhập : Tổng quan - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 2.1 Báo cáo thu nhập : Tổng quan (Trang 55)
Hình 4.1: Phân bố xác suất tỷ lệ thu nhập của một hối phiếu Kho bạc hoặc Công ty phát hành - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 4.1 Phân bố xác suất tỷ lệ thu nhập của một hối phiếu Kho bạc hoặc Công ty phát hành (Trang 141)
Hình 4.2: Mức độ biến động Tỷ lệ thu nhập so với quy mô dự án đầu tư - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 4.2 Mức độ biến động Tỷ lệ thu nhập so với quy mô dự án đầu tư (Trang 144)
Hình 4.5: Lợi nhuận giữ cổ phiếu định kỳ: Danh mục giả định 20 loại cổ phiếu và S&P - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 4.5 Lợi nhuận giữ cổ phiếu định kỳ: Danh mục giả định 20 loại cổ phiếu và S&P (Trang 152)
Hình 4.10: Khoảng dao động và giá trị trung bình của Tỷ lệ thu nhập theo khoảng thời - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 4.10 Khoảng dao động và giá trị trung bình của Tỷ lệ thu nhập theo khoảng thời (Trang 169)
Hình 5.4 Giá trị của một trái phiếu có lãi coupon 12% trong vòng đời của trái phiếu - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 5.4 Giá trị của một trái phiếu có lãi coupon 12% trong vòng đời của trái phiếu (Trang 218)
Sơ đồ 8.1 Sơ đồ dòng tiền của Sibon Beverages - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Sơ đồ 8.1 Sơ đồ dòng tiền của Sibon Beverages (Trang 314)
Hình 10.1. Quy trình tạo ra và chi tiêu tiền - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 10.1. Quy trình tạo ra và chi tiêu tiền (Trang 406)
Hình 10.2. Hệ thống thu tiền thông thường (Ordinary Cash- Gathering System) - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 10.2. Hệ thống thu tiền thông thường (Ordinary Cash- Gathering System) (Trang 415)
Hình 10A.1. Số dư tiền theo Mô hình Hàng tồn kho - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 10 A.1. Số dư tiền theo Mô hình Hàng tồn kho (Trang 458)
Hình 17A.3. Số dư tiền biến thiên ngẫu nhiên. - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 17 A.3. Số dư tiền biến thiên ngẫu nhiên (Trang 463)
Hình 10A.4. Mô hình giới hạn kiểm soát - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 10 A.4. Mô hình giới hạn kiểm soát (Trang 464)
Hình 1. Thu nhập trên cổ phiếu vμ EBIT công ty Trans Am - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 1. Thu nhập trên cổ phiếu vμ EBIT công ty Trans Am (Trang 472)
Hình 2. Mô hình giá trị 2 công ty - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 2. Mô hình giá trị 2 công ty (Trang 474)
Hình 6. Cơ cấu vốn tối −u vμ giá trị công ty - bài giảng quản trị tài chính doanh nghiệp tại griggs university
Hình 6. Cơ cấu vốn tối −u vμ giá trị công ty (Trang 480)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w