Đối với học sinh giỏi dạng bài cảm thụ văn học giúp các em bộc lộ năng lực đọc văn, thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận văn chương.. Các dạng đối sánh văn học Đối sánh trên nhiều khía cạn
Trang 1RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC TRONG THẾ ĐỐI SÁNH ĐỐI
VỚI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN.
Người viết: Đinh Thị Ngọc Vân THPT Nguyễn Trãi - Hải Dương
I KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ.
1 Cảm thụ văn học là sự nhận biết và rung động trước cái hay cái đẹp
sự khéo léo về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Từ đó thêm yêu văn chương và thấy được sức hấp dẫn, giá trị của văn học
Đối với học sinh giỏi dạng bài cảm thụ văn học giúp các em bộc lộ năng lực đọc văn, thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận văn chương Nhiệm vụ của người thầy là giúp các em có phương pháp và kĩ năng để cảm thụ văn
2 Đối sánh văn học
Là một thao tác tư duy nhóm các đối tượng cần đối sánh trong mối liên hệ tương đồng và tương phản để tìm hiểu, đánh giá Đối sánh còn là một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luận như phân tích, bác bỏ, bình luận Nó được xem như một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận, tức là như một kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học lại chưa được giảng dạy cụ thể bằng một bài học độc lập như những dạng bài khác, do đó sẽ ít nhiều gây khó khăn cho các em trong quá trình học tập Vì vậy, rèn kĩ năng cảm thụ văn học trong thế đối sánh thực sự rất cần thiết
2.1 Các dạng đối sánh văn học
Đối sánh trên nhiều khía cạnh như từ ngữ, đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật, hình ảnh, kết thúc… Quá trình đối sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học
Từ thực tế trong những năm vừa qua, chúng tôi nhận thấy có những dạng
và cấp bậc đối sánh cơ bản sau:
- Đối sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm
- Đối sánh hai đoạn thơ
- Đối sánh hai đoạn văn
- Đối sánh hai nhân vật
- Đối sánh hai kết thúc…
MỘT SỐ ĐỀ CẢM THỤ VĂN HỌC TRONG THẾ ĐỐI SÁNH
1 Phân tích ý nghĩa cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến trong truyện ngắn
"Chí Phèo" (Nam Cao)
2 Hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong hai bài thơ Mộ (Chiều tối)
-Hồ Chí Minh và "Từ ấy" - Tố Hữu
Trang 23 Hình ảnh Chí Phèo rơm rớm nước mắt khi nhận bát cháo hành của Thị
Nở trong truyện ngắn "Chí Phèo" (Nam Cao) và dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng khi viên quản ngục đón nhận lời khuyên của Huấn Cao trong truyện ngắn "Chữ người tử tù" (Nguyễn Tuân)
4 Phẩm chất và số phận của người nghệ sĩ được thể hiện qua truyện ngắn
"Chữ người tử tù" (Nguyễn Tuân) và đoạn trích "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" ("Vũ Như Tô" - Nguyễn Huy Tưởng)
5 Thạch Lam và Nam Cao đều được coi là những nhà văn có biệt tài miêu tả thế giới nội tâm nhân vật Trong nghệ thật miêu tả nội tâm nhân vật, các nhà văn này đều đã để lại những dấu ấn riêng
Phát hiện của anh (chị) về dấu ấn riêng đó trong hai truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam) và "Đời thừa" (Nam Cao)?
6 Phân tích hai đoạn thơ đầu và cuối bài thơ “Vội vàng” để làm nổi bật nét đặc sắc trong tư tưởng và phong cách thơ Xuân Diệu
7 Nghệ thuật miêu tả tương phản của Nguyễn Tuân và Thạch Lam trong hai tác phẩm "Chữ người tử tù" và "Hai đứa trẻ"
8 Nghệ thuật vận dụng những tri thức văn hoá, lịch sử khi xây dựng hình tượng dòng sông đất nước của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường trong hai bài tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" và "Ai đã đặt tên cho dòng sông?"
9 Phân tích hình tượng tập thể của những con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp qua hai đoạn thơ sau:
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
("Tây Tiến" - Quang Dũng)
"Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Trang 3Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên ("Việt Bắc" - Tố Hữu)
10 Trình bày cảm nhận về hai đoạn văn sau:
"Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh
"đắt" trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa
có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong gần tâm hồn"
"Những tấm ảnh tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm Trưởng phòng rất bằng lòng về tôi Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi
xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông"
("Chiếc thuyền ngoài xa" - Nguyễn Minh Châu)
Trên đây là một số đề cảm thụ văn học trong thế đối sánh Tuy chưa bao quát được hết nhưng có thể cho thấy sự phong phú, đa dạng trong kiểu bài này
và từ đó có thể phác họa hướng nhận biết dạng đề văn này Trong đề có thể dùng
Trang 4từ so sánh những cũng có thể không đưa ra yêu cầu đối sánh nhưng khi cảm thụ
về hai đối tượng đương nhiên người làm văn phải đặt chúng trong thế đối sánh
2.2 Mục đích của đối sánh là yêu cầu học sinh chỉ ra được chỗ giống và
khác nhau giữa hai đối tượng Từ đó thấy được những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm; thấy được vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm; sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn Không dừng lại ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học Đối với học sinh giỏi môn ngữ văn tư liệu được đưa ra làm đề tài so sánh có thể chỉ là một vài câu thơ, hình ảnh thơ hay đối sánh từ ngữ Ngữ liệu ít nhưng phải tinh, chắt lọc, có tính nghệ thuật cao vì năng lực văn chương của học sinh có thể bộc lộ qua dạng bài này
3 Kết hợp cảm thụ và đối sánh
Cảm thụ là nội dung cơ bản, chủ yếu Đối sánh là một phần nhỏ trong cảm thụ, góp phần làm nổi bật đặc điểm sức hấp dẫn của đối tượng văn học cần cảm thụ
4 Cách thức thực hiện kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh
a Tìm hiểu đề và tìm ý
Đề bao giờ cũng đưa ra các đối tượng để đối sánh: hai đoạn thơ, hai đoạn văn, hai nhân vật, hai chi tiết…
Trước hết, cần phân lập đối tượng thành nhiều bình diện để đối sánh Bước này nhằm phát huy trí tuệ sắc sảo và mĩ cảm của học sinh Trên đại thể, hai bình diện bao trùm là nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Tùy từng đối tượng được yêu cầu so sánh mà có cách chia tách ra các khía cạnh nhỏ khác nhau từ ngôn từ, hình ảnh, chi tiết, kết cấu, âm hưởng, giọng điệu đến đề tài, chủ
đề, tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật Sau đó cần nhận xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khác nhau Bước này đòi hỏi học sinh cần có sự quan sát tinh tường, phát hiện chính xác và diễn đạt thật nổi bật, rõ nét, tránh nói chung
chung, mơ hồ
Cuối cùng là đánh giá, nhận xét và lí giải nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn chắc chắn và bản lĩnh vững vàng cùng những hiểu biết sâu sắc ngoài văn bản để tránh những suy diễn tùy tiện, chủ quan, thiếu sức thuyết phục
b Mô hình triển khai
MỞ BÀI:
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
THÂN BÀI:
Cách trình bày nối tiếp: lần lượt phân tích từng đối tượng sau đó chỉ ra
điểm giống và khác nhau Cách này dễ làm nhưng khó hay, nhiều khi trùng lặp ý
và sắc thái so sánh bị chìm
1 Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
2 Làm rõ đối tượng thứ hai (bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
Trang 53 So sánh: Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh)
4 Lý giải sự khác biệt: thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
Cách trình bày song song: là song hành so sánh trên mọi bình diện của
hai đối tượng Căn cứ vào đặc trưng thể loại của đối tượng cảm thụ để xác lập các bình diện so sánh Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt
chẽ, lô gic, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề Ở cách này thì tùy từng đối
tượng mà xác lập các bình diện so sánh và hệ thống ý sao cho phù hợp
VD: Đối sánh nhân vật có thể xác lập các bình diện sau:
- Số phận
- Vẻ đẹp
- Nghệ thuật khắc họa, xây dựng nhân vật
VD: Đối sánh hai đoạn thơ có thể xác lập các bình diện sau
- Đối tượng trữ tình
- Nhân vật trũ tình
- Nội dung trữ tình
- Nghệ thuật biểu hiện trữ tình
KẾT BÀI:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân
Trong quá trình làm bài, học sinh không nhất thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt qui trình trên Có thể phối hợp nhiều bước cùng một lúc Chẳng hạn, có thể đồng thời vừa phân tích làm rõ, vừa thực hiện nhiệm vụ đối sánh trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật, vừa lí giải nguyên nhân vì sao khác nhau Hoặc trong bước đối sánh, học sinh có thể kết hợp vừa đối sánh vừa lí giải Tuy nhiên, nếu thực hiện theo cách này thì người viết phải có kiến thức vững chắc, làm chủ kiến thức nếu không khéo sẽ rơi vào rối nát, vòng vo
Kiểu bài cảm thụ văn học có yêu cầu đối sánh khá phong phú, đa dạng khó
có thể tìm ra một dàn bài khái quát thỏa mãn tất cả các dạng đề bài Trong yêu cầu của từng đề bài cụ thể thuộc kiểu bài này, học sinh cần linh hoạt, sáng tạo Vấn đề cốt tủy của mọi bài nghị luận là làm thế nào để vừa “trúng” vừa “hay” Nguyên tắc trình bày một bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh cũng không
đi ra ngoài mục đích đó
II CÁCH RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC TRONG THẾ ĐỐI SÁNH ĐỐI VỚI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN
A TRONG GIỜ GIẢNG VĂN
Trang 6Có thể rèn kĩ năng cho học sinh thông qua phương pháp giảng bình Để hình thành tư duy đối sánh cho người học giáo viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi phát triển năng lưc tư duy đối sánh cho học sinh Chúng tôi cũng yêu cầu các em học sinh làm những cuốn sổ tay văn học để ghi chép những câu, hình ảnh, chi tiết, bài thơ, bài văn tương đồng hoặc khác biệt đối với văn bản mà các em được học Lâu dần học sinh sẽ có vốn văn chương và hình thành thói quen đặt các đối tượng tìm hiểu nghiên cứu trong sự đối sánh
Khi giảng dạy “Truyền thuyết về An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thuỷ” có thể đặt câu hỏi “Cảm nhận của anh( chị) về kết thúc số phận của An Dương Vương và Thánh Gióng ?”
Hướng dẫn trả lời
- Điểm giống nhau: kết thúc số phận của hai nhân vật đều được về với thế giới của các vị thần Nghĩa là trở về thế giới của sự bất tử
- Khác nhau: An Dương Vương đi xuống biển sâu hun hút Hình ảnh ấy không đẹp và rạng rỡ bằng hình ảnh Thánh Gióng bay về trời Một người phải cúi xuống thì mới nhìn thấy còn một hình ảnh khiến ta phải ngước nhìn Sự khác nhau ấy thể hiện cách nhìn nhận đánh giá của nhân dân lao động về hai người
An Dương Vương vừa có công vừa có tội nên đi xuống biển sâu mịt mùng Thánh Gióng có công lao to lớn và không phạm sai lầm mất nước như An Dương Vương nên đã trở thành Phù Đổng Thiên Vương bay lên khoảng không gian vũ trụ bao la, sáng láng và vĩnh hằng
B RA ĐỀ LÀM VĂN
1 ĐỀ CHỈ CÓ MỘT ĐỐI TƯỢNG CẢM THỤ
Với dạng đề này đối sánh chỉ là một thao tác nhỏ trong chuỗi tổng hợp các thao tác như phân tích, giải thích, chứng minh Dựa vào vốn hiểu biết văn chương của mình học sinh có thể đối chiếu so sánh trên nhiều phương diện đặc biệt là so sánh từ ngữ Muốn học sinh có ý thức đưa thao tác đối sánh vào trong bài thì trong đáp án phải có yêu cầu đối sánh
ĐỀ BÀI: Cảm nhận của anh (chị ) về đoạn thơ sau:
"Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung"
(Trích "Việt Bắc"- Tố Hữu)
Trang 7Hướng dẫn học sinh tìm ý đối sánh
- Đoạn thơ là bức tranh tứ bình xuân- hạ- thu- đông Đoạn thơ chịu ảnh hưởng của hội họa phương Đông và truyền thống thi ca xưa "thi trung hữu họa” Hội họa có tranh tứ bình thì trong thơ cũng có bốn bức tranh thiên nhiên Nếu như tranh bốn mùa xưa kia sắp xếp theo trật tự: Xuân -Hạ -Thu Đông thì Tố
Hữu sắp xếp theo trật tự: Đông -Xuân -Hạ -Thu Mùa thu khắc họa sau cùng vì
mùa thu gắn với những sự kiện cách mạng và người cán bộ kháng chiến chia tay với Việt Bắc cũng vào mùa thu năm ấy
- Trong thơ xưa hình ảnh thiếu nữ và hoa tạo thành hình ảnh sóng đôi
“Nhân diện đào hoa tương ánh hồng” thì câu thơ của Tố Hữu khắc họa người lao động Việt Bắc và hoa Con người và thiên nhiên hòa hợp tạo nên một vẻ đẹp vừa tươi tắn vừa khỏe khoắn
- Màu sắc của bức tranh mùa đông trong đoạn thơ là gam màu ấm nóng Màu xanh và đỏ thường đối chọi nhau gay gắt như trong câu thơ của Xuân Diệu:
"Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh" Nhưng trong câu thơ của Tố Hữu hai gam màu ấy không đối chọi mà tôn lên vẻ đẹp của nhau
- Khi nói về sự chuyển mùa Tố Hữu dùng từ "đổ" gợi sự biến màu ở diện rộng Sắc vàng lênh láng khắp không gian Nếu như từ “nhuốm” gợi lên sự biến màu mới chỉ bắt đầu thì từ “đổ” khắc họa sự biến màu đã và đang tiếp diễn Từ
“rũa” miêu tả sự biến màu có tính chất vi lượng thì từ “đổ” miêu tả sự biến màu
ở diện rộng Câu thơ gợi hình ảnh trận mưa hoa vàng rải thảm xuống mặt đất
- Trăng là hình ảnh quen thuộc trong thi ca:
- Làn ao long lánh bóng trăng loe
- Song thưa để mặc bóng trăng vào
(Nguyễn Khuyến)
- Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
( Xuân Diệu)
- Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
( Lưu Trọng Lư)
Tố Hữu không khắc họa màu sắc, tâm trạng hay hành động về trăng mà nêu ấn tượng về trăng Trăng tỏa ánh sáng hòa bình “Rừng thu trăng rọi hòa bình” Cảm hứng về thiên nhiên kết hợp với cảm hứng lịch sử khiến cho hình ảnh trăng trong thơ ông cũng đổi khác Trăng không chỉ đem đến cho con người cảm xúc thẩm mĩ, mà trăng còn đem đến cảm giác hạnh phúc vì hoà bình đã về ta
2 ĐỀ CÓ HAI ĐỐI TƯỢNG CẢM THỤ
Ở kiểu đề này có rất nhiều dạng thức đối sánh khác nhau Chúng tôi chỉ giới thiệu một số dạng thức tiêu biểu chúng tôi thực hiện trong quá trình giảng dạy
2.1 ĐỐI SÁNH TỪ NGỮ
ĐỀ BÀI:
Trang 8Trong bài thơ "Đõy thụn Vĩ Dạ" Hàn Mặc Tử cú viết:
“ Sao anh khụng về chơi thụn Vĩ?”
Nếu thay từ “khụng” trong cõu thơ trờn bằng từ “chưa”,“chẳng” cú phự hợp với ý thơ khụng? Vỡ sao?
Hướng dẫn trả lời:
"Khụng" là từ phủ định toàn bộ cả quỏ khứ hiện tại và tương lai, triệt tiờu niềm hi vọng sẽ trở về thụn Vĩ
"Chưa" phủ định quỏ khứ và hiện tại mà vẫn mở một hi vọng tới tương lai
"Chẳng": thanh trắc giữa dũng, nú phỏ vỡ đi õm điệu ờm đềm của cõu thơ
Từ “khụng” được sử dụng khắc họa chớnh xỏc nhất cảm xỳc của nhõn vật trữ tỡnh Cõu hỏi bục lộ khỏt khao trở về thụn Vĩ nhưng khao khỏt, ước mơ hoỏ thành nỗi tuyệt vọng Đú là lớ do của nối khắc khoải trong bài thơ
2.2 ĐỐI SÁNH HAI HèNH TƯỢNG
ĐỀ BÀI: Hãy phân tích vẻ đẹp của hình tợng ngời chiến sĩ cách mạng
trong hai bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu).
Hướng dẫn: Bài viết có thể tổ chức theo nhiều cách, miễn là nêu đợc các ý sau đây:
a Giới thiệu về hai tác giả, tác phẩm
- Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Trong di sản văn học của Ngời, thơ ca là mảng sáng tác rất
có giá trị, trong đó có thể kể đến tập thơ "Nhật kí trong tù"đợc sáng tác trong
những ngày Ngời bị giam giữ ở các nhà lao thuộc tỉnh Quảng Tây Chiều tối (Mộ
-1942) là bài thơ đợc trích từ tập thơ này
- Tố Hữu là nhà cách mạng, cũng là nhà thơ trữ tình chính trị tiêu biểu nhất của nền thơ ca cách mạng Sự nghiệp cách mạng của Tố Hữu gắn bó chặt
chẽ với sự nghiệp thơ ca của ông Từ ấy (1938) là bài thơ hay đợc trích trong tập
thơ cùng tên ghi lại thời khắc đặc biệt trong cuộc đời cách mạng và nghệ thuật của Tố Hữu khi nhà thơ đợc giác ngộ lí tởng cách mạng, tìm thấy con đờng đi cho cuộc đời mình và thơ ca
- Cả hai bài thơ đều hớng tới khắc họa vẻ đẹp trong tâm hồn và lí tởng sống cao đẹp của ngời chiến sĩ cách mạng
b, Vẻ đẹp hình tợng ngời chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối (Hồ
Chí Minh)
- Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ của phe Đồng minh Khi đến Quảng Tây thì Ngời bị chính quyền Tởng Giới Thạch bắt giam Vì không có chứng cớ khép tội nên chúng không thể đa ra xét xử Chúng đã hành hạ Ngời bằng cách giải đi khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây trong hơn một năm trời nhằm tiêu diệt ý chí của ngời chiến sĩ cách mạng Bài thơ này cũng giống nh nhiều các sáng tác khác đợc viết trên hành trình chuyển lao từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Ngời bị bắt Tác phẩm là bức chân dung tự họa của con ngời Hồ Chí Minh ở thời điểm gian nan thử thách nhất trên con đờng cách mạng
- Đó là ngời chiến sĩ cách mạng có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên núi rừng Bức tranh thiên nhiên cảnh chiều mở
ra ở cả chiều cao, chiều rộng của không gian và đợc vẽ bằng những nét phác họa
đơn sơ, với những hình ảnh đậm đà sắc màu cổ điển nh cánh chim và chòm mây,
có chút buồn vắng, quạnh hiu những vẫn thanh thoát, ấm áp hơi thể sự sống Bức tranh thiên nhiên đã nói lên nhân vật trữ tình là con ngời tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết vợt lên trên cảnh ngộ tù đày
Trang 9- Đó cũng là ngời chiến sĩ có tấm lòng nhân đạo, bao la, yêu thơng, quan tâm chia sẻ với con ngời lao động, một tâm hồn luôn hớng về sự sống và ánh sáng Dù vẫn phải tiếp tục chuyển lao trong cảnh trời tối, con ngời đã quên đi nỗi nhọc nhằn của riêng mình, hớng về cô gái nhỏ lao động nơi xóm núi xay ngô và
lò than rực hồng đã đỏ để cảm thông, chia sẻ, ấm áp, vui lây niềm vui lao động của con ngời
- Bút pháp khắc hoạ chân dung ngời chiến sĩ cách mạng: là bút pháp gợi tả, những hình ảnh đậm đà màu sắc cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần hiện đại
Vẻ đẹp của ngời chiến sĩ cách mạng hiện qua bức tranh cảnh vật thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con ngời Đó là con ngời ung dung, hoà hợp với thiên nhiên nhng vẫn luôn trong t thế làm chủ hoàn cảnh, hớng về con ngời, sự sống và ánh sáng, chất thi sĩ và chất chiến sĩ hoà quyện làm một
c Hình tợng ngời chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Từ ấy (Tố Hữu)
- Bài thơ ra đời với một bớc ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tố Hữu Ngày nhà thơ đợc kết nạp vào Đảng cộng sản, đứng vào hàng ngũ những ngời cách mạng chiến đấu vì một lí tởng chung, ông đã viết bài thơ này
Đặt trong hoàn cảnh sáng tác ấy, bài thơ đã cho thấy tình yêu, niềm say mê với lí tởng cách mạng và lẽ sống cao đẹp làm nên vẻ đẹp hình tợng ngời chiến sĩ trong bài thơ
- Đó là con ngời có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tởng cộng sản
Lí tởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đờng đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng Lí tởng còn hồi sinh, chỉ đờng, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật thơ ca của ngời chiến sĩ
- Đó là ngời chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp Con ngời ấy từ khi đợc giác ngộ lí tởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc Con ngời đã tự nguyện đem cái "tôi" nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu Ngời chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những ngời lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tởng cao đẹp
- Bút pháp khắc hoạ: đợc khắc họa qua cách miêu tả trực tiếp bằng những cảm nhận của nhân vật trữ tình khi bắt gặp ánh sáng của lí tởng hoặc những lời
-ớc nguyện, lời thề quyết tâm chiến đấu vì lí tởng chung Bài thơ làm hiện lên chân dung của một cái "tôi" chiến sĩ không cách biệt, trốn tránh cuộc đời nh cái
"tôi" thơ mới mà trẻ trung, hăm hở, nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu, niềm say mê với lí tởng cộng sản, sống có trách nhiệm với cuộc đời, với nhân dân đau khổ bị
áp bức, với cuộc đấu chung của dân tộc
d, Điểm tơng đồng và khác biệt ở hình tợng ngời chiến sĩ trong hai bài thơ d1 Điểm tơng đồng: cả hai bài thơ đều tập trung khắc họa hình tợng ngời chiến sĩ cách mạng, những ngời con u tú nhất của lịch sử dân tộc có tâm hồn cao đẹp, có lí tởng sống nhân đạo, chất thi sĩ và chiến sĩ hoà quyện trong tâm hồn, lí tởng của họ
d 2 Điểm khác biệt:
- Ở “Chiều tối” là vẻ đẹp của ngời chiến sĩ yêu thiên nhiên, gắn bó với cuộc sống, một hồn thơ luôn hớng về sự sống và ánh sáng ở những thời điểm thử thách gay go nhất trên hành trình cách mạng Vẻ đẹp tâm hồn con ngời đợc thể hiện qua bút pháp gợi tả với những hình ảnh đậm màu sắc cổ điển
- Còn ở “Từ ấy”, đó là ngời chiến sĩ có tình yêu mãnh liệt với ý tởng, có lẽ sống cao đẹp, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến vì cuộc đấu tranh của dân tộc, giống nòi Nhân vật trữ tình đợc khắc hoạ trực tiếp bằng những hình thơ sôi nổi, trẻ trung, tơi mới
2.3 ĐỐI SÁNH HAI KẾT THÚC
Trang 10ĐỀ BÀI: Cảm nhận về kết thúc hai truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) và Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)
a Giới thiệu
- Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao được đánh giá là kiệt tác trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là tác phẩm xuất sắc trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mĩ Được sáng tác bởi hai cây bút truyện ngắn có phong cách riêng, lại ra đời trong những điều kiện lịch sử xã hội riêng, phản ánh những vấn đề khác nhau của đời sống nên mỗi tác phẩm lại có một cách kết thúc đặc sắc, độc đáo
và gợi mở những nhận thức, suy tưởng
b Kết thúc và vai trò của kết thúc trong một truyện ngắn
- Là khâu cuối cùng đề hoàn thành văn bản, cũng là yếu tố cuối cùng để hoàn thiện bức tranh thế giới như một sản phẩm sáng tạo của nhà văn để kí thác một tư tưởng, một quan niệm về thế giới và con người Với ý nghĩa ấy, phần kết thúc tác phẩm có chức năng bộc lộ ý đồ tư tưởng nghệ thuật và khơi gợi hình dung về sự vận động tiếp tục của con người và cuộc sống trong tác phẩm
c Thuật lại kết thúc của hai truyện ngắn
Kết thúc truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao đã để nhân vật thị Nở nhìn nhanh xuống bụng “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”
Kết thúc truyện ngắn “Rừng xà nu” nhà văn Nguyễn Trung Thành đã khắc họa sau khi về phép thăm làng, Tnú lại ra đi Cụ Mết và Dít tiễn anh đi “Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”
d Ý nghĩa của kết thúc
* Kết thúc của truyện ngắn Chí Phèo
- Hình ảnh cái lò gạch cũ có nghĩa tả thực Cái lò nung gạch đã cũ, không còn sử dụng, bỏ không, trước đây xuất hiện nhiều ở những vùng quê
- Nghĩa ẩn dụ tượng trưng Hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện ở phần đầu tác
phẩm khi một anh đi thả ống lươn nhặt được Chí Phèo trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không và xuất hiện ở phần cuối tác phẩm khi Chí Phèo chết, thị Nở nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng và đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua… ẩn dụ cho cái vòng luẩn quẩn của
những kiếp Chí Phèo Chí Phèo bố chết đi rất có thể sẽ lại có một Chí Phèo con
ra đời cũng sẽ lại rơi vào con đường lưu manh tha hoá… Từ đó, tác giả muốn khẳng định: Chí Phèo không phải là hiện tượng cá biệt mà đây là hiện tượng có tính phổ biến, qui luật trong xã hội cũ Khi nào còn tồn tại chế độ áp bức bóc lột của thực dân phong kiến thì khi đó còn tồn tại những kiếp Chí Phèo Hiện tượng người nông dân bị lưu manh hóa, bị từ chối quyền làm người sẽ không chấm dứt nếu như xã hội ấy còn tồn tại Hình ảnh thể hiện cái nhìn bi quan, bế tắc của Nam Cao đối với số phận người nông dân
* Kết thúc truyện ngắn “Rừng xà nu”:
Mở đầu tác phẩm là đoạn văn miêu tả rừng xà nu trong bom đạn của kẻ thù.Hình ảnh đồi xà nu được nhắc đến “Đứng trên ngọn đồi xà nu ấy trông ra xa,