quan tri tai chinh
Trang 1TS Nguyễn Xuân Hoàn ThS Trịnh Thùy Anh
Trường đại học giao thông vận tải
Hà nội - 2003
Bài giảng
Quản trị tài chính
doanh nghiệp giao thông vận tải
Trang 2Lời nói đầu
Bài giảng Quản trị tài chính bao gồm 5 phần và 17 chương mục nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cần thiết về quản trị tài chính doanh nghiệp
Phần 1 giới thiệu những khái niệm cơ bản về quản trị tài chính doanh nghiệp, thị trường tài chính, doanh lợi và rủi ro
Phần 2: phân tích và hoạch định tài chính, gồm 3 chương thể hiện các nội dung riêng biệt và mỗi quan hệ giữa nội dung phân tích tài chính, hoạch định lợi nhuận và dự toán tài chính
Phần 3: quyết định đầu tư dài hạn, gồm 3 chương trình bầy về giá trị thời gian của tiền tệ, yếu tố lãi suất, kỹ thuật hoạch định ngân sách
đầu tư, quyết định đầu tư trong điều kiện bất trắc
Phần 4: quản trị vốn trong doanh nghiệp, gồm 3 chương về quản trị vốn cố định và vốn lưu động Phần này trình bầy các mô hình quản trị vốn cố định, tiền mặt, quản trị các khoản phải thu và các tài trợ ngắn hạn hiện nay trên thị trường
Phần 5: quyết định tài trợ dài hạn, trình bầy các kỹ thuật lượng giá chứng khoán: chứng khoán có thu nhập cố định và cổ phần thường, chi phí sử dụng vốn, chính sách cổ tức, vay kỳ hạn và thuê mướn Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, xong chắc chắn quyển sách này khó tránh khỏi các thiếu sót Mong nhận được những ý kiến đóng góp, xây dựng của các đồng nghiệp và các bạn sinh viên để quyển sách này được hoàn thiện hơn
Hà Nội tháng 6 năm 2003
Các tác giả
Trang 4mục lục
Phần 1: các vấn đề chung
1 Những vấn đề cơ bản về quản trị tài chính 2
1.1 Khái niệm quản trị tài chính 2
1.2 Mục tiêu của quản trị tài chính 4
1.2.1 Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận 4
1.2.2 Mục tiêu tối đa hoá giá trị hoạt động 6
1.2.3 Những mục tiêu khác 6
1.2.4 Mục tiêu của quản trị tài chính 7
1.3 Vai trò của quản trị tài chính 8
1.3.1 Sự thay đổi vai trò của quản trị tài chính 8
1.3.2 Tầm quan trọng của các quyết định tài chính 9
1.3.3 Vai trò của nhà quản trị tài chính trong doanh nghiệp 11
1.4 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp 12
1.4.1 Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp 12
1.4.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh nghiệp 15
1.5 Quản trị tài chính và các môn học liên hệ 20
1.5.1 Kế toán và tài chính 20
1.5.2 Kinh tế và tài chính 20
Câu hỏi thảo luận 20
2 Thị trường tài chính 22
2.1 Thị trường tài chính dưới góc nhìn của doanh nghiệp 22
2.1.1 Khái niệm về thị trường tài chính 22
2.1.2 Thành viên của thị trường tài chính 23
2.1.3 Chức năng của thị trường tài chính 24
2.1.4 Các loại thị trường tài chính 25
2.2 Thị trường chứng khoán 27
2.2.1 Thị trường chứng khoán chính thức 27
2.2.2 Thị trường chứng khoán bán chính thức 29
2.2.3 Quyết định đăng ký cổ phần 30
Trang 52.3 Cổ phiếu 31
2.4 Trái phiếu 36
Câu hỏi thảo luận 39
3 Doanh lợi và rủi ro 40
3.1 Doanh lợi của khoản đầu tư 40
3.1.1 Doanh lợi và tỷ suất doanh lợi 40
3.1.2 Doanh lợi thực tế 41
3.2 Rủi ro và tỷ suất doanh lợi cần thiết 42
3.2.1 Định nghĩa và đo lường rủi ro 42
3.2.2 Sự ghét rủi ro và tỷ suất sinh lời yêu cầu 45
3.3 Rủi ro và tỷ suất sinh lời trong trường hợp đầu tư đồng thời vào nhiều chứng khoán khác nhau 47
3.3.1 Tỷ suất sinh lời mong đợi của danh mục đầu tư 47
3.3.2 Rủi ro với tổng thể đầu tư 48
3.3.3 Rủi ro có hệ thống và không có hệ thống 49
3.3.4 Đa dạng hoá đầu tư để tránh rủi ro 49
3.4 Rủi ro có thể đa dạng hoá và không thể đa dạng hoá 51
3.4.1 Rủi ro có thể đa dạng hoá và không thể đa dạng hoá 51
3.4.2 Đo rủi ro thị trường (rủi ro có hệ thống) và hệ số β 52
3.4.3 Lượng hoá quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất doanh lợi 53
Câu hỏi thảo luận 54
Phần 2: phân tích và hoạch định tài chính 4 Phân tích tài chính 57
4.1 Đọc báo cáo tài chính 57
4.1.1 Bảng cân đối kế toán 57
4.1.2 Bảng kết quả kinh doanh 59
4.1.3 Bảng lưu chuyển tiền tệ 61
4.1.4 Vai trò và tác dụng của các báo cáo tài chính 62
4.2 Phân tích các tỷ số tài chính 64
4.2.1 Khái niệm chung về phân tích tài chính 64
4.2.2 Các tỷ số về khả năng thanh toán 67
4.2.3 Các tỷ số về cơ cấu tài chính 71
4.2.4 Các tỷ số về hoạt động 74
4.2.5 Các tỷ số về doanh lợi 78
4.3 Phương pháp phân tích tài chính du pont 81
Trang 64.4 Phân tích nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn 84
4.4.1 Biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn 84
4.4.2 Bảng phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn 85
Câu hỏi thảo luận 86
5 Hoạch định lợi nhuận 88
5.1 Phân tích hoà vốn 88
5.1.1 Phân tích hoà vốn theo đường cong 90
5.1.2 Tính điểm hòa vốn căn cứ trên tổng doanh thu 93
5.1.3 Phân tích hòa vốn tiền mặt 93
5.1.4 Giới hạn của việc phân tích hòa vốn 94
5.2 Đòn cân định phí 95
5.3 Cơ cấu tài chính và đòn cân nợ 98
5.3.1 Lý thuyết về đòn cân nợ 98
5.3.2 ảnh hưởng của đòn cân nợ 100
5.3.3 Tương quan giữa đòn cân nợ và đòn cân định phí 103
5.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu tài chính 106
Câu hỏi thảo luận 109
6 Dự toán tài chính 110
6.1 Dự toán nhu cầu vốn kinh doanh 110
6.1.1 Phương pháp phần trăm trên doanh thu 110
6.1.2 Phương pháp hồi quy đơn biến 112
6.1.3 Phương pháp hồi quy đa biến 113
6.1.4 So sánh các phương pháp dự toán 114
6.2 Dự toán các báo cáo tài chính 117
Câu hỏi thảo luận 120
Phần 3: Quyết định đầu tư dài hạn 7 Giá trị thời gian của tiền 122
7.1 Vấn đề lãi suất 122
7.1.1 Lãi đơn và lãi kép 123
7.1.2 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực 125
7.2 Giá trị tương lai 127
7.2.1 Giá trị tương lai của khoản thu nhập đơn 127
7.2.2 Giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ đều 128
Trang 77.2.3 Giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ biến đổi 129
7.3 Giá trị hiện tại 129
7.3.1 Giá trị hiện tại của khoản thu nhập đơn 129
7.3.2 Giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ đều 130
7.3.3 Giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ biến đổi 132
câu hỏi thảo luận 133
8 Kỹ thuật hoạch định ngân sách đầu tư 134
8.1 ý nghĩa của hoạch định ngân sách đầu tư 134
8.1.1 Mức độ ảnh hưởng dài hạn 134
8.1.2 Thời điểm đầu tư 135
8.1.3 Chất lượng của tài sản đầu tư 135
8.1.4 Tìm các nguồn tài trợ 136
8.1.5 Khả năng cạnh tranh 136
8.2 các đặc điểm hoạch định ngân sách đầu tư 136
8.3 Các phương pháp lựa chọn dự án đầu tư 137
8.3.1 Tầm quan trọng của dữ kiện chính xác 138
8.3.2 Các phương pháp đánh giá, xếp hạng dự án 138
8.4 Xác định dòng tiền trong các dự án đầu tư 143
8.5 Yếu tố rủi ro trong phân tích tài chính 144
8.5.1 Phương pháp chuyên gia 144
8.5.2 Phương pháp chiết khấu theo rủi ro 145
8.5.3 Phương pháp phân tích độ nhạy 146
8.5.4 Phương pháp xác suất 146
Câu hỏi thảo luận 147
Phần 4: Quản trị vốn trong doanh nghiệp 9 Quản trị vốn lưu động 149
9.1 Tầm quan trọng của quản trị vốn lưu động 149
9.1.1 Thời gian dành cho quản trị vốn lưu động 149
9.1.2 Mối quan hệ giữa doanh thu và tài sản lưu động 149
9.1.3 Tầm quan trọng đối với các doanh nghiệp nhỏ 150
9.2 Quản trị tiền mặt và chứng khoán 150
9.2.1 Các điểm lợi của mức dự trữ hợp lý 150
9.2.2 Hình thức thu chi tiền mặt 151
9.2.3 Đầu tư tiền mặt 152
9.2.4 Kiểm soát tiền mặt 154
Trang 89.3 Quản trị các khoản phải thu 157
9.3.1 Chính sách tín dụng 157
9.3.2 Đánh giá chính sách tín dụng 159
9.4 Quản trị tồn kho 162
9.4.1 Các yếu tố quyết định tồn kho 162
9.4.2 Phương thức quyết định tồn kho 163
9.4.3 Quản trị tiền mặt theo phương thức tồn kho 166
Câu hỏi thảo luận 168
10 Nguồn tài trợ ngắn hạn 170
10.1 Tín dụng thương mại 170
10.1.1 Thời hạn thiếu chịu 170
10.1.2 Sử dụng việc mua bán chịu 172
10.1.3 Các điểm lợi trong việc mua chịu như là nguồn tài trợ 172 10.2 Tín dụng ngân hàng 173
10.2.1 Đặc điểm các món nợ vay ngân hàng thương mại 173
10.2.2 Lựa chọn ngân hàng 175
10.3 Thương phiếu 176
10.3.1 Thời gian đáo hạn và chi phí 177
10.3.2 Thẩm định việc sử dụng 177
10.4 Tài trợ ngắn hạn có bảo đảm 177
10.4.1 Tài trợ bằng các khoản phải thu 178
10.4.2 Tài trợ bằng tồn kho 181
Câu hỏi thảo luận 183
11 Quản trị vốn cố định 185
11.1 Tài sản cố định 185
11.1.1 Tài sản cố định vô hình 185
11.1.2 Tài sản cố định hữu hình 186
11.2 Khấu hao tài sản cố định 186
11.2.1 Khái niệm về khấu hao 186
11.2.2 Tác động tài chính của khấu hao đối với doanh nghiệp 188 11.3 Quản lý sử dụng vốn cố định 188
11.3.1 Khai thác và tạo lập nguồn vốn cố định của doanh nghiệp 189 11.3.2 Quản lý sử dụng vốn cố định 189
11.3.3 Phân định trách nhiệm 190
Trang 911.4 Quản lý tài sản cố định về mặt hiện vật 191
11.4.1 Hệ thống theo dõi tài sản cố định 191
11.4.2 Quản lý tài sản cố định về mặt kỹ thuật 191
11.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp 192
11.5.1 Các chỉ tiêu tổng hợp 192
11.5.2 Các chỉ tiêu phân tích 193
Câu hỏi thảo luận 194
Phần 5: Quyết định tài trợ dài hạn 12 Lượng giá chứng khoán 196
12.1 Định nghĩa về giá trị 196
12.1.1 Giá trị khánh tận và giá trị hoạt động 196
12.1.2 Thư giá và thị giá 197
12.1.3 Thị giá và nội giá 197
12.2 Lượng giá chứng khoán 197
12.2.1 Lượng giá trái phiếu 198
12.2.2 Lượng giá cổ phần ưu đãi 199
12.2.3 Lượng giá cổ phần thường 200
12.3 Yếu tố khác biệt giữa các loại chứng khoán 205
12.3.1 Rủi ro 205
12.3.2 Tính chất khả nhượng và tỷ suất lợi nhuận 206
12.3.3 Sự thay đổi mức độ giá cả trên thị trường cổ phần 206
Câu hỏi thảo luận 207
13 Chi phí sử dụng vốn 208
13.1 Chi phí sử dụng các loại vốn 208
13.1.1 Vốn do vay nợ 208
13.1.2 Cổ phần ưu đãi 211
13.1.3 Điều chỉnh thuế thu nhập 212
13.1.4 Chi phí vốn tự có 213
13.2 Chi phí vốn trung bình trọng 216
13.2.1 Chi phí vốn trung bình trọng 216
13.2.2 Chi phí vốn gia biên so với chi phí vốn lịch sử 219
13.3 Chi phí vốn biên tế 220
13.3.1 Cách tính chi phí vốn của một công ty thật sự 220
13.3.2 Chi phí vốn biên tế 222
Trang 1013.3.3 Sử dụng chi phí vốn biến tế và trung bình 225
Câu hỏi thảo luận 227
14 Chính sách cổ tức và nguồn tài trợ nội sinh 228
14.1 Tầm quan trọng của chính sách cổ tức 228
14.1.1 ý nghĩa của nguồn tài trợ nội sinh 228
14.1.2 Các hình thái của việc trả cổ tức 229
14.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức 229
14.2.1 Quy tắc pháp lý 229
14.2.2 Khả năng thanh toán 230
14.2.3 Nhu cầu hoàn trả nợ vay 230
14.2.4 Các hạn chế trong khế ước vay nợ 230
14.2.5 Suất tăng trưởng tài sản 231
14.2.6 Tỷ suất lợi nhuận 231
14.2.7 Sự ổn định lợi nhuận 231
14.2.8 Sự quen thuộc ở thị trường vốn 231
14.2.9 Kiểm soát 231
14.2.10 Vị trí trả thuế của cổ đông 232
14.2.11 Thuế trên việc tích lũy trái nguyên tắc lợi nhuận 232
14.3 Sự ổn định của chính sách cổ tức 232
14.4 Lý luận thặng dư của chính sách cổ tức 235
14.5 Những khía cạnh khác về chính sách cổ tức 237
14.5.1 Quan điểm dài hạn 237
14.5.2 Doanh nghiệp cổ tức cao và thấp 238
14.5.3 Các lý thuyết tương phản về cổ tức 238
14.5.4 Vấn đề chia cổ tức 239
14.5.5 Phương thức trả cổ tức 239
Câu hỏi thảo luận 240
15 Cổ phần thường 241
15.1 Những vấn đề căn bản 241
15.1.1 Quyền tập thể 241
15.1.2 Phân chia lợi nhuận 242
15.1.3 Phân chia quyền kiểm soát 242
15.1.4 Phân chia rủi ro 243
15.2 Tài trợ bằng cổ phần thường 244
15.2.1 Tính chất của quyền đầu phiếu 244
15.2.2 Quyền tiên mãi cổ phần 245
15.3 Thẩm định cổ phần thường 246
Trang 1115.3.1 ưu và nhược điểm của cổ phần thường 246
15.3.2 Các khía cạnh khác của việc tài trợ 247
15.4 Quyền tiên mãi trong việc tìm nguồn tài trợ 248
15.4.1 Các tương quan lý thuyết 248
15.4.2 Giá trị của phiếu tiên mãi 249
15.4.3 Công thức tính giá trị của quyền tiên mãi 250
15.5 ảnh hưởng đối với vị thế của cổ đông 251
15.5.1 Đặc quyền mua trội 252
15.5.2 Tương quan giữa thị giá và giá ghi bán 252
15.5.3 ảnh hưởng trên thị giá cổ phần 254
15.5.4 Lợi điểm của việc phát hành quyền tiên mãi trong việc tìm tài trợ mới 254
Câu hỏi thảo luận 255
16 Chứng khoán có thu nhập cố định
16.1 Những khái niệm căn bản 256
16.1.1 Trái phiếu 257
16.1.2 Thế chấp 257
16.1.3 Trái phiếu không bảo đảm 257
16.1.4 Khế ước 257
16.1.5 Nhà ủy thác 258
16.1.6 Điều khoản về thu hồi trái phiếu 258
16.1.7 Quỹ hoàn trái 259
16.2 Trái phiếu có bảo đảm 259
16.2.1 Quyền ưu tiên hoàn nợ 259
16.2.2 Quyền phát hành thêm chứng khoán 260
16.2.3 Đối tượng của sự thế chấp 260
16.3 Trái phiếu không bảo đảm 261
16.3.1 Định nghĩa 261
16.3.2 Trái phiếu không bảo đảm bậc thứ 261
16.3.3 Trái phiếu lấy lời 262
16.4 Đặc tính của nợ dài hạn 263
16.4.1 Quan điểm của chủ trái phiếu 263
16.4.2 Quan điểm của doanh nghiệp phát hành 263
16.4.3 Quyết định sử dụng nợ dài hạn 264
16.5 Tính chất của cổ phần ưu đãi 265
16.5.1 Tính chất của cổ phần ưu đãi 265
16.5.2 Các điều khoản trong phát hành cổ phần ưu đãi 265
16.6 Thẩm định cổ phần ưu đãi 267
16.6.1 Quan điểm của doanh nghiệp phát hành 267
Trang 1216.6.2 Quan điểm của nhà đầu tư 268
16.6.3 Xu hướng hiện tại 269
16.6.4 Lấy quyết định về sử dụng cổ phần ưu đãi 269
16.6.5 Thu hồi trái phiếu hay cổ phần ưu đãi 270
Câu hỏi thảo luận 272
17 Vay kỳ hạn và thuê mướn 273
17.1 Vay kỳ hạn 273
17.1.1 Lịch trình trả nợ 273
17.1.2 Đặc điểm của vay kỳ hạn 274
17.1.3 Chi phí vay kỳ hạn 276
17.2 Khế ước thương mại có điều kiện 277
17.2.1 Thủ tục 277
17.2.2 Sản phẩm, thời hạn, thẩm định 277
Câu hỏi thảo luận 278
Tài liệu tham khảo 279
Trang 13Danh mục các bảng biểu
Bảng 2.1: Tác động của thị trường tài chính đối với các đối tượng liên
quan 26
Bảng 3.1: Phân phối xác suất về tỷ lệ sinh lời của hai cổ phiếu A và B 42
Bảng 3.2: Độ lệch chuẩn của các cổ phiếu và của danh mục đầu tư 50
Bảng 3.3: So sánh độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư và độ lệch chuẩn bình quân của cổ phiếu 50
Bảng 3.4: Danh mục đầu tư đa dạng hoá 50
Bảng 4.1: Bảng cân đối kế toán 58
Bảng 4.2: Bảng kết quả kinh doanh 60
Bảng 4.3: Bảng lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) 63
Bảng 4.4: Tổng hợp một số tỷ số tài chính 80
Bảng 4.5: Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn 86
Bảng 5.1: Tương quan giữa sản lượng, doanh thu và tổng chi phí 89
Bảng 5.2: Tương quan giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận 95
Bảng 5.3 : Mức độ cơ cấu tài chính 98
Bảng 5.4 : Doanh lợi vốn tự có dưới các điều kiện kinh tế và đòn cân nợ khác nhau 99
Bảng 5.5: Tính ROE và EPS ở các mức doanh thu 101
Bảng 5.6: Đòn cân nợ theo tính chất của doanh nghiệp 103
Bảng 13.1: Bảng kết quả kinh doanh 209
Bảng 13.2:Tính chi phí vốn trung bình trọng 217
Bảng 13.3: Chi phí vốn trung bình với các tỷ số nợ khác nhau 219
Bảng 13.4: Phần nguồn vốn của bảng cân đối kế toán 221
Trang 14Bảng 13.5: Cách tính chi phí vốn trung bình 221
Bảng 13.6: Chi phí vốn ABC sử dụng cổ phần mới phát hành 223
Bảng 13.7: Tính WACC cho nhiều mức vốn khác nhau 224
Bảng 15.1: Bảng cân đối kế toán của hai doanh nghiệp A và B 243
Bảng 15.2: Bảng cân đối kế toán trước khi phát hành quyền tiên mãi 248
Bảng 15.3: Bảng kết quả kinh doanh (triệu đồng) 248
Bảng 17.1: Vay kỳ hạn và lịch trình trả nợ 274
Trang 15Danh mục các hình vẽ
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa quyết định tài chính và giá trị doanh nghiệp 7
Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy quản trị doanh nghiệp 12
Hình 1.3 Hoạt động tài chính doanh nghiệp 13
Hình 2.1: Dòng vốn đi từ những người có vốn dư thừa sang những người cần vốn 23
Hình 2.2 Cung và cầu đối với các nguồn tài chính và tỷ lệ hoàn vốn trên các công cụ tài chính 24
Bảng 2.2: Một số loại trái phiếu 37
Hình 3.1: Quan hệ giữa lãi suất và xác suất của cổ phiếu 43
Hình 3.2: Mật độ phân bố xác suất của hai cổ phiếu 44
Hình 4.1: Giải thích ý nghĩa của phương pháp Du Pont 83
Hình 5.1: Biểu đồ phân tích hòa vốn 89
Hình 5.2: Phân tích hòa vốn theo đường cong 91
Hình 5.3: Phân tích hòa vốn việc xuất bản một quyển sách 92
Hình 5.4: Phân tích hòa vốn tiền mặt 94
Hình 5.5: Tương quan giữa EBIT / TS và ROE dưới các đòn cân nợ khác nhau 100
Hình 6.1: Quan hệ giữa tồn kho và doanh thu theo phương pháp tỉ lệ phần trăm trên doanh thu 114
Hình 6.2: Quan hệ giữa tồn kho và doanh thu theo phương pháp hồi quy đơn biến đường thẳng 115
Hình 6.3: Quan hệ giữa tồn kho và doanh thu theo phương pháp hồi quy đơn biến đường cong 116
Hình 6.4: Quan hệ giữa tồn kho và doanh thu theo phương pháp hồi quy đa biến 116
Hình 9.1: Mức tồn kho tối ưu 163
Trang 16Hình 13.1: Chi phí vốn của các doanh nghiệp 218
Hình 13.2: Tương quan giữa WACC, MCC và giá trị vốn huy động 225
Hình 14.1 Hình thái tổ chức và lợi nhuận mỗi cổ phần 233
Hình 14.2 : Chi phí vốn biên tế (MCC) 236
Hình 14.3: Các cơ hội đầu tư 237
Hình 14.4: Tương quan giữa chi phí vốn, cơ hội và vốn đầu tư mới 237
Trang 17Phần 1 những vấn đề chung
Trang 189 Các công cụ và kỹ
thuật nào có sẵn đề
ông ta sử dụng? Làm thế nào để đo lường thành quả công việc của ông ta?
9 Trên bình diện rộng lớn
hơn, vai trò của quản trị tài chính trong nền kinh tế như thế nào?
9 Làm thế nào để sử
dụng quản trị tài chính
đạt mục tiêu quốc gia?
1.1 Khái niệm quản trị tài chính
Quản trị tài chính được định nghĩa là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối
quan hệ tài chính phát sinh trong phạm vi hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị tài chính liên quan đến việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính nhằm đạt những mục tiêu khác nhau như tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị
doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, và các mục tiêu khác
Quản trị tài chính có quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ vị trí quan
trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp Hầu hết mọi quyết định quản trị khác đều dựa trên cơ sở phân tích đánh giá các hoạt động tài chính trong doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển, các hoạt động của doanh nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở
công tác hoạch định về mặt chiến lược và chiến thuật Về mặt chiến lược, phải xác định
rõ mục tiêu kinh doanh, các hoạt động tài chính dài hạn nhằm phát triển doanh nghiệp và chính sách tài chính của doanh nghiệp Ví dụ việc quyết định đưa ra thị trường một loại sản phẩm mới vào một thời điểm nào đó, việc tham gia liên doanh, việc sử dụng vốn cổ phần của công ty thay vì sử dụng nguồn vốn vay để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh, việc quyết định phát hành thêm cổ phiếu mới huy động vốn góp đều là những quyết định
có tính chất chiến lược Về mặt chiến thuật, phải xác định được những công việc trong thời hạn ngắn, những tác nghiệp cụ thể để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp Ví dụ việc đưa ra quyết định thay thế một tài sản cố định mới, việc lựa chọn địa
về Quản trị TàI chính Chương
1
Trang 19điểm thuê cửa hàng, việc xem xét giữa đi thuê hay mua một ngôi nhà, xem xét giá cả của hàng hoá lúc mới bán ra ở thời điểm đầu vụ, việc hạ giá theo mùa… là những quyết định mang tính chiến thuật
Tóm lại:
• Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của quản trị doanh nghiệp, thực hiện những nội dung cơ bản của quản trị tài chính đối với các quan hệ tài chính nảy sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
• Quản trị tài chính doanh nghiệp được hình thành để nghiên cứu, phân tích và xử lý mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, hình thành những công cụ quản lý tài chính và đưa ra được những quyết định tài chính đúng đắn, hiệu quả
Căn cứ vào hoạt động sản xuất và kinh doanh của một doanh nghiệp có thể thấy những mối quan hệ tài chính đó là:
Các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước
Các môí quan hệ tài chính này phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (nộp thuế cho ngân sách nhà nước) Ngân sách nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước và có thể góp vốn với công ty liên doanh hoặc cổ phần (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tuỳ theo mục đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyết định tỷ lệ góp vốn hoặc cho vay nhiều hay ít
Các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường
Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp Với thị trường tiền tệ, thông qua hệ thống ngân hàng các doanh nghiệp nhận những khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại các doanhnghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất
định Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác Các doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu Ngược lại doanh nghiệp cũng phải hoàn trả một khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi bằng cách ký gửi tại hệ thống ngân hàng hay đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác
Bên cạnh thị trường tài chính trong nền kinh tế còn tồn tại các thị trường khác như thị trường hàng hoá - dịch vụ, thị trường sức lao động … Với tư cách là một chủ thể hoạt
động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố
Trang 20của sản xuất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật tư, lao vụ, trả công lao động, chi trả các dịch vụ khác… Đồng thời, thông qua các thị trường doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà mình cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị… nhằm đảm bảo sản phẩm - dịch vụ mà mình cung ứng luôn luôn thoả mãn nhu cầu thị trường
Các mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Các biểu hiện của các quan hệ này là sự chuyển dịch giá trị, tổ chức luân chuyển vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Đây là một mối quan hệ tài chính khá phức tạp phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn với nhau và trên tổng thể của doanh nghiệp
Các mối quan hệ tài chính này được thể hiện thông qua các chính sách tài chính của doanh nghiệp như:
9 Chính sách về phân phối thu nhập
9 Chính sách về đầu tư và cơ cấu đầu tư
9 Chính sách tổ chức và huy động vốn thể hiện thông qua việc tổ chức một cơ cấu nguồn vốn hợp lý
Tóm lại các mối quan hệ tài chính nêu trên đã bao quát toàn bộ những khía cạnh về sự vận động của vốn tiền tệ trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
1.2 Mục tiêu của quản trị tài chính
Quản trị tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Những mục tiêu này phải thể hiện được ý chí của những nhà quản lý tài chính mỗi khi đưa ra các quyết định Mỗi doanh nghiệp có thể có nhiều mục tiêu khác nhau trong từng thời kỳ phát triển
1.2.1 Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
Hầu hết các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh đều có mục tiêu làm ra càng nhiều lợi nhuận càng tốt Luận thuyết cổ điển về doanh nghiệp cho rằng mục tiêu duy nhất là tối
đa hoá lợi nhuận Luận thuyết này được thừa nhận trong một thời kỳ dài, tuy nhiên đến
nay đang bộc lộ một số hạn chế:
• Thứ nhất: phải biết đâu là lợi nhuận cần tối đa hoá
• Thứ hai: tối đa hoá lợi nhuận liên quan đến độc quyền ở một số ngành nhất định
• Thứ ba:mục tiêu này không phải là hoạt động của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo,bởi ở thị trường này, hành động tối đa hoá lợi nhuận của một doanh nghiệp lệ thuộc vào hành động của các doanh nghiệp khác
• Thứ tư: mục tiêu này không phải là dễ đánh giá bởi biến động của thị trường, ảnh hưởng của yếu tố thời gian và rủi ro trong kinh doanh
Trang 21Do vậy không thể coi tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu duy nhất tác động đến hoạt động của doanh nghiệp Sau đây ta sẽ xét xem hai yếu tố thời gian và rủi ro tác động đến mục
tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp như thế nào
Yếu tố thời gian
Tối đa hoá lợi nhuận có thể được xem
là một tiêu chuẩn để ra quyết định khi
lợi nhuận được tạo ra tạI một thời đIểm,
nhưng đIều này không thể áp dụng khi
xem xét lợi nhuận của doanh nghiệp
trong một thời kỳ Chẳng hạn khi lựa
chọn một trong hai cơ hội đầu tư A và
A 10 10 20
B 0 20.5 20.5
Dự án A có kỳ vọng tạo ra 10 triệu
đồng một năm, trong thời gian hai năm
liên tiếp, đem lạI tổng thu nhập là 20
triệu đồng Dự án B có kỳ vọng tạo ra
20.5 triệu đồng vào năm thứ hai và
không đem lạI lợi nhuận cho công ty
Nếu theo tiêu chuẩn “tối đa hoá lợi
nhuận”chúng ta sẽ lựa chọn dự án B
bởi nó tạo ra được tổng lợi nhuận lớn
hơn dự án A
Tuy nhiên kết luận này đã bỏ qua yếu
tố thời gian của lợi nhuận Chẳng hạn
nếu lợi nhuận năm thứ nhất của dự án
A được đưa vào đầu tư và thu được lợi
nhuận 10% năm thì tổng lợi nhuận tiềm
tàng của dự án A sẽ là 21 triệu so vơí
20.5 triệu của dự án B
Ví dụ đơn giản trên nhằm minh hoạ
tầm quan trọng về tính thời gian của lợi
nhuận kỳ vọng và rút ra kết luận rằng:
tiền tệ có thời giá của chúng Mặt khác,
tối đa hoá lợi nhuận còn có mặt bất lợi
của nó trong việc ảnh hưởng tới quá
trình ra quýêt định như minh hoạ trên
Yếu tố rủi ro
Một yếu tố khác cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong bất cứ môI trường kinh doanh thực tế nào là yếu tố rủi ro, hay tính không chắc chắn của môI trường kinh doanh đối với khả năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai Lợi nhuận tương lai mà chúng ta đề cập ở đây chính là lợi nhuận kỳ vọng mà các nhà đầu tư kỳ vọng thu được từ dự án đầu tư
Nhưng mỗi cơ hội đầu tư đều có mức độ không chắc chắn khác nhau và các nhà đầu tư không được phép
bỏ qua yếu tố không chắc chắn đó Hãy xét ví dụ sau
Năm Cơ hội
270
110 -50
Ta thấy lợi nhuận dự kiến đem lại cho mỗi cơ hội đầu tư là khác nhau Mỗi cơ hội đều có ba khả năng có thể xảy ra tương ứng với ba tình trạng tiềm ẩn của nền kinh tế: bùng nổ kinh tế, tăng trưởng trung bình và suy thoái Nếu nền kinh tế phát triển trung bình, cơ hội D xem ra có sức hấp dẫn hơn cơ hội C Nhưng nếu tình hình kinh tế không diễn ra như dự báo, chúng ta phảI xem xét những khả năng tiềm ẩn khác của nền kinh tế
Đồng thời chúng ta phảI tìm hiểu mức độ không chắc chắn (rủi ro) trong tương lai của từng cơ hội đầu tư Mặc dù lợi nhuận của cơ hội D có thể thu được rất cao: 270 triệu đồng một năm, nhưng nó cũng có khả năng bị thua lỗ mỗi năm là 50 btriệu đồng Do đó khi tính toán có cân nhắc tới yêu cầu rủi ro, nhiều nhà đầu tư sẽ chọn cơ hội C thay vì chọn cơ hội D như tình huống ban đầu Họ từ bỏ phương án có thể thu được lợi nhuận cao hơn để tránh khỏi mức rủi ro lớn hơn Bởi vậy trong các tình huống thực tế, tối đa hoá lợi nhuận không phảI là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp
Trang 221.2.2 Mục tiêu tối đa hoá giá trị hoạt động
Hiện nay các nhà lý luận tài chính thế giới cho rằng mục tiêu tối đa hoá giá trị hoạt động của doanh nghiệp là quan trọng Trên cơ sở này, các nhà quản lý doanhnghiệp phải có những quyết định tài chính sao cho tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp được định giá ở thị trường chứng khoán, thị trường tài chính
sẽ đánh giá giá trị hoạt động của doanh nghiệp, giá các cổ phiếu xuất phát từ khả năng sinh lời hoặc từ rủi ro phải chịu của chúng; mục tiêu này thể hiện ở việc tối đa hoá giá bán các cổ phiếu Đối với những doanh nghiệp không được định giá ở thị trường chứng khoán thì khả năng sinh lời là cơ sở đối chiếu
Có nhiều lý do giải thích cho việc chấp nhận tiêu chuẩn tối đa hoá giá trị hoạt động của
doanh nghiệp trong thực tế:
• Thứ nhất: doanh nghiệp thuộc về các chủ sở hữu và những người này cần phải thấy
rõ được giá trị đầu tư của họ tăng lên
• Thứ hai: mục tiêu này đã tính đến sự biến động của thị trường, tính đến các yếu tố rủi
ro, mục tiêu này sẽ đầy đủ khi có thêm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
• Thứ ba: mục tiêu này mang tính nghiệp vụ, vì vậy mọi quyết định tài chính làm tăng giá trị doanh nghiệp là quyết định tốt và ngược lại
• Thứ tư: việc phân phối dự trữ có lựa chọn hay chọn mua cổ phiếu thúc đẩy các nhà lãnh đạo mở rộng giá trị hoạt động của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp không chỉ có một mà có rất nhiều mục tiêu, nhưng phải ưu tiên cho mục tiêu có thể làm tối đa hoá giá trị hoạt động của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần mà đặc biệt là các doanh nghiệp cổ phần có đăng ký trên thị trường chứng khoán
1.2.3 Những mục tiêu khác
Từ cuộc thăm dò tại các doanh nghiệp, nhiều nhà kinh tế đã nhấn mạnh mục tiêu mà họ theo đuổi không phải là tối đa hoá lợi nhuận mà chính là đặt lợi nhuận bình thường trong khi đề cập đến các mục tiêu khác như:
• Mục tiêu về tỷ suất lợi nhận đủ để cho phép các nhà lãnh đạo duy trì được các hoạt
động tài chính của doanh nghiệp (E.T.Penrose)
• Mục tiêu tối đa hoá doanh số bán đạt trong ràng buộc của lợi nhuận tối đa (W J Baumol)
• Mục tiêu tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo, cái mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiền lương, năng lực đầu tư của lãnh đạo (O.E.Williamson)
Trang 231.2.4 Mục tiêu của quản trị tài chính
Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp bao gồm: quyết định đầu tư vào tài sản thể hiện chức năng sử dụng vốn trong doanh nghiệp, quyết định tài trợ thể hiện chức năng tổ chức và huy động vốn, và quyết định phân phối thu nhập thể hiện chức năng phân phối
Đó là ba trọng tâm cơ bản của công tác quản trị tài chính, đồng thời thể hiện ba chức năng của công tác tài chính trong doanh nghiệp Các quyết định trên đều gắn bó chặt chẽ với nhau, vì vậy nhà quản lý tài chính phải chú ý xem xét tất cả các quyết định và mối quan hệ giữa các quyết định đó để có thể đưa đến một hệ thống các quyết định cuối cùng hợp lý nhất
Vì mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp nên nhà quản lý tài chính phải nghiên cứu đầu tư sao cho đạt được hiệu quả kinh tế cao, tức là phải sử dụng những phương tiện đầu tư
và tài trợ nhằm đảm bảo thu được giá trị cao nhất của doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp tuỳ thuộc vào chuỗi thu nhập kỳ vọng sẽ phát sinh trong tương lai cũng như mức độ rủi ro của lợi nhuận kỳ vọng Hình (1.1) thể hiện mối quan hệ giữa các quyết định tài chính và giá trị hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường Những ràng buộc bên trong là sức ép của sản xuất, hạn chế về tài chính áp đặt lên doanh nghiệp như tỷ số nợ tối đa, cơ cấu vốn tối ưu… Ràng buộc bên ngoài bao gồm chính sách tiền tệ, hệ thống thuế, môi trường kinh tế… liên quan đến doanh nghiệp
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa quyết định tài chính và giá trị doanh nghiệp
Tóm lại các quyết định tài chính sẽ gây ảnh hưởng đến giá trị hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy mục tiêu của quản trị tài chính trong doanh nghiệp là:
• Đầu tư vào đâu và như thế nào cho phù hợp với hình thức kinh doanh đã chọn, nhằm
đạt được mục tiêu của doanh nghiệp?
• Nguồn vốn tài trợ được huy động ở đâu, vào thời điểm nào, với một cơ cấu vốn tối ưu
và chi phí vốn thấp nhất?
Khả năng
sinh lời
Mức độ rủi ro
Giá trị doanh nghiệp
Trang 24• Lợi nhuận của doanh nghiệp được sử dụng như thế nào?
• Phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính như thế nào để thường xuyên
đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính?
• Quản lý các hoạt động tài chính ngắn hạn như thế nào để đưa ra các quyết định thu chi phù hợp?
Các vấn đề trên là những nội dung quan trọng nhất liên quan đến cách thức tổ chức quản
lý tài chính trong doanh nghiệp
1.3 Vai trò của quản trị tài chính
1.3.1 Sự thay đổi vai trò của quản trị tài chính
Giống như mọi lĩnh vực khác trong thế giới hiện đại, vai trò của quản trị tài chính đã có nhiều thay đổi trong những năm qua
Trước những năm 1950, chức năng chính của quản trị tài chính là đi tìm kiếm các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn Sau đó người ta chú ý hơn vào việc sử dụng vốn, và một trong những chuyển biến quan trọng nhất của quản trị kinh doanh hiện đại là sự phân tích có hệ thống việc quản trị nội bộ doanh nghiệp với trọng tâm đặt vào sự luân chuyển vốn trong cơ cấu của doanh nghiệp
Nhờ sự phát triển các phương thức kiểm soát tài chính trong tiến trình quản trị, chức năng quản trị tài chính càng trở nên quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp Trong quá khứ, nhà quản trị tài chính chỉ cần xác định được nhu cầu vốn của doanh nghiệp và có trách nhiệm tìm kiếm các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn đó Theo hệ thống mới, người giám đốc tài chính trực diện với vấn đề căn bản liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Lĩnh vực mới của quản trị tài chính được mô tả như sau:
• Doanh nghiệp nên có tầm vóc và quy mô như thế nào, phải phát triển ra sao?
• Nên giữ tài sản của doanh nghiệp dưới hình thức nào?
Lượng giá là tiêu điểm của chức năng quản trị tài chính Thông thường, các quyết định về
ngành nghề kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, loại tài sản cố định được trang bị, việc sử dụng đòn cân nợ, tình trạng khả năng thanh toán, cơ cấu vốn… sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến độ rủi ro và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Hai yếu tố: rủi ro và thu nhập thường
có sự tương quan nhất định trong kinh doanh, khả năng sinh lợi cao thì độ rủi ro càng cao
và ngược lại rủi ro thấp thì khả năng sinh lợi cũng thấp Trên cơ sở lượng giá hai yếu tố trên sẽ là nhân tố quan trọng để định giá trị của doanh nghiệp
Quyết định đầu tiên về chính sách là chọn ngành nghề kinh doanh, định các loại sản phẩm sẽ sản xuất Sau đó, mức độ sinh lợi và độ rủi ro được xác định bởi các quyết định
Trang 25liên quan đến quy mô doanh nghiệp, loại tài sản cố định sử dụng, đòn cân nợ… Các quyết định này thường ảnh hưởng đến độ rủi ro và thu nhập Tăng dự trữ tiền mặt làm giảm rủi ro nhưng tỷ suất lợi nhuận ròng giảm Ngược lại việc vay thêm nợ làm tăng tỷ suất lợi nhuận ròng nhưng mức độ rủi ro cao Nhà phân tích tài chính tìm kiếm mức cân bằng giữa độ rủi ro và mức sinh lợi để nhằm gia tăng tối đa lợi nhuận ròng của doanh nghiệp
Vai trò của quản trị tài chính đã có nhiều thay đổi Lý do là có nhiều biến chuyển quan
trọng đối với nền kinh tế thế giới cũng như trong hoạt động nội bộ của doanh nghiệp Các biến chuyển có ảnh hưởng đến chức năng quản trị tài chính có thể kể như sau:
• Tổ chức doanh nghiệp ngày càng quy mô, các công việc trước kia có thể do tổng giám đốc đảm trách giờ trở thành quá bề bộn và nặng nề, không thể do một người lo
chu toàn được Hoạt động kinh doanh với quy mô lớn đòi hỏi phải phân cấp quản lý
và đặt trách nhiệm đảm bảo mức sinh lợi nhất định cho mỗi phân bộ
• Các doanh nghiệp đã tăng thêm nhiều loại sản phẩm nhằm áp dụng chiến lược đa
dạng hoá sản phẩm và mở rộng địa bàn hoạt động, đòi hỏi khả năng tài trợ phát triển
và khả năng thích ứng với sự thay đổi sản phẩm và thay đổi thị trường cạnh tranh
• Nền kinh tế tăng trường ngày càng mạnh hơn, nhanh hơn tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn đối với mỗi doanh nghiệp Các doanh nghiệp chi phí nhiều hơn
vào nghiên cứu và phát triển làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế
• Tiến bộ vượt bậc về thông tin, liên lạc, phương tiện vận chuyển làm cho các quốc gia
lại gần nhau hơn
• Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ngày càng thu hẹp tạo ra nhiều vấn đề mới kể cả
việc thiếu nguồn tài trợ và lãi suất cao, vì thế cần đến kỹ thuật để tăng năng suất
• Ngoài ra các vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thất nghiệp cao…
đã tạo thêm áp lực và ảnh hưởng trực tiếp đến giám đốc tài chính
Tất cả những điều trên góp phần tạo ra điều mà người ta gọi là “cách mạng quản trị”, giúp
mở rộng trách nhiệm quản trị tài chính và dẫn đến việc phát triển các kỹ thuật và cách thức quản trị mới Một trong những sự thay đổi đó là sự phát triển kỹ thuật điện tử để thu thập, lưu trữ và phân tích đủ loại thông tin về kinh doanh Hoặc là sự phát triển các kỹ thuật mới của khoa học quản trị như lý thuyết rủi ro, lý thuyết tương quan…
1.3.2 Tầm quan trọng của các quyết định tài chính
Vai trò của quản trị tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, thành công của doanh nghiệp hay ngay cả sự tồn vong của nó, khả năng và ý muốn duy trì mức sản xuất và đầu tư vào tài sản cố định hay tài sản lưu động, một phần lớn được xác định bởi chính sách tài chính hiện tại và trong quá khứ Nhận xét này có thể được chứng minh qua các ví dụ sau
Trang 26Ví du: khó khăn về vốn và các quyết định tráI ngược
General Motors được thành lập năm 1908 bởi W.C.Durrant kết hợp nhiều doanh nghiệp sản xuất xe hơi Khi có khủng hoảng về vốn lưu động năm 1920-1921, General Motors nhận được sự tàI trợ vốn của Morgans và Du Pont do đó Durrant mất hẳn quyền kiểm soát doanh nghiệp
Ngược lạI là kinh nghiệm của Herry Ford Ford Motor cần 75 triệu USD để thoả mãn nhu cầu vốn lưu
động Một nhóm ngân hàng ở Wall-Street lập thành một uỷ ban và đề nghị tàI trợ cho Ford qua khỏi cơn khó khăn, đổi lạI họ sẽ được tham gia kiểm soát Ford Motor Company Ford đã từ chối Nhưng Ford huy động được 75 triệu USD bằng những quyết định tàI chính khác nhau:
- Ông giao các xe tồn kho cho các nhà bán lẻ và yêu cầu họ trả tiền mặt, điều này buộc các nhà bán lẻ phảI tự vay mượn Với quyết định này ông đã huy động được 25 triệu USD
- Ông chấp thuận cho kéo dàI thời hạn thanh toán các hoá đơn và các khoản phảI trả
- Ông tìm cách giảm các chi phí đIều hành
- Ông tăng cường nỗ lực thu hồi các khoản phảI thu
- Ông bán ra 8 triệu USD trái phiếu hiện có
Nhờ các quyết định kịp thời và hữu hiệu trên, ông ta đã đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động, nhưng
đồng thời vẫn duy trì được sự kiểm soát doanh nghiệp
Ví dụ: thiếu sự hoạch định
Một doanh nghiệp tín dụng bán 10 triệu USD “phiếu hứa trả” cho một doanh nghiệp bảo hiểm Sau đó doanh nghiệp lạI cần thêm vốn nhưng không thể vay thêm tiền của doanh nghiệp bảo hiểm nói trên vì khế ước vay cũ có đIều khoản là: Doanh nghiệp phảI trả tất cả món nợ cũ mới có quyền vay nợ mới với bất cứ tổ chức nào khác Nừu trả tất cả món nợ trước thời hạn thì sẽ chịu phạt một số tiền Do đó trong khế ước mới doanh nghiệp đòi hỏi cho được đIũu kiện là có thẻ vay thêm vốn mà không cần sự ưng thuận của chủ nợ hiện hữu và nếu xaỷ ra việc hàn trả nợ vay dưới thời hạn thì sẽ không bị phát Trường hợp này cho thấy những sai lầm trong các quyết định tàI chính của doanh nghiệp có thể gặp phảI trong các khế ước vì thiếu sự hoạch định
Ví dụ: sai lầm khi đầu tư thêm tàI sản cố định
Một ví dụ khác tạI Việt Nam, đó là một doanh nghiệp chuyên về giầy da và thú nhồi bông tạI thành phố
Hồ Chí Minh Vào tháng 9/1995 doanh nghiệp đã không có đủ tiển mặt để chi trả lương công nhân và xảy ra sự đình công của công nhân, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, nguyên nhân được giám đốc đIều hành doanh nghiệp cho biết là do tháng 7 và tháng 8 doanh nghiệp đã đầu tư thêm tàI sản cố định để tăng năng lực sản xuất trong các tháng cuối năm, nhưng doanh nghiệp lạI không lường trước được việc thiếu tiền mặt để trả lương công ngân trong tháng
9 Hậu quả là doanh nghiệp phảI vay lạI tiền lương tháng 9 của công nhân với một lãI suất khá cao so với thời giá, đồng thời để đảm bảo tiền mặt chi trả lương công nhân tháng 9, tháng 10 và tiền lãI doanh nghiệp đã phảI giảm giá 20 - 30% để nhanh chóng bán hàng ra nhằm thu hút tiền mặt Trường hợp này cho thấy sai lầm của doanh nghiệp khi đầu tư thêm táI sản cố định nhưng lạI thiếu hoạch định nhu cầu tiền mặt trong các tháng tiếp theo
Trang 27Các ví dụ trên đã cho thấy vai trò tối quan trọng của quản trị tài chính, nó có thể giúp bù
đắp những khuyết điểm trong các lĩnh vực quản trị khác Nếu các nỗ lực sản xuất và tiếp thị bị suy yếu, với phương tiện quản trị tài chính thoả đáng ta có thể phục hồi và tái lập lại hiệu quả cho các bộ phận yếu kém Mặt khác, trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không có yếu tố nào mạnh hơn yếu tố tiền tệ Như thế quản trị tài chính có liên quan với mọi hoạt động khác của doanh nghiệp
1.3.3 Vai trò của nhà quản trị tài chính trong doanh nghiệp
Nhà quản trị tài chính giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, họ giúp
sử dụng tối đa các tài lực hiện có của doanh nghiệp, bao gồm việc phân tích và kiểm
soát chi phí nhằm sử dụng tài sản với hiệu quả tối đa Nhà quản trị tài chính cũng giữ vai
trò quan trọng đối với việc duy trì tài lực bên ngoài, tức là họ quyết định về việc tìm kiếm
tài nguyên hiện không nằm dưới quyền kiểm soát của doanh nghiệp Đặc biệt là các quyết định về ngân sách đầu tư nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp đầu tư đúng chỗ và có
lợi nhất Nhà quản trị tài chính phải xác định đúng chi phí sử dụng vốn, bởi nó phản
ánh chi phí cơ hội của việc sử dụng tài nguyên trong lĩnh vực này thay vì trong lĩnh vực khác của nền kinh tế Hơn nữa, nếu doanh nghiệp cần tìm nguồn vốn một cách ít tốn kém
nhất, họ phải cung cấp một số chứng khoán mà nhà đầu tư cho là hấp dẫn nhất Như vậy tài chính giữ một vai trò quan trọng trong việc gia tăng hiệu quả hoạt động của mỗi đơn vị doanh nghiệp và trong việc phân phối tài nguyên sản xuất giữa các bộ phận
Nhà quản trị tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, nhưng vẫn phải lưu ý đến phản ứng của người ngoài như cổ đông, chủ nợ ngắn hạn, dài hạn, khách hàng đối với các hoạt động của mình Các đòi hỏi và áp lực bên ngoài đòi hỏi nhà quản trị tài chính phải điều chỉnh các vấn đề nội bộ của hoạt động tài chính Như vậy, các quyết định tài chính cần phải dựa trên cơ sở cả hai quan điểm, tuy nhiên, quan điểm của những người trong doanh nghiệp đáng được ưu tiên chú trọng hơn vì nhà quản trị tài chính chịu trách nhiệm trực tiếp về các vấn đề tài chính của doanh nghiệp
Nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp, hay còn gọi là giám đốc tài chính, phó tổng giám
đốc tài chính và thường ở địa vị thượng tầng trong cơ cấu tổ chức doanh nghiệp Đặc biệt, việc hoạch định tài chính được thi hành bởi các nhà quản trị cao cấp nhất Do đó người
điều hành hoạt động tài chính thường là một phó tổng giám đốc hoặc đôi khi là chính tổng giám đốc Trong các doanh nghiệp lớn, các quyết định quan trọng về tài chính thường do một uỷ ban tài chính đưa ra Trong các doanh nghiệp nhỏ chính chủ nhân, vị tổng giám
đốc đảm trách luôn hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hình 1.2 mô tả vai trò của nhà quản trị tài chính trong bộ máy quản trị doanh nghiệp
Lý do mà nhà quản trị tài chính chiếm địa vị cao trong cơ cấu tổ chức là vì tầm quan trọng của công việc phân tích, hoạch định và kiểm soát mà họ chịu trách nhiệm Ban tham mưu kiểm soát tài chính đóng vai trò chuyên viên tư vấn cho các phó tổng giám đốc sản xuất, tiếp thị, kỹ thuật… và chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp cho tổng giám đốc
Trang 28Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy quản trị doanh nghiệp
Các quyết định tài chính là nhân tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chính vì thế thẩm quyền về tài chính ít khi được tản quyền hay uỷ quyền cho cấp dưới Mặt khác tập quyền về tài chính giúp tiết kiệm được khá nhiều chi phí Mặc dù ra quyết định tài chính thuộc các nhà quản trị cao cấp, nhưng hoạt động thường ngày trong lĩnh vực tài chính do phòng tài chính của giám đốc tài chính đảm nhận Công việc này do các nhân viên cấp thấp hơn phụ trách Nó bao gồm việc điều hành thu chi tiền mặt, vay mượn ngân hàng thương mại, dự toán ngân sách tiền mặt
Các quyết định có quan hệ đến tài chính doanh nghiệp như: tạo thêm một sản phẩm mới hay ngưng sản xuất kinh doanh một sản phẩm cũ, tăng thêm nhà xưởng hay thay đổi vị trí nhà xưởng, phát hành trái phiếu hay cổ phần, bán tài sản cố định và thuê mướn lại… là những giai đoạn quan trọng trong đời sống doanh nghiệp
1.4 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có thể được khái quát qua sơ đồ 1.3 Phân tích sơ đồ 1.3 có thể khẳng định hoạt động tài chính doanh nghiệp bao gồm các dòng tài chính và dự trữ tài chính Sự chuyển hoá không ngừng giữa các dòng tài chính vào các dự trữ tài chính và ngược lại được thể hiện và phản ánh trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp Quan hệ giữa dòng tài chính và dự trữ tài chính là nền tảng của hoạt động tài chính doanh nghiệp
Giám đốc nhân sự
Giám đốc marketing
Trang 29Các dòng tài chính hoạt động Các dự trữ tài chính
Hình 1.3 Hoạt động tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp thường bao gồm những nội dung chủ yếu như sau:
• Nội dung 1: tham gia đánh giá các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh
Việc xây dựng và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong doanh nghiệp cùng
hợp tác thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cần phải xem xét là hiệu quả tài
chính của dự án tức là xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, những rủi ro có thể gặp phải
và khả năng thu lợi nhuận khi thực hiện dự án Việc phân tích, đánh giá lựa chọn dự án
đầu tư cần dựa trên định hướng phát triển của doanh nghiệp Khi xem xét việc bỏ vốn
thực hiện dự án đầu tư, cần chú ý tới việc tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp để đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế trước mắt cũng như lâu dài
• Nội dung 2: xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng
cho hoạt động của doanh nghiệp
Chi
phí sx
chung
Chi phí sản xuất
vốn hàng bán)
Giá
thành sản xuất
Giá
thành tiêu thụ
Chi phí bán hàng
Chi phí chung Thuế
Chi phí quản
lý
Chi phí hoạt
động kinh doanh
Doanh thu bán hàng
Lãi sau thuế
Trang 30Mọi hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn Bước vào hoạt động kinh doanh, quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt
động của doanh nghiệp ở trong kỳ Vốn hoạt động gồm có vốn dài hạn và vốn ngắn hạn,
và điều quan trọng là phải tổ chức huy động các nguồn vốn ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn, những lợi điểm và bất lợi của các hình thức huy động vốn
• Nội dung 3: tổ chức sử dụng tốt số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp phải tìm ra các biện pháp góp phần huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng các khoản vốn còn bị ứ đọng Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Tìm ra các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền để đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán Mặt khác, cũng cần xác định rõ các loại chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp, xác định chi phí nào là chi phí cho hoạt động kinh doanh và những chi phí thuộc về các hoạt động khác Những chi phí vượt quá định mức quy định hay những chi phí đã thuộc về các nguồn kinh phí khác tài trợ, không được tính là chi phí hoạt động kinh doanh
• Nội dung 4: phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Thực hiện việc phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống của nhân viên chức Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động kinh doanh, là một chỉ tiêu mà doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm vì nó liên quan đến sự tồn tại, phát triển mở rộng doanh nghiệp Không thể nói doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt, hiệu quả cao, trong khi lợi nhuận hoạt động lại giảm Doanh nghiệp cần có phương án tối ưu trong việc phân chia lợi tức doanh nghiệp, trong việc định tỷ lệ và hình thành các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ giúp cho người lao động không có việc làm, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi
• Nội dung 5: đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt
động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác, định kỳ cần phải tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Phân tích tài chính nhằm đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu về tình hình tài chính và hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó có thể giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp trong việc đánh giá tổng quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp, những mặt mạnh và những hạn chế trong hoạt động kinh doanh, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng
đắn về sản xuất và tài chính, xây dựng được một kế hoạch tài chính khoa học, đảm bảo
Trang 31mọi tài sản tiền vốn và mọi nguồn tài chính của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả nhất
• Nội dung 6: thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công việc cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp
1.4.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh
nghiệp
Quản trị tài chính ở những doanh nghiệp khác nhau đều có những đặc điểm khác nhau
Sự khác nhau đó ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: sự khác biệt về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.2.1 Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp
Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta hiện có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:
9 Doanh nghiệp nhà nước
9 Công ty cổ phần
9 Công ty trách nhiệm hữu hạn
9 Doanh nghiệp tư nhân
9 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Những đặc điểm riêng về mặt hình thức pháp lý giữa các tổ chức doanh nghiệp trên có
ảnh hưởng lớn đến quản trị tài chính doanh nghiệp như việc tổ chức, huy động vốn, sản xuất kinh doanh, việc phân phối lợi nhuận
• Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao
Doanh nghiệp nhà nước được ngân sách nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn
điều lệ ban đầu nhưng không thấp hơn tổng mức vốn pháp định của các ngành nghề mà doanh nghiệp đó kinh doanh Ngoài số vốn nhà nước đầu tư doanh nghiệp được quyền
Trang 32huy động vốn dưới các hình thức như hành trái phiếu, vay vốn, nhận góp liên doanh và các hình thức khác, nhưng không được làm thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định của chính phủ
• Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn dưới hình thức cổ phần để hoạt động Số vốn điều lệ của nó được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần
Hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần có đặc điểm:
- Công ty cổ phần là một thực thể pháp lý có tư cách pháp nhân, các thành viên góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu Trong quá trình hoạt động công ty có thể phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động thêm vốn (nếu có đủ các điều kiện quy
định), điều đó tạo cho công ty có thể dễ dàng tăng thêm vốn chủ sở hữu trong kinh doanh
- Các chủ sở hữu có thể chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác mà không làm gián đoạn các hoạt động kinh doanh của công ty và có quyền được hưởng lợi tức cổ phần, quyền biểu quyết, quyền tham dự và bầu Hội đồng quản trị
- Quyền phân chia lợi tức sau thuế thuộc các thành viên của công ty quyết định
- Chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn mà họ góp vào cho công ty
• Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữu hạn là một loại công ty có ít nhất hai thành viên góp vốn để thành lập và họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn đã góp vào công ty Đây cũng là ưu thế của công ty trách nhiệm hữu hạn so với loại hình doanh nghiệp tư nhân Vốn điều lệ của công ty do các thành viên đóng góp, có thể bằng tiền (tiền Việt Nam hoặc tiền ngoại tệ), bằng tài sản hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp Các phần vốn góp có thể không bằng nhau Trong quá trình hoạt động, để tăng thêm vốn, công ty có thể thực hiện bằng cách kết nạp thêm thành viên mới Đây cũng là điểm thuận tiện cho công ty khi
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
Ngoài phần vốn góp của các thành viên, công ty có thể sử dụng các hình thức khác để huy động vốn từ bên ngoài hoặc kết nạp thêm thành viên mới, hoặc trích từ quỹ dự trữ nhưng không được phép phát hành bất cứ loại chứng khoán nào
Việc chuyển nhượng, phân phối vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự do, còn việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải thành viên của công ty phải
được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty
Trang 33Việc phân phối lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định và việc phân chia lợi nhuận cho các thành viên tuỳ thuộc vào số vốn đã đóng góp
• Công ty tư nhân
Công ty tư nhân là một đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ số tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Như vậy chủ công ty tư nhân là người bỏ vốn đầu tư bằng vốn của mình và cũng có thể huy động vốn thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay Trong khuôn khổ của pháp luật, chủ công ty tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh Loại hình công ty này không được phép phát hành bất cứ chứng khoán nào trên thị trường để tăng thêm vốn Như vậy nguồn vốn của công ty tư nhân là hạn hẹp, vì thế thường thích hợp với kinh doanh quy mô nhỏ
Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ công ty Trong hoạt
động kinh doanh, chủ công ty tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Điều đó có nghĩa là về mặt tài chính, chủ công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty Đây cũng là điều bất lợi của loại hình công ty này
• Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định các hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam gồm có doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam, do các nhà đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn nhằm thực hiện các mục tiêu chung
là tìm kiếm lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, mang quốc tịch Việt Nam, tổ chức và hoạt
động theo quy chế của công ty trách nhiệm hữu hạn và tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam
Doanh nghiệp liên doanh có đặc điểm: phần vốn góp của bên nước ngoài vào vốn pháp
định không hạn chế ở mức tối đa nhưng lại hạn chế ở mức tối thiểu, tức là không được thấp hơn 30% của vốn pháp định, trừ những trường hợp do chính phủ quy định Việc góp vốn của các bên tham gia có thể bằng nước ngoài, tiền Việt Nam, tài sản hiện vật, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên… theo quy định của pháp luật tại Việt Nam (có quy định cụ thể cho mỗi bên nước ngoài và Việt Nam)
Các cổ đông của doanh nghiệp liên doanh có quyền chuyển nhượng giá trị phần vốn của mình, nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các cổ đông bên trong liên doanh
Doanh nghiệp được sử dụng lợi nhuận sau thuế thu nhập của doanh nghiệp liên doanh để trích lập quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng
Trang 34Các nhà đầu tư nước ngoài có lợi nhuận và muốn chuyển số lợi nhuận đó về nước thì phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài tuỳ thuộc vào mức vốn đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư 100% vốn thành lập tại Việt Nam, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở quy chế pháp lý về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
1.4.2.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:
• ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh
ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp,
ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó có ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lưu động) ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả
• ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh
Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo
sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lương vốn lưu động tương đối lớn, doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời vụ, thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng được chia đều, tình hình thanh toán, chi trả cũng thường gặp khó khăn Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn
1.4.2.3 Môi trường kinh doanh
Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh có tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt
động tài chính Trong phần này chủ yếu xem xét tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp
• Sự ổn định của nền kinh tế
Trang 35Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, cầu thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu về vốn kinh doanh Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước Những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí
đầu tư, chi phí trả lãi vay hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay việc tìm nguồn tài trợ
Nếu nền kinh tế ổn định và tăng trưởng với một tốc độ nào đó thì doanh nghiệp muốn duy trì và giữ vững vị trí của mình, cũng phải phấn đấu để phát triển với nhịp độ tương đương Khi doanh thu tăng lên, sẽ đưa đến việc gia tăng tài sản, các nguồn phải thu và các loại tài sản khác Khi đó, các nhà quản trị tài chính phải tìm nguồn tài trợ cho sự mở rộng sản xuất, sự tăng tài sản đó
• ảnh hưởng của giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế
Giá cả thị trường, giá cả sản phẩm của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn tới doanh thu, do
đó cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ánh nếu có sự thay đổi về giá cả Sự tăng giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự tăng giảm của chi phí tài chính và sự hấp dẫn của cá hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy động vốn vay Sự tăng giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư
Tất cả các yếu tố trên có thể được các nhà quản trị tài chính sử dụng để phân tích các hình thức tài trợ và xác định thời gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị trường tài chính
• Sự cạnh tranh trên thị trường và tiến bộ khoa học công nghệ
Sự cạnh tranh về sản phẩm đang sản xuất và các sản phẩm tương lai giữa các doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên quan chặt chẽ
đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và tăng trưởng trong một nền kinh tế luôn luôn biến đổi và người giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của doanh nghiệp khi cần thiết
Cũng tương tự như vậy, sự tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải ra sức cải tiến kỹ thuật, quản lý xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình tài chính, khả năng thích ứng với thị trường, từ đó đề ra những chính sách thích hợp cho doanh nghiệp
Để thực hiện nhiệm vụ quản trị tài chính, doanh nghiệp cần phải có những quyết định giải quyết mối quan hệ tài chính liên quan tới môi trường xung quanh Đó là các quan hệ tài chính trong kinh doanh giữa doanh nghiệp với nhà nước, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với thị trường, giữa doanh nghiệp với bạn hàng, với các đối tác kinh doanh thông qua hệ thống luật pháp và chính sách quản lý tài chính của nhà nước
đối với doanh nghiệp
Thông qua việc giải quyết mối quan hệ tài chính của nhà nước với môi trường xung quanh, giúp doanh nghiệp xác định nhu cầu các yếu tố đầu vào, khả năng cung ứng hàng
Trang 36hoá và dịch vụ đầu ra Tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động đủ, kịp thời nguồn vốn phục vụ kinh doanh, sử dụng linh hoạt các công cụ huy động vốn Xác định chính xác các giá trị doanh nghiệp trên thị trường nhằm thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện các phương thức kinh doanh để đạt hiệu quả cao hơn
1.5 Quản trị tài chính và các môn học liên hệ
1.5.2 Kinh tế và tài chính
Kinh tế được định nghĩa là một môn học nghiên cứu việc sử dụng có hiệu quả các tài nguyên giới hạn hoặc là nghiên cứu các phương tiện đáp ứng tốt nhất những mục tiêu xã hội
Các loại quyết định về tiếp thị, sản xuất, tài chính, nhân sự chính là những vấn đề liên quan đến kinh tế và do đó tài chính doanh nghiệp là một khía cạnh của lý thuyết kinh tế doanh nghiệp
Đặc tính của môi trường kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với một chính sách tài chính
Câu hỏi thảo luận
1 Khái niệm chung về quản trị tài chính Tại sao quyền lợi giữa các nhóm có thu nhập trong doanh nghiệp lại vừa thống nhất vừa xung đột
2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp
3 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thời gian, rủi ro, và giá trị thị trường của doanh nghiệp đối với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
4 Trong nền kinh tế hiện đại, vai trò của quản trị tài chính đã có sự thay đổi Vậy trong lịch sử hình thành và phát triển của công tác quản trị tài chính thế giới thì sự thay đổi
đó như thế nào
5 Hãy phân tích sự khác nhau và mối tương quan giữa mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh và mục tiêu hoạt động tài chính đối với một doanh nghiệp
Trang 376 “Giám đốc tài chính của một doanh nghiệp lớn thường bắt đầu tập sự bằng các công việc kế toán” Bạn có nhận định gì về ý kiến trên
7 Hãy phân tích sự khác nhau và mối tương quan giữa mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh và mục tiêu tài chính đối với một doanh nghiệp
8 Tại sao nhà quản trị tài chính lại là một quản trị viên cấp cao trong doanh nghiệp?
9 Nhà quản trị tài chính là người chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính của một doanh nghiệp Vậy tại sao công tác quản trị tài chính lại cần phải lưu ý những yêu cầu từ bên ngoài doanh nghiệp
Trang 382.1 Thị trường tài chính dưới góc nhìn của doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm về thị trường tài chính
Thị trường tài chính có thể được phát biểu theo nhiều cách khác nhau
Trước tiên thị trường tài chính là thị trường trong đó vốn được chuyển giao từ những người có vốn dư thừa sang những người thiếu vốn Thị trường tài chính là nơi thực
hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc truyền dẫn vốn từ những người tiết kiệm sang
những nhà đầu tư thông qua hai con đường trực tiếp và gián tiếp, tức là biến các nguồn tiền của tiết kiệm thành những khoản đầu tư sinh lời Xem hình 2.1 minh hoạ điều
Những người tiết kiệm là những người chi tiêu ít hơn số tiền tiết kiệm được của họ Những người tiết kiệm có thể là những cá nhân có khoản tiền nhàn rỗi do chưa mua sắm, có thể
là các hãng do chưa tìm được phương án đầu tư hiệu quả hoặc có thể là cá nhân, doanh nghiệp hay chính phủ cần chi tiêu vượt quá thu nhập ở thời điểm hiện tại
Chương
2
Trang 39Hình 2.1: Dòng vốn đi từ những người có vốn dư thừa sang những người cần vốn
Dòng vốn từ người tiết kiệm - người cho vay đến những nhà đầu tư - người chi tiêu thông qua hai con đường trực tiếp và gián tiếp Trong tài chính trực tiếp, tức là theo con đường qua thị trường tài chính người đi vay bán cho những người cho vay những chứng khoán (những công cụ tạo vốn) và thu tiền về phục vụ cho mục đích chi tiêu, đầu tư Đối với người mua chứng khoán (người cho vay) thì đây là tài sản có và được xếp ở bên tài sản, còn đối với những người, những hãng bán chúng (phát hành ra) lại là tài sản nợ và xếp ở bên nguồn của bảng cân đối tài sản Tuy nhiên, nhìn trên sơ đồ chúng ta còn thấy vốn đi qua những con đường gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính trung gian để đến người
đi vay
2.1.2 Thành viên của thị trường tài chính
Thành viên của thị trường tài chính là các doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ và các cá nhân, các đối tượng này tham gia rộng khắp trên tất cả các thị trường tài chính
- Đối với các cá nhân: thị trường tài chính tạo ra nơi để tiết kiệm (gửi tiền vào ngân hàng, quỹ tiết kiệm ), cho vay, cầm cố, thế chấp tài sản và là nơi để đầu tư vào các loại chứng khoán
- Đối với doanh nghiệp: thị trường tài chính là nơi mà doanh nghiệp có thể huy động nguồn ngân quỹ mới hay đầu tư những khoản tài chính nhàn rỗi tạm thời và là nơi xác lập giá trị của công ty Những thay đổi xảy ra đối với giá trị của công ty cung cấp cho ban lãnh đạo những tín hiệu chính xác về phản ứng của công chúng đầu tư đối với các chính sách và quyết định của công ty
- Đối với chính phủ: thị trường tài chính cũng là nơi chính phủ có thể vay mượn cho ngân sách hay là nơi chính phủ có thể tác động để điều chỉnh hay thúc đẩy nền kinh
tế phát triển
- Bên cạnh các thành viên chính như đã kể trên, còn có các ngân hàng, các nhà môi giới, các tổ chức định chế tài chính trung gian khác, cũng như hệ thống viễn thông và
Thị trường tài chính
Trung gian tài chính
Những người
có vốn
Những người cần vốn
(hãng kinh doanh, chính phủ)
Vốn
Vốn
Trang 40máy tính đảm nhận chức năng hỗ trợ huy động vốn và đầu tư các nguồn ngân quỹ thặng dư
2.1.3 Chức năng của thị trường tài chính
Chức năng chủ yếu của thị trường tài chính là tạo thành những kênh tiết kiệm lưu động để các chủ thể tiết kiệm đầu tư sinh lợi trong các loại tài sản hữu hình Quá trình đầu tư này
được gọi là quá trình tạo lập vốn và đó là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế phát triển bền vững, lâu dài Nó được thực hiện thông qua quá trình biến tiền thành trái quyền hoặc quyền sở hữu, các chủ thể tiết kiệm cung ứng nguồn vốn và đổi lại, họ nhận được những trái quyền về mặt tài chính
Trong thị trường tài chính có cạnh tranh, các chủ thể tiết kiệm sẽ cung cấp nguồn tài chính dư thừa theo thứ tự ưu tiên cho những chứng khoán hấp dẫn nhất, tức là những tài sản có tỷ lệ hoàn vốn kỳ vọng cao nhất Còn các nhà đầu tư muốn huy động được vốn cho đầu tư phải cạnh tranh bằng cách tạo ra sự hứa hẹn sẽ thanh toán với “giá” cao hơn, tất nhiên cái giá này là tuỳ thuộc vào lợi nhuận mang lại từ khoản đầu tư của họ
Như vậy toàn bộ vấn đề giữa người cung ứng vốn và những người cần vốn được thể hiện qua sơ đồ về mức cung và cầu đối với nguồn vốn