1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số nội dung cơ bản trong triết học Trần Đức Thảo

66 538 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 308,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” 15 tr.489 “ Muốn nâng cao trình độ tư duy lý luận không có cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học thời trước”. 15 tr.489. Phriđrích Ăngghen lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, người đã cùng Các Mác sáng tạo ra thế giới quan mới của giai cấp công nhân đã khẳng định vai trò quan trọng của tư duy lý luận trong việc nghiên cứu và khám phá thế giới tự nhiên cũng như chính bản thân con người. Bởi lẽ giá trị của triết học không chỉ dừng lại ở sự vĩ đại khi nghiên cứu về giới tự nhiên một cách toàn diện, sâu sắc mà thông qua việc nghiên cứu đó thì tinh thần con người cũng trở nên vĩ đại và có khả năng hợp nhất với vũ trụ. Sự hợp nhất này là lợi ích cao nhất mà triết học mang lại cho con người. Chính vì lẽ đó mà triết học đã khẳng định được giá trị to lớn của mình ở các nền văn minh lớn của nhân loại. Việt Nam nằm giữa hai trung tâm triết học lớn của thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ. Hệ thống triết học phương Đông và phương Tây có điều kiện truyền bá vào nước ta từ sớm. Ở thời hiện đại, do yêu cầu của việc giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, trào lưu triết học MácLênin được truyền bá mạnh mẽ vào nước ta. Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của tư duy triết học Việt Nam.

Trang 1

“ Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không

thể không có tư duy lý luận” [15- tr.489] “ Muốn nâng cao trình độ tư duy

lý luận không có cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học thời trước” [15- tr.489].

Phri-đrích Ăng-ghen - lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, người đã cùng Các Mác sángtạo ra thế giới quan mới của giai cấp công nhân đã khẳng định vai trò quantrọng của tư duy lý luận trong việc nghiên cứu và khám phá thế giới tự nhiêncũng như chính bản thân con người Bởi lẽ giá trị của triết học không chỉdừng lại ở sự vĩ đại khi nghiên cứu về giới tự nhiên một cách toàn diện, sâusắc mà thông qua việc nghiên cứu đó thì tinh thần con người cũng trở nên vĩđại và có khả năng hợp nhất với vũ trụ Sự hợp nhất này là lợi ích cao nhất

mà triết học mang lại cho con người Chính vì lẽ đó mà triết học đã khẳng

định được giá trị to lớn của mình ở các nền văn minh lớn của nhân loại

Việt Nam nằm giữa hai trung tâm triết học lớn của thế giới là TrungQuốc và Ấn Độ Hệ thống triết học phương Đông và phương Tây có điềukiện truyền bá vào nước ta từ sớm Ở thời hiện đại, do yêu cầu của việcgiải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, trào lưu triết học Mác-Lêninđược truyền bá mạnh mẽ vào nước ta Đó là những điều kiện khách quanthuận lợi, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của tư duy triếthọc Việt Nam

Tư duy vốn có của dân tộc cộng với các học thuyết triết học vốn có từbên ngoài truyền vào đã khiến người Việt Nam từ lâu trong lịch sử đã hìnhthành những tư tưởng triết học.Và nếu như Trung Quốc có Khổng Tử, MạnhTử Ở Ấn Độ có triết học Phật giáo, phương Tây có Arixtot, Platon, cóĂnghen, Lênin thì Việt Nam cũng tự hào với nền triết học thế giới vì có

Trần Đức Thảo Vì đây là “một con người siêu việt của Việt Nam đã đành,

mà còn đáng cho nền văn hoá Pháp tự hào Con người đó cũng có phần cấu

Trang 2

thành của chung nhân loạii” [3- tr 2] “Cuộc đời ông như một trích tiên biếm trần, cốt cách của ông vững vàng như tùng bách đã dạn tuyết sương, còn sự nghiệp ông để lại giống như loài cỏ ở thư viện Khang Thành của học giả Trịnh Huyền thời Đông Hán (Trung Quốc) còn thơm mãi mãi [4- tr.1].

Những di sản triết học mà ông để lại cho lịch sử tư tưởng dân tộccũng như kho tàng tri thức nhân loại mặc dù không nhiều nhưng đã gópphần nâng cao tầm vóc, sức ảnh hưởng của nền triết học Việt Nam đối vớinền văn hóa thế giới Chính vì những lý do đó, tác giả mong muốn nghiêncứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Trần Đức Thảo để táihiện diện mạo tinh thần của một nhà khoa học chân chính:

“ Một số nội dung cơ bản trong triết học Trần Đức Thảo”

Trang 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH

TRIẾT HỌC TRẦN ĐỨC THẢO

1.1 Điều kiện khách quan:

1.1.1 Điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội

Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh

từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốcchủ nghĩa) Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết

về thị trường Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiếntranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gianày thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu,khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc

Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộcđịa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiếnhành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốnđầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh

Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, Việt Nam đã có những biến chuyểnsâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ

máy đàn áp nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quancai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứTrung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội,cảnh sát, toà án ; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai Chúngbóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấutranh của dân ta trong biển máu Chúng tiếp tục thi hành chính sách chia đểtrị rất thâm độc, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng

và nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra liên bangĐông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gâychia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các

Trang 4

địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với cácdân tộc trên bán đảo Đông Dương.

Về văn hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây

tâm lý tự ti trong nhân dân, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan,đồi phong bại tục Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấmđoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền vănhóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để

dễ bề thống trị

Về xã hội: Dưới sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp, xã hội Việt

Nam có sự thay đổi, phân hóa sâu sắc về mặt giai cấp Ngoài những giai cấptrước đây trong xã hội thì nay đã xuất hiện thêm những giai cấp mới Đó làcác giai cấp: tư sản, tiểu tư sản, địa chủ phong kiến, nông dân, công nhân

Sự phân hóa về mặt giai cấp là một trong những yếu tố tạo nên tính chấtphức tạp của xã hội

Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hìnhthành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu làmâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động

Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sựphản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh

mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức

Như vậy: Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thànhmột xã hội thuộc địa

Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội trên ở Việt Nam đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến quan điểm, suy nghĩ của các nhà tư tưởng đương thời Phầnlớn tư tưởng chủ đạo trong giới trí thức lúc bấy giờ là “ sẵn sàng xếp bútnghiên lên đường đi chiến đấu” Một bộ phận còn lại dùng ngòi bút củamình để phản ánh thời đại, phục vụ sự nghiệp cách mạng Đặc điểm nàycũng là yếu tố không nhỏ tác động đến tư tưởng của Trần Đức Thảo lúc đó.Mặc dù còn đang học tập và nghiên cứu ở nước Pháp nhưng bầu trời không

Trang 5

khí cách mạng nóng hổi trong nước đã kéo ông khỏi những suy tư trừutượng để trở về với mảnh đất của thực tại

1.1.2. Nguồn gốc tư tưởng

Những tư tưởng triết học của Trần Đức Thảo không chỉ được hình thành từ điều kiện kinh tế, chính trị xã hội ở Việt Nam và thế giới đặc biệt lànước Pháp lúc bấy giờ, mà một yếu tố quan trọng góp phần hun đúc nên những tư tưởng của một nhà khoa học chân chính là những tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, phương pháp hiện tượng luận của Husserl

và sự thâm nhập của triết học Mác vào giới trí thức lúc bấy giờ

Tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX là sự phản ánh, đồngthời là sản phẩm của xã hội Việt Nam đương thời Đó là xã hội thuộc địanửa phong kiến dưới sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp Những tư tưởngtriết học lúc bấy giờ thường xoay quanh nhiệm vụ cứu nước, phục vụ choviệc tìm đường cứu nước và đồng thời đóng vai trò hoạch định đường lốicách mạng giải phóng dân tộc Đây cũng là thời kì văn hóa phương Tâycùng với các trào lưu tư tưởng triết học phương Tây đã tràn vào nước ta theonhiều con đường khác nhau Vấn đề này không chỉ đáp ứng yêu cầu củaphong trào cách mạng trong nước mà còn tuân theo quy luật giao lưu vănhóa và tư tưởng giữa các quốc gia thời cận đại Bầu không khí triết học ởViệt Nam thời kì này trở nên sôi động hơn khi xuất hiện các khái niệm triếthọc mới như biện chứng, siêu hình, vô thần, hữu thần Đó là cuộc đấu tranhgiữa hai khuynh hướng triết học: đó là khuynh hướng triết học duy vật củanhững người cộng sản do Hải Triều làm đại biểu và khuynh hướng triết họcduy tâm do Phan Khôi làm đại biểu Cuộc đấu tranh này không tách rời côngcuộc cách mạng giải phóng dân tộc, và nó cũng tác động không nhỏ đến tưtưởng của các nhà triết học lúc bấy giờ, trong đó có tư tưởng triết học TrầnĐức Thảo

Bên cạnh đó, hiện tượng luận của Husserl cũng góp phần không nhỏvào việc hình thành tư duy Trần Đức Thảo, đặc biệt là tư tưởng của ông về

Trang 6

Hiện tượng luận Có thể nói Husserl là đại biểu tiêu biểu của hiện tượngluận với những quan niệm về phương pháp, về những giá trị của nó Khinghiên cứu những tư tưởng của Hussrel về hiện tượng luận, Trần Đức Thảo

đã thấy được những giá trị quan trọng cũng như phát hiện ra những hạn chếcòn tồn tại trong quan niệm của Husserl, từ đó đưa ra quan niệm của mình

về hiện tượng luận, về phương pháp hiện tượng luận một cách khoa học

Giá trị tư tưởng triết học Trần Đức Thảo không chỉ ở hiện tượng luận

mà quan trọng nhất là chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản Để có nhữngquan niệm về chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản, Trần Đức Thảo đã kếthừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác, đồng thời bảo vệ chủ nghĩaMác khỏi sự công kích, xuyên tạc của các thế lực phản động

Như vậy, bên cạnh điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa thì điều hiện

tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, hiệntượng học của Husserl và chủ nghĩa Mác là một trong những yếu tố cơ bảngóp phần hình thành triết học Trần Đức Thảo

1.2 Triết gia Trần Đức Thảo

1.2.1 Quê hương, dòng họ, gia đình

Về quê hương Trần Đức Thảo

Giáo sư Trần Đức Thảo sinh ngày 26-9-1917 tại Thái Bình, mất ngày24-4-1993 tại Paris, thủ đô Cộng hòa Pháp, trong lúc đang công tác nghiêncứu khoa học

Giáo sư Trần Đức Thảo quê ở làng Song Tháp, huyện Từ Sơn, tỉnhBắc Ninh Làng Song Tháp nằm giữa cánh đồng lúa mênh mông của huyện

Từ Sơn, tiếp giáp với chân núi Sóc Sơn gắn liền với truyền thuyết ThánhGióng Làng Song Tháp rất gần đồi Lim, di chỉ văn hóa quan họ nổi tiếng,

và núi Bựu gắn liền với lịch sử nhà Trần Tiếp đến là cả vùng đồi núi huyệnTiên Du đẹp như tranh, thủa xưa là vùng trồng đặc sản rau trái cung phụngcho các triều vua Con sông Ngũ Khê Huyện sau khi chảy qua năm huyện về

ôm lấy làng Song Tháp tạo vẻ đẹp nên thơ, hữu tình Song Tháp như là nơi

Trang 7

hội tụ âm vang của tiếng hát quan họ Bắc Ninh và màu sắc của hội Lim, hộiGióng, hội Đô.

Tỉnh Bắc Ninh, huyện Từ Sơn, trong đó có làng Song Tháp xã ChâuKhê, là một vùng văn hóa có truyền thống lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc

Đó là cái nôi đã sản sinh dân ca quan họ, vô vàn truyện cổ tích và thần thoạinổi tiếng như truyền thuyết Thánh Gióng, để lại âm hưởng, mầu sắc trongtruyện Tấm cám, trong bi kịch Quan âm Thị Kính - Thị Mầu Cũng chínhcái nôi văn hóa ấy đã nuôi dưỡng và hình thành những nhà ái quốc, nhữngchiến sĩ cộng sản lỗi lạc như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ Tiếp tục truyềnthống cao đẹp hào hùng ấy, quê hương Bắc Ninh trong thời đại ngày nay đãnuôi dưỡng, hình thành một nhân cách lỗi lạc: Trần Đức Thảo, nhà triết họcthiên tài của nhân loại, của thế kỷ XX, đã phát triển và chính xác hóa triếthọc Macxít, phù hợp với thành tựu của khoa học hiện đại Ông đã vinh danhcho trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế

Làng Song Tháp sống mãi trong ký ức Trần Đức Thảo đến tận cuốiđời Giáo sư đã từng nói ông vẫn nhớ những năm tháng thuở nhỏ theo cha

về quê ăn tết, những mảnh nắng vàng phủ sương bay trên cánh đồng rất đẹp,làng Song Tháp nhỏ bé nhưng đằm thắm tình người và tình họ hàng

Về dòng họ

Dòng họ Trần ở làng Song Tháp là một dòng họ lâu đời, là trực hệ củavua Trần Nghệ Tông Các đời trước cụ thủy tổ, nhiều người làm quan trongtriều đại nhà Trần Cụ thủy tổ tên là Trần Phúc Hiền, hiệu Thụ Bản, đỗhương cống (cử nhân) triều nhà Lê, làm quan Thái Bộc Quang Lộc trongtriều nhà Hậu Lê, tự Thiếu Khanh Nhân một lần đi du ngọan về tỉnh BắcNinh đã chọn Song Tháp làm nơi xây dựng quê hương bản quán cho hậuthế Từ đó cho đến thế kỷ XX, trong dòng họ nhiều người vẫn theo nho học,nhiều người làm quan giúp dân trị nước, nhiều người làm thầy thuốc thầyhọc Ông nội Trần Đức Thảo là cụ Trần Đức Sán, cũng học chữ nho và làmquan ở bậc hàng tỉnh, tỉnh Bắc Ninh, nhưng về hưu sớm và mất lúc trên 50

Trang 8

tuổi Thân phụ Trần Đức Thảo là Trần Đức Tiến lúc đầu học chữ nho,nhưng sau khi chữ nho bị bãi bỏ đã chuyển sang học chữ Pháp và quốc ngữ

ở một trường thông ngôn Ông là người học giỏi, nhưng chỉ làm thông ngônmột thời gian ngắn, sau đó làm bưu điện ở Đồ Sơn và Thái Bình, sau về HàNội Ông Trần Đức Tiến là một người sống bao dung độ lượng thươngngười, luôn luôn khuyến khích con cháu học hành

Ông Trần Đức Tiến là người có công khai phá làng Song Tháp TrầnĐức Tiến còn là người đi đầu trong việc xóa bỏ các hủ tục, kêu gọi học chữquốc ngữ, tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục Những việc làm ấyvẫn được dân làng truyền tụng cho đến ngày nay

Gia đình.

Cha của Trần Đức Thảo là cụ Trần Đức Tiến, người có công khai phálàng Song Tháp, sống bao dung, độ lượng, có lòng yêu thương người và cótinh thần yêu nước, tham gia nhiều phong trào trong đó có phong trào Đôngkinh nghĩa thục

Bà Nguyễn Thị An, mẹ Trần Đức Thảo cũng là con nhà danh giá,nền nếp Hồi nhỏ Trần Đức Thảo vẫn thường được nghe mẹ hát vè HàNội thất thủ và đọc thơ của Ngọc Hân Công Chúa Bà có sự kết hợp đứctính đôn hậu và nghiêm khắc trong dạy dỗ con cháu Rất tự hào về dòng

họ nhà chồng, nhất là trí tuệ thông minh, bà luôn khát vọng con cái cóngười nối dõi tông đường

Ông bà Trần Đức Tiến có hai người con: Trần Đức Tảo và Trần ĐứcThảo Trần Đức Tảo đỗ cử nhân luật có làm công chức cho chế độ thực dânPháp, là con rể của tổng đốc Dương Thiệu Tường, một trong những tiến sỹcuối cùng của triều Nguyễn Cách mạng Tháng Tám thành công, Trần ĐứcTảo nhiệt tình tham gia hoạt động cách mạng Trần Đức Tảo đã xây dựngphong trào văn nghệ mới tại quê nhà để cổ động nhân dân tham gia cuộckháng chiến những ngày đầu chống thực dân Pháp Đội kịch của ông đã lưudiễn nhiều nơi trên tỉnh Bắc Ninh Ông cũng là một trong những nhà báo

Trang 9

đầu tiên sau cách mạng Tháng Tám, rồi trở thành cán bộ của Bộ Ngoại giao,

đã hy sinh tại Thái Nguyên năm 1947, là liệt sỹ Trần Đức Tảo có một ngườicon trai duy nhất là bác sỹ Trần Đức Tùng sinh năm 1947, hiện ở Thànhphố Hồ Chí Minh

Như vậy, quê hương, dòng họ, gia đình chính là một trong nhữngcái nôi hun đúc nên ở Trần Đức Thảo những tư tưởng triết học về conngười, về vấn đề nhân bản- một trong những vấn đề cốt lõi trong tư tưởngtriết học của ông

1.2.2 Nhân tố chủ quan Trần Đức Thảo.

1.2.2.1 Tinh thần say mê nghiên cứu

Trần Đức Thảo không chỉ là người luôn sẵn sàng chiến đấu cho nềnđộc lập của dân tộc mà ông còn là tấm gương của tinh thần say mê nghiêncứu khoa học Tác phẩm để lại của ông là sự đúc kết thực tiễn, là sự kế thừanhững thành tựu khoa học trước đó, là sự sáng tạo không ngừng nghỉ để tìm

ra chân lý cho thời đại, là những vấn đề xung quanh cuộc sống con người đơn giản nhưng sâu sắc, nó chứa đựng những trăn trở của một triết gia, củamột con người đã dành trọn cả cuộc đời của mình cho khoa học Để có đượcnhững thành tựu đó, bên cạnh những thuận lợi khách quan mang lại thì yếu

tố đóng vai trò chủ đạo là bản thân chủ thể phải có tinh thần yêu khoa học,sẵn sàng hy sinh những hạnh phúc cá nhân của riêng mình để cống hiến cho

sự nghiệp nghiên cứu khoa học, sự nghiệp tìm ra những chân lý, lẽ phải VàTrần Đức Thảo là một tấm gương như thế- tấm gương về tinh thần say mênghiên cứu khoa học

Bằng sự nỗ lực không ngừng nghỉ của bản thân, ông đã thi đậu vàotrường Cao đẳng Sư phạm phố U’lm- cái nôi của các danh nhân và các nhàkhoa học nổi tiếng châu Âu khi đó Trong những năm Chiến tranh thế giớithứ hai, vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn, ông vẫn xuất sắc giành tấm bằng

cử nhân triết học, rồi thạc sĩ triết học với đề tài “Hiện tượng học của Husserl” Năm 1943, 1944, ông tiếp tục theo đuổi các ý đồ khoa học của

Trang 10

mình và viết luận án tiến sĩ Trong quá trình nghiên cứu ông đã đến với hiệntượng học tinh thần của Hêghen và tiếp cận với lập trường Mácxit.

Trong bối cảnh chính trị phức tạp thời kì “ chiến tranh lạnh”, sự ấu trĩ

và lối nghĩ cơ hội của một số kẻ xấu bụng đã vô tình đẩy ông ra khỏi giảngđường Nhưng đúng với tố chất của một hiền nhân Đông phương, ông vẫnung dung, tự tại, chấp nhận hình thức “ cải tạo tư tưởng” một thời gian sau

đó lại say sưa với công việc mới- công việc biên dịch tại nhà xuất bản Sựthật Ông tiếp tục nghiên cứu, dịch và hiệu đính lại các tác phẩm của Mác-Ănghen, viết bài, in sách ở nước ngoài và cộng tác thường xuyên với một sốtạp chí Pháp

Từ khi rời Pháp về Việt Bắc, triết gia đã nhận công tác tại văn phòngTổng Bí thư rồi ủy viên Ban Văn- Sử- Địa, phó Giám đốc Đại học Sư phạmVăn khoa, chủ nhiệm khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyênviên cao cấp nhà xuất bản chính trị Quốc gia Trong quá trình công tác, ôngvẫn tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu của mình

Ông đã sống và làm việc bằng trái tim và khối óc của một người cộngsản Mặc dù ở gác ba của căn nhà ở dãy nhà B khu tập thể Kim Liên, cuộcsống thiếu thốn, cơ hàn trong sinh hoạt nhưng ông vẫn không từ bỏ sựnghiệp nghiên cứu khoa học của mình Ông vẫn tiếp tục nghiên cứu vềHêghen, về hiện tượng học, về chủ nghĩa Mác để đưa ra những tư tưởng mới

mẻ, sâu sắc Trong một bài viết của mình, Phùng Quán đã kể lại rằng, vìGiáo sư Trần Đức Thảo quá say mê nghiên cứu mà đã để cháy một nồi cơm

làm bằng xoong nhôm Mặc dù khói tuôn ra mọi ngách cửa nhưng “ lạ lùng nhất là thấy Thầy đang đứng bên cửa sổ, giữa đám khói, hai tay vung vẩy, miệng lẩm bẩm độc thoại như đang trình bày một vấn đề gì đó với đám đông vô hình trước mặt” [33- tr.1] Khi được Phùng Quán hỏi về đám cháy thì Trần Đức Thảo “ gỡ cặp kính ra khỏi mắt lau lau vào vạt áo và nói: Mình đang chú giải một chương hết sức lý thú và quan trọng trong toàn bộ

Trang 11

trước tác của Hêghen Rồi Thầy lại ngồi luôn vào bàn viết như không còn nhớ gì đến vụ hỏa hoạn chết người suýt nữa xảy ra”[33- tr.2]

Nhận xét về tinh thần say mê nghiên cứu, tinh thần đam mê khoa họccủa Trần Đức Thảo, người vợ của ông- bà Nguyễn Thị Nhất đã khẳng định “

Cuộc sống của ổng giản dị và khiêm nhường lắm Ông ấy rất đặc biệt khi tư duy, một khi ổng đã suy nghĩ điều gì thì không hề quan tâm đến những việc xung quanh Có lần không biết mải mê suy nghĩ điều gì để chiếc bếp nấu ăn bốc cháy, khói nghi ngút cả mấy tầng nhà mà không hề hay biết Hàng xóm thấy khói xông vào dập lửa, ông vẫn chìm đắm trong suy nghĩ.”[7]

Năm đã ngoài bảy mươi tuổi, mặc dù tuổi cao sức yếu nhưng triết giavẫn sang Pháp để hoàn thành tác phẩm triết học Mácxit quan trọng của đời

mình: “ Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người” Triết

gia đã trút hơi thở cuối cùng nơi đất khách quê người khi tác phẩm còn dởdang Điều này đã chứng minh rằng, con người ấy, nhân cách ấy vẫn luônluôn theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình, rằng con đườngđến với khoa học là con đường không có tuổi, không phân biệt tuổi tác Và

cả cuộc đời của triết gia ấy đã chứng minh đầy đủ và rõ ràng điều đó

1.2.2.2 Tinh thần yêu nước

Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917 trong một gia đình viên chức nhỏ

ở huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh Năm 1935, sau khi đỗ tú tài loại ưu, ôngtheo học tại trường Luật Hà Nội Năm 1939, ông thi đỗ vào trường Đại học

Sư phạm Cao cấp phố D’Ulm Năm 1943, ông tốt nghiệp thủ khoa nhận

được học vị thạc sĩ với luận án “ Phương pháp hiện tượng luận Husserl”

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Cách mạng tháng Tám thànhcông, Trần Đức Thảo tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước tạiPháp và đau đáu hướng về Tổ quốc Ông phân phát truyền đơn ủng hộViệt Minh ở những quảng trường, đường phố đông người nhất Pari Cùngthời gian này, tổng ủy ban đại diện Việt Kiều mở một cuộc họp báo rộngrãi Trong cuộc họp báo này, Trần Đức Thảo trình bày về vấn đề độc lập

Trang 12

ở Đông Dương và trả lời những câu hỏi của báo giới Pháp Trong lý lịchcủa mình, triết gia viết: Một nhà báo đã đặt một câu hỏi mang tính chất

tối hậu thư rằng: “ Quân đội viễn chinh Leelecre sắp đổ bộ ở Đông Dương- Thế thì người Việt Nam sẽ đón tiếp thế nào?” Tôi đã trả lời “ Bằng tiếng súng” Câu nói này chứng tỏ ông thực sự là người phát ngôn

cho độc lập và tự do của dân tộc, của 25.000 kiều dân Việt Nam trên đấtPháp, nó đã thể hiện tinh thần sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đến cùngcủa người dân Việt Nam để bảo vệ nền độc lập của dân tộc Tuy nhiên,mấy ngày sau, mẩu đối thoại ngắn ngủi này xuất hiện trên tờ Le Monde.Ông lập tức bị bắt rồi bị giam cầm trong nhà tù Prison de la Sente, với tộidanh “ xâm phạm an ninh nước Pháp”

Sau khi ra tù, Trần Đức Thảo tiếp tục sự nghiệp cách mạng của mình

Trong phần tự thuật, triết gia viết: “ Đầu năm 1945, với tư cách ủy viên Tổng Liên đoàn người Đông Dương, tôi đã có cuộc tiếp kiến với Ngài Tổng

bí thư Maurice Thozed tại trụ sở của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Pháp Chúng tôi đã thống nhất đường lối chung trong cuộc đấu tranh vì các dân tộc bị áp bức, chống lại chủ nghĩa đế quốc: cuộc đấu tranh nhằm giải phóng cho các dân tộc ấy, do những điều kiện khách quan của thế giới đương thời sẽ nhất thiết dẫn đến chủ nghĩa cộng sản Ngài Maurice Thozed đã hứa rằng các tổ chức Đảng Cộng Sản Pháp sẽ có những giúp đỡ

cụ thể dành cho các tổ chức địa phương do Tổng Liên đoàn người Đông Dương ở Pháp làm đại diện Lời hứa này đã hoàn toàn được tôn trọng”.

Vào đầu năm 1946, Trần Đức Thảo đến gặp ông Emille Brehier, giáo

sư hướng dẫn luận án cho mình Vị giáo sư này đã cúi gầm mặt rồi vung tay

chỉ ra cửa và thét: “ Nếu ông không yêu nước Pháp thì ông đi đi, về nước của ông”[7] Sau hội nghị Fontainebleau, triết gia đã tìm gặp Bác Hồ và bày

tỏ nguyện vọng trở về nước hoạt động Hồ Chủ tịch đã đồng ý với yêu cầunày của Trần Đức Thảo cùng với một số nhà khoa học khác như : Kỹ sưTrần Đại Nghĩa, bác sĩ Trần Hữu Tước

Trang 13

Năm 1951, giữa lúc cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc đang diễn

ra mọt cách khốc liệt, Trần Đức Thảo “ tung cánh chim tìm về tổ ấm” Mộtnhà trí thức siêu việt đã từ bỏ kinh thành Pari hoa lệ lại sau lưng, khước từmọi vinh quang và tương lai huy hoàng, từ bỏ các giảng đường, các thínhphòng triết học đang hứa hẹn cả một sự nghiệp danh giá, dùng tiền nhuậnbút cuốn sách “ Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” để về ViệtNam theo một lộ trình khá vòng vèo: Pari- Luân Đôn- Praha- Matxcơva-Bắc Kinh- Việt Bắc để tham gia kháng chiến, đối diện với hoàn cảnh khổcực thiếu thốn và cái chết nhiều khi sẵn sàng chờ đón Đây là một hành độngthể hiện tình yêu Tổ quốc cháy bỏng của một trí thức yêu nước

Sau khi hòa bình lập lại, Trần Đức Thảo tiếp tục cống hiến cho ngànhgiáo dục Ông giữ chức Phó Giám đốc Sư phạm Văn khoa, chủ nhiệm khoaLịch sử rồi trở thành giáo sư lịch sử triết học của Đại học Tổng hợp Hà Nội

Những hành động và việc làm của Trần Đức Thảo đã chứng tỏ ôngkhông chỉ là một người trí thức mà còn là một người chiến sĩ luôn hết lòng

vì sự nghiệp cách mạng Cả cuộc đời của ông là một tâm gương phản chiếutinh thần say mê nghiên cứu vì một mục tiêu cao cả không gì khác hơnngoài độc lập tự do cho Tổ quốc mình

1.3 Những di sản triết học Trần Đức Thảo

Trong sự nghiệp khoa học của mình, Trần Đức Thảo đã để lại mộtkhối lượng tác phẩm và các bài viết khá đồ sộ, thể hiện cái nhìn chân chínhcủa một nhà Macxit về các phương diện như lịch sử, xã hội, con người Tuy nhiên, những tác phẩm đó chủ yếu được viết trong khoảng thời gianTrần Đức Thảo sống và làm việc ở nước Pháp, cho tới thời gian sau, nhữngtác phẩm đó mới được dịch sang tiếng Việt và biên soạn tại Việt Nam Dovậy, có những tác phẩm đã được dịch và công bố nhưng cũng có những tácphẩm chưa được công bố Những tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng trong

sự nghiệp sáng tác của Trần Đức Thảo có thể kể đến:

Trang 14

Tháng 2 năm 1946: Từ trong xà lim của nhà tù, Trần Đức Thảo đã

viết bài báo “ Về Đông Dương” phản đối thực dân Pháp trở lại xâm lược

Đông Dương, khẳng định quyết tâm giành độc lập của nhân dân các nướcĐông Dương

Cũng trong thời gian trên, Trần Đức Thảo đã viết tác phẩm nổi

tiếng “ Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” Đây là tác

phẩm được các nhà triết học Pháp và thế giới đánh giá rất cao, được dịch

ra nhiều thứ tiếng

Năm 1948, Trần Đức Thảo đăng bài báo nổi tiếng “ Nội dung và

thực chất của hiện tượng luận tinh thần” Bài báo này nêu những quan

điểm khác hoàn toàn với Kojeve về Hiện tượng luận tinh thần của Hêghen.Đây là bài báo đánh dấu việc ông đã đoạn tuyệt chủ nghĩa hiện sinh để đếnvới chủ nghĩa Mác

Những năm 1954- 1970, Trần Đức Thảo viết nhiều bài báo đăng -trên

tạp chí nghiên cứu Văn- Sử- Địa như: Nguồn gốc ý thức trong cuộc tiến

hóa của hệ thần kinh, Hạt nhân duy lý trong triết học Hêghen

Năm 1973, Trần Đức Thảo cho xuất bản tác phẩm “ Tìm cội nguồn

của ngôn ngữ và ý thức” Tác phẩm đã trình bày một cách cụ thể quá trình

hình thành và phát triển của ngôn ngữ Đây là tác phẩm được tặng giảithưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ đợt I

Năm 1975: Trần Đức Thảo đăng tác phẩm “ Từ hiện tượng luận đến

biện chứng duy vật của ý thức” trên tạp chí La Nouvelle Critique.

Từ năm 1977- 1990, ông viết hàng loạt các bài báo như: “ Động tác

chỉ trỏ như là hình thức nguồn gốc của xác thực cảm quan; Giới thiệu nguồn gốc gien của loài người; Giới thiệu về nguồn gốc xã hội ngôn ngữ

và ý thức; Sự ra đời của ngôn ngữ; Khái niệm về loài người

Đặc biệt vào những năm cuối đời, là khoảng thời gian Giáo sư đượcBan Bí thư Trung ương Đảng cử đi công tác tại Cộng hòa Pháp, Trần Đức

Trang 15

Thảo đã để lại những tác phẩm có giá trị to lớn về các lĩnh vực xã hội, lịch

sử, con người Các tác phẩm, bài báo phải kể đến như:

Sự hình thành con người

Những nghiên cứu về biện chứng học ( I, II, III)

Hạt nhân duy lý trong phép lôgic của Hêghen

Hiện tượng kép của Hêghen và Husserl.

Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng

Phương pháp hiện tượng học và nội dung hiệu quả thực tế của nó Giới thiệu về biện chứng của xã hội cổ đại

Lôgic của cái hiện tại sống động

Về một lôgic hình thức và biện chứng

Lý thuyết của cái hiện tại sống động như là lý thuyết về cái cá thể hóa

Lý thuyết của cái hiện tại sống động như là lý thuyết về sự kết hợp .

Hầu hết các tác phẩm của Trần Đức Thảo đã được công bố Tuy nhiêncũng có một số tác phẩm của Trần Đức Thảo chưa được công bố Cụ thể là:

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý

Khái niệm vật chất

Bản chất thế giới

Vấn đề con người trong chủ nghĩa Mác- Lênin

Tính chất khoa học cách mạng của quan điểm vô sản về con người

Về khái niệm con người

Con người và xã hội

Về vấn đề phương thức sản xuất Châu Á.

Như vậy trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình, Trần ĐứcThảo đã cho ra đời nhiều tác phẩm, bài viết mang giá trị to lớn không chỉ cógiá trị thời đại ông đang sống mà nó còn có giá trị trong cả thời đại ngày nay

CHƯƠNG 2:

NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC TRẦN ĐỨC THẢO

Trang 16

2.1 Quan niệm của Trần Đức Thảo về hiện tượng học

2.1.1 Khái quát về hiện tượng học.

Thuật ngữ Hiện tượng học lần đầu tiên được Lambert- nhà triết học

và khoa học tự nhiên người Đức (1728- 1777) sử dụng như một khái niệm

triết học trong tác phẩm “ Bộ công cụ mới” dùng để chỉ một trong các bộ

phận của khoa học luận đại cương- lý thuyết về cái thấy được Dựa vào đó,Cantơ đã đề xuất ý tưởng xây dựng hiện tượng học đại cương như là bộ mônđứng trước siêu hình học và thực hiện nhiệm vụ mang tính phê phán là xácnhập ranh giới của cảm giác và khẳng định tính độc lập của các phán đoáncủa lý tình thuần túy Sau đó Cantơ bổ sung thêm ý nghĩa mới cho hiệntượng học: nó không chỉ phê phán mà còn mang ý nghĩa tích cực: là công cụchuyển hiện tượng và sự vận động đã thành ra kinh nghiệm

Lúc đầu, Hêghen hiểu hiện tượng học là phần thứ nhất của triết học và

nó phải trở thành nền tảng cho các bọ môn triết học còn lại- lôgic học, triếthọc tự nhiên và triết học tinh thần Về sau Heghen hiểu hiện tượng học chỉ

là một bộ phận của triết học tinh thần và thiên về tinh thần chủ quan ông đặt

nó ở giữa tâm lý học và nhân học Nó có nhiệm vụ nghiên cứu ý thức, tự ýthức và lý tính

Khái niệm hiện tượng giữ một vai trò quan trọng ở Brentano- nhà triếthọc người Áo ( 1838- 1917): tri thức về con người phải do việc quan sát đờisống tâm lý mang lại Và cái trở nên tiếp cận được nhờ kế quả sự quan sát

đó, chính là “ hiện tượng” Theo Brentano, ở nghĩa rộng nói chung tất cảnhững gì có thể trở thành khách thể của sự xem xét khoa học đều là “ hiệntượng” cả Theo nghĩa đó thì có thể nói về các hiện tượng tâm lý “ bêntrong” va các hiện tượng tâm lý “bên ngoài” Việc các hiện tượng tâm lývốn có sự tồn tại được nhằm tới bên trong quyết định đến sự đa dạng đặc thùcủa chúng

Sang thế kỷ XX, Husserl- nhà triết học người Đức ( 1859- 1938) đãthổi hơi thở và ý tưởng mới vào khái niệm này và quan niệm về hiện

Trang 17

tượng học Khái niệm hiện tượng học trở thành then chốt trong hiện tượnghọc Husserl Hướng đến truyề thống cổ đại mà sau này vẫn tiếp tục đượccủng cố trong triết học cận đại, Husserl chú ý đến sự luận giải khoa họctrực quan về hiện tượng học, sự vật được xét như nó hiện ra trực tiếptrong kinh nghiệm cảm tính cùng với các phẩm chất, các mối liên hệ của

nó Tính hiện ra của các sự vật trong trực quan cảm tính là đối ngược vớitính “ tự thân” của chúng Gọi triết học của mình là hiện tượng học, “khoa học về các hiện tượng thuần túy”, Husserl đã mở rộng cách hiểutruyền thống về hiện tượng: từ đây nó đã biểu thị không chỉ các khía cạnhxác định của sự vật được con người tri giác mà còn là sự thống nhấtxuyên suốt, sự thay thế các trực giác, tức là những nội dung “ thuần túy”,

“ sự thống nhất” của ý thức vốn có thể được nghiên cứu ngoài mối liên hệ

có thể của chúng với thế giới vật lý hiện thực

Hiện tượng học hiện đại là một kiểu triết học đặc thù, một trào lưutriết học có ảnh hưởng rộng rãi trong suốt thế kỷ XX, nó đã và đang tồn tại,phát triển như một phong trào triết học, các tư tưởng của người sáng lập ra

nó là Husserl thường xuyên thay đổi và được căn chỉnh qua một số giai

đoạn: Một là: Say mê rồi thất vọng chủ nghĩa tâm lý Hai là: Giai đoạn vạch

thảo các ý đồ cho “ lôgic thuần túy” như là khoa học luận và phương án đầu

tiên của hiện tượng học Ba là: giai đoạn chính xác hóa và tiếp tục xây dựng

hiện tượng học như là học thuyết về “ ý thức thuần túy” cùng các hiện tượngcủa nó, về không gian và thời gian, về quy giản hiện tượng học và các thủ

thuật phương pháp hiện hiện tượng học khác Bốn là: Giai đoạn chính xác

hóa phương án hiện tượng học – với việc vạch thảo cơ sở mới cho lôgic

học Năm là: giai đoạn xây dựng lý luận về sự khủng hoảng của khoa học

châu Âu, thuyết thế giới sống, thuyết kiến tạo, bao gồm cả thế giới xã hội,vấn đề triết học lịch sử

2.1.2 Quan niệm của Trần Đức Thảo về hiện tượng học

Trang 18

2.1.2.1 Trần Đức Thảo phát hiện ra những hạn chế trong quan niệm của Husserl về hiện tượng luận

Thứ nhất: Trong khi thừa nhận đóng góp hết sức có hiệu lực của Husserl về cách lý giải bản chất: “Bản chất của một vật là cái yếu tố mà thiếu nó, người ta không thể nào hình dung sự tồn tại của vật ấy”, chẳng hạn

“bản chất của màu đỏ là diện tích, vì không thể có một màu nào mà không

có diện tích” Trong khi tán thành lập luận này về bản chất, ông vạch trần

nhược điểm không thể che đậy của Husserl là nếu như Husserl theo hiệntượng luận triệt để thì cái bản chất cuối cùng chỉ có thể là “vật chất” với tínhcách một phạm trù triết học và khẳng định tự thân hiện tượng luận phải dẫntới chủ nghĩa duy vật Đóng góp này của ông đã được thế giới triết học chấpnhận Như vậy là Trần Đức Thảo đến với chủ nghĩa duy vật sau khi đạt lênđỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy tâm thời đại này là hiện tượng luận củaHusserl, rồi lật ngược nó lại Từ duy tâm sang duy vật chính là sự phát triểnbiện chứng Ông chuyển sang chủ nghĩa Mác do tình cảm yêu nước

Thứ hai: Những hậu quả thực tiễn trong các phân tích của Husserl

không còn phù hợp với khung lý thuyết đã sản sinh ra chúng Ý nghĩa, vốnbắt nguồn từ cấp độ tiền vị ngữ, không thể là kết quả của một cái tôi siêunghiệm - một cái tôi cấu thành nên ý nghĩa về thế giới ở bên ngoài khônggian và thời gian, mà là kết quả của ý thức bị chôn vùi trong tiến trình hìnhthành của nó trong lịch sử Cái tôi siêu nghiệm của Husserl thực ra là ý thứcthông thường của mỗi con người ở trong kinh nghiệm thông thường củachính anh ta Trần Đức Thảo chỉ ra rằng, ở điểm này, Husserl đã hoàn toànrơi vào tương đối luận, khi ông phát biểu rằng: “người thương nhân trên thịtrường có chân lý riêng về thị trường của chính anh ta” Tư tưởng củaHusserl về sự cấu thành nên thế giới cùng với sự suy ngẫm về những bảnchất vĩnh hằng hóa ra là chủ nghĩa hư vô - một thứ chủ nghĩa chứa đựng sựkhủng hoảng của con người phương Tây, một sự khủng hoảng mà đến lượt

nó đã sản sinh ra con người phi duy lý, con người hiện sinh, những người

Trang 19

mà tuyên bố của họ là: chỉ có một ý nghĩa về đời sống Trần Đức Thảo nhấnmạnh sự suy xét của Husserl cần phải được lật ngược lại, bằng cách từ bỏchủ nghĩa hình thức mang tính duy tâm của nó, và trên cơ sở đó xây dựngmột tính duy lý mới - dựa trên sự nhấn mạnh vào các nội dung cụ thể củakinh nghiệm Sự hình thành có tính chủ đích của mối quan hệ giữa ý thức vàvật chất được giải thích bằng cách dẫn chứng đến cấp độ tiền vị ngữ của sựtrải nghiệm của ý thức, được truyền tải bởi lao động của con người “Kháiniệm sản xuất có xem xét toàn diện đến sự bí ẩn của ý thức, bởi vì đối tượng

mà lao động của con người đang tác động tới sẽ mang lại ý nghĩa cho con

người với tư cách là sản phẩm của con người” Sự hiện thực hóa ý nghĩa rõ

ràng không gì khác hơn là sự chuyển dịch biểu tượng của hoạt động vật chấttrong quá trình sản xuất thành một hệ thống các hoạt động có ý thức, trong

đó chủ thể chiếm đoạt khách thể về mặt ý thức, nhằm tái hiện khách thể trong ý thức của chính chủ thể “Đây là lý do thật sự để con người, vốn đang hiện hữu trong thế giới, kiến tạo nên thế giới trong sự mãnh liệt của kinh nghiệm sống trải của chính hắn” Và tính đúng đắn của sự kiến tạo như

vậy chỉ được đo lường bởi sức mạnh thực tiễn của phương thức sản xuất tạo

ra nó Trần Đức Thảo lưu ý rằng, quá trình nhân hóa tự nhiên thông qua lao

động là cách thức mà vật chất trở nên có một đời sống, và qua đó hình thànhgiá trị của con người

Thứ ba: Trong các tác phẩm cuối đời của Husserl, ông đưa thêm vào

hiện tượng học đề tài kiến tạo và các chủ đề “ thế giới sống” Kiến tạo đượchiểu như là sự tái lập các kết cấu của sự vật và tính sự vật, vật thể và tínhhữu hình, tinh thần và cái tinh thần thế giới như là chỉnh thể thông qua ýthức thuần túy và các hiện tượng được quy giản của nó Tương tự như vậy,trên cơ sở phân tích đa chiều cạnh “ Tôi thuần túy” hiện tượng học ghi nhậnthời gian thế giới như là thuộc tính của ý thức, ghi nhận tính liên chủ thể, tức

là những “ tôi” khác thế giới của họ, sự tương tác giữa chúng

Trang 20

Trần Đức Thảo nhận xét, lĩnh vực hiện tượng học chủ yếu chỉ có thể

là tập hợp những cái đã sống trải tạo nên đời sống riêng tư của tôi trong sựthống nhất của dòng ý thức của tôi Nếu còn những cái “ tôi” khác với bảnthân tôi thì hiển nhiên chúng chỉ có ý nghĩa đối với “tôi” “ ở trong bản thântôi” Nói cách khác, tôi phải tạo lập những cái khác từ chính bản thân tôi, và

sự tạo lập đó cũng được đòi hỏi đối với chính ngay sự tạo lập về “ sự vật”

Vấn đề “ kiến tạo” do đó được đặt ra thành những câu nghịch lý “ làm sao

có thể diễn ra cái tôi bên trong sự tồn tại của chính mình, lại bằng cách nào

đó có thể tạo lập “ cái khác” đúng như khi nó xa lạ, nghĩa là trao cho nó một ý nghĩa sinh tồn đưa nó ra khỏi nội dung cụ thể của “ chính tôi” là người cụ thể tạo lập ra nó” [20- tr 98] Những con người bây giờ không còn

hiện ra như là các hiện tượng tâm lý dựa trên các cơ thể vật chất, con ngườixuất hiện như là những chủ thể mà tôi tri giác trong kinh nghiệm hiểu biết.Cái tôi khác là giống như tôi, chủ thể của một thế giới chỉ tồn tại bởi anh ta

và chỉ tồn tại chừng nào thế giới ấy tồn tại vì anh ta Và đồng thời tôi cũnghiểu rằng thế giới ấy cũng giống hệt như thế giới của tôi, chúng ta sống

trong một thế giới Trần Đức Thảo nhận xét “ Một ý nghĩa như thế có thể

do phạm vi thực tiễn đem lại, qua thực tiễn mà chúng ta xác định thái độ nhân cách chủ nghĩa” [20- tr 105] Husserl cho rằng: các tác nhân xác định

lẫn nhau bằng cách hiểu nhau Nhưng cho dù thái độ nhân cách chủ nghĩa cótính đặc thù đến đâu chăng nữa nó cũng không thể bỏ qua sự tồn tại của thểxác Việc hiểu biết những con người có liên quan tất yếu đến tri giác về cơthể là cơ sở phải dựa vào tri giác về ý nghĩa tinh thần Theo Trần Đức Thảo

“ Học thuyết của Husserl thiếu một sự tạo lập về vật không quy giản được

nó thành một cái tương đương trong ý thức [20- tr 108].

Vì vậy, theo Trần Đức Thảo cần phải chú ý đến tầm quan trọng đặcbiệt mà Husserl luôn dành cho hiện tượng học về “ Vật” Các hiện tượngtinh thần và các cộng đồng liên chủ thể luôn được xác lập dựa trên các hiện

Trang 21

tượng tâm lý tự nhiên và đến lượt mình các hiện tượng này cũng vẫn dựatrên các hiện thực vật chất.

Thứ tư: Trên đường đến với thế giới quan vô sản cách mạng, Trần

Đức Thảo còn nhận rõ, các phân tích hiện tượng cụ thể chỉ có thể phát huyhết ý nghĩa của chúng và phát triển đầy đủ trong phạm vi của chủ nghĩa duyvật biện chứng Nếu vậy thì không phải chỉ vượt qua các luận điểm lý thuyếtcủa Husserl mà còn phải xét lại phương pháp của ông trong chừng mực nó

bị xơ cứng đã biến thành các công thức trừu tượng Xét đến cùng thì học thuyết và phương pháp của Husserl tuy là mới nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm Mà theo Trần Đức Thảo: dù thế nào

đi chăng nữa lý thuyết chỉ có ý nghĩa thông qua thực tiễn, và chính nhữngđòi hỏi thực tiễn của công việc mô tả buộc ta phải lật nhào chủ nghĩa đó Chỉ

có thái độ từ bỏ không thương tiếc như vậy mới dẫn đến chỗ hiểu được rằngvấn đề lớn của thời đại chúng ta là chủ thể bằng ý niệm của tư duy truyềnthống, tôn giáo hay triết học đồng nhất nghiêm ngặt với con người hiện thựctrong thế giới này từ lâu đã được giải quyết đúng đắn trong phép biện chứngMácxit vốn đã xác định rằng quá trình duuy nhất có giá trị đối với việc xâydựng các ý nghĩa đã trải nghiệm là dựa trên nền tảng các hiện thực vật chất

2.1.2.2 Trần Đức Thảo đánh giá cao vai trò của hiện tượng học

Giáo sư Trần Đức Thảo đã từng bàn về hiện tượng học trong một tác

phẩm đầu tay gây được một tiếng vang lớn “ Hiện tượng học và chủ nghĩa

duy vật biện chứng”, đặc biệt trong phần thứ nhất mang tựa đề “ Phương

pháp hiện tượng học và nội dung hiện thực của nó” Phần đầu của cuốn sách

này trình bày hiện tượng học một cách rất sáng sủa và dễ hiểu, giúp giới triếthọc Pháp lúc đó hiểu rõ hơn về hiện tượng học Những tác phẩm trước đâygọi là có tính chất hiện tượng học đều ở trong một tình trạng “ hỗn mang chisơ” và rất khó hiểu Mỗi triết gia như Jean- Paul Sartre hay Marcel đều cónhững lối nhìn khác biệt và một lối trình bày khác nhau về hiện tượng học

Họ bị ảnh hưởng của Max Scheler và Heidegger nhiều hơn là Husserl

Trang 22

Chính vi vậy lối diễn tả của họ không những khó hiểu mà ngay cả phươngpháp hiện tượng hay chủ trương hiện tượng học của họ cũng mỗi người một

lối Trong bối cảnh như vậy, cuốn sách “ Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” của Trần Đức Thảo được công nhận là nghiêm túc và trung

thực hơn khi bàn về Husserl và hiện tượng học

Giữa làn sóng của hiện tượng học, Trần Đức Thảo đã dày công làmchủ được tiếng Đức để nghiên cứu hiện tượng và từ đó ông đã bảo vệ thành

công luận án thạc sỹ của mình “ Phương pháp hiện tượng luận của Husserl”

và luận án tiến sỹ về hiện tượng học Trong những tác phẩm của mình, ông

đã trình bày những quan điểm về hiện tượng học trong đó bao gồm cả nhữngnhận định của ông về những giá trị và hạn chế của Hiện tượng luận mà trọngtâm là hiện tượng luận của Husserl

Với tri thức uyên bác về triết học duy lý nói chung và hiện tượng họctinh thần nói riêng, Trần Đức Thảo đã tìm thấy hướng phát triển và chínhxác hóa chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Nghĩa là TrầnĐức Thảo nhận thức sâu sắc rằng, nếu Heghel vĩ đại vì ông tổng kết hơn

2000 năm của chủ nghĩa duy tâm khách quan từ Platon đến Heghel thìHusserl là người đã phát triển Heghel lên một cung bậc mới, nghĩa làHusserl tiếp tục phát triển hiện tượng học tinh thần theo một hướng mới donhu cầu của thời đại ông đặt ra: khoa học kĩ thuật phát triển, tinh thần conngười phát triển sẽ đưa loài người đi đến bến bờ nào?

Điều quan trọng trong tư tưởng của Trần Đức Thảo là ông đã pháthiện ra sự vĩ đại của Husserl được thể hiện trong một luận đề hết sức đặc sắc

“ Khi tư duy và vận dụng các loại hình ngôn ngữ để biểu đạt suy nghĩ của mình,con người bắt buộc phải hướng những suy nghĩ ấy vào một đối tượng nhất định nào đó Con người không thể suy nghĩ và biểu đạt suy nghĩ ấy bằng ngôn ngữ mà không có đối tượng và khái niệm” Theo như câu nói của

ông thì một câu hỏi được đặt ra là: động lực nào đã thúc đẩy tư duy và ngônngữ hướng tới đối tượng và khái niệm? Husserl đã mơ hồ nhận thấy đó phải

Trang 23

là một lực lượng vật chất Như vậy, cái tạo ra động lực nhất thiết có phải lànguồn gốc vật chất của nó Nhưng thời đại mà Husserl sống, chủ nghĩa tưbản đang phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, mâu thuẫn giữa các nước đếquốc đẩy nhân loại vào thảm họa hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất

và lần thứ hai Khoa học kĩ thuật bắt đầu phát triển để thỏa mãn nhu cầu củanền sản xuất, thỏa mãn nhu cầu phát triển của trí tuệ con người, như vậycàng làm tăng điều kiện cho giai cấp tư sản bóc lột sức lao động của nhândân để tạo ra giá trị thặng dư Chính việc phát hiện ra vấn đề này trong hiệntượng luận của Husserl mà Trần Đức Thảo đã đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiệnsinh, kiên trì hướng hiện tượng học tinh thần trong đó có hiện tượng luậncủa Husserl về phía chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chính việc phát hiện ra điều vĩ đại trong luận điểm của Hút- xơ mà

Trần Đức Thảo đã khẳng định “ Công lao chính của hiện tượng học là triệt

để thanh toán chủ nghĩa hình thức trong chiều hướng phát triển của chính chủ nghĩa duy tâm và đặt tất cả các vấn đề về giá trị trên mảnh đất của cái

cụ thể” Cái cụ thể mà Trần Đức Thảo nói ở đây chính là “ những vật” trong

khẩu hiệu nổi tiếng của Husserl Trần Đức Thảo giải thích “ vật” đó là “ tínhvĩnh cửu trong việc trực giác các bản chất” của hiện tượng học Và đây làcon đường vượt lên hiện tượng học của chủ nghĩa Mác “ cho nên các phântích hiện tượng học cụ thể chỉ có thể thấy hết được giá trị của chúng và đượcphát triển đầy đủ trong phạm vi của chủ nghĩa duy vật biện chứng” Và rõhơn “ cái cụ thể ( trong hiện tượng học) chỉ có thể được miêu tả đúng đắntrong vân động thực tế của các nhân tố quyết định vật chất”

Bên cạnh đó, Trần Đức Thảo còn khẳng định “ Công lao của hiện tượng học chính là ở chỗ nó chuyển tải những khả năng giải quyết của nhân loại Nó có sức mạnh không chỉ vì nó có mặt trong nhiều triết học mà

nó còn gặp gỡ cả với khoa học hiện đại Đúng như dự kiến của nhiều người cách đây hàng thập kỉ đã khẳng định rằng nó là nguồn mạch kinh điển cho mai sau” Ngoài ra ông còn nói rằng “ “Ta thấy cái giá trị của hiện tượng

Trang 24

học là do việc nó đem lại cho lối diễn tả (có) phương pháp một sự chính xác đặc biệt, và khiến ta có thể nhận ra cảm giác mới là nền tảng của tất cả mọi

ý nghĩa của chân lý Nhưng việc chỉ theo quan điểm của mình để trừu tượng hóa đã không cho phép hiện tượng học thấy được cái nội dung thực chất (vật chất) của cuộc sống cảm tính Và như thế chỉ còn lại cái “dữ kiện (mang tinh chất) cảm tính” thuần túy, tách biệt khỏi mọi quy luật của chân

lý Từ đây, tất cả công lao (bàn) về việc thế giới đương cấu tạo tự sụp đổ nếu (phải) chấp nhận cái ngẫu tính cực đoan Công việc mà hiện tượng học đeo đuổi muốn tìm ra một sự chứng thực đầy đủ, tức một công việc giúp triết học sau cùng (cũng) phải đi vào “con đường chắc chắn của khoa học”, mâu thuẫn thay, lại đưa nó vào một chủ thuyết tương đối (của) cảm giác (Như vậy) Nhờ vào (với) hiện tượng học, cái truyền thống vĩ đại của chủ thuyết duy ý lý trí đã tự hoàn tất qua phương cách tự tạo mình bằng cách vất bỏ mình” [20- tr.179].

Theo Trần Đức Thảo, hiện tượng luận Husserl là trường rộng lớn, cóthể nói là vô hạn cho các nghiên cứu mạng tính phương pháp luận, nhậnthức luận, bản thể luận, đạo đức học, thẩm mỹ học, xã hội học về mọi chủ đềtriết học thông qua việc quay trở về với các hiện tượng của của ý thức và

phân tích chúng “Hiện tượng học được định nghĩa là thấu hiểu của ý thức được thanh lọc bởi sự quy giản siêu nghiệm” [20- tr 86] vì vậy mà nó giúp

khám phá bản thể thật sự của sự vật tồn tại là bản thể được kiến tạo trongtính chủ quan siêu nghiệm Nhưng tính độc đáo của hiện tượng học chính làđược đặt trên một quan niệm hoàn toàn mới về các quan hệ của nhận thức,

và một cách tổng quát hơn là quan hệ giữa tư duy và bản thể

Trần Đức Thảo trong tác phẩm Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vậtbiện chứng đã đưa ra các nguyên tắc tiếp cận chủ yếu của hiện tượng họcHusserl Đó là:

Thứ nhất: Nguyên lý cơ bản “ tất cả cái gì tự phô ra với chúng ta trong trực giác một cách nguyên gốc- bằng xương bằng thịt – phải được

Trang 25

nhận thức đơn giản như nó được cho” [20- tr 176] Có thể khẳng định đây

là “ nguyên tắc của mọi nguyên tắc triết học” Nó vượt ra khỏi khuôn khổcác vấn đề riêng của lôgic học và nhận thức luận và quyết định đến cảmhứng hiện tượng học, tóm gọn lại trong khẩu hiệu nổi tiếng “ quay trở về vớichính sự vật” [ 20- tr.111]

Thứ hai: Thực hiện sự phân tích hiện tượng học, triết học cần phải trở

thành khoa học về các bản chất, về sự tri giác các bản chất Trần Đức Thảo

nhận xét “ Điều khá lý thú là kĩ thuật trực giác các bản chất xuất hiện nhân một mối quan hệ quen thuộc đối với các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa: quan

hệ giữa tổng thể với các bộ phận không thể tách rời nó, như màu sắc và bề mặt trong đối tượng nhìn” [20- tr.32- 33] Trần Đức Thảo đã phát hiện ra sự

độc đáo của Husserl là ở chỗ đã thấy được rằng, nếu không thể có một màusắc mà thiếu một bề mặt thì đó là vì có sự phụ thuộc vào bản chất của màu

sắc chỉ hiện lên trên một bề mặt, do vậy, ông khẳng định: “ Ý thức về tính không thể xác định điều kiện của tính có thể, một định luật riêng nghiệm”.

Trực giác các bản chất quy định một hệ thống các quy luật tiên nghiệm ápđặt cho các khoa học thực tế đòi hỏi các khoa học này phải luôn luôn phùhợp với bản chất của đối tượng của chúng Mà để tiến tới bản chất thì trướchết cần phải có thái độ, tâm thế đặc thù cùng với động cơ nghiên cứu ngượcvới “ thái độ tự nhiên” vốn đặc trưng cho đời sống thường nhật và cho cácnhà khoa học tự nhiên “ thực tế” Nếu trong thái độ tự nhiên, thế giới hiện ranhư là “ thế giới của các sự vật, các giá trị, như là thế giới thực tiễn” như làhiện thực hiện hữu, được cho trực tiếp thì về thực chất trong thái độ hiệntượng học tính “ cho trước” của thế giới lại có vấn đề, đòi hỏi phải đượcphân tích thêm nhờ kỹ thuật biến thể Mọi vật ở tất cả các lĩnh vực tồn tạiđều là một chỉ số đối với một hệ thống những cái đã “ sống trải” trong đó nó

“ đã cho” theo những định luật tiên nghiệm Husserl đã thừa nhận rằng “ sự phát hiện đó đã tạo ra cho tôi một sự rung chuyển hết sức sâu sắc vì từ đó

Trang 26

trở đi, tất cả công việc của đời tôi bị chi phối bởi nhiệm vụ xây dựng hệ thống cho cái tiên nghiệm của mối quan hệ qua lại này” [ 20- tr 48].

Ngay sau đó, Trần Đức Thảo khẳng định “ chủ nghĩa tâm lý mà tư duy chấp nhận một cách tự phát khi nó muốn tự hiểu về bản thân nó dẫn đến chủ nghĩa hoài nghi Sự suy nghĩ về vấn đề nhận thức đòi hỏi phải vượt qua khỏi thái độ tự nhiên” (20- tr 60] bởi vì trực giác các bản chất dưới

hình thức khởi nguyên trực tiếp nhằm vào chính bản thể của sự vật, bản thểcủa cái đang tồn tại Trần Đức Thảo khẳng định các nghiên cứu về bản chấtkhông nhằm vào phân tích đơn giản các khái niệm mà vào việc xây dựngmột bản thể học phổ biến Trước khi nghiên cứu các sự vật cần phải xácđịnh các bản chất tạo nên chúng

Thứ ba: Trần Đức Thảo đã đưa ra tư tưởng về sự quy giản các hiện

tượng học Ông cho rằng để giải phóng khỏi thái độ tự nhiên cần phải dùngcác thủ thuật của phương pháp luận chuyên biệt mang tính “ làm sạch” Lýluận về sự quy giản đã được Husserl trình bày lần đầu tiên trong giáo trình “Những luận điểm cơ bản của hiện tượng học và của sự phê phán lý tính”.Ông cho rằng nhà triết học không được phép dựa vào bất kì một mệnh đềnào được ông ta chấp nhận từ trước đến nay Ông ta cần phải tìm ra mộtnhận thức thuộc loại mới, tuyệt đối chắc chắn Cần tránh chủ nghĩa hiệnthực tương ứng với thái độ tự nhiên bằng sự “ quy giản” do nhận thức đòihỏi, việc này đòi hỏi buộc phải gác lại tất cả các quan điểm siêu nghiệm.Một khi việc đó làm rõ ý nghĩa tuyệt đối của “ hiện tượng thuần túy” và triệt

để phân tích nó với “ hiện tượng tâm lý” thì nó sẽ xứng đáng với tên gọi “phép quy giản hiện tượng học”

Trần Đức Thảo cũng làm rõ khái niệm “ phép quy giản hiện tượnghọc” Ông cho rằng, phép quy giản hiện tượng học là một trong những kháiniệm then chốt của hiện tượng học Husserl đặc trưng cho những thủ thuậtcủa phương pháp hiện tượng học vốn chủ yếu thực hiện chức năng phêphán- dọn sạch con đường dẫn đến sự phân tích riêng hiện tượng học đối với

Trang 27

“ ý thức thuần túy” và các hiện tượng của nó Trần Đức Thảo nhận xét “

Việc gác lại các luận đề siêu nghiệm không còn bị thúc đẩy bởi các đòi hỏi của nhận thức luận, nó chỉ đơn giản là một quyết định có thể vì sự tự do”

[20- tr 73- 74] Câu nói này của Trần Đức Thảo có thể hiểu là: đáng lẽ ra

để mình trôi theo cuộc sống tự phát này thì tôi lại có thể, bằng một hànhđộng tự do, thực hiện một sự thay đổi triệt để về thái độ Tôi có thể gác lạilập trường chung về sự tồn tại, không tin ở thế giới nữa trong khi vẫn sốnggiữa thế giới Rộng hơn là chúng ta không theo bất kỳ lập trường nào màchúng ta bằng lòng với việc tránh phải chọn một thái độ trong khi vẫn tiếptục sống một cách tự nhiên Chúng ta tiếp tục tin vào hiện thực trong khi lạitránh tham dự vào niềm tin đó Nhận xét vè điều này, Husserl viết “ chúng takhông thay đổi gì hết đối với tín niệm của chúng ta, tín niệm ấy trong tựthân nó vẫn là cái như nó có nhưng chúng ta lại đem tín niệm đó có thể nói

là đặt ra ngoài cuộc chơi Nhưng nó vẫn cứ ở đó vẫn luôn luôn được trảinghiệm nhưng chúng ta làm cho nó “ vô dụng chẳng dùng vào việc gì” Sựchuyển đổi giá trị này là việc làm của sự tự do hoàn toàn của chúng ta”

Thứ tư: Trần Đức Thảo còn có quan niệm về Epoche Epoche không

phải là một phương pháp tiến hành phủ định đơn giản, trái lại nó bóc trầnđời sống cụ thể của ý thức thuần túy trong sự tồn tại tuyệt đối của nó Trongdòng chảy của cái đã sống chảy hình thành các siêu nghiệm với danh nghĩa

là các đơn vị có chủ định Như vậy empoche không phải là phương pháp suyluận lôgic mà chính là một sự nhận thức thực tế đã trải nghiệm: ý thức quaylại nhìn về phía bản thân nó để làm nội dung vốn trước đây chỉ là cái đãsống trải chứ chưa được tri giác như thế Do đó, quy giản hiện tượng học làquá trình kế tiếp với các thang bậc sau:

Giai đoạn 1: giai đoạn chuẩn bị.

Giai đoạn 2: giai đoạn quy giản bản chất có mục đích làm sạch các

hiện tượng ý thức khỏi nội dung kinh nghiệm, dữ kiện, dọn đường đi đến “

Trang 28

trực giác các bản chất” và tương ứng là đi đến hiện tượng học như là khoahọc về các bản chất.

Giai đoạn 3: giai đoạn quy giản riêng hiện tượng học hay quy giản

siêu nghiệm Sự quy giản này có nhiệm vụ chuyển sự phân tích từ chủ thểkinh nghiệm cụ thể “ tôi thuần túy” sang tính chủ quan thuần túy

Theo Trần Đức Thảo cho rằng trên bình dị thủ thuật- phương phápluận , sự quy giản hiện tượng học được kỳ vọng phải tác động thúc đẩy tạo

ra “ các hành vi tự ý thức” mà nhờ đó sống trải trở thành “ sống trải tuyệtđối” Trên bình diện thế giới quan, quy giản hiện tượng học thúc đẩy việckhám phá “ trường ý thức phổ quát” và chuyển hóa mọi “ tồn tại tự nhiênthành tồn tại được nhận thức trong ý thức này bằng cách thực nghiệm, đượcsuy tư”, tức là tạo điều kiện khẳng định chủ nghĩa siêu nghiệm hiện tượnghọc Thực hiện quy giản hiện tượng học cho phép chuyển sang địa hạt

nghiên cứu “ ý thức thuần túy” Trần Đức Thảo dẫn dắt như sau “ Tôi tước

bỏ đi điều mà màu đỏ có ý nghĩa ở mặt khác và có thể làm nó hiện ra thành cái tiên nghiệm, ví dụ như màu đỏ của tờ giấy thấm trên bàn Trong một trực giác thuần túy, tôi thực hiện ý nghĩa của ý niệm “ đỏ” nói chung, màu

đỏ, cái phổ biến đồng nhất mà trực giác tách ra được từ cái này hay cái khác Cái riêng như thế bây giờ không còn bị nhắm vào, không còn cái này hay cái kai nữa, mà là màu đỏ nói chung” [ 20- tr 71] Như vậy, theo Trần

Đức Thảo, chỉ có epoche mới xứng đáng với cái tên hiện tượng học của nó

Thứ năm: Quan niệm của “ ý thức thuần túy”: Theo Trần Đức Thảo “

ý thức thuần túy” là sự thống nhất phức tạp các yếu tố cấu trúc và các mốiliên hệ bản chất của ý thức do hiện tượng học xây đắp mà thành, là tập hợpnhững cái đã sống trải và nó xứng được gọi tên “siêu nghiệm” vì chính giảipháp cho vấn đề nhận thức tìm được thấy ở nó bằn cách quy giản hiện tượnghọc đối với nó nắm được bản chất của nhận thức “ Ý thức thuần túy “không chỉ là đối tượng phân tích của hiện tượng học mà còn là cái nền trên

đó chủ nghĩa siêu nghiệm Husserl đòi hỏi phải chuyển mọi hệ vấn đề triết

Trang 29

học sang đó Tính độc đáo và tính có ý nghĩa lý luận của hiện tượng học tựutrung ở việc xây dựng mô hình ý thức nhiều lớp qua các tầng trung gianphức tạp

Thông qua Ý thức thuần túy, Trần Đức Thảo đã đưa ra những đặc

điểm của hiện tượng học bao gồm những vấn đề sau:

Một là: Hiện tượng học tập trung chú ý đến việc, ý thức là dòng chảy

không đảo ngược, từ đó đặt ra nhiệm vụ nắm bắt về mặt phương pháp luậndòng ý thức nhằm mô tả, nắm lấy đó bằng cách “ bơi cùng dòng chảy đó”cho dù nó nó có tính không đảo ngược, nhưng nếu chú ý đến tính có trật tựtương đối, tính có cấu trúc của nó thì vẫn có thể vạch ra để phân tích nhữngđơn vị trọn vẹn của nó, những hiện tượng

Hai là: Hiện tượng học nhất quán đi từ hiện tượng đầy đủ đến hiện

tượng “ được quy giản” Để quy giản hiện tượng thì toàn bộ kinh nghiệm- cụthể đều được “ tách ly” ra khỏi nó một cách tư tưởng đầy đủ, sau đó là vậnđộng từ sự diễn đạt ngôn ngữ đến ý nghĩa của nó, rồi từ ý nghĩa đến tưtưởng, tức là đến cái được tạo lập, đến những đối tượng được nhằm tới,trong đó có cả chính chủ thể

Ba là: Trong sự phân tích hiện tượng học là sự phân tích có chủ định

để tìm thấy điểm xác định của nó trong lý thuyết về sự xác thực “ Nhờ vào việc xác định các điều kiện của sự xác thực này, chúng ta sẽ cố định được ý nghĩa của đối tượng đó là mục đích của phân tích hiện tượng học” [ 20- tr.

14] Việc phân tích hiện tượng học làm cho không còn sự lầm lẫn rắc rối

trong việc xác định “ đối tượng của kinh nghiệm có thể là một đối tượng cảm tính hay hay là một đối tượng phạm trù” [ 20- tr 15].

Bốn là: Tính có chủ định là một đặc điểm căn bản của hiện tượng học.

Trong lịch sử tư tưởng, tính có chủ định là khái niệm của nhiều triết thuyếtghi nhận khả năng đặc biệt của ý thức con người luôn hướng đến đối tượngnào đó, “ sự giả định” lý tưởng đối tượng vào trong ý nghĩ và bằng cách đólàm cho đối tượng trở thành đối tượng lý tưởng

Trang 30

Như vậy chúng ta thấy Trần Đức Thảo là “ một nhà Mác- xít phươngĐông” sống và làm việc ở phương Tây Quan điểm của ông về chủ nghĩahiện sinh, về hiện tượng học luôn nhất quán với các nhà Mác- xít Pháp Điềuquan trọng trong tư tưởng của ông là ông đã phê phán hiện tượng học không

sa vào lối nói “ đao to búa lớn” không dùng “ đòn chí tử”, không dùng mộtlần từ “ không khoan nhượng” mà rất bình tĩnh, đúng mực Đây không chỉ làtác phong làm việc của một nhà trí thức lớn, một nhà triết học mà còn là mộtthái độ đầy tính xây dựng, ông coi các nhà hiện tượng học là những ngườiđồng hành trên con đường muôn dặm để cùng nhau đi tìm chân lý

2.1.2.3 Những hạn chế còn tồn tại trong quan niệm của Trần Đức Thảo về hiện tượng học

Một là: Bên cạnh những giá trị đạt được thì trong quan niệm của Trần Đức Thảo vẫ còn những hạn chế nhất định, đó là về phương pháp hiện tượng học Phương pháp hiện tượng học trình bày chưa được đầy đủ, ngoại

trừ phương pháp thế giản hóa hay giảm trừ thì các phương pháp khác hầunhư không được ông bàn tới Chính vì lý do đó, nó đã không giúp được ôngtrong trong công việc nhận diện cái toàn thể của phương pháp hiện tượnghọc, và nhất là không giúp ta hiểu sâu thêm về thông diễn học

Hai là: Một trong những lý do quan trọng khiến nhiều người tuy

tham khảo nhưng không sử dung lối nhìn của ông về hiện tượng học, đó làviệc Trần Đức Thảo chưa đi tới cội nguồn của nó Chính vì chỉ nhìn ra côngnăng diễn tả của phương pháp hiện tượng học mà có lẽ ông đã đồng hóa nóvới lối vẽ vời Chính hạn chế này đã đưa ông đi đến nhận định rằng nền triếthọc này không thể giúp ta nhận ra một thế giới thực tiễn, nó càng không thể

có đủ khả năng để giải quyết những vấn nạn hiện thực bởi vì nó thiếu tínhchất thực hành

Ba là: Để phù hợp với chủ trương duy vật, Trần Đức Thảo coi hiện

tượng học chỉ là một lối suy tư của thế giới tư sản, hay giai cấp tư sản, mangtính chất diễn tả lịch sử mà thôi Theo đánh giá của Merleau Ponty: khi giản

Trang 31

lược tất cả phong trào hiện tượng học vào một hình thái tư duy tư sản, Giáo

sư Thảo đã nhầm lẫn giữa tư tưởng và thế giới của những người chủ trương

tư tưởng Theo một lý luận bị giản đơn hóa như vậy, hiện tượng học đồngnghĩa với nền tư tưởng tư sản, và nền tư tưởng này lại đồng nghĩa với thếgiới tư bản, mà thế giới tư bản được hiểu như là đế quốc thực dân

2.2 Tính chất duy vật biện chứng nhân bản- đỉnh cao trong triết học Trần Đức Thảo.

2.2.1 Con đường Trần Đức Thảo đến với chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản.

“ Việc nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất chủ nghĩa Mác mới vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học” [ 27]

Toàn bộ hoạt động sáng tạo của Trần Đức Thảo khẳng định ông làmột nhà trí thức yêu nước sâu sắc, một nhà khoa học lỗi lạc Trần Đức Thảo

đã nói trong lời tự bạch của mình “ Trong tiến trình của mình, tôi đã được dẫn đến chủ nghĩa Mác bằng hai con đường: một là cuộc đấu trành giành độc lập dân tộc dẫn tới chủ nghĩa xã hội, một mặt khác nghiên cứu triết học

và lịch sử đã cho tôi thấy rằng chủ nghĩa Mác- Lênin mới cung cấp giải pháp đúng đắn cho những vấn đề chung của lý thuyết khoa học”

Thứ nhất: Trong tiểu sử tự thuật của Trần Đức Thảo, ông đã khẳng định rõ ràng lý do tại sao ông đến với chủ nghĩa Mác “ Vào đầu tháng 10 năm 1945, tòa án quân sự đã bắt giữ 50 người Đông Dương ở Paris Một số

tờ báo đã viết rằng những người này đã hợp tác với những người cầm quyền Đức và Nhật Thực tế, tòa án đã không tìm được bất cứ một bằng chứng nào chứng tỏ điều đó và những tờ báo vu khống đã bị kiện vì nói sai

sự thật Tòa án đã khép tội cho những người này là đe dọa đến an ninh nước Pháp trong những lãnh thổ có chủ quyền của Pháp Tổng Liên đoàn những người Đông Dương đã đệ đơn kiện lời vu khống của báo chí cho rằng tôi có quan hệ với những người Đảng viên Quốc xã Ngay lập tức

Trang 32

những tờ báo này ngừng vu khống và nhận thấy rằng những lời vu cáo đó là

vô căn cứ Bài báo “ Về Đông Dương” của tôi được đăng tạp chí Les Temps Modernes số 5 đã được viết trong thời gian bị giam giữ một mình tại nhà tù Prison de la Sante Tôi đã sử dụng thời gian rảnh rỗi này để kiểm tra lại nhận thức của mình về hiện tượng học Nhưng hoàn cảnh khách quan

mà tôi đang lâm vào, cùng với sự đối kháng mạnh mẽ giữa dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa tư bản đế quốc đã hướng tôi tới con đường của chủ nghĩa Mác- Lênin, kết quả của sự định hướng này là tác phẩm Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng” [ 27- tr 13] Bên cạnh đó, khi nghiên cứu

những tư tưởng triết học của Husserl, ông đã phát hiện ra những hạn chếtrong chủ nghĩa hiện sinh và ông đã quyết tâm từ giã chủ nghĩa hiện sinh: “

Trong giai đoạn cuối cùng của tôi ngày xưa ở bên Pháp, tôi đã xác nhận chủ nghĩa Mác trong bài từ giã chủ nghĩa hiện sinh: Hiện tượng học của tinh thần và nội dung thực tế của nó Trong ấy tôi biện minh cho sự lựa chọn của tôi bằng cách nêu lên những chân trời rộng rãi mà quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử xã hội mở ra cho công việc phân tích ý thức sinh thức” [ 8 tr.1]

Thứ hai: khi nghiên cứu về phương pháp hiện tượng luận của Husserl

và tư tưởng triết học của Stalin thì Trần Đức Thảo khẳn định rằng: cảHeghel, Husserl và Stalin vẫn nằm trong giới hạn của chủ nghĩa duy tâm,bởi vì họ chưa phân tích và nhận thức được mối liên hệ giữa tinh thần, ýthức với lịch sử của sự sống Trần Đức Thảo bước đầu thấy được rằng muốnnhận thức được mối liên hệ giữa ý thức, tinh thần và lịch sử thì phải đứngtrên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác Trong tác phẩm

“Một hành trình” ông cũng đã nói rõ chủ nghĩa đế quốc đàn áp, bóc lột các

dân tộc thuộc địa, tức là đàn áp, bóc lột con người Để thực hiện sự giảiphóng các dân tộc thuộc địa thì người dân thuộc địa phải tự giải phóngmình, trước hết về mặt tinh thần, ý thức Điều này đã thúc đẩy ông đi từ hiệntượng luận đến chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản Ông cũng ý thức

Trang 33

được rằng, để gia nhập vào gia đình chủ nghĩa duy vật biện chứng thì phảitriệt để chống tư tưởng siêu hình.

Thứ ba: Trong phần một của tác phẩm “Một hành trình”, tác giả cũng

trình bày lý do tại sao ông đã tiếp nhận chủ nghĩa Mác, phát triển chủ nghĩaduy vật biện chứng Ông nói rõ: được đào tạo tại trường Đại học Pháp, tấtnhiên ông đã tiếp nhận các học thuyết duy tâm, đặc biệt là chủ nghĩa duy lý,nhưng chính vì vậy ông đã có cơ sở hiểu rõ hơn vì sao Mác đã vận dụngphép biện chứng của hiện tượng học tinh thần của Heghel, cải tạo nó ápdụng vào chủ nghĩa duy vật, sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng Husserl

đã tiếp tục hiện tượng học tinh thần của Hêghel nhưng đã đưa hiện tượng

học tinh thần lên một trình độ cao hơn ở hai điểm cơ bản Một là: Husserl đã

nhấn mạnh cái biện chứng của tinh thần là ở chỗ cùng một hiện tượngnhưng với các góc nhìn, các khoa học khác nhau thì hiện tượng đó được

nhận thức, diễn đạt dưới những nội dung, hình thức khác nhau Hai là:

Husserl đặc biệt phát hiện ra rằng ngôn ngữ và ý thức luôn luôn hướng vềmột đối tượng, khái niệm- tức là đối tượng tồn tại trong một hình thức mới,hình thức của vận động tinh thần Và Husserl đã đặt vấn đề: vậy thì phải cómột động lực để tạo ra sự định hướng ấy, và ông mơ hồ nhận thấy đó phải làmột lực lượng vật chất Đây là luận đề thiên tài của Husserl mà chỉ có TrầnĐức Thảo mới nhận thức và phát hiện ra được

Thứ tư: Và một trong những lý do nữa mà Trần Đức Thảo đã chuyển

nhanh chóng từ hiện tượng học sang chủ nghĩa Mác, đặc biệt là thể hiện rõ

nét tư tưởng duy vật biện chứng nhân bản của mình đó là chủ nghĩa nhân đạo Tinh thần nhân đạo của ông thể hiện trước hết là chủ nghĩa yêu nước đã

thôi thúc ông không chần chừ nêu cao “ phép biện chứng lịch sử hiện thực”như một lời kêu gọi chống chủ nghĩa đế quốc, trước mắt là chống thực dânPháp đang quay trở lại xâm lược nước ta Nhận xét điều này, Giáo sư Phan

Ngọc có khẳng định rằng “ Trần Đức Thảo đến với chủ nghĩa duy vật sau khi trèo lên đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy tâm thời đại này là hiện tượng

Ngày đăng: 09/01/2017, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w