Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra như vũ bão, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế … Đang có tác động to lớn tói sự phát triển của nền kinh tế tất cả các nước trên thế giới. Ngày nay, trong sự phát triển nền kinh tế của đất nước không thể không thể có sự vắng bóng của yếu tố khoa học công nghệ. Bởi lẽ, khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trong quá trình sản xuất, nhờ vào việc ứng dụng những thành tựu, phát minh khoa học mà hiệu quả lao động ngày càng cao, năng xuất lao động ngày càng tăng. Do đó, để thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển vượt bậc, thì mỗi quốc gia cần phải quan tâm, đầu tư phát triển khoa học đúng mức. Vậy, khoa học là một hệ thống những tri thức phản ánh những quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó bao gồm rất nhiều những bộ môn khoa học cụ thể, giữa chúng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, bổ trợ cho nhau không tách rời nhau. Trong đó, mối quan hệ giữa triết học và sinh học là một sự tiêu biểu cho những mối quan hệ kiểu như vậy.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6.Đóng góp của đề tài 7
7.Kết cấu của đề tài 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: Mối quan hệ giữa sinh học và triết học 8
1.1 Khái quát chung về sinh học và triết học 8
1.1.1 Sinh học 8
1.1.2 Triết học 12
1.2 Mối quan hệ giữa triết học và sinh học 14
1.3 Yếu tố triết học trong sinh học 16
1.3.1 Vấn đề sự sống và yếu tố triết học của nó 16
1.3.1.1Vấn đề về sự sống 16
1.3.1.2 Yếu tố triết học trong vấn đề về sự sống 22
1.3.2 Sinh thái học nhân văn và yếu tố triết học trong sinh thái học nhân văn 23
1.3.2.1 Sinh thái học nhân văn 23
1.3.2.1.1 Sinh thái học 23
1.3.2.2 Sinh thái học nhân văn 25
1.3.2.3 Yếu tố triết học trong Sinh thái học nhân văn 29
Chương 2: Vai trò của sinh học trong việc giảng dạy các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 31
2.1 Những khó khăn trong giảng dạy bộ môn triết học Mác – Lê nin hiện nay 31
2.2 Sự cần thiết của việc vận dụng tri thức sinh học trong việc giảng dạy triết học hiện nay 33
Trang 22.3 Vận dụng một số tri thức sinh học vào trong giảng dạy các quy luật cơ bảncủa phép biện chứng duy vật 342.3.1 Khái quát chung về phép biện chứng duy vật 342.3.1 Sự cần thiết của sự vận dụng một số kiến thức sinh học vào trong giảngdạy các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 362.3.2 Vận dụng một số kiến thức sinh học vào trong giảng dạy quy luật chuyểnhóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngượclại……….372.3.2.1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thayđổi về chất và ngược lại 372.3.3.2 Quy luât lượng chất trong quá trình hình thành sự sống trên trái đất 402.3.3.3 Quy luật lượng chất trong sự hình thành và phát triển của loài người 432.3.4 Vận dụng một số tri thức sinh học trong giảng dạy quy luật thống nhất vàđấu tranh của các mặt đối lập 442.3.4.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các các mặt đối lập (Quy luật mâuthuẫn) 442.3.4.2 Quy luật mâu thuẫn trong quá trình đồng hóa và dị hóa 482.3.4.2 Quy luật mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa vật chủ và vật ký sinh trongcấu trúc quần xã sinh vật 492.3.5 Vận dụng một số tri thức sinh học trong giảng dạy quy luật phủ định củaphủ định 502.3.5.1 Quy luật phủ định của phủ định 502.3.5.2 Quy luật phủ định của phủ định trong sự phát triển của hệ sinh thái nhânvăn……… 53
KẾT LUẬN 56 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới đang có những bước chuyển mình mạnh
mẽ, cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra như vũ bão, cùng với sự bùng nổcủa công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế … Đang có tácđộng to lớn tói sự phát triển của nền kinh tế tất cả các nước trên thế giới
Ngày nay, trong sự phát triển nền kinh tế của đất nước không thể khôngthể có sự vắng bóng của yếu tố khoa học - công nghệ Bởi lẽ, khoa học - côngnghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trong quá trình sản xuất, nhờ vàoviệc ứng dụng những thành tựu, phát minh khoa học mà hiệu quả lao động ngàycàng cao, năng xuất lao động ngày càng tăng Do đó, để thúc đẩy nền kinh tế đấtnước phát triển vượt bậc, thì mỗi quốc gia cần phải quan tâm, đầu tư phát triểnkhoa học đúng mức
Vậy, khoa học là một hệ thống những tri thức phản ánh những quy luậtvận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Nó bao gồm rất nhiềunhững bộ môn khoa học cụ thể, giữa chúng lại có mối quan hệ tác động qua lạilẫn nhau, bổ trợ cho nhau không tách rời nhau Trong đó, mối quan hệ giữa triếthọc và sinh học là một sự tiêu biểu cho những mối quan hệ kiểu như vậy
Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thếgiới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy Triết học ra đời từ thựctiễn, do nhu cầu của thực tiễn Chức năng cơ bản nhất của nó là cung cấp thếgiới quan và phương pháp luận chung nhất cho hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn cho con người
Sinh học là một bộ môn khoa học về sự sống, về những quy luật hìnhthành, vận động và phát triển của sự sống diễn ra trong sinh vật, là sự giải đápnhững vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa cơ thể động vật và thực vậtvới môi trường
Nghiên cứu những thành tựu của sinh vật học dựa trên cơ sở khái quát vànguyên tắc của các nguyên lý và những quy luật cơ bản của triết học, sẽ góp
Trang 4phần làm sang tỏ hơn những vấn đề về bản chất sự sống, bản chất của di truyền,
về những vấn đề có tính toàn vẹn của cơ thể, về mối quan hệ và sự tác động lẫnnhau giữa cơ thể sống với môi trường, giữa con người xã hội với tự nhiên và vấn
đề bản chất của con người …
Hiện nay, với những phát minh khoa học có tính đột phá đặc biệt lànhững công nghệ về biến đổi gen đã tạo ra sự khởi đầu kì diệu cho sự phát triểnkinh tế - xã hội cũng như những tìm hiểu bước đầu về cấu trúc con người Sinhhọc hiện đại đang đặt ra rất nhiều vấn đề mà cần có sự kết hợp liên ngành giữatriết học và sinh học để giải quyết như: Đạo đức, nhân cách con người; tương laicon người và xã hội loài người; vấn đề dân tộc , sắc tộc, nhân bản vô tính …
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thếgiới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lê nin Nóđược cấu thành bởi hệ thống các nguyên lý các cặp phạm trù và các quy luật
cơ bản Trong đó, có hai nguyên lý cơ bản đó là: nguyên lý về sự phát triển vànguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ba quy luật cơ bản đó là: Quy luậtchuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất vàngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật phủđịnh của phủ định
Nghiên cứu triết học trong sinh học để vận dụng những kiến thức sinhhọc trong việc giảng dạy các nguyên lý và quy luật cơ bản của phép biện chứngduy vật, là một việc làm cần thiết và có nhiều ý nghĩa to lớn Nó giúp cho cácnhà triết học hiểu biết thêm về những tri thức sinh học, giúp họ thấy rõ được cơ
sở chính xác, khoa học, để triết học dựa vào đó khái quát lên thành nhữngnguyên lý, những cặp phạm trù , những quy luật triết học Mác - Ăng ghen đãnói” Mỗi lần có một phát minh vạch thời đại, ngay cả trong lĩnh vực khoa học
tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi thay đổi nhận thức của nó”
Lịch sử triết học nhân loại đã cho thấy, triết học duy vật biện chứng rađời không chỉ dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội và cơ sở lý luận, thì nó còndựa trên ba phát minh khoa học lớn, có tính vạch thời đại Trong đó, có hai phát
Trang 5minh thuộc về sinh học đó là: Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn, thuyết tế bàocủa Svan và Slayden cùng với định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượngcủa Rô béc Maye và Len xơ.
Mặt khác, nghiên cứu triết học trong sinh học giúp cho các nhà sinh họcnhận thức và biết vận dụng mọt cách đúng đắn sang tạo thế giới quan duy vậtbiện chứng đúng đắn và phương pháp luận khoa học triết học vào quá trìnhnghiên cứu sinh học.Giúp cho các nhà sinh học có thể tiến xa hơn,đi sâu hơn vàđạt được thành tựu lớn hơn trong lĩnh vực nghiên cứu của mình
Không chỉ trong nghiên cứu mà trong lĩnh vực giảng dạy triết học Mác
-Lê nin Thì việc vận dụng các tri thức sinh học trong giảng dạy triết học nóichung và trong các nguyên lý và các quy luật cơ bản của phép biện chứng duyvật cũng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết Bởi lẽ, các tri thức,các nguyên lý, quy luật triết học thường khó và trìu tượng ,nên người học sẽ rấtkhó khăn trong việc tiếp thu và lĩnh hội
Việc nghiên cứu và vận dụng tri thức sinh học vào trong giảng dạy triếthọc sẽ làm mềm hóa tri thức triết học và làm cho bài giảng sinh động hơn ,gắnliền với thực tiễn hơn, do vậy sẽ thu hút được người học và làm cho giờ học hiệuquả hơn
Đặc biệt, việc vận dụng những tri thức sinh học trong giảng dạy cácnguyên lý các quy luật cơ bản của phép biện chứng ,còn trang bị cho người họcnhững tri thức vừa rộng hơn vừa sâu hơn và toàn diện hơn về thế giới để từ đónâng cao hiệu quả trong hoạt động học tập và nghiên cứu và hoạt động thực tiễncủa mình
Song, việc tìm hiểu và vận dụng các tri thức sinh học trong việc giảng dạycác nguyên lý và quy luật cơ bản là một việc làm không hề giản đơn.Vì vậy, đềtài chỉ mới gợi ý cách vận dụng một số lĩnh vực sinh học trong phạm vi giảngdạy các nguyên lý và quy luật của phần phép biện chứng duy vật
Xuất phát yêu cầu và thực tiễn của việc giảng dạy triết học hiện nay, mà
em quyết định chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình: “ Sinh
Trang 6học trong việc giảng dạy các nguyên lý và các quy luật cơ bản của phép biệnchứng duy vật.
2 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu tìm hiểu và vận dụng tri thức sinh học trong giảng dạycác nguyên lý và các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật là mộtviệc làm hoàn toàn mới mẻ và cũng không hề đơn giản
Ở Việt Nam hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứumột cách hoàn chỉnh và tỉ mỉ để tìm ra yếu tố triết học trong sinh học và đặc biệt
là việc vận dụng các tri thức sinh học vào trong giảng dạy triết học nói chung vàcác nguyên lý và quy luật cơ bản cuả phép biện chứng duy vật và cũng chưaxuất hiện một giáo trình chuẩn và chính thức nào cho việc giảng dạỵ Bộ mônsinh học giành cho triết học cho sinh viên và đặc biệt là cho sinh viên chuyênngành triết học
Tuy nhiên¸ hiện nay cũng đã có một số cuốn sách và công trình khoa học
đã di vào nghiên cứu và tìm ra yếu tố triết học cũng như ý nghĩa triết học trongmột số lĩnh vực sinh học cơ bản tiêu biểu hơn cả phải kể tới:
Trong tác phẩm “ Biện chứng của tự nhiên” Được Ăng ghen viết vàonhững năm 1873 - 1883 và được bổ sung thêm vào những năm 1885 - 1886.Trong đó, Ăng ghen đã dành một số chương nhất định để trình bày một cáchkhái quát và cơ bản nguồn gốc của sự sống và sự hình thành con người Dựa trênnhững thành tựu của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ và những bằng chứng xácthực của sinh học, Ăng ghen đã chứng minh rằng: Quá trình hình thành sự sống
và loài người là quá trình phát triển biện chứng của tự nhiên Tác phẩm đã cungcấp những luận điểm quan trọng, những quan niệm duy vật biện chứng về quátrình phát triển biện chứng của thế giới tự nhiên sinh vật
Một trong những công trình khoa học tiêu biểu phải kể tới cuốn: “Quanniệm biện chứng về sự phát triển trong sinh học hiện đại”, được dịch từ nguyênbản tiến Nga, xuất bản năm 1980 Đã trình bày một cách hệ thống những quanniệm biện chứng về các vấn đề của sinh học hiện đại với những đóng góp tích
Trang 7cực như: quan niệm giới hữu cơ như một hệ vật chất toàn vẹn tự thân phát triển,quan niệm về tính quy luật trong sự phát triển của giới hữu cơ,quan niệm vềmâu thuẫn là nguồn gốc sự phát triển của giới hữu cơ.
Đặc biệt, giáo trình Triết học trong khoa học tự nhiên của tác giả NguyễnNhư Hải đã trình bày một cách khái quát về ý nghĩa triết học trong các vấn đề
về sự sống, trong học thuyết tiến hóa và trong vấn đề về sinh thái học xã hội vàsinh quyển
Trong cuốn giáo trình “ Tiến hóa”, xuất bản 2009 của Nguyễn Xuân Viết.Tác giả đã trình bày một cách khá biện chúng và đầy đủ về quá trình tiến hóa lâudài của giới sinh vật từ những đơn vị tiến hóa cơ sở là quần thể đến sự tiến hóacấp độ trên loài, nguồn gốc phát sinh sự sống trên trái đất và nguồn gốc xuấthiện loài người… Qua sự phân tích khoa học và bằng chứng sinh học sát thực
mà giáo trình nêu ra đã chứng tỏ rằng: Quá trình phát triển của thế giới sinh vật
tự nhiên là một quá trình tiến hoá lâu dài, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
Gần đây nhất, trong cuốn “ Môi trường và con người sinh thái học nhânvăn” xuất bản năm 2011 của các tác giả Vũ Quang Mạnh và Hoàng Duy Chúcviết đã trình bày một cách khá sinh động và phong phú những vấn đề mà sinhhọc hiện đại ngày nay đang đặt ra Đặc biệt là vấn đề về môi trường, về sinhthái, vấn đề về con người trong sinh thái học nhân văn và vấn đề về sinh quyển
và trí tuệ quyển …
Song, hầu hết các công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở việcnghiên cứu, lý giải những vấn đề cần thiết mà sinh học hiện đại đang đặt ra, trênlập trường duy vật biện chứng và tìm ra các yếu tố triết học và ý nghĩa triết họctrong một số lĩnh vực cơ bản của sinh học mà chưa chỉ ra được một cách cụ thểviệc vận dụng những tri thức sinh học ấy vào trong việc giảng dạy triết học, đặcbiệt là trong giảng dạy các nguyên lý và các quy luật cơ bản của phép biệnchứng duy vật trong các trường cao đẳng và đại học hiện nay
Trang 8Với sự thôi thúc tìm tòi nghiên cứu khoa học, và tính cấp thiết của đề tài.
Em quyết định lựa chọn đề tài: “ Sinh học trong giảng dạy các nguyên lý và cácquy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật ”, để làm đề tài nghiên cứu củamình nhằm góp phần cho việc học tập và nâng cao sự hiểu biết cho sinh viên nóichung và sinh viên khoa triết học nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng kiến thức sinh học trong giảng dạy
các nguyên lý và quy luật cơ bản của phép biên chứng duy vật
Phạm vi nghiên cứu: các nguyên lý và quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở làm rõ yếu tố triết học trong một số lĩnh vực
sinh học để vận dụng những tri thức ấy vào giảng dạy các nguyên lý và quy luật
cơ bản của phép biện chứng duy vật
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên đề tài phải tập trung vào làm
rõ ý nghĩa triết học trong sinh học ,làm rõ những nội dung cơ bản của cácnguyên lý và quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và chỉ ra cách vậndụng những tri thức sinh học đó vào trong giảng dạy các nguyên lý và quy luật
Cơ bản của phép biện chứng duy vật
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó có sử dụng một số phươngpháp cụ thể như: Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích, sosánh, tổng hợp và phương pháp logic kết hợp với lịch sử
Trang 96 Đóng góp của đề tài
Đóng góp về mặt lý luận
Góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận triết học
Mác - Lê nin và tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa triết học với các khoa học
tự nhiên, cụ thể là sinh học
Đóng góp về mặt thực tiễn
Từ việc chỉ ra các yếu tố triết học trong sinh học để vận dụng những trithức đó vào thực tiễn học tập và giảng dạy các nguyên lý và quy luật cơ bản củacác phép biện chứng duy vật Qua đó góp phần nâng cao chất lượng bài giảng vàhiệu quả của việc học tập, lĩnh hội những tri thức của triết học Mác - Lê nin
7.Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo ra: Đề tàigồm 2 chương và 6 tiết
Chương 1: Mối quan hệ giữa sinh học và triết học
1.1 Khái quát chung về triết học và sinh học
1.2 Mối quan hệ giữa triết học và sinh học
1.3 Yếu tố triết học trong sinh học
Chương 2: Vai trò của sinh học trong giảng dạy các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
2.1 Những khó khăn trong giảng dạy bộ môn triết học Mác - Lê nin 2.2 Sự cần thiết của việc vận dụng kiến thức triết học trong việc giảng dạy triết học hiện nay
2.3 Vận dụng kiến thức sinh học vào trong giảng dạy các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Trang 10NỘI DUNG
Chương 1: Mối quan hệ giữa sinh học và triết học
1.1 Khái quát chung về sinh học và triết học
1.1.1 Sinh học
Khái niệm sinh học
Sinh học là một môn khoa học về sự sống ( tiếng Anh là : biology bắtnguồn từ tiếng Hi Lạp với bios là sự sống, và logos là môn học ) Nó là mộtnhánh của khoa học tự nhiên tập chung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệgiữa chúng với nhau và với môi trường Nó miêu tả những đặc điểm và tập tínhcủa sinh vật ( cấu trúc, chức năng, sự phát triển, môi trường sống); cách thức các
cá thể và loài tồn tại ( nguồn gốc sự tiến hóa và sự phân bố của chúng )
Cơ sở của sinh học
Sinh học bao hàm nhiều ngành khoa học khác nhau được xây dựng trênnhững nguyên lý riêng Có bốn nguyên lý tạo thành nền tảng cho sinh học hiệnđại đó: Lý thuyết tiến hóa tế bào; tiến hóa; di truyền và cân bằng nội tại
Sự ra đời của sinh học bắt đầu từ thế kỷ XIX, khi các nhà khoa học tìmthấy các đặc điểm chung cơ bản giữa các loài
Ngày nay, sinh học đã trở thành môn học chuẩn và bắt buộc trong cáctrường học các cấp và cao đẳng, đại học trên khắp thế giới và rất nhiều bài báođược công bố hàng năm ở trên khắp các tạp trí chuyên ngành về y học và sinh học
Lịch sử hình thành và phát triển của sinh học
Có thể nói rằng cho đến nay, việc phân chia lịch sử ra đời và phát triểncủa sinh học vẫn chưa đi đến một sự thống nhất chung Bởi lẽ xoay quanh vấn
đề này vẫn còn tồn tại rất nhiều những quan điểm khác nhau Cơ sở để phân chiasinh học chủ yếu dựa vào sự phát triển của sinh học ở Châu Âu Song, có thểphân kỳ lịch sử của sinh học theo bốn thời kỳ khác nhau cụ thể là:
Thời kỳ thứ nhất: Từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XV
Trang 11Ở thời kỳ này thì về cơ bản Sinh học vẫn chưa có đối tượng nghiên cứuriêng Những nhà triết học đồng thời cũng là những nhà khoa học - sinh học mớichỉ có những phỏng đoán về sự sống, nguồn gốc của giới sinh vật Chẳng hạnmột số quan điểm về sự sống đầu tiên đã xuất hiện, thời Trung Quốc cổ đại sựkết hợp của hai thực khí Âm và Dương tạo ra ngũ hành, trên cơ sở ngũ hành đótạo ra vạn vật và sự sống, Thời Hi Lạp cổ đại nhà triết học Anaximen cho rằngdưới tác động của ánh sáng vào nước đã làm nảy sinh các động vật ở dưới nước,rồi đến các động vật trên cạn.
Từ thế kỷ XIV và XV: Ở phương Đông sinh học vẫn phát triển Trái lại ởphương Tây sinh học bị nhấn chìm trong thế giới quan thần học và tôn giáo.Những nội dung sinh học nói chung đều mang màu sắc của thần học Sự pháttriển ở thời kỳ này không mạnh mẽ, nó chỉ dừng lại ở việc tích lũy những tư liệu
để làm cơ sở cho việc phát triển sinh học sau này
Thời kỳ thứ hai; Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII.
Sinh học tách khỏi triết học trở thành một khoa học độc lập Trong học
đã có sự phân ngành như: phân loại học, giải phẫu học, sinh lý học…Ở giai đoạnnày đã xuất hiện các lý thuyết Andrây Veradơ Qua giải phẫu ông đã chứngminh được con gái và con trai đều có 12 xương sườn Lý thuyết của MixenSecre phát hiện ra vòng tuần hoàn nhỏ trong phổi Còn Bruno cho rằng sự sống
là phổ biến trên trái đất
Thời kỳ thứ ba Từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sinh học đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ và hình hình thành nhiều ngành sinh học mới
Những năm 40 của thế kỷ XIX, Sinh học phát triển mãnh mẽ về lý luận.Điển hình cho sự phát triển đó là là sự ra đời của học thuyết tiến hóa của ĐácUyn và học thuyết tế bào của Svan và Sayden Những thành tựu đó đã cho phépkhái quát và chứng minh những tư tưởng triết học biện chứng duy vật khoa học
Thời kỳ thứ tư: Từ cuối thế kỷ XIX đến nay
Trang 12Trong thời kỳ nay sinh học càng có những bước phát triển mới có tính độtphá phong phú và đa dạng phân ra nhiều nhánh nghiên cứu khác nhau.
Ngày nay, với sự phát triển cuả sinh học hiện đại, đặc biệt là công nghệ
về biến đổi gen đã mở ra một bước ngoặt mới làm thay đổi bộ mặt của sinh họctrong mối tương quan với các khoa học khác Những thành tựu mà sinh học đemlại một mặt thúc đẩy sự phát triển của xã hội, mặt khác nó đặt ra hang loạt cácvấn đề, hiện tượng mới, lĩnh vực mà khoa học vẫn chưa có lời giải đáp
Vị trí của sinh học trong khoa học
So với hầu hết các ngành khoa học khác, đặc biệt là các khoa học tựnhiên Thì sinh học ra đời muộn hơn rất nhiều nó chính thức trở thành mộtngành khoa học độc lập bắt đầu từ thế kỷ XIX
Sự xuất hiện của sinh học có vai trò quan trọng trong sự phát triển củakhoa học và trong lịch sử phát triển nhận thức con người
Nó giúp con người hiểu rõ được những quy luật hình thành, vận động vàphát triển và phát triển sự sống diễn ra trong sinh vật đồng thời lý giải đượcnhững vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa những cơ thể động vật vàthực vật với môi trường quá đó con người có thể tìm rs được quy luật hìnhthành và phát triển của các động vật và thực vật, để từ đó ứng dụng vào tronghoạt động lao động xản suất thực tiễn, phục vụ cho cuộc sống của con người
Trong suốt lịch sử phát triển của sinh học, ở mỗi thời kỳ phát triển thì sinhhọc lại có những mức độ tác động khác nhau tới các ngành khoa học khác Ởnhững thời kỳ đầu thì sự tác động của sinh học còn chưa sâu sắc Song, càng vềsau thì sự tác động đó càng mạnh mẽ và rõ nét hơn
Hiện nay, Sinh học càng ngày càng chiếm các vị trí quan trọng trong khoahọc và có mối quan hệ chặt chẽ với tất cả các khoa học khác, những thành tựu
mà sinh học đạt được đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ trong sự phát triển kinh
tế - xã hội cũng như trong bước đầu nghiên cứu về cấu trúc của con người
Trang 13● Những đặc điểm cơ bản về sinh giới.
Khái niệm giới sinh vật: Giới là đơn vị phân loại lớn nhất bao gồm
những sinh vật có chung những đặc điểm nhất định
Việc phân chia sinh vật thành các giới tùy vào đặc điểm nhất định củatừng thời kỳ:
Vào thế kỷ XVIII, chỉ dựa trên những tiêu chí dễ quan sát về hình tháigiải phẫu của các cơ quan bộ phận cơ thể Các Line - Ông tổ của ngành phânloại học đã chia tất cả các sinh vật thành hai giới là: giới thực vật và giớiđộng vật
Đến thế kỷ XIX, khi phát hiện ra các vi sinh vật như: vi khuẩn , nấm,nguyên sinh động vật Các nhà sinh học đã xếp vi khuẩn, tảo và nấm vào giớithực vật và xếp nguyên sinh động vật vào giới động vật
Đến thế kỷ XX, khi nghiên cứu sâu về cấu tạo hiển vi cũng như phươngthức dinh dưỡng đã xếp các sinh vật thành bốn giới: Giới vi khuẩn gồm vikhuẩn, giới nấm, giới thực vật gồm tảo và thực vật và giới động vật gồm nguyênsinh động vật và động vật Từ năm 1969, hệ thống phân loại 5 giới do nhà sinhthái người Mỹ Oaitaykho (R.H.Whitaker) đề xuất đã được công nhận rộng rãi cụthể đặc điểm của năm giới sinh vật đó là: Giới khởi sinh, giới nguyên sinh, giớinấm, giới thực vật và giới động vật, trong đó:
Giới khởi sinh: Có đặc điểm cấu tạo là tế bào nhân sơ, cơ thể đơn bào,
sống nhờ tự dưỡng điển hình nhất là vi khuẩn
Giới nguyên sinh: Có đặc điểm cấu tạo là nhân thực, cơ thể vừa đơn bào
và đa bào, sống nhờ quá trình tự dưỡng, điển hình như nhóm động vật đơn bào,tảo, nấm nhầy
Giới nấm: Có đặc điểm cấu tạo là tế bào nhân thực, cơ thể đa bào phức
tạp, sống cố định, điển hình nhất là nấm
Giới thực vật: Có đặc điểm cấu tạo là tế bào nhân thực, cơ thể đa bào
phức tạp, sống cố định, nhóm điển hình là các loài cây thực vật
Trang 14Giới động vật: Đặc điểm cấu tạo là tế bào nhân thực, cơ thể đa bào phức
tạp, sống chuyển động, điển hình là các loài động vật, trong đó có con người
Như vậy, có thể thấy rằng, hệ thống phân loại 5 giới thể hiện sự tiến hóacủa sinh vật, sinh vật xuất hiện sau hoàn thiện hơn sinh vật xuất hiện trước nó vềcấu tạo đi từ đơn giản đến phức tạp, có sự phân hóa và chuyên hóa cao dần, giữcác giới ngày càng hoàn thiện về phương thức dinh dưỡng Trong đó, con người
là sản phẩm tiến hóa cao nhất và hoàn thiện nhất của giới tự nhiên
1.1.2 Triết học
Khái niệm triết học
Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thếgiới, về vị trí , vai trò của con người trong thế giới ấy
Triết học ra đời là dựa trên yêu cầu đòi hỏi của hoạt động lý luận và hoạtđộng thực tiễn
● Cơ sở hình thành của triết học Mác
Triết học Mác - Lê nin ra đời vào những năm bốn mươi của thế kỷ XIX,
là một trong ba bộ phận cấu thành nên chủ nghĩa Mác - Lê nin Nó có hai chứcnăng cơ bản đó là cung cấp thế giới quan và phương pháp luận chung nhất chonhận thức khoa học và cho hoạt động thực tiễn
Ngoài cơ sở về kinh tế xã hội và cơ sở lý luận, thì sự ra đời của triếthọc Mác - Lê nin còn được chuẩn bị bởi sự phát triển và thành tựu của khoahọc tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX Ba phát minh khoa học lớn có tính chấtvạch thời đại đó là:
Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng do nhà vật lý học ngườiĐức Rôbéc Maye vào năm 1842 - 1845, đã chứng minh một cách khoa học vềmối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn củacác hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên
Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn, đã đem lại cơ sở khoa học về sự phátsinh, phát triển đa dạng về tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa cácloài động vật và thực vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên
Trang 15Học thuyết về cấu tạo tế ào thực vật và động vật do các nhà khoa họcngười Đức M Slayden và T Savanxo xây dựng vào những năm 30 của thế kỳXIX, là một căn cứ khoa học quan trọng để chứng minh sự thống nhất về mặtnguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giảithích quá trình phát triển sự sống trong mối liên hệ của chúng.
Chính nhờ những thành tựu của khoa học tự nhiên giữa thế kỷ XIX đãvạch ra mối liên hệ, sự chuyển hóa, tác động qua lại lẫn nhau giữa các khoa học
cụ thể với triết học, từ đó có cái nhìn biện chứng về sự tồn tại và phát triển củagiới tự nhiên
Như vậy, Triết học Mác - Lê nin là sự kế thừa tất cả những tư tưởng tinhhoa của nhân loại từ trước tới nay, là sự tổng kết những thành tựu của khoa học
tự nhiên, đặc biệt là những thành tựu của sinh học hiện đại, là kết quả của quátrình hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn sôi nổi của Mác và Ăng ghen
Phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lê nin
Những nội dung cơ bản trong Triết học Mác - Lê nin bao gồm : Chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong chủ nghĩa duy vật biệnchứng thì phép biện chứng duy vật là một phần nội dung chiếm một vị trí cực kỳquan trọng, còn việc xây dựng nên chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là mộttrong hai cống hiến vĩ đại của triết học Mác
Phép biện chứng duy vật, là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thếgiới quan và phương pháp luận triết học Mác - Lê nin Nó được xây dựng trên
cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản và những quy luậtphổ biến phản ánh hiện thực khách quan Trong hệ thống đó nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất
Ăng ghen định nghĩa: “ Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên của xãhội loài người và của tư duy.”
Phép biện chứng bao gồm : Hai nguyên lý cơ bản đó là: nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển; ba quy luật cơ bản đó là: quy
Trang 16luật lượng chất; quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của phủ định ; sáu cặpphạm trù đó là: Cái riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên vàngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiệnthực Những cặp phạm trù này còn được gọi là những quy luật không cơ bản.
Như vậy, triết học Mác - Lê nin nói chung và phép biện chứng duy vật nóiriêng là hệ thống những tri thức lý luận chung nhất về tự nhiên, xã hội và tưduy Nó có mối liên hệ chặt chẽ và vai trò to lớn đối với tất cả các khoa họckhác Bởi lẽ nó có chức năng quan trọng là cung cấp thế giới quan và phươngpháp luận khoa học , đúng đắn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễncủa con người
Hiện nay, triết học Mác - Lê nin vẫn là sự phát triển đỉnh cao trong lịch sử
tư tưởng của nhân loại và chưa xuất hiện được một học thuyết triết học nào cóthể vượt lên trên nó
1.2 Mối quan hệ giữa triết học và sinh học
Nếu như sinh học là một môn khoa học về sự sống, về những quy luậthình thành và phát triển của sự sống diễn ra trong sinh vật, là sự giải đáp nhữngvấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa cơ thể động vật và thực vật với môitrường thì:
Triết học là một hệ thống những tri thức lý luận chung nhất về tự nhiên,
xã hội và tư duy, về vai trò, vị trí của con người trong thế giới ấy
Sinh học là một nhánh của các môn khoa học tự nhiên Nó có mối quan hệchặt chẽ với tất cả các môn khoa học khác và đương nhiên triết học không nằmngoài mối quan hệ đó
Giữa sinh học và triết học có mối quan hệ chặt chẽ tác động biện chứngqua lại với nhau không thể tách rời.Mối quan hệ tác động hai chiều đó được thểhiện ở vai trò của triết học đối với sinh học và ngược lai
- Vai trò của triết học đối với sinh học
Trong mối quan hệ đó thì triết học trang bị cho các nhà sinh học nhậnthức và biết vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo thế giới quan duy vật biện
Trang 17chứng và phương pháp luận khoa học triết học vào quá trình nghiên cứu sinhhọc Giúp cho các nhà sinh học có thể tiến xa hơn, đi sâu hơn và đạt được nhữngthành tựu lớn hơn trong lĩnh vực nghiên cứu của mình.
Chẳng hạn, nhờ dựa trên cơ sở lập trường duy vật và phương pháp tiếpcận hết sức biện chứng mà sinh học hiện đại đã ngày càng hoàn thiện hơn vềhọc thuyết tiến hóa, lý giải ngày càng đầy đủ hơn về nguồn gốc xuất hiện của sựsống và sự hình thành của loài người…
- Vai trò của sinh học đối với triết học
Sinh học cung cấp cho triết học những tài liệu, tư liệu, những bằng chứngsinh học xác thực , trên cơ sở đó để triết học khái quát nên những nguyên lý vàquy luật của mình Những tri thức quan trọng mà sinh học đem lại cho triết họccàng nhiều thì càng làm cho những nội dung của triết học trở nên phong phú hơn
và sâu sắc hơn
Điều này đã được minh chứng bởi lịch sử ra đời của triết học Mác - Lênin Ngoài cơ sở về kinh tế xã hội, tiền đề về lý luận, thì sự ra đời của triết họcMác - Lê nin còn được chuẩn bị bởi ba phát minh vạch thời đại của khoa học tựnhiên đầu thế kỷ XIX Trong đó có hai phát minh là thành tựu vĩ đại của sinhhọc đó là: Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn và Học thuyết tế bào của Svan vàSlayden
Như vậy, giữa sinh học và triết học có mối quan hệ chặt chẽ tác độngchứng qua lại lẫn nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau để cùng nhau góp phần thúcđẩy khoa học phát triển
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, cùng với sự pháttriển đó thì làm xuất hiện hang loạt các vấn đề mới, phức tạp và cấp bách nhưvấn đề toàn cầu hóa, tài nguyên môi trường, dich bệnh, dan số, dân tộc, sắctộc…Vì vậy, mối quan hệ giữa triết học và sinh học cũng như tất cả các ngànhkhoa học khác ngày càng mật thiết và khăng khít hơn nữa.Để cùng chung tayhướng vào giải quyết những vấn đề cấp bách của toàn cầu hiện nay
Trang 181.3 Yếu tố triết học trong sinh học
Triết học và sinh học là hai môn khoa học độc lập, có đối tượng nghiêncứu riêng của mình.Tuy nhiên giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứngtác động qua lại với nhau Trong mối quan hệ ấy thì triết học cung cấp thế giớiquan, phương pháp luận khoa học , đúng đắn cho sinh học
Ngược lại, sinh học cung cấp tài liệu, tư liệu, bằng chứng sinh học xácthực, để từ cơ sở hiện thực đó,triết học khái quát lên hệ thống những nguyên lý,quy luật triết học của mình
Việc đi tìm các yếu tố triết học trong các lĩnh vực mà sinh học nghiêncứu, chính là quá trình tìm ra ý nghĩa triết học trong các vấn đề sinh học đó Đây
là một việc là cần thiết, bởi lẽ qua đó có thể nhận thấy được mối liên hệ ,gắn bómật thiết giữa triết học và sinh học Mục đích là nhằm hướng vào giải quyết cáchiện tượng, các vấn đề phức tạp mà sinh học và triết học đang đặt ra trong thờiđại ngày nay
Ngày nay, thế giới sinh học vô cùng phong phú và đa dạng Song, các lĩnhvực mà sinh học nghiên cứu đều ít nhiều mang yếu tố triết học và ý nghĩa triếthọc nhất định Tiêu biểu và rõ nét hơn cả là trong các lĩnh vực như: Vấn đề về
sự sống và tiến hóa; vấn đề sinh thái học nhân văn…
1.3.1 Vấn đề sự sống và yếu tố triết học của nó
1.3.1.1 Vấn đề về sự sống
Vấn đề về sự sống là một trong những vấn đề trọng yếu, cơ bản của sinhhọc.Sự sống biểu hiện vô cùng đa dạng và hết sức gần gũi với chúng ta Sự sốngbắt đầu cách đây hơn 3.5 tỷ năm trước, cùng hầu hết điều kiện tạo nên sự sống.Nhưng bản chất sự sống là gì? Sự sống trên trái đất đã xuất hiện và phát triểnnhư thế nào? Đó là một vấn đề vô cùng phức tạp và là một trong những vấn đềlớn nhất của khoa học tư nhiên và cụ thể là của sinh học
Trang 19● Bản chất của sự sống
Các quan niệm khác nhau về nguồn gốc của sự sống trong lịch sử
Khi bàn về bản chất của sự sống, ngay thời cổ xưa con người đã cố gắng
đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên Song trong lịch sử phát triển của sinhhọc đã xuất hiện ba quan điểm chủ yếu khác nhau đó là : quan điểm của chủnghĩa duy tâm, quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình và quan điểm của chủnghĩa duy vật biện chứng Trong đó:
- Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: Bản chất của sự sống là do những yếu tố
tinh thần tạo nên, đó là cái đối lập với cái chết, như “ linh hồn” trong quan niệmcủa platon và “ lực sống” trong quan niệm của các nhà sinh lực luận…
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng: Giới hữu cơ và giới vô cơ đều
tuân theo những quy luật cơ, lý , hóa học Vì vậy muốn nhận thức được bản chấtcủa sự sống cần phải giải thích nó bằng các quy luật cơ, lý, hóa học
Vào thế kỷ XVIII, người ta giải thích bản chất của sự sống bằng nhữngquy luật cơ học và cơ thể con người giống như một cái máy
Đầu thế kỷ XX là thời đại của điện năng và năng lượng nguyên tử ra đờingười ta lại có xu hướng xác định bản chất tựa như những lĩnh vực ở trong máymóc điện tử và điều khiển học Họ cho rằng bản chất của sự sống là một quátrình điều khiển những cơ chế hoạt động của sinh vật
- Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: sự sống là một
hình thức vận động của vật chất, giữa sự sống và không sống có sự khác biệt vềchất.Nếu giới vô cơ hoạt động theo quy luật cơ, lý, hóa học thì sự sống hoạtđộng theo các quy luật của sinh học Trong tác phẩm “ Chống Đuyrinh “ Ăngghen đã đưa ra định nghĩa: “ Sự sống là phương thức tồn tại của những thểAbumin mà yếu tố quan trọng là sự trao đổi chất thường xuyên với thế giới tựnhiên bên ngoài xung quamh nó Khi sự trao đổi chất đó chấm dứt thì sự sốngcũng chấm dứt và chất abumin ấy bắt đầu bị phân hóa” Các thể abumin đó,trước đây được khoa học xác định là một loại Protein đơn giản, nhưng gần đâyngười ta xác định được rằng, cơ sở của sự sống là loại protein phức tạp gồm
Trang 20lipoprotein và clomopeotit Khi các protein này đứng riêng rẽ nó thuần túy lànhững hợp chất hóa học không có sự sống Nó chỉ trở thành sự sống khi nằmtrong nguyên sinh chất của tế bào.
Ngày nay, Sự sống còn được hiểu là một quá trình diễn ra từ lúc sinh vậtđược tạo thành ( sinh ra ) cho đến lúc nó phân dã ( hay chết đi) Ngoài ra, sựsống có thể hiểu được là một điều kiện cho phép một hệ thống ( thực thể) nào
đó được sinh ra, tồn tại với những đặc tính sống và phải chết đi tại một thờiđiểm xác định
Thay vì đi tìm một định nghĩa hoàn hảo về sự sống Người ta nêu ra bađặc tính cơ bản của sinh vật:
+ Được cấu tạo từ tế bào
+ Có a xít nucleic là vật liệu di truyền
+ Có khả năng thực hiện các phản ứng trao đổi chất và năng lượng
● Cơ sở vật chất của sự sống
Dấu hiệu đầu tiên là khả năng trao đổi chất và năng lượng, nhờ có màdẫn tới sự thường xuyên đổi mới thành phần hóa học của tổ chức là đặc thùcủa sự sống
Những dấu hiệu khác của sự sống là sinh trưởng, cảm ứng, vận động,sinh sản đều liên quan với sự trao đổi chất Tuy nhiên trao đổi chất theo kiểuđồng hóa, dị hóa và sinh sản dựa trên cơ sở của sự tự nhân đôi AND là các dấuhiệu không có ở vật chất vô cơ
Ngày nay, người ta đặc biệt chú ý đến dấu hiệu đặc trưng của sự sống là
sự tự sao chép, tự điều chỉnh, tích lũy thong tin di truyền của vật chất di truyền
Ngoài các dấu hiệu trên, người ta còn nói tới tính riêng biệt trong tổ chứccủa sự sống Tính riêng biệt còn thể hiện ở tế bào của cơ thể đa bào, ở từng bàoquan của tế bào
● Các biểu hiện của sự sống
- Trao đổi chất: Là toàn bộ các hoạt động hóa học của cơ thể sinh vật
Trang 21- Sự nội cân bằng: Xu hướng các sinh vật tự duy trì môi trường bên trong ổnđịnh: các tế bào hoạt động ở mức cân bằng và ổn định ở một trạng thái nhất định.
- Sự tăng trưởng: Tăng khối lượng chất sống của mỗi cơ thể sinh vật
- Sự vận động: Dễ nhận thấy ở động vật, sự vận động ở thực vật cũng cónhưng chậm và khó nhận biết hơn
- Sự đáp lại: Là sự đáp lại các kích thích khác nhau từ môi trường bên ngoài
- Sự sinh sản: Bao gồm sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính
- Sự thích nghi: Là khả năng cơ thể có thể sống bình thường trong mộtmôi trường nhất định
● Quá trình phát sinh sự sống trên trái đất
Bàn về vấn đề phát sinh sự sống trên trái đất, từ thời Hi Lạp cổ đại chođến thế kỷ thứ XVIII người ta vẫn có thói quen quan niệm rằng: Sinh vật tự sinh
từ các chất vô sinh
Quan niệm tự sinh cho rằng sinh vật có thể ngẫu nhiên tự sinh ra từ cácvật vô hay người ta tin rằng thịt thối giữa sinh ra giòi và muỗi, chuột sinh ra từgiẻ rách, mồ hôi và ghét bẳn trên da sinh ra chấy, rận
Những quan niệm trên đều là sai lầm.Bằng những thí nghiệm hết sứcthuyết phục L Paxtơ đã khẳng định rằng kể cả những vi sinh có những cáu tạorất đơn giản cũng không thể cấu tạo từ chất vô cơ
Thuyết sự sống vĩnh cửu khẳng định rằng: Sinh vật chỉ có thể phát sinh từsinh vật và sự sống trên trái đất được chuyển từ các hành tinh khác tới dưới dạngnhững ” hạt sống ”
Quan niệm duy vật biện chứng cho rằng: Sự sống trên trái đất đã đượchình thành từ chính trên trái đất và là kết quả của sự vận động lâu dài của vậtchất, phát triển đến một trình độ nhất định Ăng ghen quan niệm: Sự sốngkhông tồn tại vĩnh cửu, cũng không tự sinh bất ngờ mà nó xuất hiện trong quátrình tiến hóa của vật chất ở khắp nơi và bất cứ lúc nào có những điều kiệncần thiết Ăng ghen đã tuyên đoán “ Sự sống nhất định sẽ hình thành theophương thức hóa học ”
Trang 22Cho đến nay, hầu hết các nhà sinh học nói chung và các nhà tiến hóa nóiriêng đều cho rằng: Sự sống trên trái đất đã được tiến hóa từ chính trên trái đấtđược lý giải về cơ bản như sau:
Các phân tử hữu cơ đầu tiên chủ yếu xuất hiện từ các vật chất vô cơ đầutiên có mặt trên trái đất quá trình tiến hóa đã hình thành các hợp chất hữu cođơn giản, rồi đến các hợp chất hữu cơ phức tạp các đại phân tử và các hệ đạiphân tử
Sự tương tác và chọn lọc các hệ đại phân tử, đặc biệt sự chọn lọc hệ đạiphân tử protein và a xít nucleic đã dẫn tới sự xuất hiên sự sống đầu tiên Quátrình tiến hóa từ giản đơn đến phức tạp trải qua các giai đoạn tiến hóa hóahọc,tiến hóa tiền sinh học rồi đến tiến hóa sinh học, để từ đó hình thành nên cácgiới sinh vật phát triển đa dạng phong phú như ngày nay
● Giới động vật và giới thực vật
Sinh giới ngày nay vô cùng phong phú và đa dạng , trong đó động vật vàthực vật được coi là những nhóm sinh vật chính và chủ yếu trong hệ thống phânloại 5 giới sinh vật
- Giới thực vật
Khái niệm thực vật: Thực vật là những sinh vật có khả năng tạo cho
mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thànhnhững phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lạp lục củathực vật
Đặc điểm cơ bản của thực vật: Có đặc điểm cấu tạo là tế bào nhân thực,
đa bào phức hợp, thực vật chủ yếu là các sinh vật tự dưỡng quá trình quang hợp
sử dụng năng lượng ánh sang, được hấp thu nhờ sắc tố màu lục - diệp lục có ởhầu hết tất cả các loài thực vật, riêng nấm là một trường hợp ngoại lệ, dù không
có chất diệp lục nhưng nó thu được các chất dinh dưỡng từ các chất hữu cơ lấy
từ sinh vật khác hoặc mô chết
Trang 23Thực vật còn có đặc trưng bởi các thành tế bào bằng xenlulozo., thực vậtkhông có khả năng di chuyển tự do ngoại trừ một số thực vật hiển vi có thểchuyển động được, thực vật phản ứng rất chậm với sự kích thích.
Thực vật là một nhóm các sinh vật, bao gồm các sinh vật rất quen thuộcnhư cây gỗ, cây hoa, cây dương xỉ và rêu Khoảng có 350.000 loài thực vật,được xác định như là thực vật có hạt, rêu, dương xỉ và các dạng gần giống nhưnguyên thủy
- Giới đông vật
Khái niệm động vật: Là một nhóm sinh vật chính có cơ thể đơn bào hoặc
đa bào, có khả năng di chuyển và đáp ứng với môi trường, có thức ăn là nhữngsinh vật khác
Ngoài ra, một số sinh vật có khả năng di chuyển và dị dưỡng như trùng đếgiày, trùng roi xanh được gọi là động vật nguyên sinh
Đặc điểm chung của động vật
Động vật là nhóm sinh vật lớn thứ hai sau thực vật nên phân bố rất rộng.Chúng có những đặc điểm chung cơ bản đó là: Có khả năng di chuyển, có hệthần kinh và giác quan,sống nhờ dị dưỡng
Động vật không chỉ có vai trò quan trọng trong thiên nhiên mà còn cả vớiđời sống con người như cung cấp nguyên liệu, thực phẩm, lấy lông, lấy da, làmthí nghiệm khoa học, làm thuốc, hỗ trợ cho con người lao động, giải trí và bảo
vệ an ninh
Thế giới đông vật xung quanh chúng ta vô cùng phong phú và đa dạng.Chúng đa dạng về số loài , kích thước cơ thể, lối sống và môi trường sống Hiệnnay con người có thể biết khoảng 1,5 triệu loài từ loài có kích thước hiển vi đếnloài có kích thước to lớn
● Sự phân biệt giữa động vật và thực vật
Động vật và thực vật là hai nhóm sinh vật chủ yếu và quan trọng nó vôcùng phong phú và đa dạng Song giữa chúng cũng cần có sự phân biệt ranh giới
rõ ràng
Trang 24Động vật phân biệt với thực vật ở chỗ: Tế bào động vật không c ó thànhphần xenlulozo, động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn, động vật có khả năng dichuyển, động vật có hệ thần kinh, giác quan
Ngày nay, động vật và thực vật vẫn đóng vai trò quan trọng trong giớisinh vật và tự nhiên và từ đó hình thành nên nhiều ngành khoa học rất khác nhaunghiên cứu về chúng
1.3.1.2 Yếu tố triết học trong vấn đề về sự sống
Qua quá trình tìm hiểu và lý giải về nguồn gốc và bản chất của sự sống.Chúng ta có thể nhận thấy rõ yếu tố triết học trong vấn đề về sự sống Điều ấyđược thể hiện ở chỗ:
Sự sống trên trái đất được hình thành từ chính trên trái đất và là kết quảvận động lâu dài của vật chất phát triển đến một trình độ nhất định
Bản chất của sự sống là một hình thái vận động của vật chất, nó được hìnhthành từ một tổ hợp các yếu tố vật chất chứ không phải yếu tố tinh thần hay mộtlực lượng siêu nhiên nào tạo ra
Quá trình hình thành sự sống là một quá trình phát triển và biến đổi lâudài từ những chất vô cơ để tạo ra các chất hữu cơ, từ các hữu cơ đơn giản chođến các hữu cơ phức tạp rồi đến các đại phân tử và hệ đại phân tử Sự chọnlọc hệ đại phân tử protein và a xít nucleic đã dẫn tới sự hình thành sự sốngđầu tiên
Quá trình trao đổi chất giữa hệ sống với môi trường bên ngoài Điều nàycho thấy mối liên hệ hữu cơ, vốn có giữa cơ thể sống với tự nhiên, giữa conngười với môi trường xung quanh Những chất sống khi tách khỏi môi trườngsống bên ngoài thì không thể tồn tại với tính chất là sự sống nữa Như vậy, sựsống trên trái đất hết sức phong phú và đa dạng và giữ chúng với môi trườngxung quanh có mối liên hệ phổ biến với nhau
Như vậy, tất cả những vấn đề có liên quan đến sự sống nêu trên đều thểhiện rõ nét và tuân theo các nguyên lý và quy luật cơ bản của phép biện chứngduy vật Mácxít và mang một ý nghĩa triết học hết sức quan trọng Điều này cũng
Trang 25đồng thời cho thấy mối quan hệ khăng khít không thể tách rời giữa triết học vớikhoa học tự nhiên nói chung và với sinh học nói riêng.
1.3.2 Vấn đề về sinh thái học nhân văn và yếu tố triết học trong sinh thái học nhân văn
Vấn đề con người là một vấn đề trọng yếu được xã hội loài người ở mọithời đại quan tâm Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt tự nhiên vàmặt sinh học , con người vốn có nguồn gốc sinh học , đã dần thoát khỏi giới tựnhiên để sống trong xã hội nhân văn và mang bản tính xã hội Con người đã trởthành nhân tố chi phối, với tham vọng là khai thác và thống trị thế giới tự nhiên
Ngày nay, tác động của con người lên tự nhiên đã trở nên khốc liệt và hệsinh thái nhân văn đang phải đối mặt với hang loạt vấn đề khủng hoảng môitrường sâu sắc như hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, nước biển dâng cao, antoàn lương thực và năng lượng… Đây cũng là yêu cầu cấp thiết mà con người trítuệ sống trong xã hội nhân văn cần phải giải quyết Tiếp tục phát triển hay tiêuvong, xã hội nhân văn đang đứng trước giai đoạn phát triển của trí tuệ quyển.Lúc này, xã hội loài người đang thực hiện bước chuyển hóa thay đổi về chất,tiến đến sự tự nhận thức Trí tuệ quyển chỉ trở thành hiện thực khi con người trởthành yếu tố xây dựng và sống hài hòa theo quy luật của tự nhiên Giờ đây conngười đang có xu hướng trở lại sống hài hòa với giới tự nhiên trong hệ sinh tháinhân văn
Đây cũng là những vấn đề thể hiện yếu tố triết học rõ nét và có tính thờiđại của sinh thái học nhân văn
1.3.2.1 Sinh thái học nhân văn
1.3.2.1.1 Sinh thái học
● Khái niệm sinh thái học
Thuật ngữ sinh thái học ( Ecology ) có nguồn gốc từ chữ Hi Lạp, gồm haiphần là “ Oikos ” chỉ nơi sống và “ Logos ” là học thuyết
Như vậy, sinh thái học là học thuyết về nơi sinh sống của sinh vật Nếuhiểu theo nghĩa hẹp thì Sinh thái học là khoa học về nơi ở Còn nếu phát triển
Trang 26rộng hơn thì đây là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật có thể là mộtnhóm hay nhiều nhóm sinh vật với môi trường xung quanh.
● Đối tượng của sinh thái học
Sinh thái học là một khoa học trẻ Ban đầu nó chỉ là một số nghiên cứu cơbản về các cá thể sinh vật hoặc là quần thể và quần xã tự nhiên Từ những nămnăm 50 của thế kỷ XX đến nay, nó đã trở thành một lực lượng sản xuất và gópphần đáng kể để đưa năng xuất, chất lượng, sản lượng cây trồng và vật nuôi lênngày càng cao
Khoa học sinh thái đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề gắn liền với thực
tế sản xuất, nghiên cứu các hệ sinh thái sản xuất, nuôi trồng và hệ sinh thái củanhân văn, trong hoàn cảnh tự nhiên và trong cuộc sống hang ngày hoặc trongmôi trường của vũ trụ
Sinh thái học còn nghiên cứu các hệ sinh thái bị ô nhiễm, suy kiệt và tìm
ra các phương pháp bảo vệ môi trường, môi sinh trong phạm vi quốc gia, mộtvùng hay rộng hơn là toàn sinh quyển và cả vũ trụ
Sinh thái học nghiên cứu mối quan hệ sinh vật với môi trường sống xungquanh, hay cụ thể hơn là nghiên cứu sinh học của nhóm cá thể và các quá trìnhchức năng thực hiện ở bên trong môi trường của nó
Như vậy, có thể nói, đối tượng của sinh thái học đó là tất cả các mối liên
hệ giữa cơ thể sinh vật với môi trường xung quanh Sinh thái học đồng thờinghiên cứu các hệ sinh thái nhân tác mà trong đó con người là tác nhân tàn pháthiên nhiên, nhưng cũng là người kiến tạo thiết kế lại các hệ sinh thái theo nhucầu mới Bằng những khoa học kiến thức hiện đại, con người có thể khống chế
và điều khiển sự phát triển của hệ sinh thái theo hướng có lợi và phục vụ nhucầu của sinh vật cũng như cuộc sống của con người
● Vai trò của sinh thái học
Ngày nay, sinh thái học đã và đang có những đóng góp to lớn cho nền vănminh nhân loại trên cả hai mặt lý luận và thực tiễn cụ thể là:
Trang 27Sinh thái học giúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về bản chất của sựsống trong mối tương tác với các yếu tố của môi trường cả thời điểm hiện tại vàtrong quá khứ, trong đó bao gồm cuộc sống và sự tiến hóa của con người.
Sinh thái học còn tạo nên những nguyên tắc và định hướng cho hoạt độngcủa con người đối với tự nhiên để phát triển nền văn minh ngày một hiện đại,không làm hủy hoại đến đời sống của sinh giới và chất lượng của môi trường
Sinh thái học còn góp phần định hướng, cung cấp khả năng giải quyết vàlàm giảm tai họa nói trên bằng cách cải thiện môi trường đồng loạt của toàn bộsinh quyển như đắp đập giữ nước, lấp chỗ trống hoang hóa bằng trồng rừng, bảo
vệ và cải tạo đất trồng, cây lương thực, cây thâm canh, tăng vụ ở nơi nào có điềukiện cho phép cải tạo…
Trong thực tiễn cuộc sống, sinh thái học đã có những thành tựu to lớnđược con người ứng dụng vào nhiều lĩnh vực hoạt động của mình Đó là nhữngđóng góp quan trọng làm:
1 Nâng cao năng xuất vật nuôi và cây trồng, trên cơ sở cải tạo các điều kiệnsống của chúng, kết hợp với thuần hóa và di nhập các giống và loài sinh vật
2 Hạn chế và tiêu diệt các dịch hại, bảo vệ đời sống cho vật nuôi, câytrồng và đời sống của con người
3 Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, duy trì đa dạng sinh học vàphát triển tài nguyên cho sự khai thác bền vững Đồng thời và cải tạo môi trườngsống cho con người và các loài sống tốt hơn
Như vậy,sinh thái học đã mở ra những khả năng dường như không có giớihạn của loài người văn minh đối với sinh vật của sinh quyển rộng lớn
1.3.2.1.2 Sinh thái học nhân văn
● Khái niệm sinh thái học nhân văn
Khái niệm Sinh thái học nhân văn hay sinh thái học người ( Human,Ecology ) bắt đầu được chú ý nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỷ XX ởHoa Kỳ Trên cơ sở đó, sinh thái học nhân văn được hình thành như một bộ môn
Trang 28khoa học riêng biệt, trong những năm giữa của thế kỷ XX Nó là một phân ngànhcủa sinh thái học, nghiên cứu về loài người trí tuệ, người hiện đại ngày nay.
Hệ sinh thái nhân văn là hệ sinh thái chịu chịu sự ảnh hưởng trực tiếp haygián tiếp của loài người Nó là một hệ sinh thái bao gồm các hệ sinh thái nôngnghiệp , công nghiệp; hệ sinh thái vùng núi, đại dương, thảo nguyên, vùng cực,
và liên quan đến sự tồn tại và phát triển của xã hội
Theo cách hiểu truyền thống, môi trường sinh thái học là tập hợp toàn
bộ những vấn đề có sự tác động liên quan qua lại giữa thế giới sinh vật tựnhiên trong đó bao gồm con người với môi trường sống Còn vấn đề sinh tháinhân văn lại bao gồm tất cả các vấn đề có liên quan đến mối quan hệ tươngtác , giữa xã hội con người với tư cách là một hệ thống sống với môi trườngsống xung quanh
Như vậy, sinh thái học nhân văn là một bộ môn khoa học liên ngành,nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa con người và các hình thái xã hội loàingười với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo khác
do con người tạo ra
Sinh thái học nhân văn khảo sát để qua đó thấy được các hệ thống của hộiloài người có liên quan và tác động như thế nào đối với hệ thống các hệ sinh thái
mà chúng phải phụ thuộc vào đó
● Đối tượng của sinh thái học nhân văn
Trong hệ sinh thái nhân văn, quần thể hay cộng đồng loài người hay quần
xã loài người được khảo sát như một thành phần sinh học và xã hội, tham giatrong hệ sinh thái cấu trúc của trái đất
Trang 29Sinh thái nhân văn bao trùm cả hai bình diện khác nhau, là những cáchthức phản ứng và thích nghi của con người đối với những thay đổi của môitrường và những ảnh hưởng của con người lên môi trường Nó bao gồm hai bảnchất cơ bản của con người là bản chất sinh học tự nhiên và bản chất xã hội củacon người như sản phẩm của văn hóa và xã hội Nói cách khác, con người cầnđược xem xét như một tập thể sinh học và xã hội trong hệ sinh thái nhân văn.
Như vậy, Đối tượng nghiên cứu là loài người trí tuệ, con người hiện đạitrong xã hội của họ, xã hội nhân văn Sinh thái nhân văn nghiên cứu bốn nộidung chính sau:
1 Nghiên cứu tổ chức và các chức năng các hệ sinh thái
2 Nhiên cứu con người như một thực thể tự nhiên và xã hội
3 Nghiên cứu các mối tương quan tương hỗ giữa các hệ thống xã hội củaloài người với các hệ sinh thái
4 Nghiên cứu các thể chế và các quá trình xã hội của loài người gópphần xây dựng hay làm suy giảm tính bền vững của các hệ thống tự nhiên và
xã hội
Về cơ bản thì đối tượng nghiên cứu của sinh thái học nhân văn chính làmối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người với con người trongmôi trường sống và giữa môi trường xã hội với môi trường tự nhiên Rộng hơn
là bao gồm tất cả những lĩnh vực của mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa xãhội với môi trường tự nhiên
● Các vấn đề trong sinh thái học nhân văn
Sinh thái học nhân văn khảo sát mối quan hệ qua lại và những tác độngtương hỗ giữa môi trường , xã hội và tự nhiên Đây cũng chính là phương thứctrao đổi vật chất cơ bản giữa xã hội và tự nhiên
Với quá trình sản xuất xã hội, con người đã không ngừng khai thác và sửdụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường Cùng với quá trình pháttriển của sản xuất và xã hội là sự can kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và
Trang 30nạn ô nhiễm môi trường sống Vì thế mọi nghiên cứu của sinh thái học nhânvăn phải bắt đầu từ đây.
Trên cơ sở đó, nội dung nghiên cứu cụ thể của sinh thái học nhân văn vềvấn đề này là:
1 Khảo sát vấn đề cạn kiệt các nguồn tài nguồn thiên nhiên và nạn ônhiễm môi trường, mức độ nguy cơ và những dự báo cần thiết, tác động tiêu cựccủa những vấn đề đó lên sự sống của con người, sự tiếp tục tồn tại và phát triểncủa xã hội
2 Phân tích đề xuất những phương thức khai thác, sử dụng hợp lý và bềnvững các nguồn tài nguyên, bảo vệ và không ngừng nâng cao chất lượng môitrường sống như: việc thực hiện công nghệ sản xuất khép kín, ít chất thải độc hạihay không có chất thải, xây dựng một nền kinh tế sinh thái…
3 Phát hiện và vận dụng những quy luật của sinh thái học vào quá trìnhsản xuất nhằm tìm ra các cách thức tối ưu để có thể đưa quá trình sản xuất xã hộihòa nhập thật sự vào cơ chế hoạt động của chu trình trao đổi vật chất, nănglượng thông tin của sinh quyển
4 Nhiên cứu và phát hiện các phương pháp, nguyên tắc kết hợp một cách
có hiệu quả các hoạt động nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với hoạtđộng bảo vệ môi trường sinh thái
Một trong những nội dung cơ bản của vấn đề sinh thái học nhân văn lànghiên cứu sự ô nhiễm môi trường xã hội, là một biểu hiện phức hợp các mâuthuẫn, cụ thể là phải đánh giá đúng hiện trạng, tìm nguyên nhân và cách giảiquyết các tệ nạn xã hội, đặc biệt là các tệ nạn suy thoái của xã hội
Như vậy, bản chất của sinh thái học nhân văn còn phụ thuộc rất nhiềuvào các vấn đề kinh tế - xã hội , chính trị tư tưởng văn hóa, nếp sống, truyềnthống, tập tục…của một xã hội nhất định
Trong đó, con người là sản phẩm hoàn hảo nhất của tự nhiên, là hạt nhân,
là chủ thể thống trị của xã hội và tự nhiên Do vậy, việc bảo toàn bản tính sinh