Một trong những vấn đề nổi bật nhất trong lịch sử tư tưởng truyền thống Việt Nam được các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử đặc biệt quan tâm là Đạo (thường được gọi là đạo trời, đạo người, sự thống nhất giữa “đạo trời” và “đạo người”). “Đạo”, theo nghĩa chung nhất không chỉ là cơ sở tư tưởng để hành động chính trị, đạo đức và tâm linh để đối nhân xử thế mà còn là quan niệm nhân sinh quan về quan niệm sống, lối sống và đạo lý trong truyền thống văn hóa của con người Việt Nam. Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về “Đạo” – Đạo làm người trong lịch sử truyền thống văn hóa Việt Nam vấn đề quan trọng là trong Đạo làm người có những tư tưởng nhân quyền và dân quyền không? Nếu có thì cơ sở lý luận và nội dung của tư tưởng này thể hiện như thế nào?
Trang 1Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam
1 Cơ sở lý luận và nội dung Đạo làm người trong truyền thống văn hóa Việt Nam
Một trong những vấn đề nổi bật nhất trong lịch sử tư tưởng truyền thống Việt Nam được các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử đặc biệt quan tâm là
"Đạo" (thường được gọi là "đạo trời", "đạo người", sự thống nhất giữa “đạo trời”
và “đạo người”) “Đạo”, theo nghĩa chung nhất không chỉ là cơ sở tư tưởng để hành động chính trị, đạo đức và tâm linh để đối nhân xử thế mà còn là quan niệm nhân sinh quan về quan niệm sống, lối sống và đạo lý trong truyền thống văn hóa của con người Việt Nam
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về “Đạo” – Đạo làm người trong lịch sử truyền thống văn hóa Việt Nam - vấn đề quan trọng là trong Đạo làm người có những tư tưởng nhân quyền và dân quyền không? Nếu có thì cơ
sở lý luận và nội dung của tư tưởng này thể hiện như thế nào?
Cơ sở lý luận về Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam đều xuất phát từ ba đạo truyền thống: Nho, Phật, Lão – Trang dưới các hình thức khác nhau, nhưng đặc biệt là đạo Nho Theo nghĩa đó, đạo làm người trong truyền thống văn hóa thường được hiểu là “luân thường đạo lý”, xuất phát từ nguyên lý đạo đức – chính trị của học thuyết “Tam cương”, “Ngũ thường”, cái gốc của đạo làm người
về ý thức tôn ti, trật tự, kỷ cương xã hội trên cơ sở khẳng định vai trò vị trí của mỗi con người trong các quan hệ xã hội Tư tưởng về Đạo – Đạo làm người trong trong văn hóa truyền thống Việt Nam tự thân nó là một sự kết hợp không tự giác vấn đề nhân quyền và dân quyền Có nghĩa là hoà hợp, hoà đồng, đơn thuần, chưa có phân
ly, phân biệt giữa quyền con người và quyền đó được bảo đảm về mặt pháp luật; vì
tư tưởng, suy nghĩ, cảm nghĩ, cảm xúc và lý tưởng xã hội chỉ là một
Cũng phải nói thêm rằng, đạo Nho không phải là hệ tư tưởng độc lập (mặc
dù nó có vai trò quan trọng nhất) mà nó còn kết hợp với đạo Phật, đạo Lão – Trang dưới các hình thức khác nhau tạo nên những nét đặc thù của của “Đạo” – Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam Phật giáo, không chỉ là tôn giáo thuần túy xét về hệ thống giáo lý, mà vấn đề quan trọng hơn khi con người Việt nam tiếp nhận và phát triển nó là tư tưởng nhân sinh quan của Phật giáo Trong văn hóa truyền thống, “Đạo” – Đạo làm người đã lấy Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần – tinh thần không chỉ đơn thuần về mặt tâm linh, mà tinh thần nhân nghĩa – trọng đạo đức
về sự hướng thiện và làm việc thiện trong chủ nghĩa yêu nước gắn liền quá trình dựng nước và giữ nước của con người Việt nam Và khi thất thế trên đường danh
Trang 2lợi của đạo Nho, con người Việt Nam trong truyền thống văn hóa lại tìm đến đạo Lão - Trang để có niềm an ủi và để được tự do, tự tại Chính vì vậy, thế giới quan Nho - Phật - Lão thường là thế giới quan, là cơ sở lý luận trong quan niệm về
“Đạo” – Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam cũng phản ánh quyền tự do tôn giáo và mưu cầu hạnh phúc như một lẽ tự nhiên Hơn nữa quyền tự
do tôn giáo không chỉ đơn giản xét về mặt tâm linh, mà gắn liền giữa Đạo với đời, với phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân chống lại sự bất công của xã hội, chống lại các thế lực ngoại bang trong việc giải quyết lợi ích của gia tộc, triều đại với lợi ích chung của cộng đồng của dân tộc
Nho giáo với các nguyên lý đạo đức – chính trị xã hôi đã đáp ứng đước các yêu cầu khách quan trong qúa trình xây dựng sự ổn định và phát triển của xã hội phong kiến Chính vì vậy, học thuyết "Tam Cương", "Ngũ thường" hay còn gọi
“luân thường đạo lý” của Nho giáo không chỉ tạo cho xã hội một ý thức trật tự, kỷ cương mà hơn thế nữa nó phù hợp với học thuyết đạo đức – chính trị của Nho giáo
về đạo làm người Con đường danh lợi của Nho giáo được rộng mở cho tất cả các tầng lớp trong xã hội (quyền được học hành và làm quan và phụng sự xã hội): học
mà giỏi thì đi thi, thi đậu thì làm quan, làm quan là để phò vua đến chỗ thịnh trị để
có thể đem lại ơn huệ cho dân hợp với lòng mong mỏi của bao người học thức; có chí khí Những nguyên tắc xử thế uyển chuyển của nó như dùng thì làm, bỏ thì ẩn
đã chỉ ra con đường thoát khi thất thế, làm yên tâm nhiều người trên bước đường hoạn lộ Do đó, kẻ sĩ đều chọn con đường của đạo Nho và luôn đề cao đạo làm người của Nho Điều đó, cũng đặt ra vấn đề nhân quyền và dân quyền trong văn hóa truyền thống xét về tính nhân văn và pháp quyền dưới góc độ triết học như một quá trình trình tự thân của sự phát triển văn hóa, của quá trình dựng nước và giữ nước của con người Việt Nam Tư tưởng này được thể hiện như “Nhân bất học bất tri lý”, hoặc: “Tiên học lễ hậu học văn”, v.v…để nói đạo học cũng là đạo làm người của Nho giáo, như một nét tiêu biểu của văn hóa truyền thống Việt Nam
Cũng đều là lựa chọn đạo Nho nhưng ở mỗi người một khác Các nguyên lý thì có sẵn trong các tác phẩm kinh điển nhưng họ có sự lựa chọn khác nhau và giải thích khác nhau Các nhà yêu nước yêu nước, không chỉ bàn đến vấn đề dựng nước, giữ nước mà còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhân quền theo một phương diện nào đó phù hợp với xã hội đương thời của họ Đó là yêu dân, yêu con người
và tin ở năng lực con người như một quyền tự thân vốn có trong mỗi con người như tư tưởng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Quá trình lập thân, các nhà tư tưởng Nho học đều khẳng định đạo Nho, đều lấy đạo Nho làm lý tưởng sống của mình Nhưng cuộc sống khiến họ không thể kiên trì một mình đạo Nho Bởi lẽ khi bước ra khỏi lĩnh vực chính trị, khi phải giải
Trang 3quyết các vấn đề sống - chết, may - rủi, phúc - hoạ, thường - biến, những vấn đề gắn với cuộc sống đời thường của mỗi người thì đạo Nho không đáp ứng được Ở đây Phật giáo lại có sức hấp dẫn Người ta tìm đến đạo Phật, lấy Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần và khi thất thế trên đường danh lợi, họ lại tìm đến đạo Lão - Trang
để có niềm an ủi và để được tự do, tự tại Thế giới quan Nho - Phật - Lão thường là thế giới quan chung của họ Vì vậy, trong quan niệm về đạo, ngoài đạo Nho ra, còn bao hàm cả Phật và Lão - Trang
2 Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước trong truyền thống Việt Nam
Tư tưởng yêu nước và sự phát triển tư tưởng yêu nước là sợi chỉ đỏ của lịch
sử tư tưởng Việt Nam Điều đó được cắt nghĩa bởi nước Việt Nam tồn tại và phát triển trong điều kiện đấu tranh chống sự bành trướng và xâm lược của phong kiến phương Bắc cùng các đế quốc khác Tư tưởng đó là cái phản ánh sự tồn tại của mỗi người dân nước Việt đã được sản sinh ra và phát triển trong điều kiện phục vụ cho
sự đấu tranh để sống còn đó Theo nghĩa đó, là quyền được sống, quyền được tự
do, quyền mưu cầu hạnh phúc; và trước hết là bảo vệ tổ quốc Điều đó cũng cho thấy tính đặc thù của lịch sử tư tưởng truyền thống Việt Nam không những thể hiện trong những hệ thống lý luận bên ngoài mà người Việt Nam tiếp thu được và Việt hoá mà còn thể hiện trong việc nhận thức về quy luật giữ nước và dựng nước trong lịch sử
Yêu nước là một truyền thống lớn của dân tộc Nhưng yêu nước có thể là một ý chí, một tâm lý, một tình cảm xã hội, đồng thời cũng có thể là những lý luận Với tư cách là một bộ phận của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tư tưởng yêu nước phải được xét trên bình diện lý luận, mà ở đây là lý luận về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền, về chiến lược và sách lược chiến thắng kẻ thù, về nhận thức
và vận dụng quy luật của cuộc chiến tranh giữ nước, tức là những vấn đề lý luận lớn làm cơ sở cho chủ nghĩa yêu nước Nhưng điều đó, không có nghĩa chỉ là tư tưởng của những nhà Nho, những người đại diện cho quyền lực nhà nước phong kiến mà là ý nguyện của toàn dân tộc; hơn nữa vấn đề quan trọng là những nhà tư tưởng, anh hùng dân tộc có thống nhất được ý chí và hành động của mọi người dân trong quá trình dựng nước và giữ nước hay không?
Nội dung của Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có thể xét
trên các phương diện: Những nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập, những quan niệm về Nhà nước của một quốc gia độc lập ngang hàng với phương Bắc, những nhận thức về nguồn gốc và động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước.
Trang 4- Nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập
Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam, xét về cội nguồn, cũng như bất cứ một cộng đồng người nào phát triển trong lịch sử, cộng đồng người Việt đầu tiên cũng hình thành từ một thị tộc, tiếp đó thị tộc này liên kết với các thị tộc khác có quan hệ về huyết duyên và địa lý mà trở thành bộ lạc rồi liên minh bộ lạc,
và phát triển lên thành bộ tộc rồi dân tộc Cộng đồng người Việt được hình thành sớm trong lịch sử, có tên là Việt; phân biệt với nhiều dân tộc Việt ở miền Nam Trung Quốc, nó được gọi là Lạc Việt Để bảo đảm tính ổn định của cộng đồng mình, nhiều nhà tư tưởng trong lịch sử nói tới sự cần thiết phải giữ những nét riêng của nó so với người tộc người khác…
Chính vì vậy, như bất cứ một khu vực nào trên thế giới trong lịch sử, các cộng đồng người sống trong đó đều phải đấu tranh với nhau để tồn tại Trong cuộc đấu tranh mạnh được yếu thua đó có cộng đồng thì lớn lên và trở thành bá chủ; có cộng đồng thì vẫn duy trì được thực thể của mình; và cũng đã có không ít cộng đồng tan rã hoặc bị tiêu diệt Trong bối cảnh đó, cộng đồng người Việt vẫn duy trì được Và để duy trì được họ đã phải đấu tranh thường xuyên với các cộng đồng khác đến xâm lấn, nhất là đấu tranh chống lại cộng đồng người Hán lớn hơn, mạnh hơn đến thôn tính Vấn đề quan trọng là ý thức về dân tộc và dân tộc độc lập của người Việt không chỉ hình thành trong hoàn cảnh và điều kiện khách quan đó; mà nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập của người Việt là một quá trình Nó bắt nguồn từ cuộc chiến đấu của họ để tự vệ và phát triển lên cùng với các cuộc chiến đấu đó Vấn đề đặt ra thường xuyên cho người Việt là phải làm thế nào để chứng minh được cộng đồng người Việt khác với cộng đồng người Hán và ngang hàng với cộng đồng người Hán Phải chăng đây là tư tưởng quyền được tồn tại và phát triển của người Việt cũng như tộc người Hán là một qui luật của sự phát triển xã hội?
Trong lĩnh vực nhận thức lý luận, sự bức bách của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm buộc các nhà tư tưởng phải có sự đi sâu hơn, khái quát cao hơn, toàn diện hơn về khối cộng đồng tộc Việt Nguyễn Trãi là người đã thực hiện được sứ
mệnh này Trong các bức thư gửi quân Minh và nhất là trong tác phẩm Đại cáo bình Ngô Nguyễn Trãi chứng minh rằng, cộng đồng tộc Việt có đủ các yếu tố: Văn
hiến, lãnh thổ, phong tục, lịch sử, nhân tài, nên nó đã là một cộng đồng người có bề dày lịch sử ngang hàng cới cộng đồng người của phương Bắc, không thể phụ thuộc vào phương Bắc Nhận thức đó của Nguyễn Trãi đã nêu lên được các yếu tố cần thiết làm nên một dân tộc, đã đặt cơ sở lý luận cho sự độc lập của một dân tộc – bất khả xâm phạm Lý luận trên của Nguyễn Trãi đạt tới đỉnh cao của quan niệm về dân tộc và dân tộc độc lập dưới thời kỳ phong kiến ở Việt Nam Nó đã tạo nên sức
Trang 5mạnh cho cộng đồng tộc Việt trong cuộc đấu tranh chống quân Minh xâm lược ở đầu thế kỷ XV và cả các giai đoạn lịch sử sau này
- Quan niệm về Nhà nước – quốc gia độc lập và ngang hàng với phương Bắc
Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam về Nhà nước – quốc gia độc lập và ngang bằng với phương Bắc là quan niệm xuyên suốt trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thể hiện ý chí, nguyện vọng của muôn dân Việt Nam trước và sau khi giành được độc lập dân tộc từ tay phong kiến phương Bắc, phạm trù dân tộc nằm trong hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến, nhưng không nên hiểu là sự đồng nhất với hệ tư tưởng của giai cấp địa chủ phong kiến, gắn với tính chất địa vị, với chế độ xã hội của giai cấp phong kiến; mà chế độ xã hội, cũng như hệ tư tưởng thống trị có vai trò như là hình thức để cố kết các yếu tố cấu thành dân tộc và là điều kiện thực thi quyền dân tộc thay thế cho quyền lực xã hội nói chung, có nghĩa trên cả quyền lực của các triều đại phong kiến trong lịch sử
xã hội Việt Nam Đó là quyền của dân tộc Việt Nam Quyền được độc lập, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc… như bất kỳ một dân tộc nào trên thế giới
Sự khác nhau trong Đạo làm người của văn hóa truyền thống Việt Nam so với văn hóa truyền thống của Trung Quốc, cũng như các quốc gia châu Á khác trong quá trình du nhập Nho giáo ở chỗ trong Nho giáo Việt Nam đặt lợi ích của dân tộc trên hết lợi ích của gia tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam
Việc xây dựng nhà nước phong kiến Việt Nam trong lịch sử dựng nước và
giữ nước, không thể không tính tới các yếu tố như: quốc hiệu, quốc đô, đế hiệu, niên hiệu, Các danh hiệu đó vừa thể hiện được sự độc lập của dân tộc, vừa cho
thấy sự bền vững, sự phát triển và sự ngang hàng với phương Bắc của một quốc gia độc lập của một cộng đồng dân tộc có ý chí tư lực, tự cường Chính vì vậy mà sau khi quét sạch lũ thống trị phương Bắc, Lý Bí đã từ bỏ luôn các tên gọi mà họ
đã áp đặt cho nước ta, như: "Giao Chỉ", "Giao Châu", "Nam Giao", "Lĩnh Nam" những tên gắn liền với sự phụ thuộc vào phương Bắc, và đặt tên nước là Vạn Xuân Tiếp đến nhà Đinh gọi là Đại Cồ Việt, nhà Lý gọi là Đại Việt Tên hiệu của người đứng đầu trong nước cũng được chuyển từ Vương sang Đế để chứng tỏ sự độc lập và ngang hàng với hoàng đế phương Bắc, như Trưng Vương đến Lý Nam
Đế, từ Triệu Việt Vương đến Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng Kinh đô cũng được chuyển từ Cổ Loa đến Hoa Lư, rồi từ Hoa Lư đến Thăng Long để có được "Trung tâm bờ cõi đất nước vị trí ở giữa bốn phương, muôn vật phong phú tốt tươi chỗ
tụ họp của bốn phương" (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn), nơi xứng đáng là kinh
đô của một nước phát triển
Trang 6Như vậy là đầu thời kỳ độc lập, Việt Nam - một quốc gia dân tộc phong kiến
về mặt chính thể từ quốc hiệu, đế hiệu, đến niên hiệu, kinh đô đều được nhận thức đầy đủ và ở đó mỗi tên gọi là một tư thế của sự độc lập, tự chủ, tự cường
- Nhận thức về nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước
Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam thể hiện trong quá trình dựng nước và giữ nước; - đó những vấn đề bức bách cần phải giải đáp như: Làm thế nào để động viên được sức mạnh của toàn dân? Làm thể nào để thấy được thực chất mối quan hệ giữa địch và ta? Để chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều phải làm gì? Để thấy được những bước phát triển tất yếu của cuộc chiến phải làm thế nào? Nghĩa là những vấn đề về một khoa học và một nghệ thuật của cuộc chiến tranh giữ nước phải được hình thành và phát triển trên cơ sở lấy dân làm gốc
Cố nhiên, các nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh giữ nước trong lịch sử dân tộc đều thấy sự cần thiết phải có một lý luận được khái quát lên từ thực tế chiến đấu
Họ tìm nguyên nhân của những thành công và thất bại Họ đúc kết kinh nghiệm thành lý luận, họ đem hiểu biết của một người truyền bá cho nhiều người Sức mạnh của cộng đồng được coi trọng là điều đầu tiên rút ra được của các nhà tư tưởng Cộng đồng người Việt là một thực thể xã hội hình thành trong lịch sử và được củng cố bởi những thành viên của nó ý thức được rằng họ cùng một giống nòi, cùng một lãnh thổ, cùng một sinh hoạt và cùng một vận mệnh Cộng đồng đó
sẽ yếu ớt nếu những thành viên đó không có gì để gắn bó với nhau, và ngược lại nó
sẽ trở thành một sức mạnh nếu nó được cố kết với nhau, và có điều kiện để cố kết với nhau
Các nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh trong quá trình dựng nước và giữ nước đều hiểu rằng con người ta có quyền lợi thì mới có trách nhiệm, có phần của mình trong tập thể thì mới gắn bó với tập thể, có quan hệ tốt thì mới đồng lòng Họ nhấn mạnh yếu tố đó để phát huy sức mạnh của cộng đồng Đó cũng là quyền lợi và nghĩa vụ của người dân đối với đất nước, đối với dân tộc Chính vì vậy Trần Quốc
Tuấn yêu cầu: "Trên dưới một lòng, lòng dân không chia", vì "Vua tôi đồng lòng, anh
em hoà mục, nước nhà góp sức giặc tự bị bắt", "có thu phục được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được" Nguyễn Trãi nói: "Thết quân rượu hoà nước, dưới trên đều một dạ cha con" Tư tưởng này đến thời cận đại, được các nhà tư tưởng nêu lên là, có "hợp sức", "hợp quần" thì mới có sức mạnh Và đến Hồ Chí Minh, thời kỳ hiện đại, nêu lên thành nguyên lý "Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết - Thành công, thành công đại thành công".
Trang 7Coi trọng vai trò của nhân dân là một tư tưởng lớn trong ý thức dân tộc ở các nhà tư tưởng, các nhà lãnh đạo các cuộc chiến tranh nhân dân chống sự xâm lược của ngoại bang Trong dòng chảy lịch sử tư tưởng của dân tộc phải tính tới các
quan điểm tích cực đối với dân Lý Công Uẩn nói: "Trên vâng mệnh trời dưới theo
ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi" Lý Phật Mã nói: "Nếu trăm họ mà no đủ, thì ta
làm sao không đủ được" Nói lên được những điều đó là do trong sự nghiệp chung,
họ xúc động về việc làm cao cả của dân thấy được vai trò to lớn của dân Trần
Khâm (Trần Nhân Tông) nói: "Ngày thường thì có thị vệ hai bên, đến khi Nhà nước loạn nạn thì chỉ có bọn ấy (tức gia nô) đi theo thôi" Nguyễn Trãi nói: "Chở thuyền
là dân mà lật thuyền cũng là dân" Lý Thường Kiệt nói: "Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân" Nguyễn Trái nói: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" Đến Hồ Chí Minh,
thời đại ngày nay, thì quan niệm về dân đã được phát triển đến một trình độ cao hơn và mang một chất mới Lời nói tuy khác nhau, nhưng họ đều là những người yêu nước nhiệt thành, đều thấy cần phải nêu lên trách nhiệm đối với dân, phải bồi dưỡng sức dân Tư tưởng đó đã là cơ sở cho đường lối tư tưởng nhân nghĩa, cho đối sách nhân hậu thấm nhuần tính nhân văn, cho những biện pháp nhằm hạn chế mâu thuẫn giai cấp trong xã hội và tiến tới một sự thịnh vượng của xã hội của dân tộc
Việc nhận thức được vai trò của dân và nêu lên được một số yêu cầu nhân quyền, dân chủ của dân đối với các nhà tư tưởng, các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược của ngoại bang không phải là ngẫu nhiên, mà còn là sự khái quát, tổng kết những kinh nghiệm của lịch sử trong dòng chảy của chủ nghĩa yêu nước, kết tinh trong Đạo làm người không chỉ là quan niệm sống, lối sống mà là lý của con người Việt Nam Tuy nhiên, do lập trường phong kiến và đặc điểm cuộc sống đã hạn chế nhãn quan của họ Nhưng là những nhà yêu nước lớn, họ thấy được yêu cầu cần phải cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh của dân tộc nên đã vượt qua được những hạn chế giai cấp vốn có của mình
Như vậy, Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam khác biệt với
tư tưởng yêu nước của các dân tộc khác Nó được đúc kết bằng xương máu và bằng trí tuệ trong trường kỳ lịch sử của các cuộc đấu tranh cứu nước, dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Đó cũng là đạo lý của dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam về độc lập dân tộc, về tự do và hạnh phúc, về quyền lợi và nghĩa
vụ của người dân trong quá trình dựng nước và giữ nước trong văn hóa truyền thống Việt Nam