Charalambos Spathis và Maria Tsipouridou 2013 đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
Hà Nội, 05/2016
BÁO CÁO CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Đề tài:
Mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Đề tài nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty
niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Hà Nội, 05/ 2016
Trang 3Chúng tôi xin cam đoan nghiên cứu “Mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận
và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết ở Việt Nam trong năm 2014” là công trình nghiên cứu độc lập của chúng tôi
Các trích dẫn, tài liệu tham khảo, các số liệu thống kê được sử dụng trong bài nghiên cứu là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Nhóm tác giả nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG 8
DANH MỤC HÌNH 9
I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 10
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 12
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 12
1.5 Phương pháp nghiên cứu 13
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 14
2.1 Cơ sở lý thuyết 14
2.1.1 Hành vi điều chỉnh lợi nhuận 14
2.1.2 Ý kiến kiểm toán 18
2.1.3 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận 21
2.2 Tổng quan nghiên cứu 25
2.3 Tóm tắt chương II: 31
III XÁC ĐỊNH GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Xây dựng giả thiết nghiên cứu 33
3.2 Chọn mẫu 34
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 34
3.4 Mô hình nghiên cứu 34
3.4.1 Mô hình dùng để tính toán biến dồn tích có thể điều chỉnh (Dicretionary Accruals) 35
3.4.2 Mô hình hồi quy tổng thể nhằm đánh giá mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán 36
3.5 Quy trình nghiên cứu 38
3.6.1 Kiểm định giả thiết 39
Trang 53.6.2 Kiểm định về ý nghĩa của các hệ số hồi quy: 40
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Phân tích thống kê số liệu nghiên cứu 41
4.2 Phân tích tương quan 45
4.3 Kiểm định đa cộng tuyến 46
4.4 Kết quả phân tích hồi quy 47
4.4.1 Đánh giá sự phù hợp của mô hình 47
4.4.2 Kiểm định về độ tin cậy của mô hình 47
4.4.3 Kiểm định giả thuyết về các hệ số của mô hình hồi quy mẫu 47
4.4.4 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 48
V THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 52
5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu 55
5.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 55
PHỤ LỤC: Danh sách các công ty niêm yết có ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần năm 2014 59
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang 8DANH MỤC HÌNH
nhận toàn phần
Trang 9CHƯƠNG I:
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trên thực tế, ban giám đốc thường được trả lương thưởng theo lợi nhuận của công
ty, do đó họ thường có xu hướng dùng các thủ thuật để điều chỉnh lợi nhuận đạt mức mong muốn Bên cạnh đó, một trong những yếu tố mà thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư đó là chỉ tiêu lợi nhuận Từ chỉ tiêu lợi này, nhà đầu tư có thể đánh giá được tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, triển vọng tăng trưởng của công ty trong tương lai Nhà đầu tư thường có xu hướng đầu tư vào công ty lợi nhuận cao hơn là những công ty có lợi nhuận thấp (Ambrose Jagongo, 2014)
Theo Thomas P Houck (2003) các công ty niêm yết thường có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận để tạo ra kết quả kinh doanh hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư và các thông tin trên BCTC có thể tác động tới giá cổ phiếu của công ty Bên cạnh đó một công ty tư nhân cũng có thể “xào nấu” sổ sách (cooking the book) với mục đích
cổ phần hóa trong tương lai Những công ty tư nhân này cũng có thể sẽ che giấu thu nhập hoặc “thổi phồng” thu nhập phụ thuộc vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Do sự xuất hiện tình trạng xung đột lợi ích (conflict of interest) trên giữa chủ sở hữu và ban giám đốc và sự tồn tại thông tin bất đối xứng (information asymmetry) giữa ban giám đốc và người sử dụng BCTC nên cần một bên thứ ba độc lập để đánh giá sự trung thực và minh bạch của các thông tin được trình bày trên BCTC thể hiện tình hình tài chính của công ty (DeAngelo, 1981) Bên thứ ba này được biết đến như
là các Kiểm toán viên, thực hiện công việc kiểm tra tính trung thực, minh bạch và hợp
lý, hợp pháp của các thông tin trên BCTC của các công ty Trách nhiệm của KTV đối với các bản BCTC là cung cấp cuối cùng được thể hiện thông qua ý kiến của KTV về bản BCTC đó
Cho đến nay đã có rất nhiều vụ bê bối kế toán kiểm toán xảy ra, điển hình như
vụ bê bối kế toán của Enron Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90$ từ giữa năm 2000 đã giảm xuống chỉ còn chưa tới 1$ vào cuối tháng 11/2001, khiến nhà đầu tư mất hàng nghìn tỷ đô và khoảng 20 nghìn nhân viên Enron mất việc làm, nhiều người trong số
họ mất luôn cả khoản tiết kiệm vì đã góp vốn vào công ty Nguyên nhân của sự việc này là do Enron đã tìm cách thổi phồng lợi nhuận của mình, che dấu hàng tỷ USD bị thua lỗ, đồng thời tạo áp lực để Công ty Kiểm toán Arthur Andersan (một trong năm công ty kiểm toán lớn nhất thế giời) bỏ qua các vấn đề kế toán có rủi ro quan trọng Trong khi đó, những người quan tâm lại hoàn toàn tin tưởng vào BCTC đã kiểm toán Ngay khi bị phát hiện, Enron đã trở thành vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ tính
Trang 10tới thời điểm đó Rất nhiều các vụ bê bối khác như là Worldcom, Olympus, Tyco International, hay Parmalat và gần đây nhất là Toshiba… cũng đã khiến cho nhiều nhà đầu tư bị thua lỗ vì những quyết định đầu tư dựa trên các con số được điều chỉnh trên các bản BCTC đã được kiểm toán
Tại Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đã bị “đánh lừa” bởi những con số đẹp được trình bày trên các bản BCTC đã được kiểm toán Ví dụ như trường hợp công ty Dược Viễn Đông (DVD – sàn HSX) đã kinh doanh thua lỗ song BCTC vẫn thể hiện kết quả
ấn tượng, nhưng cả hai công ty kiểm toán lớn là ACC và Ernst & Young đều không phát hiện ra hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty này, khiến cho hàng nghìn nhà đầu tư thua lỗ vì đã tin tưởng vào BCTC đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán Hay trong trường hợp ngược lại, các công ty như Tribeco (TRI), công ty Petrolimex, CTCP Quốc Cường Gia Lai (QCG), CTCP Vận tải biển và bất động sản Việt Hải (VSP), Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất dầu khí (DPM) đã thực hiện hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận trên BCTC so với thực tế, tuy nhiên đã được phát hiện bởi các Kiểm toán viên cho thấy vai trò của KTV trong việc thực hiện chức năng kiểm tra của mình Và gần đây nhất là vụ việc của Ngân hàng Thương mại Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), đã làm nhu cầu của nhà đầu tư về việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban giám đốc ngày càng tăng Vấn đề được đặt ra là những công ty có hành vi điều chỉnh lợi nhuận có khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần cao hơn các công ty khác hay không?
Đã có một số công trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa ý kiến của KTV về BCTC và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Charalambos Spathis và Maria Tsipouridou (2013) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens ở Hy Lạp (Athens Stock Exchange – ASE), trong giai đoạn từ 2005 – 2011 và đưa ra kết luận ý kiến kiểm toán phụ thuộc vào khả năng hoạt động liên tục của công ty chứ không phụ thuộc vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận Kathleen Herbohn, Vanitha Ragunathan (2008) đã nghiên cứu tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Australia giai đoạn từ 1999-2003, cho rằng điều chỉnh lợi nhuận không phải là nguyên nhân của ý kiểm kiểm toán không chấp nhận toàn phần Arnedo Ajona cùng cộng sự (2008) cũng nghiên cứu về mối quan hệ này đối với những công ty có mức độ rủi ro cao tại thị trường Tây Ban Nha, cho thấy điều chỉnh lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với việc phát hành ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần…Tuy nhiên, trên thị trường Việt Nam có tồn tại mối quan hệ này hay không thì vẫn chưa có một bài nghiên cứu nào cho vấn đề này Do đó, đây sẽ là bài nghiên cứu đầu tiên về mối quan hệ đã được nêu ra
Vậy trên tổng thể, KTV có phát hiện ra những hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường hay không? Để trả lời cho câu hỏi này dựa trên cơ
sở khoa học thì thật cần thiết để có một bài nghiên cứu cho mối quan hệ này
Trang 11Dựa trên các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới và tình hình thực tế tại Việt Nam về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Ban giám đốc và việc phát hành các ý kiến kiểm toán của KTV đối với các bản BCTC của các công ty niêm yết, nhóm nghiên cứu nhận ra thực sự cần thiết của nghiên cứu về mối quan hệ này
1.2 Đóng góp dự kiến của đề tài
Về mặt khoa học, nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này sẽ giúp những người quan tâm tới BCTC có cái nhìn khách quan hơn tới tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cụ thể nếu kết quả của bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận cùng chiều thì các báo cáo đã kiểm toán càng có độ tin cậy cao và ngược lại nếu không tồn tại mối quan hệ này thì các đối tượng bên ngoài cần tham khảo thêm từ các nguồn thông tin khác để có quyết định phù hợp hơn
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán chấp nhận không toàn phần và hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong công ty niêm yết tại Việt Nam Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đặt ra mục tiêu tìm hiểu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần
Để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đặt ra những câu hỏi nghiên cứu chi tiết cho vấn đề này như sau:
Thứ nhất, ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và hành vi điều chỉnh
lợi nhuận có mối quan hệ như thế nào?
Thứ hai, ngoài điều chỉnh lợi nhuận, trong mô hình được xây dựng có những
nhân tố nào ảnh hưởng tới việc phát hành ý kiến không chấp nhận toàn phần của KTV?
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Để đánh giá mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi
điều chỉnh lợi nhuận trong DN, nhóm nghiên cứu đã tham khảo các nghiên cứu trước đây và đã tiến hành nghiên cứu tất cả các DN đang niêm yết (khoảng gần 900 DN) trên sàn chứng khoán HNX và HOSE và đã chọn ra được 92 DN nhận được ý kiến
kiểm toán không chấp nhận toàn phần đối với BCTC năm 2014
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh
lợi nhuận trong các công ty là đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trang 121.5 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu dùng phương pháp định lượng Mẫu số liệu sử dụng trong BCTC đã kiểm toán của các công ty niêm yết ở Việt Nam Phần mềm nhóm nghiên cứu sử dụng để kiểm định mô hình là phần mềm SPSS
Trang 13CHƯƠNG II:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận
Cho đến nay vẫn chưa có một câu trả lời thống nhất cho câu hỏi điều chỉnh lợi nhuận (earning management) là gì Thuật ngữ điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện từ khá sớm Trong bài nghiên cứu của Schipper (1989): “Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có tính toán trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” Điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của ban giám đốc trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997) Trong khi đó, Healy and Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi ban giám đốc sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để nhằm thay đổi BCTC, đánh lạc hướng người sử dụng thông tin trên BCTC về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu kế toán trên BCTC (ví dụ: hợp đồng tín dụng với ngân hàng, hợp đồng thù lao giữa ban giám đốc và công ty…) Ronen và Yaari (2008) đã tổng hợp lại các nghiên cứu trước đó và đưa ra một định nghĩa và phân loại điều chỉnh lợi nhuận như sau: “điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của ban giám đốc sử dụng việc ghi nhận trên cơ sở dồn tích thông qua một số tài khoản để làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các mục tiêu công bố thông tin của họ” Trong nghiên cứu của Ronen và Yaari, tùy thuộc vào động cơ mà điều chỉnh lợi nhuận
có thể được phân làm 3 nhóm:
- Điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): Ban giám đốc dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của DN trong tương lai (Ronen và Sadan, 1981; Demski, Patell, và Wolfson, 1984; Suh, 1990; Demski, 1998; Beneish,
2001, Sankar và Subramanyam, 2001) Loại này được xem là có lợi và làm gia tăng chất lượng BCTC Mục đích của ban giám đốc là muốn công bố nhiều thông tin với chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ về các dòng tiền mà DN sẽ mang lại trong tương lai (Beneish, 2011)
- Điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các ban giám đốc lựa chọn các chính sách kế toán trong hoặc ngoài các giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của DN hoặc vì vụ lợi của họ (Watts và Zimmerman, 1990; Fields, Lys, và Vincent 2001)
Trang 14- Điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): Là hành vi sử dụng
các thủ thuật của ban giám đốc để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của các BCTC
(Schipper, 1989; Levitt, 1998; Healy và Wahlen 1999; Tzur và Yaari, 1999; Chtourou,
Bédard, và Courteau, 2001; Miller và Bahnson, 2002)
Theo Carmen Joosten (2012), lợi nhuận bao gồm dòng tiền từ hoạt động và dòng tiền
tích lũy, ban giám đốc công ty có 2 phương thức để điều chỉnh lợi nhuận:
- Điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (Real earning management):
Công ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua những chỉnh sửa từ hoạt động kinh
doanh bình thường, vì vậy dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể bị ảnh hưởng
Những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình thường để điều chỉnh BCKQHĐKD
này được gọi là điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (REM)
(Rowchowdhury, 2006)
- Điều chỉnh lợi nhuận bằng các ước tính kế toán (Accrual-based earning
management): Công ty có thể thay đổi mức độ dồn tích để có được lợi nhuận như
mong muốn Việc ban giám đốc sử dụng các ước tính để lập BCTC được gọi là điều
chỉnh lợi nhuận trên cơ sở ước tính (AEM) (Healy and Wahlen, 1999)
Phát sinh các giao dịch được ghi nhận
Hoặc thay đổi giá trị hệ thống kế toán
Hình 2.1 Sơ đồ tác động của REM và AEM lên lợi nhuận
Ở Việt Nam, thuật ngữ Earning Management (EM) được dịch ra với nhiều cách
khác nhau như: điều chỉnh lợi nhuận, quản trị thu nhập, điều chỉnh lợi nhuận… Tuy
nhiên, điều đáng nói ở đây là những nghiên cứu của Việt Nam về EM thường đi theo
hướng tiêu cực như những phương pháp để “làm đẹp” BCTC hay “những thủ thuật
phù phép BCTC” Nhóm nghiên cứu đã thống nhất trong bài nghiên cứu này thuật ngữ
EM được dùng với nghĩa điều chỉnh lợi nhuận
Ban giám đốc quyết định
các quyết định kinh doanh Ban giám đốc lựa chọn các ước tính kế toán
kế toán chung được thừa nhận
Lợi nhuận thuần trên kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 15Đã có một số bài nghiên cứu và bài báo trong nước bàn về vấn đề điều chỉnh lợi nhuận như bài viết của tác giả Lê Minh Thủy, công ty tư vấn tài chính Capstone đăng trên tạp chí “Nhịp cầu đầu tư” ngày 26/04/2010 với tựa đề “Nỗi niềm mùa BCTC” đã đưa ra các phương pháp kế toán mà chủ sở hữu hay ban giám đốc sử dụng
đề làm sai lệch về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN nhưng các phương pháp này lại là các phương pháp gian lận như: dùng nghiệp vụ ảo, che giấu giao dịch, phù phép về thời gian ghi nhận giao dịch Bài viết với tiêu đề “Hoạt động quản trị kết quả kinh doanh trên thế giới và khuyến nghị cho các DN Việt Nam” (11/2011) của Ts Trần Thị Kim Anh, với nội dung chính là các khái niệm, cách phân loại, các phương pháp điều chỉnh lợi nhuận và kiến nghị cho DN Việt Nam Ngoài ra, Ths Phạm Thị Bích Vân (2013), đã cung cấp cho các nhà đầu tư ở Việt Nam một số cách để đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC Trong nghiên cứu này, tác giả cũng nhắc đến 5 thủ thuật mà ban giám đốc sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận như: lựa chọn các phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và các ước tính các khoản chi phí doanh thu, lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định, dàn xếp thông qua các giao dịch thực
Phương pháp đo lường điều chỉnh lợi nhuận
Theo Renick van Oosterbosch (2009), để đo lường điều chỉnh lợi nhuận có 3 phương pháp tiếp cận:
- Phương pháp thứ 1 là đo lường biến dồn tích không thể điều chỉnh được (non discretionary accruals) dựa vào mối quan hệ giữa tổng dồn tích và giả thuyết giải thích các yếu tố Mô hình sử dụng cách tiếp cận được gọi là mô hình tổng dồn tích, ví dụ như mô hình của Healy (1985) và Jones (1991); Dechow (1995); Deangelo (1986)
- Phương pháp thứ 2 là sử dụng một mô hình dồn tích cụ thể Trong nghiên cứu thực nhiệm sử dụng mô hình dồn tích cụ thể, trọng tâm thường là một ngành công nghiệp cụ thể nơi có mức dồn tích lớn hoặc các biến dồn tích đơn lẻ Wilson (1988), Petroni (1992), Beaver và Engel (1996)
- Phương pháp thứ 3: quan sát mức dồn tích trong một khoảng cụ thể Cách tiếp cận này xem xét tính chất thống kê của thu nhập để xác định hành vi đó ảnh hưởng đến thu nhập Burgstahler và Dichev (1997), Degeorge (1999)
Có khá nhiều nghiên cứu nổi tiếng dựa trên phương pháp thứ nhất như mô hình của Jones (1991); Dechow (1995); Kaszmik (1999); Kothari (2005) Trong những bài nghiên cứu này, công thức tính tổng dồn tích được được xác định dựa trên 2 phương thức hạch toán cơ bản của kế toán: cơ sở dồn tích và cơ sở tiền
- Kế toán theo cơ sở dồn tích là phương pháp hạch toán dựa trên cơ sở dự thu –
dự chi Theo VAS 01, “mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của công ty liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế toán
Trang 16vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền”
- Kế toán theo cơ sở tiền: là phương pháp hạch toán dựa theo cơ sở thực thu – thực chi tiền Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền
Nguyễn Thị Minh Trang (2012), BCKQHĐKD phải được ghi nhận theo cơ sở dồn tích Điều này mang lại cơ hội cho ban giám đốc thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào
đó Trong khi đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền
tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên ban giám đốc không thể điều chỉnh các giao dịch Từ đó chênh lệch giữa lợi nhuận trên BCKQHĐKD và dòng tiền trên BCLCTT (theo phương pháp trực tiếp) tạo ra biến kế toán gọi là Accruals Vì vậy, công thức tính tổng dồn tích (total accrual) được xác định như sau:
Biến kế toán dồn tích (Accruals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (Phạm Thị Bích Vân, 2013)
Dòng tiền từ HĐKD trên BCLCTT được lập theo cơ sở tiền nên không thể điều chỉnh được, nên muốn điều chỉnh lợi nhuận các ban giám đốc phải điều chỉnh các biến
kế toán dồn tích Theo các nhà nghiên cứu, các biến kế toán dồn tích (Accruals) gồm hai phần: phần không thể điều chỉnh (NDA) và phần có thể điều chỉnh từ ban giám đốc (DA) Ví dụ như giảm khoản nợ phải thu do phải tăng dự phòng phải thu khó đòi
vì mức dự phòng cần trích lập lớn hơn so với năm trước, lự a chọn mức lập dự phòng nào trong giới hạn cho phép của chế độ kế toán đều là ý muốn chủ quan của ban giám đốc Như vậy biến kế toán này có thể điều chỉnh được Nhưng giảm khoản nợ phải thu
do thắt chặt chính sách tín dụng của DN thì không thể thay đổi theo ý muốn của ban giám đốc được (Ths Nguyễn Thị Minh Trang, 2012) Vì vậy, đo lường phần biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được là đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận của DN Các nhà nghiên cứu trước đây đã sử dụng nhiều cách khác nhau để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Mô hình của Healy (1985): Healy là người đầu tiên phát triển mô hình tổng dồn tích Mô hình này sử dụng giá trị trung bình của tổng dồn tích trong suốt kỳ đo lường như một đại diện cho biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh, vì thế biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được đo lường bằng chênh lệch giữa biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh và tổng dồn tích
Mô hình của Deangelo (1986), sử dụng tổng dồn tích năm trước để để đo lường biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của năm nay Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh bằng tổng dồn tích trừ đi biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh
Trang 17Mô hình của Jones (1991), một cách tiếp cận hồi quy để kiểm soát các nhân tố không thể điều chỉnh đến tổng dồn tích, như là ảnh hưởng của việc thay đổi lĩnh vực kinh tế của công ty – có mối quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa tổng dồn tích và thay đổi trong doanh thu, tài sản, nhà máy và thiết bị
Mô hình của Dechow (1995) dựa trên mô hình của Jones (1991) nhưng sự thay đổi doanh thu được điều chỉnh bằng sự thay đổi của khoản phải thu trong năm
Tính linh hoạt của các chuẩn mực và chế độ kế toán hay sự khác biệt về chế độ
kế toán giữa các quốc gia đã cho phép ban giám đốc có thể thực hiện một số phương thức để điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận trong BCTC để mang lại lợi ích cho công ty trong việc phát hành cổ phiếu, thu hút đầu tư, san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán, hoặc mang lại lợi ích cho chính ban giám đốc thông qua hợp đồng thù lao, tiền lương Ths Phạm Thị Bích Vân (2013) đã đưa ra một số ví dụ về các thủ thuật mà ban giám đốc có thể thực hiện để điều chỉnh lợi nhuận Đối với phương thức điều chỉnh lợi nhuận thông qua các ước tính kế toán và chính sách kế toán, ban giám đốc có thể điều chỉnh chi phí khấu hao thông qua ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ, hoặc thời điểm trích lập khấu hao Ban giám đốc còn có thể lựa chọn chính sách hàng tồn kho nào có lợi nhất đối với DN của mình Đối với phương thức điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch thực, ban giám đốc có thể tăng doanh thu thông qua các chính sách giá và tính dụng Cụ thể, biện pháp mà ban giám đốc thường sử dụng để tăng lợi nhuận khi thấy có nguy cơ không đạt kế hoạch đề ra là giảm giá hàng bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng, tăng khuyến mãi nhằm tăng lượng hàng bán ra, từ đó tăng doanh thu Ban giám đốc cũng có thể ký các hợp đồng bán hàng đối với khách hàng
mà trong đó, hàng được bán và ghi nhận doanh thu vào cuối năm tài chính năm nay, nhưng sẽ được trả lại vào đầu năm tài chính năm sau
2.1.2 Ý kiến kiểm toán
Nội dung quan trọng nhất trong báo cáo kiểm toán là ý kiến nhận xét của KTV
về thông tin được kiểm toán Trong báo cáo về kiểm toán Báo cáo kiểm toán, ý kiến nhận xét của kiểm toán viên thường có sự phân định rõ, đặc biệt là ý kiến nhận xét của kiểm toán viên độc lập về BCTC đã được kiểm toán Do vậy đã hình thành nên các loại báo cáo kiểm toán khác nhau, trong đó có ý kiến nhận xét khác nhau
Để hình thành nên ý kiến nhận xét về BCTC, KTV phải căn cứ vào kết quả kiểm toán về đánh giá, soát xét để đưa ra các kết luận về các khía cạnh sau đây:
- Các BCTC lập ra có phù hợp với các thông lệ, nguyên tắc và chuẩn mực kế toán hiện hành hoặc chấp nhận hay không
- Các thông tin tài chính có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các mặt trọng yếu hay không
- Các thông tin tài chính có phù hợp với các quy định pháp lý hiện hành không
Trang 18- Toàn cảnh các thông tin tài chính của doanh nghiệp có nhất quán với hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay không
Tùy theo kết quả của từng cuộc kiểm toán BCTC, KTV có thể đưa ra ý kiến thuộc một trong các loại ý kiến sau đây:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần
- Ý kiến chấp nhận từng phần
- Ý kiến từ chối (từ chối đưa ra ý kiến)
- Ý kiến không chấp nhận ý kiến trái ngược)
Tương ứng với mỗi loại ý kiến nhận xét là một loại báo cáo kiểm toán
Ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần
Ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa ra khi KTV cho rằng BCTC phản ánh trung thực, hợp lý trên tất cả các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của đơn vị
là phù hợp với các chuẩn mực kế toán xác định Đồng thời mọi thay đổi về nguyên tắc
kế toán và ảnh hưởng của chúng đã được đánh giá đúng và được nên ra trong thuyết minh BCTC
Trong một số trường hợp KTV có thể đưa ra báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần với một đoạn nhận xét thêm (đoạn ghi thêm ý kiến) để làm sáng tỏ thêm một vài yếu tố ảnh hưởng đến BCTC và là đối tượng của một đoạn thuyết minh chi tiết hơn Đoạn nhận xét này không ảnh hương gì đến ý kiến của KTV Ví dụ như đoạn nhấn mạnh về một vấn đề trọng yếu liên quan đến tính liên tục cảu hoạt động kinh doanh hoặc một tình huống không chắc chắn nghiêm trọng vì vấn đề đặt ra còn phụ thuộc vào một sự kiện trong tương lai nằm ngoài khả năng khả năng kiểm soát của đơn vị và KTV và có thể ảnh hưởng đến BCTC (như một vụ kiện đang có sự điều tra, thẩm định; một khoản doanh thu có thể không được chấp nhận) Đoạn nhận xét thường được đặt sau đoạn nêu ý kiếnvà nói rõ rằng đoạn nhận xét thêm này không phủ nhận (không trái ngược) với ý kiến đã nêu KTV có thể đưa vào đoạn nhận xét thêm những vấn đề cần lưu ý thêm cho người đọc về BCTC của đơn vị mà KTV cho là cần thiết nhưng không liên quan trực tiếp đến BCTC (ví dụ những thông tin khác đi kèm BCTC
đã được kiểm toán) và không ảnh hưởng đến ý kiến nhận xét cả KTV
Ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận từng phần
KTV đưa ra ý kiến nhận xét dạng chấp nhận từng phần khi KTV cho rằng không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần do còn có những yếu tố chưa xác nhận được hoặc không đồng ý với đơn vị Những yếu tố này là quan trọng nhưng không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có thể dẫn đến ý kiến “từ chối” hoặc ý kiến “không chấp nhận” Ý kiến chấp nhận từng phần được thể hiện bởi thuật ngữ “ngoại trừ” và nêu rõ ảnh hưởng của những vấn đề ngoại trừ Vấn đề ngoại trừ có thể do phạm vi kiểm toán bị giới hạn hay không đồng ý với đơn vị
Trang 19Phạm vi kiểm toán bị giới hạn là khi KTV không thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán mà họ cho là cần thiết Nguyên nhân giới hạn phạm vi kiểm toán có thể là
do bản thân đơn vị hoặc do hoàn cảnh khách quan Nếu phạm vi kiểm toán bị giới hạn
mà KTV không thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán cần thiết thì KTV không thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán cần thiết thì KTV không thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán cần thiết thì KTV không có đủ bằng chứng để đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Phạm vi kiểm toán bị hạn chế ở mức độ không lớn thì KTV đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần, có yếu tố ngoại trừ
KTV có thể không đồng ý với đơn vị về việc lựa chọn và áp dụng chuẩn mực, chế độ kế toán hay tính thích hợp của các thông tin đưa ra trong thuyết minh BCTC ở mức độ không lớn thì KTV cũng đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần, có yếu tố ngoại trừ
ràng trong báo cáo kiểm toán những lý do chủ yếu dẫn đến loại ý kiến này do phạm vi
bị giới hạn hay bởi bất đồng với đơn vị Những lý do đó phải được ghi trong một đoạn riêng, đặt trước đoạn nêu ý kiến và có thể được tham chiếu đến một đoạn thuyết minh chi tiết hơn trong BCTC (nếu có)
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 Báo cáo kiểm toán đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần còn được trình bày trong trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng BCTC chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu
Yếu tố tùy thuộc là yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn, như các vấn đề liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc một khoản doanh thu có thể không được công nhận làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty
Yếu tố tùy thuộc do kiểm toán viên nêu ra thường liên quan đến các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm toán viên Việc đưa ra yếu tố tùy thuộc cho phép kiểm toán viên hoàn thành trách nhiệm kiểm toán của mình nhưng cũng làm cho người đọc BCTC phải lưu ý và tiếp tục theo dõi khi sự kiện có thể xảy ra
Ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng từ chối (không thể đưa ra ý kiến)
KTV đưa ra ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng từ chối trong trường hợp hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà KTV không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về BCTC Các phạm vi kiểm toán
bị giới hạn trong trường hợp này là không thể vượt qua được KTV phải mô tả đầy đủ
và rõ ràng những giới hạn trong báo cáo kiểm toán và chỉ ra rằng nếu không tồn tại
Trang 20giới hạn trong báo cáo kiểm toán và chỉ ra rằng nếu không tồn tại giới hạn này thì rất
có thể phải có những điều chỉnh trên BCTC Đoạn mô tả đó phải được đặt trước đoạn nêu ý kiến của KTV
Ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận (ý kiến trái ngược)
KTV đưa ra ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận trong trường hợp việc KTV không đồng ý với đơn vị là quan trọng hoặc liên quan đến một
số lượng các khoản mục khiến KTV không thể đưa ý kiến dạng “ngoại trừ” KTV có
thể không đồng ý với các nhà quản lý đơn vị về:
- Việc lựa chọn và áp dụng chuẩn mực, chế độ kế toán
- Sự thể hiện trung thực và hợp lý của các thông tin trong thuyết minh BCTC
- Việc tuân thủ các quy định, hoặc luật lệ hiện hành
KTV phải mô tả đầy đủ và rõ ràng những điểm không đồng ý với đơn vị và định lượng (nếu được) những ảnh hưởng tới BCTC của những sự kiện đó Đoạn mô tả
đó phải được đặt trước đoạn nêu ý kiến của KTV Trong trường hợp này KTV không được đưa ra ý kiến nhận xét dạng từ chối để né tránh việc đưa ra ý kiến dạng không chấp nhận
Trong trường hợp cần thiết, KTV có thể nêu dẫn chứng về những điểm không đồng ý với đơn vị trong phần phụ lục đính kèm báo cáo kiểm toán
Theo Nguyễn Viết Lợi và Đặng Ngọc Châu (2013) Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán, NXB Tài chính, Hà Nội
2.1.3 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận
Mục đích của kiểm toán là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không Để kiểm toán viên có cơ sở để đưa ra ý kiến kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán quốc tế yêu cầu kiểm toán viên đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể,
có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không Sự đảm bảo hợp lý
là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi kiểm toán viên đã thu thập được đầy
đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phù hợp khi báo cáo tài chính còn chứa đựng sai sót trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể chấp nhận được Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định
Trang 21Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên khi thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính đó là được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không (Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 200)
Trong khi đó theo cơ sở lý thuyết bên trên về điều chỉnh lợi nhuận thì đây là những hành vi có thể gây ra ảnh hưởng cho việc đảm bảo hợp lý cho các thông tin trên BCTC tức là những thông tin này được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không Khi đó ý kiến của kiểm toán viên đối với những khoản điều chỉnh này có thể là chấp nhận toàn phần, chấp nhận từng phần, không đưa ra ý kiến hay trái ngược còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Do vậy việc xem xét mối quan hệ này cần được đặt trong mô hình
mà ý kiến kiểm toán sẽ được tác động bởi nhiều giá trị khác nhau không chỉ điều chỉnh lợi nhuận mà còn những thông tin khác có thể liên quan
Trên thế giới mối liên quan giữa ý kiến kiểm toán viên và hành vi điều chỉnh lợi nhuận luôn nhận được quan tâm qua các bài nghiên cứu Ở những bài nghiên cứu của Beckt và cộng sự, 1998; Francis, Maydew & Sparks 1999; Francis & Krishnan, 1999; Chang, 2001; Vander Bauwhede và cộng sự, 2003 cho rằng khi công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận thì công ty có khuynh hướng nhận ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần Những bài nghiên cứu này cũng đưa ra những mô hình mà trong
đó ý kiến kiểm toán được tác động bởi các trước hết là hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo đó là các tỷ số tài chính, tình hình hoạt động của công ty
Nhóm nghiên cứu sử dụng các biến độc lập được phát hiện bởi các nghiên cứu trước đó mà dường như chúng có tác động tới quyết định của ý kiến kiểm toán Những biến này miêu tả cả những nhân tố kiểm toán và cả nhân tố về tình hình tài chính, ví dụ như khả năng sinh lợi, khả năng thanh khoản, khả năng thanh toán nợ và rủi ro hoạt động cùng với yếu tố kiểm toán được xuất hiện trong mô hình của chúng tôi
Trong bài nghiên cứu Carcello & Neal (2000) cho kết quả rằng chi phí kiểm toán và loại công ty kiểm toán (Big 5 hoặc non Big 5) không ảnh hưởng tới việc kiểm toán viên cung cấp ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần Thay vào đó, khả năng nhận được ý kiến kiểm toán có mối quan hệ với những nhân tố tài chính ví dụ như tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản và các chỉ số thanh khoản Mô hình trong nghiên cứu này dựa trên 90% công ty trong số tổng quan sát
Jeff P Boone, Inder K Khuranab, K.K Raman (2010) đã tìm thấy bằng chứng cho rằng khuynh hướng Big 4 có khả năng phát hành ý kiến toán về vấn đề hoạt động liên tục cao hơn so với non Big -4 Tuy nhiên mức độ sử dụng điều chỉnh lợi nhuận tại
Trang 22các công ty khách hàng này là giống nhau đối với cả hai Trên phương diện đối với nhà đầu tư, những nhà nghiên cứu này tìm ra rằng những khách hàng của các công ty Big 4 thì sự kỳ vọng, phần bù rủi ro cổ phần của họ thấp hơn những công ty được big
4 kiểm toán
Ngoài những nghiên cứu trên chúng tôi còn dựa vào những bài nghiên cứu sau
để đưa ra những nhân tố này Choi, Doogar, & Ganguly,2004; Craswell, Stokes, & Laughton, 2002; DeFond et al., 2002; DeFond, Wong, & Li, 2000; Ettredge et al., 2011; Francis & Yu, 2009; Gaeremynck, Van Der Meulen, & Willekens, 2008; Geiger
& Rama, 2006; Kothari, Leone, & Wasley, 2005; 1997; Reichelt & Wang, 2010
Charalambos T Spathis (2003) đã xem xét những thông tin tài chính và phi tài chính có thể sử dụng để nâng cao khả năng lựa chọn báo cáo kiểm toán không chấp nhận hay chấp nhận toàn phần Họ đi vào kiểm tra những báo cáo kiểm toán, ý kiến của kiểm toán viên và cả lưu ý trên báo cáo tài chính với những công ty nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và cả những công ty nhận ý kiến chấp nhận toàn phần Quyết định đến báo cáo kiểm toán có liên quan tới thông tin tài chính như suy giảm tài chính hay thông tin phi tài chính như thông tin kiện tụng của công ty
Mô hình này phát triển với độ chính xác 78%
Và cụ thể những nhân tố có thể ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần mà nhóm nghiên cứu đã tổng hợp được gồm có khoản dồn tích có thể điều chỉnh, loại công ty kiểm toán công ty khách hàng, hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản, doanh thu trên tổng tài sản, tổng hàng tồn kho và khoản phải thu trên tổng tài sản, tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, liệu năm trước có tồn tại khoản lỗ hay nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần hay không và cuối cùng là số ngày giữa ngày kết thúc năm tài chính và ngày công bố báo cáo tài chính kiểm toán
phân chia ý kiến kiểm toán trong mô hình nghiên cứu Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 37) định nghĩa một khoản dự phòng là một khoản nợ phải trả có giá trị và thời gian không chắc chắn trong đó một khoản nợ phảI trả là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ những sự kiện trong quá khứ, viêc thanh toán các nghĩa vụ này được dự tính là sẽ làm giảm các nguồn lợi kinh tế cử doanh nghiệp gắn liền với các lợi ích kinh tế Dự phòng mang tính tương đối vì nó được lập dựa trên các ước tính kế toán Cụ thể dự phòng phải thu khó đòi là dự phòng phần giả trị tổn thất của các khoản nợ phải thu, có thể không đòi được do đơn vị hoặc người nợ không co khả năng thanh toán trong năm kế hoạch Mục đích của việc lập dự phòng phải thu khó đòi
là để đề phòng nợ phải thu thất thu khi khách hàng không co khả năng trả nợ và xác định giả trị thực của khoản tiền phải thu tồn trong thanh toán khi lập các báo cáo tài chính
Trang 23Trong khi đó dự phòng giảm giá hàng tồn kho là dự phòng phần gía trị bị tổn thất do giảm giá vật tư, thành phẩm, hàng hoá tồn kho có thể xây ra trong năm kế hoạch Mục đích của nó là để đề phòng hàng tồn kho giảm giá so với giá gốc trên sổ đặc biệt khi chuyển nhượng, cho vay, xử ly, thanh lý đồng thời để xác định giá trị thực
tế của hàng tồn kho trên hệ thống báo cáo kế toán Ngoài ra, trường hợp nguyên vật liệu và cộng cụ dụng cụ dùng cho mục đích sản xuất sản phẩm có giá trị bị giảm nhưng giá bán sản phẩm dịch vụ được sản xuất từ nó không bị giảm giá thì không được trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Trích lập dự phòng không xảy ra giao dịch thực nhưng chúng được xem như là sự điều chỉnh với mục đích quản trị Những điều chỉnh này dựa vào hệ thống đo lường và cách xác định thu nhập, những con số có thể được chọn và thay đổi Thêm vào đó những đánh giá này là cần thiết để tạo ra kết quả Điều hiển nhiên rằng một công ty có nhiều tự do đối với trích lập dự phòng này hơn là trong những giao dịch thực, bởi những nghiệp vụ trích lập liên quan bởi nhiều nguyên nhân chủ quan hơn là khách quan (Nadine Lybaert, Mieke Jans *, Raf Orens,2005) Bài nghiên cứu của Maureen McNichols and G Peter Wilson 2014 cho thấy với những công ty không thường xuyên có lợi nhuận thấp sẽ có xu hướg điều chỉnh làm giảm thu nhập, những khoản dồn tích có thể điều chỉnh không liên quan với “giả thuyết thổi phồng” lợi nhuận Bên cạnh đó Theo số liệu thống kê của Vietstock, trong hơn 96% doanh nghiệp niêm yết đã ra BCTC bán niên soát xét 2014 (tính đến ngày 08/09 và không tính đến doanh nghiệp bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng) có khoảng 60% đơn vị phải điều chỉnh khoản mục lợi nhuận sau thuế so với trước soát xét Trong đó phải kể đến các doanh nghiệp phải điều chỉnh mà nguyên nhân chủ yếu là không trích lập đầy đủ các khoản dự phòng Khi trích lập dự phòng, đôi khi phải đòi hỏi người lập báo cáo phải
sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp”, vì thế mà mang nặng tính chủ quan, khó có thể đánh giá tính hợp lý của khoản mục này trên BCTC Do đó mà, trong các bản báo cáo kiểm toán, ý kiến ngoại trừ về việc doanh nghiệp không trích lập dự phòng đầy đủ là tương đối phổ biến Theo đó nhiều công ty không trích lập dự phòng để thấy các khoản lãi lớn vẫn nằm trên báo cáo, nhưng nếu trích lập đúng thì chẳng những không
có lãi mà còn có thể lỗ Theo số liệu thu thập từ nhóm nghiên cứu, trong năm 2014, trong số các BCTC không được nhận ý kiến chấp nhận toàn phần từ kiểm toán viên của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, chiếm trên 45,6 % (42/92) nhận ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần liên quan đến trích lập dự phòng
Bài nghiên cứu sử dụng số liệu từ các báo cáo kiểm toán với ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và để đánh giá mối liên quan giữa hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận trên phạm vi các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Trang 242.2 Tổng quan nghiên cứu
Có hai luồng kết quả nghiên cứu đó là tồn tại và không tồn tại mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Dựa vào tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu về mối quan hệ này có thể thay đổi theo phạm vi và đặc điểm môi
trường của từng bài nghiên cứu khác nhau
Bài nghiên cứu của Sompong Pornupatham (2006) xem xét liệu kiểm toán viên
có phản ánh điều chỉnh lợi nhuận hay không Mẫu nghiên cứu được chọn lọc từ những công ty niêm yết tại Thái Lan từ 1999 tới 2004 và những kiểm định này được thực hiện trong mỗi loại ý kiến kiểm toán thông qua sự so sánh giữa giá trị trung bình và trung vị của khoản dồn tích có thể điều chỉnh được- một cách đo lường cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận Sự phân tích của ý kiến kiểm toán và các khoản dồn tích có thể điều chỉnh cũng như sự phân chia bằng quy mô của công ty kiểm toán cho thấy rằng những công ty có kiểm toán viên big 4 đưa ra hai loại ý kiến, không chấp nhận toàn phần và chấp nhận toàn phần cùng điểm cần lưu ý, thể hiện mức độ sử dụng dồn tích
có thể điều chỉnh thấp hơn hơn với những công ty được kiểm toán không thuộc big 4 Kết quả này chứng tỏ rằng những kiểm toán viên Big 4 dường như tốt hơn các kiểm toán viên không thuộc Big 4 trong việc phát hiện điều chỉnh lợi nhuận và chất lượng của họ được thể hiện thông qua ý kiến kiểm toán Tuy nhiên, phát hiện này không có nghĩa rằng kiểm toán viên sử dụng ý kiến của họ để cảnh báo cho người sử dụng BCTC về điều chỉnh lợi nhuận, bởi họ thể hiện ý kiến của họ dựa trên nhiều nhân tố, như khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, sự giới hạn phạm vi kiểm toán hơn
là mỗi việc sử dụng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh Bài nghiên cứu này dường như vẫn tồn tại hai giới hạn lớn Đầu tiên, kết quả kiểm định dựa trên những số liệu phân tích thứ cấp đã sử dụng mô hình các khoản dồn tích có thể điều chỉnh nên được
xử lý thận trọng bởi mô hình đo lường các khoản dồn tích này chỉ mang tính đo lường tương đối trong việc phát hiện điều chỉnh lợi nhuận Những phát hiện trong bài này không có nghĩa những công ty được tính toán đã thật sự điều chỉnh lợi nhuận của họ Một điều đáng lưu ý rằng mô hình điều chỉnh lợi nhuận có thể tồn tại những sai sót đo lường Thứ hai, sự chuyên biệt của một số công ty điển hình và không niêm yết có thể khiến những phát hiện trong nghiên cứu này giảm đi tính đại diện về ngành kiểm toán tại Thái Lan, bởi sự thiếu sót một cái nhìn tổng quát về điều chỉnh lợi nhuận trong phạm vi Thái Lan
Arnedo Ajona cùng cộng sự (2008) cũng nghiên cứu về mối quan hệ này đối với những công ty có mức độ rủi ro cao, đặc biệt là các công ty sắp phá sản tại thị trường Tây Ban Nha Trong các trường hợp này, những kiểm toán viên của Big N tìm thấy mức độ sử dụng dồn tích có thể điều chỉnh thấp hơn thì có khuynh hướng phát hành ý kiến kiểm toán liên quan tới vấn đề hoạt động liên tục lớn hơn Đối lập với nước Mỹ, ngoài ý kiến về vấn đề hoạt động liên tục, báo cáo kiểm toán tại Tây Ban Nha thường bao gồm ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần (modified
Trang 25opinion) Điều này cho phép họ nghiên cứu kĩ càng và chi tiết về mối quan hệ này hơn
so với dữ liệu của nước Mỹ Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy điều chỉnh lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều với vấn đề hoạt động liên tục nhưng có mối quan
hệ cùng chiều với việc phát hành ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần vì lý do khác hơn là vấn đề hoạt động liên tục Mối quan hệ ngược chiều này được giải thích bởi sự thận trọng của kiểm toán viên Trong những trường hợp vi phạm GAAP, sự tác động của những điều chỉnh qua các năm tới thu nhập rõ ràng và liên quan chặt chẽ hơn là những điều chỉnh mới được vận dụng vào năm trước Kết quả của họ cho rằng nhận diện của các Big N trong một nước mà áp dụng luật pháp theo văn bản là cụ thể cho từng trường hợp và dựa vào tham số rủi ro kinh doanh của mô hình rủi ro kiểm toán
Bài nghiên cứu của Andra Gajevszky (2014) cho thấy khi công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận và được kiểm toán bởi Big 4 và các chuyên gia trong kiểm toán khác có xu hướng nhận được ý kiến không chấp nhận toàn phần Bài nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế Hạn chế đầu tiên là về số lượng của bài khá nhỏ, chỉ có 60 công ty được điều tra Tuy nhiên những mẫu này lại khá đồng đều (những nhân tố hạn chế đã được xây dựng trong quá trình chọn lựa mẫu do đó những mẫu này sẽ không tồn tại các thành phần hỗn tạp) Thứ hai là con số của các công ty thể hiện ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần là khá nhỏ, chỉ có 21 công ty (35%) trong số các công ty được điều tra Về phương diện này, kết quả có thể không mang tính đại diện Hơn nữa, vì số lượng hạn chế các ý kiến không chấp nhận toàn phần mà sự khác biệt giữa các loại ý kiến kiểm toán từng phần đã không được xuất hiện trong bài
Đối lập với những kết quả trên Bradshaw, Richardson, và Sloan (2001) không tìm thấy bằng chứng giữa khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần cao hơn cho những công ty có các khoản dồn tích đáng kể Họ kết luận rằng kiểm toán viên không thể cảnh báo cho các nhà đầu tư về nguy cơ lợi nhuận có thể giảm trong tương lai và việc vi phạm GAAP liên quan tới giá trị các khoản dồn tích trong một thời điểm xác định Điều cốt yếu là những vấn đề lợi nhuận thường nằm ngoài khả năng của kiểm toán viên Hay nói cách khác, kiểm toán viên có thể hiểu được rằng các khoản dồn tích tăng lên thường tạo ra sự liên quan chặt chẽ hơn về việc lợi nhuận tương lai bị giảm và vi phạm GAAP Nhưng họ không bắt buộc phải cung cấp những thông tin này cho các nhà đầu tư thông qua ý kiểm toán của họ Butler, Leone và Willenborg (2004) ủng hộ quan điểm này và kết luận rằng kiểm toán viên dường như không phát hành ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần vì lý do điều chỉnh lợi nhuận
Theo Shireenjit Johl, Christine A Jubb, Keith Houghton (2007) đã mở rộng những nghiên cứu tại thời điểm đó về sự khác biệt của những ý kiến kiểm toán và đặc biệt là tác động của nó tới việc thể hiện sự thiếu sót giữa ý kiến kiểm toán đối với sự hiện hữu của điều chỉnh lợi nhuận Bài nghiên cứu này đã cung cấp thêm bằng chứng
Trang 26về sự khác biệt trong chất lượng cuả những chuyên gia hàng đầu Big 5 trong một nền kinh tế đầy rủi ro, Malaysia được biết đến với sự thiếu minh bạch và có cơ cấu nhà nước yếu hơn các nền kinh tế khác như Mỹ, châu Âu hay Úc Các kiểm toán viên thuộc Big 5 ở Malaysia đưa ra ý kiến không chấp nhận toàn phần nhiều hơn các công
ty kiểm toán không thuộc Big 5, trong khi sự tồn tại cuả các khoản dồn tích bất thường ngày càng cao Tuy nhiên mối quan hệ giữa sự chuyên nghiệp ngành kiểm toán và dồn tích bất thường là không đáng kể trong việc dự đoán các khả năng của ý kiến kiểm toán Tuy nhiên hạn chế của bài báo này đã được chỉ ra rằng kích cỡ mẫu không đầy đủ cho việc đánh giá bởi mỗi loại ý kiến kiểm toán không có số lượng đủ lớn Cùng với đó với những mẫu phù hợp, mặc dù xây dựng sự tính toán cẩn trọng về khoản dồn tích có thể điều chỉnh, chúng vẫn có thể nhỏ hơn số lượng trung bình bởi quy mô của các tổ chức kiểm toán không thuộc Big so với các công ty thuộc Big là nhỏ hơn
Theo bài nghiên cứu Kathleen Herbohn, Vanitha Ragunathan (2008) sử dụng s liệu của tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Australia từ 1999-2003, cho rằng điều chỉnh lợi nhuận không phải là nguyên nhân của ý kiểm kiểm toán không chấp nhận toàn phần Bài nghiên cứu cho rằng các công ty có ý kiến kiểm toán liên quan tới vấn đề không đủ bằng chứng có liên quan chặt chẽ hơn tới tỷ lệ điều chỉnh lợi nhuận hơn với những công ty còn lại Đứng trên góc độ khác của bài nghiên cứu một
sự giải thích khác cho rằng nhà quản trị điều chỉnh các khoản dồn tích tới báo cáo lợi nhuận giúp dự đoán về khả năng kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp, điều này sẽ xảy ra tác dụng phụ là việc xảy ra tranh cãi với kiểm toán viên của họ
Cho đến thời gian gần đây vấn đề điều chỉnh lợi nhuận lại được quan tâm trở lại khi có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới Trong nghiên cứu của Tsipouridoua và Charalambos Spathis (2014) đã đưa ra kết luận ý kiến kiểm toán phụ thuộc vào khả năng hoạt động liên tục chứ không phụ thuộc vào điều chỉnh lợi nhuận Đáng chú ý bối cảnh mà bài nghiên cứu thực hiện là khi Hy Lạp khắc phục hậu quả khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ 2009 khiến tỷ lệ thất nghiêp, phá sản và lạm phát ở mức cao theo đó số lượng công ty phá sản gia tăng Chính vì thế bài nghiên cứu này
đã cho khả năng hoạt động liên tục là nhân tố để xây dựng giả thuyết để so sánh với khả năng điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp Theo đó cả ý kiến kiểm toán và quy mô của tổ chức đều liên quan ngược chiều tới giá trị các khoản dồn tích có thể điều chỉnh của các công ty niêm yết trên sàn
Toto Rusmanto, Ari Barkah Djamil, Yashinta Salim (2014) đã có bài nghiên cứu về mối quan hệ ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận Với mục tiêu đầu tiên, tác giả tìm thấy câu trả lời đáng ngạc nhiên bởi chỉ có 4.76% (37 công ty trong tổng số
672 mẫu) nhận được ý kiến không chấp nhận toàn phần từ phía kiểm toán viên Và trong đó chỉ có 0,24% tức 9 công ty nhận được ý kiến này bởi công ty kiểm toán thuộc Big 4 khi mà phần còn lại 28 công ty được kiểm toán bởi các công ty không thuộc Big
Trang 274 Điều này cho thấy tại Indonesia không có nhiều kiểm toán viên cả các công ty thuộc Big-4 và không thuộc Big-4 phát hành ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần cho khách hàng Vấn đề thứ 2, tác giả không tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần trong bối cảnh của Indonesia Ý kiến này là minh chứng mạnh mẽ cho một ví dụ thực tế về Lehman Brothers, WorldCom và những trường hợp khác mà điều chỉnh lợi nhuận có quan hệ trái ngược với ý kiến kiểm toán không chấp nhận to phần Vì vậy câu trả lời cho nghiên cứu là liệu sự tồn tại của điều chỉnh lợi nhuận tác động tới khả năng phát hành
ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần là sự hiện diện của điều chỉnh lợi nhuận không nhất thiết phải tác động tới ý kiến kiểm toán ở Indonesia Tuy nhiên kết quả cho cả 2 giả thuyết là không mang tính đại diện bởi số lượng bằng chứng khá thấp với chỉ 4,76% công ty với ý kiến không chấp nhận toàn phần trên tổng số 672 công ty qua các năm từ 2008-2010 Do đó mà không thể biết được liệu phần còn lại 95,24% (100-4,76%) có thực sự xứng đáng là một báo cáo kiểm toán trong sạch hoặc liệu các kiểm toán viên có bị sai sót trong việc nhận diện ra quản trị lợi nhuận hay không
Bài nghiên cứu của Akhgar M Omid (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và điều chỉnh lợi nhuận được đo lường bởi các khoản điều chỉnh được Bài nghiên cứu về quản trị lợi nhuận kế toán và chi phí sản xuất bất bình thường cho những công ty đang niêm yết trên sàn Vì lý do này bốn giả thiết được phát triển và kiểm tra bởi phương pháp hồi quy đa tuyến cho 2818 công
ty qua các năm (2003-2013) Kết quả cho thấy không có mối quan hệ có ý nghĩa giữa chi phí sản xuất bất thường và ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần trong tất
cả các giả thuyết Vì vậy chi phí sản xuất bất thường không giải thích việc phát hành ý kiến kiểm toán không toàn phần vì lý do sai sót trọng yếu hay không có khả năng tiếp cận tài liệu kiểm toán thích hợp Đặc điểm tài chính của khách hàng, như khả năng sinh lời và quy mô hoạt động là những nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán khi đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của công ty
Trang 28Bảng 2.1 Tóm tắt tổng quan các công trình nghiên cứu
Qualified audit opinion, accounting earnings
management and real earnings management:
evidence from Iran (2015)
Akhgar M
Omid
Kết quả cho thấy ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần liên quan tới điều chỉnh lợi nhuận bằng các ước tính
kế toán nhưng không liên quan tới điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực
Đặc điểm tài chính của khách hàng: khả năng sinh lợi, quy mô, lịch sử, ý kiến kiểm toán và tình hình kinh doanh năm trước ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần
Bài chỉ sử dụng ý kiến kiểm toán chấp nhận từng phần chưa mở rộng để xét cho tất cả các loại ý kiến kiểm toán còn lại
Audit opinion and earnings management
Evidence from Greece (2014)
Maria Tsipouridou
và Charalambos Spathis
Ý kiến kiểm toán phụ thuộc vào hoạt động liên tục nhưng không phụ thuộc vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Những biến số được sử dụng trong bài nghiên cứu tính dựa trên báo cáo kiểm toán
và các điều chỉnh lợi nhuận Những biến số này không hoàn hảo vì chúng đã được chỉnh sửa trong việc sử dụng thông tin đã được công bố rộng rãi, thay vì được sử dụng thông tin riêng tư giữa các kiểm toán viên độc lập và các nhà quản trị
Trang 29The impact of auditor’s opinion on earnings
management: Evidence from Romania (2014)
Andra Gajevszky
Việc phát hành ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và sự hiện diện của Big 4 liên quan tới việc thực hiện điều chỉnh lợi nhuận của công ty giảm đi
Theo đó cả ý kiến kiểm toán và quy mô kiểm toán có tác động ngược chiều tới các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được
Cỡ mẫu của mô hình khá nhỏ, chỉ 60 công
ty trên sàn được khảo sát trong đó chỉ có 35% (21 công ty) có ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần
Bên cạnh đó vì số lượng hạn chế nên các ý kiến kiểm toán chưa được phân chia riêng biệt
The effect of earnings management to
issuance of the audit qualification: Evidence
from Indonesia (2014)
Toto Rusmanto, Ari Barkah Djamil, Yashinta Salim
Biến dồn tích bất thường có mối quan
hệ ngược chiều với ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần
Bên cạnh đó, tồn tại mối quan hệ thuận chiều giữa biến dồn tích bất thường và công ty kiểm toán Big4 và ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần (khi công ty thực hiện điều chỉnh lợi nhuận
và được kiểm toán bởi Big 4 thì khả năng nhận được ý kiến không chấp nhận toàn phần từ kiểm toán viên cao hơn)
Tuy nhiên kết quả cho cả 2 giả thuyết là không đáng kể bởi số lượng bằng chứng khá thấp chỉ 4,76% trong tổng số 672 công
ty nhận ý kiến không chấp nhận toàn phần qua các năm từ 2008-2010 Liệu phần còn lại 95,24% các bản BCTC có thực sự là trung thực và hợp lý hay các kiểm toán viên có bị sai sót trong việc nhận diện hành
vi điều chỉnh lợi nhuận hay không
Discretionary accruals and auditor behaviour
in code-law contexts: An application to
failing Spanish firms (2008)
Arnedo Ajona cùng cộng sự
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy điều chỉnh lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều với vấn đề hoạt động liên tục nhưng có mối quan hệ cùng chiều với việc phát hành ý kiến kiểm toán
Thiếu những số liệu quan sát của những năm sớm nhất khi Tây ban Nha trải qua cuộc khủng hoảng lớn nhất Đó là một trong những số liệu quan trọng do số lượng công ty phá sản trong thời kỳ đó rất cao
Trang 30không chấp nhận toàn phần vì lý do khác hơn là vấn đề hoạt động liên tục
Một giới hạn khác của bài nghiên cứu là cách tác giả kết hợp các biến GV/SL/UN vào một nhóm mà không tính đến ảnh hưởng riêng biệt của nó tới thu nhập hoặc các con số khác
Auditor reporting and earnings management:
some additional evidence (2007)
Kathleen Herbohn, Vanitha Ragunathan
Mối quan hệ ngược chiều giữa các khoản dồn tích và ý kiến kiểm toán về vấn đề hoạt động liên tục Bên cạnh bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều này chịu tác động bởi tình hình hoạt động của công ty và rủi ro ra toà có ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán về vấn
đề hoạt động liên tục
Họ cho rằng các công ty có ý kiến kiểm toán không có đủ bằng chứng có liên quan tới tỷ lệ điều chỉnh lợi nhuận cuả công ty
Earnings Management and the Audit Opinion:
Evidence from Malaysia (2007)
Shireenjit Johl Christine A
Jubb Keith Houghton
Mức độ dồn tích bất thường cao có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần
Kích cỡ mẫu không đầy đủ cho việc đánh giá bởi mỗi loại ý kiến kiểm toán không có
số lượng đủ lớn
Thứ 2, với những mẫu phù hợp, mặc dù xây dựng sự tính toán cẩn trọng về khoản dồn tích có thể điều chỉnh, chúng vẫn có thể nhỏ hơn số lượng trung bình bởi quy
mô của các công ty kiểm toán không thuộc Big so với các công ty kiểm toán thuộc Big
là nhỏ hơn