Đậu bắp được trồng ở nhiều nơi trong nước ta, nhất là ở các tỉnh phía Nam để lấy quả xanh ăn như các loại đậu, dùng quả xào, luộc, làm nước chấm, nấu canh chua với cá, lươn, làm dậy mùi
Trang 1vi
MỤC LỤC
CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
LỜI CAM KẾT v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 2 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: 3
2.1.2 Kỹ thuật trồng đậu bắp Nhật 7
2.1.3 Đặc điểm một số loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm 7
2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU HOẶC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 3 11
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 11
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 11
Hình 4: Các ô thí nghiệm trong nhà lưới 12
3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 12
3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 12
3.4.1 Nuôi tạo nguồn rầy 12
3.4.2 Trồng đậu bắp trong nhà lưới 14
Hình 7: Trồng đậu bắp Nhật trong chậu 14
3.4.3 Thử thuốc 14
3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 15
Trang 2vii
3.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU 15
CHƯƠNG 4 16
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Ghi nhận chung quá trình thí nghiệm 16
4.2 Hiệu quả của thuốc trong điều kiện nhà lưới 16
CHƯƠNG 5 20
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 20
5.1 KẾT LUẬN 20
5.2 KHUYẾN NGHỊ 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
PHỤ CHƯƠNG A 24
PHỤ CHƯƠNG B 26
MỘT SỐ HÌNH ẢNH 26
Trang 3viii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Nghiệm thức và các liều lượng phun trong thí nghiệm 11 Bảng 2: Mật số rầy ở các nghiệm thức sau 1, 3, 5, 7 và 14 NSKP 16 Bảng 3: Độ hữu hiệu thuốc ở điều kiện nhà lưới 17
Trang 4ix
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Ấu trùng rầy xanh 5
Hình 2: Thành trùng rầy xanh 5
Hình 3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm nhà lưới 11
Hình 4: Các ô thí nghiệm trong nhà lưới 12
Hình 5: Đậu băp trồng ngoài nhà lưới 13
Hình 6: Nuôi tạo nguồn trong nhà lưới 13
Hình 7: Trồng đậu bắp Nhật trong chậu 14
Hình 8: Xử lý thuốc 14
Hình 9: Bệnh chết cây con trên đậu bắp (5-7 NSKT) 16
Hình 10: Rầy tuổi 2 chết sau 3 NSKP 18
Hình 11: Nguồn đậu bắp ngoài nhà lưới 26
Hình 12: Chuẩn bị lồng lưới lớn 26
Hình 13: Nuôi tạo nguồn 26
Hình 14: Gieo hạt đậu bắp Nhật 27
Hình 15: Chăm sóc đậu bắp 27
Hình 16: Các ô thí nghiệm 27
Hình 17: Rầy xanh tuổi 2, 3 27
Hình 18: Bắt rầy bên ngoài 27
Hình 19: Thả rầy vào từng chậu 27
Hình 20: Pha thuốc 28
Hình 21: Xử lý thuốc 28
Hình 22: Đếm rầy sau khi phun 28
Hình 23: Rầy tuổi 2 chết sau khi phun thuốc 3 NSKP 28
Trang 61
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đậu bắp hay mướp tây (Abelmoschus esculentus L.) thuộc họ bông vải (Malvaceae)
có nguồn gốc ở Ấn Độ, hiện được trồng ở nhiều nước nhiệt đới châu Á và ở nước ta (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)
Đậu bắp được trồng ở nhiều nơi trong nước ta, nhất là ở các tỉnh phía Nam để lấy quả xanh ăn như các loại đậu, dùng quả xào, luộc, làm nước chấm, nấu canh chua với cá, lươn, làm dậy mùi thịt, cá Cũng có thể nướng chín trong tro nóng hoặc ăn sống như dưa chuột Quả non phơi khô, bảo quản để ăn dần Quả chứa chất nhầy khi tan ra làm cho thức ăn đặc và có vị chua mát Lá non cũng dùng luộc hay xào ăn Tất cả các bộ phận của cây đều dùng làm thuốc giảm đau và làm dịu trong các loại bệnh như lậu, bí tiểu tiện và bạch đới Còn dùng làm thuốc nhuận tràng Rễ và lá thái mỏng phơi khô dùng làm thuốc chữa ho, viêm họng Hạt khô chín nghiền ra dùng để uống thay cà phê hoắc nấu lên làm hồ giấy, làm chất dính trong kỹ thuật làm giấy (Võ Văn Chi, 2005)
Do những tiện ích cơ bản trên nên diện tích trồng trọt không ngừng tăng lên Nhiều nơi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long như Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, … đã xuất hiện nhiều hợp tác xã (HTX) trồng đậu bắp để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Trong đó, HTX Thành Lợi, Vĩnh Long đã mở rộng đất trồng đậu bắp xuất khẩu trên 10 ha, từ ngày thứ 45 bắt đầu thu hoạch và kết thúc trong 90 ngày/vụ Hiện nay, HTX đang xuất khẩu đậu bắp 3 - 4 tấn/ngày, mang lại nhiều thu nhập cho nông dân Song song đó tình hình sâu hại diễn ra rất phức tạp, trong đó rầy xanh là đối tượng gây hại phổ biến và gây hại nặng ở hầu hết các giai đoạn phát triển của cây, rầy xanh là loài đa thực, sống tập trung mặt dưới lá, chích hút nhựa làm lá xoăn lại, tạo thành các đốm biến màu, sau chuyển màu vàng, lá xoăn nhỏ và khô, sinh trưởng kém, hoa rụng, quả ít và nhỏ, giảm năng suất Nên nông dân đã sử dụng nhiều loại thuốc hóa học để phòng trừ Nhưng do thuốc hóa học để lại nhiều dư lượng trong trái, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và đồng thời làm tăng tính kháng thuốc của rầy xanh và làm ảnh hưởng đến chất lượng đậu bắp xuất khẩu, nên phải đẩy mạnh việc nghiên cứu thuốc trừ sâu sinh học để giảm thiểu dư lượng thuốc hóa học, an toàn cho sức khỏe con người, hạn chế tính kháng thuốc của rầy xanh và giúp cây đạt tiêu chuẩn để đẩy
mạnh xuất khẩu cải thiện đời sống cho nông dân Chính vì thế, đề tài: “Khảo sát hiệu
lực của 5 loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học trừ rầy xanh (Empoasca flavescens)
trên đậu bắp Nhật trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Khảo sát hiệu quả của 5 loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học đối với việc phòng trừ rầy xanh trên giống đậu bắp Nhật
Trang 71.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đánh giá hiệu quả của 5 loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học trừ rầy xanh Empoasca
flavescens gây hại trên đậu bắp nhật trong điều kiện nhà lưới
Trang 83
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
2.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Qua kết quả điều tra và nghiên cứu về rầy xanh, Muraleedharan (1992) cho biết sự phân bố của rầy xanh là rất rộng, chúng có mặt ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Bangladesh và cả Việt Nam Có hai loài rầy phổ biến ở Nhật Bản và Đài Loan đó là
Empoasca onukii và Empoasca formosana, trong đó loài E onukii thấy chủ yếu ở Nhật
Bản còn loài E formosana chủ yếu ở Đài Loan Ở Ấn Độ phổ biến là loài Empoasca
flavescens Fabr Năm 1991 Muraleedharan khi nghiên cứu về rầy xanh tác giả đã mô
tả rầy trưởng thành loài Empoasca flavescens Fabr có màu xanh hơi vàng, cơ thể dài
khoảng 2,5-3 mm, con cái có ống đẻ trứng ở đốt bụng cuối cùng và đẻ trứng rải rác từng quả trong lá Vòng đời của rầy xanh trải qua 3 pha phát dục: pha trứng – sâu non – pha trưởng thành, rầy non có 6 tuổi, thời gian phát dục dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ cao, trứng phát dục từ 6-7 ngày, rầy non phát dục 7-9 ngày, ở nhiệt
độ mùa đông giai đoạn rầy non có thể lên tới 15 ngày
Theo CABI (2005) ấu trùng có hình dạng và màu sắc tương tự con trưởng thành nhưng
dễ nhận thấy ở màu vàng rõ rệt Ấu trùng trải qua 5 giai đoạn Ấu trùng có khả năng
di chuyển ngang hoặc lùi lại nhanh chóng Cả trưởng thành và ấu trùng đều có khả năng chích hút bằng miệng Ấu trùng có màu xanh nhạt vì thế giai đoạn đầu dễ nhận thấy bằng mắt thường
Theo Lu-WeMing (1991) bằng phương pháp thống kê đã dự báo ngày xuất hiện cao
điểm đầu tiên của rầy xanh Empoasca pirisug, đồng thời các tác giả còn cho biết ở
Trung Quốc, rầy xanh thường có 2 cao điểm về số lượng trong năm
Theo Muraleedharan (1991) đã khuyến báo kết hợp biện pháp hái (làm giảm số lượng trứng và rầy non) và phun các loại thuốc như: Endosulfan và Phosalone trừ loài sâu này có hiệu quả rất tốt
Qua kết quả khảo sát một số loại thuốc trừ sâu đối với rầy xanh, Haas (1987) cho biết một số thuốc có hiệu lực trừ rầy: Dimethoat, Acephate, Phosphalon và hỗn hợp Trichlofon + Femitronthion Còn ở Quảng Châu, tác giả Lai (1993) cho thấy thuốc Buprofezin có hiệu lực trừ rầy xanh cao và kéo dài tới 30 ngày, hiệu lực trừ rầy đạt
91,2-96,9% sau 14 ngày
Cây đậu bắp (okra) thuộc họ bông vải (Malvaceae), là loại cây chịu được khí hậu ôn hòa và nhiệt đới Với nguồn gốc từ Ethiopia hoặc Eritrea, đậu bắp được tìm thấy hầu hết ở Brazil, Ấn Độ, Tây Châu Phi và Châu Mỹ Đậu bắp có tính chống chịu cả ở khí hậu nóng, khô, ẩm ướt, với nhiều loại đất, tạo nên cây trồng tốt ở những vùng nhiệt đới (Martin, 1978)
Trang 94
Đậu bắp đôi khi được gọi theo tên khoa học cũ là Hibiscus esculentus L Đậu bắp được
trồng tự nhiên ở Châu Á, mọc hoang dại quanh sông Nile cũng như ở Ethiopia (Kochhar, 1986) và người Ai cập gieo trồng đầu tiên ở lưu vực sông Nile (vào thế kỉ
12 trước công nguyên) Đậu bắp được phổ biến từ phía Bắc châu Phi đến Địa Trung Hải, Balkans và Ấn Độ Vào năm 1658, phát triển đến châu Mĩ, năm 1781 phát triển
ở Tây Phi Châu và New Orleans, sau đó kéo dài đến nước Mĩ và phát triển ở Philadelphia (Jaakko Rahola, 2006)
Theo GreenBro (2007), đậu bắp được trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và ấm Ở Iran, Ai Cập, Liban, Israel, Jordan, Iraq, Hy Lạp, Thở Nhĩ Kỳ và một phần phía Đông Địa Trung Hải thì đậu bắp được dùng rộng rãi Là loại rau trở nên phổ biến trong cách nấu nướng của người Nhật vào khoảng cuối thế kỷ thứ 20
Có ý kiến cho rằng đậu bắp có nguồn gốc ở giữa phía Đông và được phát triển đến Bắc Phi, Trung Đông trước khi đến Mỹ vào trước thế kỷ thứ 17 Tên “okra” xuất phát
từ Twi (bờ biển vàng của châu Phi) Ở những nơi khác trên thế giới, loại rau này được biết đến từ châu Phi với tên “gumbo” và với những tên khác ứng với những vùng khác nhau Không rõ là những người nô lệ ở Tây châu Phi hay thực dân Pháp ở Louisiana mang loại cây này đến nước Mỹ, nhưng có đề nghị rằng nước Mỹ là nơi đầu tiên giới thiệu loại cây này Các bang Texas, Georgia, Florida, Alabama và California là những bang dẫn đầu về sản xuất đậu bắp ở Mỹ (Food encyclopedia, 2008)
Theo CABI (2005), đậu bắp là cây thân thảo, cao > 4 m Lá sắp xếp theo hình xoắn ốc, đường kình lá > 50 cm, chia nhiều hoặc ít hơn 3, 5 hoặc 7 thùy Cuống lá dài hơn 50
cm, lá kèm thuộc dạng sợi, dài hơn 20 mm Hoa mọc riêng rẽ ở nách lá, màu vàng, tự thụ phấn, cuống hoa dài hơn 3 cm và cuống trái dài hơn 7 cm Vỏ bọc môi dưới đài hoa dài 2-6 cm, hoa mọc dính và rụng cùng với tràng hoa, tràng hoa với 5 cánh hình trứng ngược Trái có dạng hình trụ có vỏ bọc với chiều dài 5-35 cm, đường kính 1 – 5
cm Số lượng hạt rất nhiều, có dạng hình cầu, đường kính 3 – 6 mm, màu hơi nâu
Đậu bắp (Abelmoschus esculentus L Moench) là cây trồng chính trên thế giới thuộc
loại rau màu, rất giàu chất khoáng và vitamin (Ariyo Omolayo Johnson, 2008) Trái
có hàm lượng protein cao Có nguồn gốc tốt về vitamin A và C Hàm lượng calo thấp
và không có chất béo Có giá trị về y học và công nghiệp (Kirtiker and Basu, 1984)
2.1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo kết quả điều tra của Phạm Văn Biên, Bùi Cách Tuyến và Nguyễn Mạnh Chinh (2003), thành phần côn trùng gây hại trên đậu bắp Trong đó các loài quan trọng là rầy
xanh lá mạ - Empoasca flavescens (Cicadellidae – Homoptera)
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), một số loài gây hại quan trọng
trên đậu bắp là: rầy xanh lá mạ - Empoasca flavescens (Cicadellidae – Homoptera)
Trang 105
Rầy xanh lá mạ có tên khoa học Empoasca flavescens, bộ cánh đều: Homoptera, họ bộ
rầy Cicadellidae Rầy trưởng thành dài 2-3 mm màu xanh lá cây, hình thoi, đuôi nhọn, chân sau nở nang, cánh trong mờ, màu xanh nhạt dài quá bụng Đầu hình tam giác, chính giữa đầu cánh có một vệt trắng mờ và 2 chấm đen nhỏ hai bên
Trứng nhỏ, dài và cong như quả chuối, mới đẻ màu trắng đục, sắp nở màu nâu sẫm (Nguyễn Mạnh Chinh, 2004)
Rầy non hình dạng giống trưởng thành, không có cánh, màu xanh nhạt hoặc xanh vàng Rầy trưởng thành ban ngày ẩn dưới tán lá hoặc phía bên kia ánh sáng mặt trời, khi bị động chạm rầy bò ngang hay lẩn trốn nhanh Rầy trưởng thành đẻ trứng ở phần non gần ngọn, cuống và gân lá non, trứng cắm vào mô cây thành cụm 2-10 trứng xếp liền nhau thành 1-2 hàng Một rầy cái đẻ trung bình 50-100 trứng
Rầy xanh lá mạ là loài đa thực, sống tập trung mặt dưới lá, chích hút nhựa làm lá xoăn lại, tạo thành các đốm biến màu, sau chuyển màu vàng, lá xoăn nhỏ và khô, sinh trưởng kém, hoa rụng, quả ít và nhỏ, giảm năng suất Rầy phát triển mạnh trong điều kiện khô
và nóng (Nguyễn Mạnh Chinh, 2004)
Theo Đường Hồng Dật (2004) và Nguyễn Văn Hùng (2006) cho biết vòng đời của rầy xanh trải qua 3 pha phát dục: pha trứng – pha ấu trùng và pha trưởng thành Rầy trưởng thành có màu xanh lá mạ, cơ thể dài khoảng 2,5-3,0 mm, có 8 đốt bụng, rầy non có hình dạng giống rầy trưởng thành nhưng nhỏ hơn và chỉ có mầm cánh, chưa có cánh Rầy non có 5 tuổi: rầy tuổi 1 có màu trắng, sau đó chuyển thành hơi vàng, cơ thể dài khoảng 0,8-1,2 mm Rầy tuổi 2 có màu vàng xanh, cơ thể dài khoảng 1,5-1,6 mm Rầy tuổi 3 có màu xanh vàng, cơ thể dài khoảng 1,9-2,1 mm Rầy tuổi 4 có màu xanh vàng,
cơ thể dài khoảng 2,1-2,3 mm Rầy tuổi 5 có màu xanh vàng, cơ thể dài 2,3-2,6 mm Trứng rầy có hình ống, hai đầu hơi thon, cong như quả chuối tiêu dài khoảng 0,4-0,6
mm Thời gian phát dục của rầy xanh chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện nhiệt độ: ở nhiệt độ 21,2 0C, trứng phát dục 6-7 ngày, ấu trùng phát dục 10,5 ngày, còn ở nhiệt độ 27,7 0C, trứng phát dục 5,1 ngày, ấu trùng phát dục 7-9 ngày
Hình 1: Ấu trùng rầy xanh Hình 2: Thành trùng rầy xanh Hình 1: Ấu trùng rầy xanh
Trang 116
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2004) vòng đời trung bình 15-20 ngày, trong đó thời gian trứng 5-7 ngày, rầy non 7-10 ngày, rầy trưởng thành đẻ trứng 2-3 ngày và có thể sống 10-20 ngày Rầy xanh lá mạ phá hại nhiều loại cây như lúa, đậu bắp, đậu tương, cà chua, chè,… rầy xanh có nhiều thiên địch ký sinh, ăn thịt và gây bệnh
Theo Nguyễn Khắc Tiến (1986) và Nguyễn Văn Thiệp (2000) cho biết loài rầy xanh
Empoasca flavescens Fabr phát sinh phát triển trong điều kiện nhiệt độ 18-25 0C, ẩm
độ trên 80% và có mưa nhỏ, rầy có xu tính với ánh sáng yếu Rầy xanh có hai cao điểm
về số lượng trong một năm, trong đó có cao điểm đầu thường xuất hiện vào tháng 4, tháng 5 vào điểm này gây hại rất lớn, còn cao điểm hai xuất hiện vào tháng 9 đến tháng
11, cao điểm này cũng gây thiệt hại đáng kể nhưng ít hơn so với cao điểm thứ nhất Theo Nguyễn Xuân Thành (1996) rầy xanh phá hại trên cây bông vải, chúng phá hại nặng khi gặp điều kiện thời tiết khô hanh Ở vùng trồng cây bông vải miền Nam chúng xuất hiện cả 2 vụ: vụ khô phát sinh giữa tháng 1, phát triển mạnh cuối tháng 4, đầu tháng 5 Vụ mưa xuất hiện vào giữa tháng 8, rộ nhất vào tháng 9 và tháng 11
Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005), Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh
Cường (2007), đậu bắp hay mướp tây (Abelmoschus esculentus L.) thuộc họ bông vải
(Malvaceae) có nguồn gốc ở Ấn Độ, hiện được trồng ở nhiều nước nhiệt đới châu Á
và ở nước ta
Theo Mai Văn Quyền (1995), cho rằng cây đậu bắp có nguồn gốc Á Châu Vào thế kỷ thứ 12, nó đã xuất hiện ở Ai Cập Hiện nay, loại cây này được trồng ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Philippin
Cây thân thảo mọc đứng cao tới 2,5 m, có nhiều lông Lá hình tim hay hình chân vịt, mép có răng lớn, ráp, có lông dài Hoa mọc ở nách lá, màu đỏ, trông giống hoa bông Quả nang dài hay dựng đứng cỡ 3,5 cm, có màu lục sáng, có mặt cắt hình thoi Đậu bắp có nguồn gốc từ Bắc Phi, được trồng ở nhiều nơi trong nước ta, nhất là ở các tỉnh phía Nam để lấy quả xanh ăn như các loại đậu, dùng quả xào, luộc, làm nước chấm, nấu canh chua với cá, lươn, làm dậy mùi thịt, cá Cũng có thể nướng chín trong tro nóng hoặc ăn sống như dưa chuột Quả non phơi khô, bảo quản để ăn dần Có tác giả cho biết 62 g đậu bắp trong đó chứa 1,3 g protein và 4,8 g glucid sẽ cung cấp cho
cơ thể 25 calo
Người ta đã biết trong quả chứa 4-16% hydrat carbon gồm chủ yếu là tinh bột và đường, palmitin và stearin Hạt chứa 15-26% chất dầu lỏng màu vàng xanh có mùi dễ chịu, dùng ăn được, có tính hoạt nhuận
Quả chứa chất nhầy khi tan ra làm cho thức ăn đặc và có vị chua mát Lá non cũng dùng luộc hay xào ăn
Tất cả các bộ phận của cây đều dùng làm thuốc giảm đau và làm dịu trong các loại bệnh như lậu, bí tiểu tiện và bạch đới Còn dùng làm thuốc nhuận tràng Rễ và lá thái mỏng phơi khô dùng làm thuốc chữa ho, viêm họng Ngày dùng 12-16 g hằm hoặc sắc uống, còn dùng súc miệng
Trang 12Cây đậu bắp xanh của Nhật có thời gian sinh trưởng như đậu bắp cao sản của địa phương (từ 70-80 ngày), thời gian thu hoạch rộ từ 50 – 60 ngày, năng suất gấp 2 lần đậu bắp trắng thuần của địa phương Năng suất đậu bắp xanh của Nhật từ 15 – 18 tấn/ha, trong khi đậu bắp trắng chỉ đạt tối đa 10 tấn/ha (Huỳnh Thị Mị, 2010)
2.1.2 Kỹ thuật trồng đậu bắp Nhật
Lên liếp xới đất thật kỹ, tỉa cành, hàng cách hàng 1 mét, cây cách cây 0,4 mét, mật độ
3 hạt/lỗ, từ 10.000 đến 10.500 cây cho 1.000 m2; lượng phân bón gồm: 100 kg vôi bột/1.000 m2, phân hữu cơ vi sinh Sài Gòn 100 kg, urê 5 kg, DAP 4 kg, NPK 8 kg chia thành 3 đợt bón, riêng vôi bột và phân hữu cơ vi sinh được bón lót trước khi gieo hạt Cũng với phương thức canh tác là làm đất kỹ, bón lót, xử lý cỏ trước khi gieo sạ thì cây đậu bắp xanh tiết kiệm được 80% thuốc bảo vệ thực vật, nhất là thời kỳ bước vào thu hoạch thì cắt ngày không sử dụng một loại thuốc trừ sâu nào cả (Huỳnh Thị Mị, 2010)
2.1.3 Đặc điểm một số loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm
2.1.3.1 Acplant 20WG của Cty TNHH hóa sinh Á Châu
Tên thương mại: Acplant 20WG
Hoạt chất: Emamectin benzoate
Đặc điểm: Emamectin benzoate là hỗn hợp của 2 hoạt chất Avermectin B1a (90%)
B1b (10%) Như vậy là về thành phần hoạt chất giống như Abamectin, điểm khác nhau
là ở Emamectin benzoate tỉ lệ Avermectin B1a cao hơn (chiếm 90%) còn ở Abamectin thấp hơn (chỉ 80%), còn tỉ lệ Avermectin thì thấp hơn (chiếm 10%) còn ở Abamectin thì cao hơn (chiếm 20%) Thuốc được sản xuất từ dịch phân lập qua lên men nấm
Streptomyces avermitilis Nguyên chất dạng bột rắn, màu vàng nhạt, điểm nóng chảy
150 – 155 0C, tan ít trong nước (0,01 mg/l), tan nhiều trong dung môi hữu cơ
Nhóm độc II, LD50 qua miệng 300 mg/kg, LD50 qua da > 1800 mg/kg, dễ kích thích da
và mắt, tương đối với cá, ít độc với ong Mau phân huỷ trong môi trường TGCL 5 –
7 ngày
Công dụng: Thuốc trừ sâu và nhện tiếp xúc, vị độc Phổ tác dụng tương đối rộng Tuy
vậy ở dạng B1a có gốc C2H5, hiệu lực trừ sâu mạnh hơn so với dạng B1b có gốc CH3 Emamectin benzoate do có hàm lượng dạng B1a cao hơn Abamectin nên hiệu lực trừ sâu mạnh hơn, lượng hoạt chất sử dụng ít hơn
Trang 138
Hướng dẫn sử dụng: Liều lượng: 100g/l/1000m2 Phòng trừ nhiều loại sâu miệng nhai
ăn lá, đục quả, sâu chích hút và nhện cho nhiều loại cây trồng như lúa, rau, dưa, đậu, cây ăn quả, cây công nghiệp và cây hoa cảnh (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)
2.1.3.2 Apolo 25WP của Cty TNHH thương mại Thái Nông
Tên thương mại: Apolo 25WP
Hoạt chất: Buprofezin thuộc nhóm điều tiết sinh trưởng côn trùng
Đặc điểm: Thuốc nguyên chất ở dạng tinh thể, điểm nóng chảy 104,50C áp suất hơi 9,4 x 10-6 mmHg (250C) Rất ít tan trong nước (0,9 mg/l ở 250C), tan trong nhiều dung môi hữu cơ như acetone (240 g/l), benzene (370 g/l), toluene (320 g/l), ethanol (80 g/l) Tương đối bền trong acid và kiềm Không cháy
Nhóm độc IV, LD50 qua miệng 2198 – 2355 mg/kg, LD50 qua da>5000 mg/kg TGCL 7 ngày Ít độc với cá, ong và các loài thiên địch
Công dụng: Tác động tiếp xúc Phổ tác dụng tương đối hẹp, chủ yếu với côn trùng bộ
cánh đều và nửa cánh, ít tác động với các côn trùng bộ khác
Là thuốc ĐTSTCT, chủ yếu ức chế sự tạo thành chất kitin ở da côn trùng, làm ấu trùng không lột xác được mà chết Thuốc không diệt được côn trùng trưởng thành nhưng làm hạn chế sự hình thành trứng và trứng đẻ ra không nở được
Hiệu lực của thuốc thể hiện chậm (sau 2 – 3 ngày khi ấu trùng lột xác mới chết) nhưng thời gian hiệu lực có thể kéo đai trên 20 ngày
Hướng dẫn sử dụng: Applaud 10WP trừ rầy nâu, rầy xanh cho lúa dùng 0,7 – 1,0 kg/ha
pha với 400 – 600 lít nước (nồng độ 0,15 – 0,25%) Dùng cho chè, cây ăn quả, pha nước với nồng độ 0,2% phun ướt đều lên tán lá
Nên phun thuốc khi sâu non mới nở, còn nhỏ
Khả năng hỗn hợp: để hiệu lực trừ sâu rầy nhanh hơn, thường hỗn hợp với Isoprocarb
(Applaud Mipe) hoặc Fenobucarb (Applaud Bas) Có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu khác (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)
2.1.3.3 Muskardin của C.ty Cổ phần TST Cần Thơ
Tên thương mại: Muskardin
Hoạt chất: có chứa vi sinh vật Beauveria basiana (Balsamo)
Đặc điểm: Là một loại nấm ký sinh trên sâu hại B basiana được phân lập đầu tiên từ
sâu đục thân ngô (Ostrina nubilalis) bị nhiễm nấm Hiện nay đã sản xuất qua công
nghệ sinh học, gồm có các chủng Bb 147, ATCC 74040, GHA Chất hữu hiệu của chế phẩm là bào tử nấm với mật độ tối thiểu 5 x 108 bào tử/gam (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)
Trang 149
Nhóm độc IV, rất ít độc với người, gia súc và môi trường LD50 qua miệng > 188 cfu/g (cfu: colony forming units = đơn vị khối lượng bào tử), LD50 qua da > 2000 mg/kg
Nấm B bassiana không gây bệnh cho người TGCL 5 ngày
Công dụng: Tác động tiếp xúc Bào tử bám vào da côn trùng, nẩy mầm, sợi nấm xâm
nhập vào mô tế bào và ký sinh nội chất tế bào Quá trình này kéo dái 24-48h, sâu chết sau 3-5 ngày
Hướng dẫn sử dụng: dùng trừ nhiều loại côn trùng bộ cánh cứng, cánh vẩy, cánh đều
và nửa cánh như các sâu khoang, sâu xanh, sâu đục thân, ruồi, bọ trĩ, rầy, rệp cho rau, ngô, đậu, cây ăn quả, cây cảnh
Liều lượng sử dụng: 50-60 g/bình 16 lít Phun với 320-400 lít nước/ha
Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu, không pha chung
các thuốc trừ bệnh (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)
2.1.3.4 Reasgant 3.6EC của Cty TNHH Việt Thắng
Tên thương mại: Reasgant 3.6EC
Hoạt chất: Abamectin
Đặc điểm: Thuốc được sản xuất từ dịch phân lập qua lên men nấm Streptomyces avermitilis Nguyên chất dạng bột rắn, màu vàng nhạt, điểm nóng chảy 150 – 1550C, tan ít trong nước (0,01 mg/l), tan nhiều trong dung môi hữu cơ
Nhóm độc II, LD50 qua miệng 300mg/kg, LD50 qua da > 1800mg/kg, dễ kích thích da
và mắt, tương đối với cá, ít độc với ong Mau phân huỷ trong môi trường TGCL 5 –
7 ngày
Công dụng: Thuốc trừ sâu và nhện tiếp xúc, vị độc Phổ tác dụng tương đối rộng Hướng dẫn sử dụng: phòng trừ nhiều loại sâu miệng nhai, sâu chích hút và nhện hại
lúa, rau, dưa, đậu, cây ăn quả, cây công nghiệp
Liều lượng sử dụng trừ sâu 10 – 20 g a.i/ha, trừ nhện 15 – 25 g a.i/ha
Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác (Nguyễn Mạnh
Chinh, 2010)
2.1.3.5 VBT của Cty CP thuốc BVTV Việt Trung
Tên thương mại: VBT
Hoạt chất: Bacillus thuringiensis var Kursstaki
Đặc điểm: Là thuốc trừ sâu sinh học, nguồn gốc vi khuẩn, được sản xuất bằng phương
pháp lên men vi khuẩn B thuringiensis (BT) Sản phẩm lên men là độc tố ở dạng đạm
tinh thể cao phân tử và dạng bào tử của vi khuẩn Độc tố là chất Endotoxin, có nhiều dạng α, β, χ, δ, trong đó dạng delta Endotoxin có hiêu lực cao với sâu non bộ cánh vẩy
và là thành phần chủ yếu trong các loại thuốc BT Độc tố có độ lớn từ 0,5 – 2 micron, không bền vững trong môi trường kiềm và acid, không tan trong nước và trong nhiều
Trang 15Nhóm độc IV, LD50 qua miệng > 8000 mg/kg Rất ít độc với người, môi trường và các loài thiên địch, không độc với cá và ong TGCL 5 ngày Loại BT chứa bào tử rất mẩm cảm với tằm nên ở những nơi có trồng dâu nuôi tằm chỉ nên dùng loại BT không chứa bào tử
Công dụng: Tác động vị đôc, không có hiệu lực tiếp xúc và xông hơi Sau khi ăn phải
lá cây có thuốc, chỉ 1 giờ sau sâu sẽ yếu và ngừng ăn, cơ thể đen dần, teo lại và chết sau vài ngày Phổ tác dụng hẹp, chủ yếu có hiệu lực với sâu non bộ cánh vẩy
Hướng dẫn sử dụng: Thuốc BT dùng phòng trừ các loại sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang,
sâu keo hại rau, đậu, thuốc lá, bông, ngô, đay
Liều lượng sử dụng: 0.5-1.2kg/ha Lượng nước phun 400-600 lít/ha Pha 40-50g/4 bình
8 lít/1000m2
Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác, không pha
chung với thuốc có tính kiềm (như Bordeaux), phân hoá học, các thuốc trừ bệnh có nguồn gốc kháng sinh (như Kasugamycin, Validamycin) và thuốc có đồng (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)
2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU HOẶC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Hiệu quả của các loại thuốc sinh học Acplant 20WG, Apolo 25WP, Muskardin, Reasgant 3.6EC và VBT có hiệu quả khi xử lý rầy xanh trên giống đậu bắp Nhật hay không? Loại thuốc nào sẽ đạt hiệu quả xử lí tốt nhất?
Trang 1611
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 MẪU NGHIÊN CỨU
- Đậu bắp Nhật trồng trong nhà lưới (số 2), ĐHAG
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), gồm 6 nghiệm thức và 5 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại 1 chậu 30 con rầy xanh, 1 chậu 2 cây, thuốc được pha theo nồng độ khuyến cáo ghi trên bao bì Gồm có các nghiệm thức sau:
Bảng 1: Nghiệm thức và các liều lượng phun trong thí nghiệm
5 VBT Bacillus thuringiensis 1.25g/l