1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú tỉnh an giang

61 496 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một nghiên cứu gần đây về cân đối dưỡng chất lân cho cây bắp lai cho thấy lượng lân cây hút và lượng lân được bón đối với cây bắp là –25kg P2O5 /ha, như vậy, canh tác bắp với lượng bón l

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Tr n ấp t uận đồn i

ảm tạ ii

Tóm tắt t n v ệt iii

Tóm tắt t n n iv

m t v

ụ lụ vi

Danh sách bản viii

Danh sách hình ix

D n mụ á từ v t tắt x

C ƣơ : GIỚI THIỆU 1

1.1 ặt vấn đ 1

1.2 ụ t u n n u 1

1.3 un n n u 1

C ƣơ : LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

2 1 Tổn qu n v vùn n n u 2

2 1 1 ị trí đị l , đ u ện t n n An Phú 2

2 1 1 1 ị trí đị l 2

2 1 1 2 u ện t n n 2

2 1 2 Tìn ìn sản uất nôn n ệp An Phú 2

2 2 á quát v y bắp 3

2.2.1 ặ đ ểm t vật y bắp 3

2.2.1.1 ệ t ốn rễ 3

2.2.1.2 T n bắp 4

2 2 1 3 á bắp 4

2.2.1.4 Phát hoa 5

2 2 1 5 ạt bắp 7

2.2.2 Cá đoạn p át tr ển y bắp 8

2.2.3 Cá đoạn s n tr n v p át tr ển bắp 9

2.2.3 1 T ỳ nảy mầm v m E 9

Trang 2

2 2 3 2 G đoạn lá t 3 3 10

2 2 3 3 G đoạn lá t 6 6 10

2.2.3.4 G đoạn lá t 9 9 11

2 2 3 5 G đoạn lá t 12 12 11

2 2 3 6 G đoạn lá t 15 15 11

2 2 3 7 G đoạn lá t 18 18 12

2.2.3.8 G đoạn trỗ T 12

2.2.3.9 G đoạn p un r u R1 – R6) 12

2.2.4 D n ỡn y bắp 13

2.2.4.1 u ầu n ỡn cây bắp 13

2.2.4.2 Vai trò p n b n 13

2 3 ỹ t uật trồn y bắp 16

2 3 1 T vụ 16

2.3.2 n ốn v ạt ốn 16

2 3 3 C uẩn bị đất trồn 16

2.3.4 ật đ v oản á trồn 17

2.3.5 Phân bón 17

2.3.5.1 L ng bón 17

2.3.5.2 Cách bón 17

2.3 6 C ăm s 18

2.3 6 1 Tỉ ặm 18

2 3 6 2 m ỏ, vun ố 18

2 3 6 3 T n 18

2.4 Tìn ìn n n u tron v n o n 18

2.5 ặ đ ểm ốn bắp 7328 21

C ươ 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 23

3.1 Ph ơn t ện 23

3.2 P ơn p áp 23

3.2.1 ị đ ểm bố trí t í n ệm 23

3.2.2 P ơn p áp bố trí t í n ệm 24

3 2 3 P ơn p áp lấy m u v p n tí m u 24

Trang 3

3.2.3.1 P ơn p áp lấy m u 24

3.2.3.2 P ơn p áp p n tí m u 24

3.2.4 P ơn p áp p n tí số l ệu 25

C ươ 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26

4 1 ặt tín đất An P ú 26

4.2 Ản n b n P CaMg đ n m l n P tron á b p ận bắp l tr n đất p ù s ôn bồ An P ú – An Giang 26

4.3 Ản n b n P CaMg đ n s n ố bắp l tr n đất p ù s ôn bồ An Phú – An Giang 29

4.4 Ản n b n P CaMg đ n ấp t u P tron á b p ận bắp l tr n đất p ù s ôn bồ An Phú – An Giang 30

4.5 Ản n b n NPKCaMg đ n tổn ấp t u NPK bắp l tr n đất p ù s ôn bồ An P ú – An Giang 32

4.6 Ản ng c a biện pháp bón NPKCaMg n đố tr n năn suất bắp lai tạ An Phú – An Giang 33

4.7 ả năn un ấp ỡn ất NPK tr n đất p ù s ôn bồ n tá bắp tạ An Phú – An Giang 37

C ươ 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 38

5 1 t luận 38

5.2 Khuy n n ị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHỤ CHƯƠNG 44

P ụ ơn A Số l ệu p n tí t ốn SPSS 44

P ụ ơn B ìn ản t í n ệm 48

Trang 4

DANH SÁCH BẢNG

Trang

2.1 D ện tí , năn suất v sản l n bắp uyện An P ú 3 2.2 Cá đoạn s n tr n v s n t y bắp 9 3.1 Cá n ệm t t í n ệm trồn bắp l vụ ôn Xu n 2014 tạ An P ú – An Giang 24 3.2 P ơn p áp p n tí m u 25

4.1 Tín ất đất t í n ệm tần 0 – 20 cm và 20 – 50 m An P ú – An

Giang năm 2014 26 4.2 Ản n b n P CaMg đ n m l n P tron á b p ận bắp

l tr n đất p ù s ôn bồ án An – An Phú – An Giang 27 4.3 Ản n b n P CaMg đ n m l n P tron á b p ận bắp

l tr n đất p ù s ôn bồ Quố T á – An Phú – An Giang 28 4.4 Ản n b n P CaMg đ n m l n P tron á b p ận bắp

l tr n đất p ù s ôn bồ P ú ữu – An Phú – An Giang 28 4.5 Ản n b n P C đ n s n ố bắp l tr n đất p ù s ôn bồ

An Phú – An Giang, vụ ôn Xu n 2014 29 4.6 Ản n b n P C đ n ấp t u P tron á b p ận bắp l

tr n đất p ù s ôn bồ án An – An Phú – An Giang, vụ ôn Xu n 2014 30 4.7 Ản n b n P C đ n ấp t u P tron á b p ận bắp l

tr n đất p ù s ôn bồ Quố T á – An Phú – An Giang, vụ ôn Xu n 2014 31 4.8 Ản n b n P C đ n ấp t u P tron á b p ận bắp l

tr n đất p ù s ôn bồ P ú ữu – An Phú – An Giang, vụ ôn Xu n 2014 32 4.9 Ản n b n P C đ n tổn ấp t u P bắp l tr n đất p ù

s ôn bồ An P ú – An Giang, vụ ôn Xu n 2014 33 4.10 So sán năn suất bắp lai á đ ểm thí nghiệm do ản ng c a mật đ và

l ng phân b n An P ú, ôn Xu n 2014 35

Trang 5

DANH SÁCH HÌNH

Trang

2.1 o đ 6 2.2 Hoa á 7 2.3 ạt bắp bổ đô 8 2.4 ảy mầm v m 0, 2, 4, 5, 6 (VE), 7,8, 10 (V1) và 12 (V2) ngày sau khi gieo 10 3.1 Bản đồ uyện An P ú t ể ện vị trí 3 án An, Quố T á v P ú ữu

t u đị đ ểm n n u đ t 23 4.1 Cây bắp đ c duy trì 2 cây/lỗ đ c bón N-P-K-Ca-Mg (Hình 4.1a); Trái bắp lúc thu hoạch c a nghiệm th c N-P-K-Ca-Mg (Hình 4.1b); Ản ng c a khuy t Ca (Hình 4.1c) và khuy t N (Hình 4.1d) trên kíc t c và dạng hình trái bắp lai tạ An Phú – An Giang, vụ ôn Xu n 2014 36 4.2 B ểu đồ so sán năn suất bắp lai giữa các nghiệm th b n p n tạ An P ú, vụ

ôn Xu n 2014 37

4 3 B ểu đồ đánh giá ả năn un ấp ỡn ất P tr n đất phù sa ôn bồ

n tá bắp tạ An P ú – An Giang, vụ ôn Xu n 2014 37

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong tình hình biến đổi khí hậu và sự hình thành bao đê chống lũ, nhiều vùng phù

sa bồi và không được bồi có sự thiếu hụt một số dưỡng chất thiết yếu Phần lớn diện tích đất trồng bắp lai ở An Giang thuộc vùng đê bao hiện nay không được phù sa bồi hàng năm, sau mỗi vụ trồng với một lượng lớn dưỡng chất bị cây bắp lấy đi điều này

có thể ảnh hưởng đến tình trạng dưỡng chất của đất Kết quả bước đầu nghiên cứu về ảnh hưởng của đê bao lên chất lượng cùng một biểu loại đất cho thấy vùng bao đê triệt để (Kiến Thành – Chợ Mới) có tính chất đất như pH, chất hữu cơ, đạm tổng số

và đạm hữu dụng của đất thấp hơn so với đất đê bao có xả lũ định kỳ (Long Hòa – Phú Tân) (Lý Ngọc Thanh xuân và ctv, 2012) Một nghiên cứu gần đây về cân đối dưỡng chất lân cho cây bắp lai cho thấy lượng lân cây hút và lượng lân được bón đối với cây bắp là –25kg P2O5 /ha, như vậy, canh tác bắp với lượng bón lân dài hạn như thế có thể đưa đến sự kiệt quệ lân trong đất và do đó năng suất của vụ bắp có thể giảm dần (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2012)

Bên cạnh đó, trong phương pháp bón phân chuyên vùng để xác định được hàm lượng phân bón tối hảo, đạt năng suất cao và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng phân bón, thì việc tính toán khả năng cung cấp các dưỡng chất N, P, K từ đất là rất quan trọng và

cần thiết (Nguyễn Mỹ Hoa, 2008) Vì vậy, đề tài ”Đánh giá khả năng cung cấp Đạm, Lân và Kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện An Phú - tỉnh An Giang” nhằm mục đích đánh giá khả năng cung cấp dưỡng chất đạm,

lân, kali cho cây bắp lai là cần thiết để tiến đến việc sử dụng phân bón hợp lý và cân đối nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao độ phì nhiêu của đất và nâng cao năng suất cây trồng

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá khả năng cung cấp Đạm, Lân và Kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện An Phú – tỉnh An Giang

1.3 N I UNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát lượng hút thu Đạm, Lân và Kali trong thân, lá, trái, hạt và lõi bắp lai

Đánh giá khả năng cung cấp Đạm, Lân và Kali của đất cho cây bắp lai trên đất phù

sa không bồi

Xác định cân đối lượng Đạm, Lân và Kali cho cây bắp lai

Trang 9

CHƯƠNG 2 ƯỢC HẢ T I IỆU

2.1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên An Phú

2.1.1.1 Vị trí địa lý

An Phú là một huyện thuộc tỉnh An Giang, nằm ở đỉnh cực Tây Bắc của vùng đồng bằng sông Cửu Long, ăn sâu vào lãnh thổ Campuchia Đây cũng là nơi tiếp nhận dòng chảy đầu tiên của sông Hậu từ Campuchia vào Việt Nam (Cổng thông tin điện

tử An Phú, 2014)

Vị trí: + Phía Tây và Bắc giáp tỉnh Takeo và Kandal của Campuchia

+ Phía Đông giáp thị xã Tân Châu

+ Phía Nam giáp ngã ba sông Hậu ở Châu Đốc

Diện tích khoảng 240,4 km2, dân số khoảng 99.696 nghìn người

Số xã và thị trần: gồm 12 xã và 2 thị trấn

Dân số: Số dân: 179 nghìn Mật độ: người /km2 Thành phần dân tộc: Kinh, Chăm, Hoa

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiện

Huyện An Phú có địa thế chia làm 3 phần, sông Hậu chạy xuyên ở giữa chia đôi mảnh đất, đồng thời sau nhiều năm phù sa tích tụ tạo nên cù lao An Phú nổi lên giữa sông chia thành 2 nhánh nhỏ: nhánh phụ bên bờ Tây rộng chừng 300 m gọi là sông Bình Di, nhánh chính bên bờ Đông hơi rộng hơn (Cổng thông tin điện tử An Phú, 2014)

Hầu hết diện tích huyện An Phú đều là đồng bằng, có nhiều nơi bị ngập úng thường xuyên Đất đai chủ yếu là đất phù sa Hàng năm, An Phú chịu ảnh hưởng của mùa lũ hay còn gọi là mùa nước nổi Khoảng từ tháng 6 hàng năm, mực nước trên sông MêKông dâng cao, mưa nhiều kết hợp với lượng nước tích tụ tại Biển Hồ của Campuchia làm gần như toàn bộ khu vực này chìm trong biển nước, độ ngập trung bình khoảng 2 m – 3 m Thời gian ngập lụt kéo dài khá lâu, thường là khoảng 6 tháng nên có ảnh hưởng rất lớn đến tập quán sinh hoạt, sản xuất của người dân (cổng thông tin điện tử An Phú, 2014) Hiện nay, phần lớn diện tích đất trồng bắp lai ở An Giang thuộc vùng đê bao không được phù sa bồi hàng năm (Sở khoa học & công nghệ Vĩnh Long, 2014)

2.1.2 Tình hình sản xuất n ng nghiệp An Phú

Những năm 80 của thế kỷ 20, chính quyền và nông dân huyện đầu nguồn huyện An Phú đã bắt đầu hình thành những vùng chuyên canh, xen canh giữa cây lúa và bắp

Trang 10

nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất (Cổng thông tin điện tử An Phú, 2014)

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng bắp huyện An Phú

Năm Diện tích bắp

toàn tỉnh (ha)

Diện tích bắp (ha)

Năng suất bắp (ha)

Sản lượng bắp (tấn)

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang, 2013)

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp đang được chính quyền, ngành nông nghiệp cả nước khuyến khích, nghiên cứu mô hình Cùng chủ trương đó, An Phú đã và đang định hướng cho việc hình thành vùng chuyên canh bắp quy mô lớn với một mô hình phát triển tựa "Cánh đồng mẫu lớn" của cây lúa (Bảo Trị, 2014)

Theo ông Nguyễn Minh Triết Giám đốc Công ty Ecofarm, đơn vị đầu tiên xúc tiến phát triển ký kết mô hình liên kết khép kín cây bắp tại An Phú chia sẻ: "Cây bắp tại

An Phú có một tiềm năng rất lớn để hình thành một vùng chuyên canh bền vững Thời gian tới, một mặt chúng tôi mở rộng diện tích liên kết, chuyển giao kỹ thuật canh tác hiện đại cho nông dân, mặt khác hình thành kho chế biến nhằm gắn bó chặt chẽ hơn với người nông dân" (Bảo Trị, 2014)

2.2 KHÁI QUÁT VỀ CÂY BẮP

2.2.1 Đặc điểm thực vật cây bắp

Cây bắp, tên khoa học Zea mays L., được Linnaeus đặc tên 1737, là loài duy nhất của giống Zea Chữ “Zea” thuộc gốc Hy Lạp để chỉ một giống thực vật Hòa bản có phát hoa cái mọc từ một nhánh bên của thân Chữ “mays” bắt nguồn từ chữ “mahiz” hay

“marisi” của người da đỏ để chỉ một loài thực vật có nướm nhị cái phát triển dài

(Dương Minh, 1999)

Bắp là loài cây hằng niên, thân thảo, đặc lõi, thẳng và ít đâm nhánh Theo (Trần Văn

Dư, 2011), hình thái quan sát một cây bắp thấy rằng

2.2.1.1 Hệ thống rễ

Bắp có 4 loại rễ chính

Rễ mầm (còn gọi là rễ mộng, rễ tạm thời, rễ hạt): phát triển từ rễ sơ sinh của phôi Rễ mầm thứ cấp thường khoảng 3 – 4 cái và tồn tại trong khoảng thời gian ngắn trong đời sống cây bắp - từ nảy mầm đến khi bắp 4 – 5 lá về sau vai trò này nhường lại cho

Trang 11

rễ đốt (Trần Văn Dư, 2011)

Rễ mầm gồm có 2 loại: rễ mầm sơ sinh và rễ mầm thứ sinh (Trần Văn Dư, 2011)

Rễ đốt (còn gọi là rễ phụ cố định) phát triển từ các đốt thấp của thân nhất nằm dưới mặt đất 3 cm – 4 cm, mọc vòng quanh các đốt dưới mặt đất bắt đầu lúc bắp được 3 -

4 lá Số lượng rễ đốt ở mỗi đốt của bắp từ 8 – 16 Rễ đốt ăn sâu xuống đất và có thể đạt tới 2,5 m, thậm chí tới 5 m, nhưng khối lượng chính của rễ đốt vẫn là ở lớp đất phía trên Rễ đốt làm nhiệm vụ cung cấp nước và các chất dinh dưỡng suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây bắp (Trần Văn Dư, 2011)

Rễ chân kiềng (rễ neo – rễ chống): là loại rễ đốt được mọc ở đốt gần sát trên mặt đất (thường mọc ở 2 hay 3 đốt cuối) Ở những giống nhiệt đới rễ này thường phát triển mạnh Về hình thái rễ chân kiềng thường to nhẵn, ít phân nhánh Rễ chân kiềng ngoài nhiệm vụ chống đỡ cho cây còn hút nước và chất dinh dưỡng (Trần Văn Dư, 2011)

2.2.1.2 Thân bắp

Thân bắp đặc, đường kính khoảng 2 cm – 4 cm tùy thuộc vào giống, môi trường sản xuất và trình độ thâm canh Thân bắp có thể cao từ 2 m – 4 m Chiều dài của các lóng khác nhau và nó được xem xét như một đặc điểm có giá trị trong việc phân loại các giống bắp Lóng mang bắp được kéo dài thích hợp để bắp có thể định vị và phát triển Trong điều kiện bình thường cây bắp cao 1,8 m – 2 m có số lóng thay đổi tùy thuộc vào giống (Trần Văn Dư, 2011)

+ Giống bắp ngắn ngày, cây cao 1,2 m – 1,5 m có 14 – 15 lóng

+ Giống bắp trung ngày, cây cao 1,8 m – 2 m có 18 – 22 lóng

+ Giống bắp dài ngày, cây cao 2,0 m – 2,5 m có 20 – 22 lóng

Chiều dài của các lóng trên thân không đều nhau Ở gần gốc lóng ngắn, lên cao lóng

to và dài dần, phát triển nhất là những lóng mang bắp Các lóng về phía ngọn lại ngắn và bé dần

Trên các đốt thân, bao gồm các đốt từ đốt mang bắp trở xuống mỗi đốt đều mang một mầm nách, do vậy tiết diện ngang của những lóng thân này có hình trăng khuyết

do vết lõm chứa mầm nách (Trần Văn Dư, 2011) Còn những lóng ngọn (bao gồm các đốt trên đốt mang bắp trở lên) thường nhỏ và có tiết diện tròn Những mầm nách

ở gần gốc có khả năng phát triển thành nhánh Đặc tính đẻ nhánh thường chỉ tồn tại ở những loại hình cổ như bắp đường, bắp bọc, (Dương Minh, 1999)

2.2.1.3 Lá bắp

Sau khi bao lá mầm nhú lên khỏi mặt đất, những lá bắt đầu mọc theo thứ tự thời gian Căn cứ vào hình thái và vị trí trên thân có thể chia làm 4 loại lá (Trần Văn Dư, 2011)

+ Lá mầm: lá đầu tiên khi cây còn nhỏ, chưa phân biệt được phiến lá với vỏ

Trang 12

+ Phiến lá (hay bản lá): thường rộng, dài, mép lá lượn sóng, ở một số giống lá

có nhiều lông tơ Lá bắp có gân song song Từ gốc thân, lá có chiều dài tăng dần đạt chiều dài nhất ở lá mang bắp trên cùng sau đó chiều dài của lá bắp giảm dần

+ Thìa lá: Là phần nằm giữa bẹ lá và phiến lá, gần sát với thân cây Tuy nhiên, không phải giống bắp nào cũng có thìa lá; ở những giống không có thìa lá, lá bắp gần như thẳng đứng, ôm lấy thân

+ Số lượng lá, chiều dài, chiều rộng, độ dày, lông tơ, màu lá, góc lá và gân lá thay đổi tùy theo từng giống khác nhau Số lá là đặc điểm khá ổn định ở bắp, có quan

hệ chặt với số đốt và thời gian sinh trưởng Những giống bắp ngắn ngày thường có

15 – 16 lá, giống bắp trung bình: 18 – 20 lá, giống bắp dài ngày thường có trên 20 lá + Những lá ở giữa thân là những lá phát triển nhất, có tác dụng lớn trong việc vận chuyển chất dinh dưỡng vào bắp Diện tích lá tăng dần qua từng thời kỳ, đạt tối

đa vào khoảng từ trỗ cờ

Giống bắp ngắn ngày thường có 15 – 16 lá

Giống bắp trung bình thường có khoảng 18 – 20 lá

Giống bắp dài ngày thường có trên 20 lá

2.2.1.4 Phát hoa

Hoa đực

Hoa tự đực (bông cờ) bao gồm các hoa đực sắp xếp theo kiểu chùm bông được gọi là bông cờ gồm một trục chính, trên trục chính phân làm nhiều nhánh và trên mỗi nhánh và cả trên trục chính có nhiều giá (hay bông nhỏ, bông chét, nhánh nhỏ) Các giá mọc đối diện nhau trên trục chính hay trên các nhánh, mỗi giá có 2 chùm hoa (một chùm cuống dài và một chùm cuống ngắn), mỗi chùm có 2 hoa Trên mỗi chùm hoa có 2 vỏ trấu ngoài chung cho cả 2 hoa (gọi là mày 1 và mày 2 tương ứng với lá

Trang 13

bắc chung), mày có gân và lông tơ, mày xanh hay màu tím tùy thuộc vào giống Bên trong 2 vỏ trấu ngoài có chứa 2 hoa, mỗi hoa có 2 vỏ trấu trong, mỏng, màu trắng, ở giữa mỗi hoa có 3 nhị đực, mỗi nhị đực có một bao phấn (Dương Minh, 1999)

Hình 2.1: Hoa đực

(Nguồn: Dương Minh, 1999)

Ở mỗi hoa có thể thấy dấu vết thoái hoá và vết tích của nhụy hoa cái, quanh đó có ba chỉ đực mang ba nhị đực và hai mày cực nhỏ gọi là vẩy tương ứng với tràng hoa Bao quanh các bộ phận của một hoa có hai mày nhỏ mày ngoài tương ứng với lá bắc hoa

và mày trong tương ứng với lá đài hoa Mỗi bông cờ có từ 700 – 1.400 hoa, tổng cộng cho từ 10 – 30 triệu hạt phấn Số hoa trên một bông cờ nhiều ít phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh Ở nước ta trong điều kiện canh tác bình thường giống ngắn ngày có 500 – 700 hoa, giống trung ngày có khoảng 700 – 1.000 hoa, giống dài ngày có trên 1.000 hoa Hoa đực nhiều, khỏe là một đặc tính tốt (Dương Minh, 1999)

Hoa cái

Hoa tự cái (hay bắp ngô) được sinh ra từ nách lá phần giữa thân Bắp ngô gồm các

bộ phận chính như cuống bắp và lõi bắp: cuống bắp gồm nhiều đốt rất ngắn (có trường hợp cuống dài) mỗi đốt trên cuống có một lá bi bao bọc nhằm bảo vệ bắp, lá

bi thường không có phiến Lõi bắp trục chính của hoa tự cái, hoa cái cũng mọc thành từng đôi (chùm hoa) mỗi chùm có hai hoa nhưng hoa thứ hai thoái hóa nên chỉ một hoa tạo thành hạt Đặc điểm của đôi chùm hoa là mỗi chùm hoa chỉ tạo thành một hạt, một đôi chùm hoa cho hai hạt nên số hàng hạt trên bắp thường là một số chẵn

Số hàng hạt, số hạt nhiều hay ít trên bắp tùy giống, điều kiện ngoại cảnh (Trần Văn

Dư, 2011) Trung bình một trái bắp có từ 12 – 16 hàng, thấp nhất là 10 – 12 hàng,

Trang 14

cao nhất 18 – 20 hàng

(Nguồn: Dương Minh, 1999)

Tương tự như bông cờ, nhưng cuống và các bộ phận bao ngoài hoa ngắn lại và dầy lên Phía ngoài hoa có hai mày (ở loài phụ bắp bọc hai mày phát triến bao kín hạt) Tiếp đến là mày ngoài và mày trong, ngay sau mày ngoài có thể quan sát dấu vết của nhị đực và hoa cái thứ hai bị thoái hoá Sát bầu hoa là mày rất nhỏ Phía trên bầu nhị

có núm và vòi nhị vươn dài ra thành râu Trên râu có nhiều lông tơ và tiết ra chất nhựa làm cho hạt phấn dính vào dễ nảy mầm Sau thụ tinh râu chuyển sang màu sẫm rồi héo dần (Trần Văn Dư, 2011)

Thời gian bắp phun râu sau cơ tung phấn từ 3 – 5 ngày hoặc 1 – 2 tuần tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh, trường hợp này gọi là tính đực chín trước (Ptotaxdry hay Proteraxdry) Ngược lại, tuy ít gặp cũng có trường hợp phun râu sớm hơn trỗ cờ một vài ngày gọi là tính cái chín trước (Protogyny) Trong điều kiện nhiệt độ thấp sự phun râu chậm và kéo dài; nhiệt độ cao, đủ ẩm phun râu nhanh và tập trung (Dương Minh, 1999)

Trang 15

theo giống

+ Lớp alơron nằm sau tầng vỏ bao bọc lấy phôi nhũ và phôi

+ Phôi nhũ là bộ phận chính của hạt chủ yếu chứa tinh bột và các chất có giá trị dinh dưỡng cao Tinh bột trong phôi nhũ chia thành tinh bột mềm (tinh bột), tinh bột cứng (tinh bột sừng hay tinh bột pha lê)

Hình 2.3: Hạt bắp bổ đ i

(Nguồn: Dương Minh, 1999)

Bắp là loại hạt kép có nhiều tinh bột, phôi nhũ chứa 70% – 78% trọng lượng hạt với giá trị dinh dưỡng khá cao so với gạo (Dương Minh, 1999)

2 2 2 Các giai đoạn phát triển c ắp

Hệ thống các giai đoạn phát triển của cây bắp dựa chính vào Samuel R Aldrich, Walter O Scott, Robert G Hoeft (1986) và công trình của Steves W Ritchie và John

J Hanway (1989) Quá trình phát triển của cây bắp được chia thành các giai đoạn sinh dưỡng (V) và sinh thực (R) Mức chia nhỏ của giai đoạn V được kí hiệu bằng số V1, V2, V3, Vn (n biểu diễn số lá) Giai đoạn sinh trưởng đầu tiên là VE (mọc) và cuối cùng là VT (trổ cờ) Sáu mức chia nhỏ của giai đoạn sinh thực cũng được kí hiệu với những tên chung ở Bảng 2.1 (Ngô Hữu Tình, 2003)

Trang 16

Bảng 2.2: Các giai đoạn sinh trưởng và sinh thực của cây bắp

Giai đoạn sinh trưởng Giai đoạn sinh thực

(Nguồn: Ngô Hữu Tình, 2003)

Mỗi giai đoạn lá bắp được xác định theo lá trên cùng khi cổ bẹ lá của lá bắp thấy rõ Phần đầu tiên của cổ lá thấy rõ là phần lưng xuất hiện như một đường nhạt màu giữa

lá và bẹ lá Lá đầu tiên có phiến lá hình oval riêng biệt là điểm xuất phát để tính lên đến lá có cổ lá thấy rõ (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển cây bắp

Thời gian sinh trưởng của cây bắp từ khi gieo đến khi chín trung bình từ 90 – 160 ngày Thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh (Dương Minh, 1999)

Sự phát triển của cây bắp có thể chia ra làm hai giai đoạn:

- Trong giai đoạn đầu (giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng), những mô khác nhau phát triển và phân hóa cho đến khi các cấu trúc hoa xuất hiện (Dương Minh, 1999) Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng gồm hai chu kỳ:

+ Ở chu kỳ đầu: những lá đầu tiên được hình thành và tiếp tục phát triển Việc sản xuất chất khô ở chu kỳ này chậm, nó kết thúc khi mô tế bào bắt đầu phân hóa hình thành cơ quan sinh sản

+ Ở chu kỳ thứ 2: các lá và cơ quan sinh sản phát triển, chu kỳ kết thúc với sự xuất hiện của nhị cái

- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn sinh trưởng sinh thực Bắt đầu với việc thụ tinh của các hoa cái Pha đầu của giai đoạn này có đặc điểm là tăng trọng lượng lá và những phần hoa khác Suốt pha thứ hai trọng lượng của hạt tăng nhanh (Tanaka và Tamaguchi, 1972)

2.2.3.1 Thời kỳ nảy mầm và mọc (VE)

Dưới những điều kiện đồng ruộng thích hợp, hạt được gieo, hút nước trương lên và bắt đầu mọc Rễ mầm sơ sinh là bộ phận đầu tiên xuất hiện và kéo dài từ hạt, tiếp sau

là lá mầm với chồi mầm bọc kín, rồi đến ba hoặc bốn rễ mầm thứ sinh, cuối cùng VE

Trang 17

(mọc) đã đến bởi sự kéo dài nhanh chóng của trụ giam lá mầm đẩy bao lá mầm lên khỏi mặt đất (Hình 2.4) Dưới điều kiện ẩm và ấm cây mọc trong 4 – 5 ngày sau khi gieo nhưng với điều kiện lạnh hoặc khô có thể đòi hỏi đến 2 tuần hoặc dài hơn (Ngô Hữu Tình, 2003)

(Nguồn: Ngô Hữu Tình, 2003)

Hệ thống rễ đốt được khởi đầu vào khoảng VE và vòng đầu tiên của rễ đốt bắt đầu kéo dài từ đốt thứ nhất trong giai đoạn V1 (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.2 Giai đo n lá thứ 3 (V3)

Khi cây có 3 lá, cây bắp bắt đầu sống nhờ quang hợp và hấp thu dưỡng liệu từ rễ Thời kỳ này quyết định số mắt và lóng của cây, gặp điều kiện bất lợi, cây sẽ cho ít mắt Ở cuối thời kỳ này, đỉnh sinh trưởng của chồi nách hình thành Vào thời kỳ này thân cây thật sự chỉ cao 1 cm – 3 cm, nhưng toàn bộ chiều cao cây bắp có thể 20 cm – 30 cm và ở khoảng 12 – 15 ngày sau khi gieo (Dương Minh, 1999)

Cách trình bày tương tự sẽ dược sử dụng cho một vài giai đoạn V tiếp sau Ghi nhận

từ cây V3 giải phẫu lá đỉnh thân (điểm sinh trường) còn ở dưới mặt đất và thân mới kéo dài một ít Lông hút từ các rễ đốt mọc ra vào thời gian này và sự phát triển của

hộ thống rẽ mầm thực sự đã ngừng (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.3 Giai đo n lá thứ 6 (V6)

Bắt đầu khi cây được 5 lá đến khi cây được 9 lá Cây bắp phát triển chậm, chỉ vài mm/ngày, tuy nhiên các đỉnh sinh trưởng đã bắt đầu phát triển tạo mầm hoa đực Thời kỳ này cây bắp chịu ảnh hưởng quang kỳ rất mạnh, nhất là những giống nhiệt đới Quang kỳ càng yếu và ánh sáng có bước sóng ngắn sẽ rút ngắn thời gian (Dương Minh, 1999)

Ở V6 điểm sinh trưởng và bông cờ đã ở trên mặt đất và thân bắt đầu giai đoạn tăng nhanh về chiều dài Dưới đất, hệ thống rễ đốt bây giờ là hệ thống rễ chức năng chính với hàng loạt các rễ mọc dài ra từ 3 hoặc 4 đốt thân dưới cùng và phân bố đều trong

Hình 2.4: Nảy mầm và mọc 0, 2, 4, 5, 6 (VE), 7,8, 10 (V1) và 12 (V2) ngày sau khi gieo

Trang 18

đất (Ngô Hữu Tình, 2003) Ở giai đoạn này phải theo dõi dấu hiệu thiếu dinh dưỡng

đa lượng, trung lượng và vi lượng ở cây để xử lí cho phù hợp Dẫu rằng sự thiếu hụt dinh dưỡng ở đất có thể được hạn chế bằng cách bón thúc qua lá hoặc vào đất nhưng việc phòng ngừa thiếu dinh dưỡng trước khi những triệu chứng xuất hiện vẫn tốt hơn (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.4 Giai đo n lá thứ 9 (V9)

Cây phát triển rất nhanh trong giai đoạn này Mỗi thân có thể mọc thêm 2 cm – 5 cm, nhất là vào lúc gần trỗ Hệ thống rễ là lượng chất khô trong cây tăng rất nhanh Số lượng và sức sống của hoa cũng được quyết định trong giai đoạn này, do đó cây bắp cũng cần nhiệt độ thích hợp, ở 18 0

C – 20 0C và độ ẩm đạt khoảng 80% (Dương Minh, 1999) Rất nhiều chồi bắp bây giờ dễ dàng nhìn thấy qua việc giải phẫu cây V9 Chồi bắp (bắp thế năng) phát triển ở mỗi đốt trên mặt đất, trừ 6 – 8 đốt cuối cùng dưới bông cờ (Ngô Hữu Tình, 2003) Trong giai đoạn này bông cờ bắt đầu phát triển nhanh và thân tiếp tục kéo dài Thân kéo dài theo sự kéo dài của lóng Mỗi một lóng bắt đầu kéo dài trước lóng trên nó ở thân Sự phát triển của chồi bắp ban đầu cũng tương tự (Ngô Hữu Tình, 2003)

Ở V10 thời gian xuất hiện các giai đoạn lá mới ngắn hơn, thường xảy ra sau 2 – 3 ngày Ở giai đoạn này cây bắp bắt đầu tăng trưởng nhanh, vững chắc về chất dinh dưỡng và tích luỹ chất khô Quá trình này sẽ tiếp tục đến các giai đoạn sinh thực Lúc này việc cung cấp chất dinh dưỡng và nước trong đất cần lớn hơn để đáp ứng những nhu cầu về tốc độ phát triển (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.5 Giai đo n lá thứ 12 (V12)

Mặc dầu chồi bắp đã được hình thành ngay trước khi hình thành bông cờ (V5) nhưng

số noãn (hạt thế năng) trên mỗi bắp và độ lớn của bắp mới được xác định vào giai đoạn V12 Số hàng hạt trên bắp đã được thiết lập nhưng cho đến vào khoảng 1 tuần trước phun râu hoặc vào khoảng V17 số hạt trên hàng vẫn chưa hoàn toàn được xác định Các chồi bắp trên vẫn còn nhỏ hơn các chồi bắp thấp hơn vào thời gian này, tuy nhiên nhiều bắp trên đã gần sát nhau về độ lớn (Ngô Hữu Tình, 2003)

Vì số noãn và kích thước bắp được xác định vào thời điểm này nên sự thiếu hụt về

độ ẩm và chất dinh dưỡng có thể làm giảm nghiêm trọng số hạt tiềm năng và độ lớn của bắp thu hoạch Tiềm năng của hai yếu tố thu hoạch ấy còn liên quan đến độ dài thời gian cho việc xác định chúng, thường thì khoảng V10 qua V17 Những giống lai chín sớm thường qua giai đoạn này trong thời gian ngắn hơn và thường có bắp nhỏ hơn những giống lai chín muộn Vì vậy, mật độ cây cao hơn là cần thiết để cho các giống chín sớm sản sinh ra lượng hạt tương đương (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.6 Giai đo n lá thứ 15 (V15)

Cây bắp V15 thường vào khoảng 10 – 12 ngày cách giai đoạn R1 (phun râu) Giai đoạn này quyết định sự phát triển của cây để xác định năng suất hạt (Ngô Hữu Tình, 2003) Nếu thiếu nước trong khoảng 2 tuần trước và 2 tuần sau khi phun râu thì năng

Trang 19

suất hạt bị giảm đi nhiều so với thiếu nước ở bất kì giai đoạn sinh trưởng nào khác Năng suất sẽ giảm lớn nhất nếu hạn nặng vào lúc phun râu (giai đoạn Rl), năng suất giảm ít hơn nếu hạn xảy ra sau khi trổ cờ Đây cũng là thực tế chung với các loại ứng suất môi trường khác như thiếu chất dinh dưỡng, nhiệt độ cao hoặc mưa đá Giai đoạn 4 tuần xung quanh phun râu là thời điểm quan trọng nhất cần tưới nước (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.7 Giai đo n lá thứ 18 (V18)

Rễ chân kiềng (còn gọi là rễ đốt trên mặt đất) bây giờ mọc ra từ các đốt trên mặt đất, giúp cây chống đổ, hút nước và chất dinh dưỡng ở những lớp đất bên trên trong các giai đoạn sinh thực (Ngô Hữu Tình, 2003) Sự phát triển của bắp bị muộn lại sẽ gây

ra chênh lệch tung phấn và phun râu Nếu ứng suất trầm trọng nó có thể làm râu phun muộn sau khi cờ đã tung phấn từng phần hoặc tung phấn gần hết Những noãn

mà phun râu sau khi cờ đã tung hết phấn sẽ không được thụ tinh và sẽ không cho hạt (Ngô Hữu Tình, 2003) Những giống lai một bắp (một bắp lớn) cho năng suất càng giảm khi tác động ứng suất càng tăng nhưng lại cho năng suất cao hơn các giống lai nhiều bắp dưới điều kiện không có ứng suất (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.8 Giai đo n trỗ cờ (VT)

Giai đoạn VT được bắt đầu khi nhánh cuối cùng của bông cờ đã thấy rõ hoàn toàn còn râu thì chưa phun (chưa nhìn thấy) (Ngô Hữu Tình, 2003) VT bắt đầu khoảng 2 – 3 ngày trước khi phun râu, trong thời gian này cây bắp hầu như đã đạt được độ cao nhất của nó và bắt đầu tung phấn Thời gian giữa VT và R1 có thể dao động đáng kể phụ thuộc vào giống và điều kiện môi trường (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.3.9 Giai đo n phun râu (R1 – R6)

Giai đoạn R1 bắt đầu khi một vài râu bắp đã nhìn thấy bên ngoài lá bi Râu mọc khoảng 2,5 cm – 3,8 cm mỗi ngày và sẽ tiếp tục kéo dài đến khi được thụ tinh (Ngô Hữu Tình, 2003) Ở giai đoạn này nhu cầu kali đã đủ, còn đạm và lân được hút nhanh Phân tích lá về chất dinh dưỡng ở giai đoạn này cho tương quan rất cao với năng suất hạt cuối cùng và hiệu suất sử dụng phân bón (Ngô Hữu Tình, 2003)

Hạt R2 bên ngoài có màu trắng và dạng hình mẩy Ở R2 và cùi đã gần như đạt tới kích thước cuối cùng Tinh bột đã bắt đầu tích luỹ trong nội nhũ loãng và hạt bắt đầu giai đoạn tích luỹ chất khô nhanh của giai đoạn đầy hạt Tổng lượng đạm và lân trong cây còn dạng tích luỹ nhanh, sự di chuyển những chất dinh dưỡng này từ các phần sinh dưỡng sang các bộ phận sinh thực đã bắt đầu (Ngô Hữu Tình, 2003) Hạt R3 bên ngoài biểu hiện màu vàng và chất lỏng bên trong bây giờ như sữa trắng

do tinh bột đang tích luỹ Năng suất cuối cùng phụ thuộc vào số hạt phát triển và kích thước hạt hoặc khối lượng hạt (Ngô Hữu Tình, 2003)

Vào khoảng giữa R4 bề ngang của phôi sẽ kéo ra quá nửa bề rộng của hạt Ngay trước R5, những hạt dọc theo chiều dài của bắp bắt đầu có dạng răng ngựa hoặc khô

ở đỉnh Lá phôi thứ 5 cũng như các rễ mầm thứ sinh được hình thành trong thời gian

Trang 20

này (Ngô Hữu Tình, 2003)

Ở R5, tất cả hoặc gần như tất cả hạt đã có dạng răng ngựa (nếu giống thuộc chủng Indentata) hoặc đang hình thành răng ngựa và cùi đã có màu đỏ thẫm hoặc trắng (tuỳ theo giống) (Ngô Hữu Tình, 2003)

Ở giai đoạn R6 tất cả các hạt trên bắp đã đạt khối lượng khô Lớp tinh bột cũng đã hoàn toàn tiến đến cùi và lớp sẹo đen đã hình thành Lớp đen này hình thành tuần tự

từ các hạt đỉnh bắp đến các hạt đáy bắp Đó là chỉ dẫn tốt của khối lượng khô tối đa

và là dấu hiệu kết thúc (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.2.4 inh dưỡng cây bắp

2.2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng của cây bắp

Bắp thuộc nhóm cây quang hợp theo chu trình C4 Quang hợp C4 có nhiều ưu thế cho sinh khối hơn chu trình C3 Vì loại cây này có hiệu suất sử dụng ánh sáng cao hơn (5% – 6%), không có hô hấp ánh sáng, có điểm bù C02 rất thấp và do đó cường độ quang hợp cao

Ở ĐBSCL, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Thành, Nguyễn Thị Cúc và Dương Văn Chín (1995), thì mức kinh tế tối ưu bón cho bắp trên chân đất lúa vùng Tây Sông Hậu là 270 kgN và 50 kg P2O5 /ha Tuy nhiên, quy trình bón phân cho bắp

ở ĐBSCL thường áp dụng liều lượng 200 kgN – 100 kgP2O5 – 100 kgK2O /ha

Để đạt được năng suất cao và ổn định, bắp cần được bón phân cân đối, đặc biệt là giữa các yếu tố đa lượng NPK Điều này được chứng minh rất rõ qua thí nghiệm bón các tổ hợp phân cho bắp suốt 28 vụ của Viện kali quốc tế cho thấy chỉ có bón cân đối NPK năng suất bắp mới cao và ổn định Qua đây thấy rất rõ là nếu chỉ bón duy nhất phân đạm (N), năng suất bắp đạt tương đối khá ở 1 – 2 vụ đầu, các vụ sau năng suất giảm nhanh và rất thấp Các tổ hợp phân NK, NP cho năng suất khá hơn và sự suy giảm có chậm và ít hơn Nếu bón cân đối NPK năng suất bắp đạt cao và ổn định suốt

28 vụ gieo trồng độc canh liên tục (Ngô Hữu Tình, 2003)

Ngoài việc nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất các nhà khoa học còn nghiên cứu cả tác dụng của phân bón đối với chất lượng sản phẩm Ảnh hưởng của nguyên tố vi lượng đến các quá trình sống như hô hấp, quang hợp, hoạt động của chất xúc tác Song vì thiếu một phương pháp nghiên cứu thống nhất và trình độ phân tích còn thấp nên chất lượng các công trình chưa thật cao (Vũ Hữu Yêm, 1997)

2.2.4.2 Vai trò của phân bón

Bắp là cây trồng đòi hỏi nhiều dinh dưỡng, muốn có nâng suất cao phải bón đủ liều lượng, đúng lúc và đúng cách Với các kết quả nghiên cứu của từng vùng, có đủ khả năng xây dựng một quy trình phân bón theo năng suất định trước Bình thường để đạt được năng suất bắp cao và ổn định, tuỳ theo loại đất, lượng phân bón

Trong quá trình quang hợp để tạo lâp hidrat cacbon, cây bắp sử dụng C02 từ không khí, ion H+ và nguyên tử oxy từ nước và các nguyên tố khoáng từ trùng đất Qua

Trang 21

phân tích thu được các nguyên tố rất khác nhau và được xếp theo thứ tự như sau:

- Nhóm các nguyên tố đa lượng: C, O, H, N, P, K, S, Ca, Mg

- Nhóm các nguyên tố vi lượng: Fe, Mn, Zn, Cu, Mo, B, Ci

- Nhóm các nguyên tố siêu vi lượng: Si, Na, Al, Ti, Co, Ag, Ba

Theo Trần Kông Tấu (1986), các nguyên tố vi lượng có vai trò quan trọng về mặt sinh lý và mặt sinh hóa trong đời sống thực vật, động vật và con người Chúng có trong thành phần của nhiều men, các men này có đóng vai trò xúc tác trong các quá trình sinh hóa học là nâng cao hoạt tính của chúng Các nguyên tố vi lượng kích thích sự tăng trưởng của thực vật và thúc đẩy sự phát triển của chúng, có tác dụng tăng cường sức chống chịu các sâu bệnh và cho năng suất tăng lên rõ rệt

- Đạm (N): Đạm đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cây bắp Đạm tham gia tích cực trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bắp Cây bắp hút đạm trong suốt quá trình sống của nó, nhưng tập trung nhiều nhất vào giai đoạn bắp con gái đến sau khi đậu hạt (25 – 75 ngày sau trồng) Giai đoạn này cây bắp hút 86% tổng lượng đạm cần thiết để tạo thân, lá, phát triển bộ rễ, các bộ phận của bông cờ và bắp ngô Thời gian đầu (25 ngày sau trồng) và giai đoạn cuối (25 ngày sau thâm râu) bắp hút đạm ít hơn, khoảng 14% (Ngô Hữu Tình, 2003) Mặc dầu nhu cầu đạm của bắp là rất lớn song nếu bón phân đạm quá nhiều cũng gây ra những hiện tượng bất lợi:

+ Kéo dài thời gian sinh trưởng

+ Cây vươn cao, lá xanh thẫm song khả năng chống chịu kém

+ Chín sinh lý, đủ tiêu chuẩn thu hoạch nhưng lá bi và râu bắp vẫn xanh + Lãng phí phân bón, giảm hiệu quả kinh tế

- Lân (P2O5): Lân là nguyên tố tham gia tích cực vào các quá trình trao đổi chất, tổng hợp gluxit, lipit và quá trình hô hấp của cây bắp Lân góp phần tạo dựng

bộ rễ mạnh khoẻ, làm tăng sức sống và khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, đặc biệt là nhiệt độ thấp và thiếu nước Lân làm tăng khả năng kết hạt và phẩm chất của hạt, rút ngắn thời gian sinh trưởng Cũng như đạm, cây bắp hút lân trong suốt quá trình sống của nó nhưng tập trung chính vào giai đoạn từ thời

kì con gái đến thâm râu (hút đến 88% tổng lượng lân) Các giai đoạn còn lại chỉ còn hút 12% Cây bắp thiếu lân biểu hiện khá rõ, đặc biệt ở thời kỳ cây con, ở các lá bình thường có màu đỏ tím (huyết dụ) nhất là các lá non, hệ thống rễ phát triển kém, phân

bố hẹp và nông Ở các giai đoạn sau thể hiện: bông cờ bé, ít hoa, bắp ngô nhỏ, méo

mó, hạt nhỏ (Ngô Hữu Tình, 2003)

- Kali (K2O): Kali có vai trò rất quan trọng trong quá trình quang hợp, tạo hydrat carbon, vận chuyển các sản phẩm quang hợp về hạt Kali cần thiết cho hoạt động của keo nguyên sinh chất, hỗ trợ cho việc hút nước, nâng cao khả năng thẩm thấu và trạng thái trương của tế bào, hạn chế sự thoát hơi nước, nâng cao khả năng

Trang 22

chịu hạn và nhiệt độ thấp Kali giúp cho cây nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh, kali thúc đẩy việc hút và đồng hoá các chất dinh dưỡng khác như đạm và lân, làm tăng hiệu quả phân bón (Ngô Hữu Tình, 2003) Khi thiếu kali:

+ Chóp và mép lá có màu vàng nâu lan dần vào gân lá, các lá dưới bị cháy khô + Khi bổ dọc thân cậy, bên trong các đốt có màu nâu đậm

+ Thiếu kali ít ảnh hưởng đến kích thước bắp ngô song hạt nhỏ, lép ở đầu bắp hoặc đầu bắp không có hạt

+ Cây bắp hút kali chủ yếu vào các giai đoạn đầu đến trỗ cờ phun râu

- Canxi (Ca): Ca tăng cường sự vững chắc của màng tế bào, tạo lập lông hút của rễ và sự lưu thông tinh bột Ca còn đóng vai trò trong trao đổi chất hidratcacbon

và protit Ca là nguyên tố đối kháng với sắt, hạn chế tính độc của sắt dư thừa, ổn định quá trình dinh dưỡng cây bắp (Trần Kông Tấu, 1986) Trong cây bắp Ca có nhiều ở thân lá hơn là ở hạt, nhất là ở các lá già Kết quả phân tích thường ở lá ngọn và cho thấy cây bắp thiếu Ca khi lá chỉ chứa 0,03% Ca Lượng Ca trung bình ở lá thường là 0,76% – 0,8% Triệu chứng thiếu Ca làm lá bắp bị xòe ngang hay rũ xuống, đôi khi hai lá dính lại với nhau Chóp lá ngọn bị nứt, chảy nhựa và đôi khi khô dính lại Triệu chứng này thường gặp ở đất pH thấp (dưới 4,8) và khi bón nhiều K và Mg (Trần Kông Tấu, 1986)

- Ma giê (Mg): Mg tham gia vào thành phần diệp lục và một số coenzym Mg

có vai trò trong quá trình hoá khử của cây cũng như quá trình đồng hoá và vận chuyển photpho (Trần Kông Tấu, 1986) Trong cây bắp Mg chiếm khoảng 0,1% – 0,3% (ở dạng MgO), có nhiều trong lá thân và hạt Trong lá bắp, nhất là lá ngọn, kết quả cho thấy có sự tương quan thuận chặt chẽ giữa nồng độ N và Mg bên trong Điều này chứng tỏ cả N và Mg đều góp phần trong việc trao đổi chất của tế bào Theo Ngô Hữu Tình (2003), bón N cũng giúp tăng sự hấp thu hàm lượng Mg trong cây Ngược lại thiếu Mg ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi N Thiếu Mg sẽ làm lá bắp phát triển kém, phiến lá có những sọc màu vàng nhạt hay vàng cam giữa các gân lá, đôi khi có những đốm tròn bị cháy khô Ở lá già, khi thiếu Mg có màu đỏ tím, ngọn và bìa lá có thể cháy khô Thiếu Mg cũng làm cây giảm sức chống chịu (Trần Kông Tấu, 1986)

- Lưu huỳnh (S): Lưu huỳnh tham gia vào một số chất protit và một số phức hợp este Lưu huỳnh tham gia vào quá trình oxi hoá khử, là một nguyên tố kích hoạt

sự hình thành diệp lục

- Sắt (Fe): Sắt có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất, sắt tham gia vào việc tạo lập, diệp lục và quá trình oxy hoá khử Trong điều kiện đất thiếu canxi, lân và kali, sắt tác động bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây bắp Trong trường hợp này, một lượng lớn sắt tích tụ ở các đốt thân, cản trở việc vận chuyển các chất dinh dưỡng khác

Ngoài những nguyên tố trên, cây bắp còn rất cần Mn, Zn và Cu Hầu hết các nguyên

Trang 23

tố này tham gia tạo thành các coenzym hoặc tham gia hoạt hoá các enzim trong thực vật

2.3 KỸ THUẬT TRỒNG CÂY BẮP

2.3.1 Thời vụ

Thời vụ là yếu tố rất quan trọng, đảm bảo cho quá trình sinh trưởng phát triển bình thường của cây bắp và cho năng suất cao Để lựa chọn đúng thời vụ gieo trồng ta phải nắm vững điều kiện sinh thái địa phương, các điều kiện cơ sở hạ tầng (khả năng phục vụ tưới, tiêu nước, ) và đặc điểm giống lựa chọn Việt Nam tuy là đất nước không lớn song có địa hình kéo dài và phức tạp, điều kiện sinh thái giữa các vùng rất khác biệt, vì vậy thời vụ trồng bắp cũng rất đa dạng (Ngô Hữu Tình, 2003)

2.3.2 Lựa chọn giống và hạt giống

Để lựa chọn chính xác giống cho từng vùng và vụ gieo trồng, chúng ta cần nắm vững điều kiện sinh thái và đặc điểm chính của giống trong từng trường hợp cụ thể Bên cạnh đó cũng cần lưu ý đến hoàn cảnh kinh tế – xã hội, đặc biệt là tập quán địa phương, trình độ dân trí, trình độ thâm canh, hướng sử dụng và đầu ra của sản phẩm

Ở nhiều vùng và địa phương, bắp đã trở thành sản phẩm hàng hoá, thì rõ ràng cần phải gieo trồng những giống theo yêu cầu của khách hàng lớn và ổn định Ở những vùng và địa phương, sản xuất bắp nằm trong một cơ cấu kinh tế khép kín (trồng trọt – chế biến – chăn nuôi và dịch vụ) khi bắp không phải là sản phẩm đem bán thì chọn những giống chủ yếu có năng suất cao, phẩm chất tốt là đủ, đôi khi không cần quan tâm nhiều đến mẫu mã bên ngoài vì sản phẩm hàng hoá cuối cùng là cá, thịt, trứng hoặc sữa,

2.3.3 Chuẩn bị đất trồng

Bắp có bộ rễ chùm rất phát triển, có thể lan rộng với bán kính trên 0,5 m và ăn sâu trên 1 m – 2 m Do vậy, đất trồng bắp cần được cầy sâu, bừa kỹ, sạch cỏ dại

Đối với những vùng bắp tập trung, các lô ruộng lớn, tốt nhất làm đất tiến hành bằng

cơ giới với các khâu chính tuần tự sau:

- Băm cỏ và phế phụ phẩm bằng bừa đĩa nặng

- Cày bằng mày sâu 15 cm – 18 cm

- Băm phá bằng bừa đĩa nặng (1 lần)

- Băm đất nhỏ bằng bừa đĩa nhẹ (2 lần theo 2 chiều vuông góc nhau)

- San bằng và vơ cỏ bằng bừa răng (2 lần)

Đất được chuẩn bị như trên là sẵn sàng cho việc gieo hạt Nếu không tiến hành gieo bằng máy thì rạch hàng bằng một thiết bị như lưỡi vun, sau đó gieo bằng tay trên mặt luống (mùa mưa) hoặc dưới rạch (mùa khô)

Trang 24

2.3.4 Mật độ và khoảng cách trồng

Mật độ trồng là yếu tố quyết định quan trọng đến năng suất Tùy yếu tố đất đai, giống, nước, tình hình sâu bệnh và khí hậu ở mỗi địa phương mà mật độ bắp cũng khác nhau (Dương Minh, 1999)

Theo Ngô Hữu Tình (2003), mật độ trồng bắp phụ thuộc vào vùng sinh thái, mùa vụ, thời gian sinh trưởng của giống và điều kiện thâm canh Nguyên tắc chung là đi càng

xa từ Bắc vào Nam mật độ càng tăng Tuy nhiên giống ngắn ngày mật độ gieo cao hơn giống dài ngày, có điều kiện canh tác tốt thì tăng mật độ

Theo Dương Minh (1999), các thí nghiệm của Đại học Cần Thơ từ 1976 – 1979 đã cho thấy mật độ thích hợp cho vùng phù sa ven sông của ĐBSCL như sau: đối với giống bắp thấp cây (chiều cao < 2 m) và ngắn ngày (sinh trưởng < 80 ngày) nên trồng với mật độ 71.000 cây /ha (70 x 20 cm) vào màu nắng và 57.000 cây /ha (70 x 25cm) vào màu mưa Còn đối với giống cao cây (chiều cao > 2 m) và trung ngày (sinh trưởng > 80 ngày) nên trồng với mật độ 57.000 cây/ha (70 x 25 cm) vào mùa nắng và 47.000 cây /ha (70 x 30 cm) vào mùa mưa

2.3.5 Phân bón

2.3.5.1 Lượng bón

Theo những nghiên cứu gần đây của Dương Văn Chín (2006), với mật độ cần từ 65.000 – 75.000 cây /ha và được bón phân với liều lượng từ 180 – 200 kg /ha năng suất bắp đạt được biến thiên từ 6,5 – 7,9 tấn/ha Mức đạm kinh tế tối ưu trung bình ở các khoảng cách hàng cây khác nhau là 270 kg /ha trên giống DK888 trồng ở vùng Tây sông Hậu Tuy nhiên, ở Cù Lao Dung (Sóc Trăng) năng suất bắp tăng liên tục từ mức bón 100 kg /ha đến 400 kg /ha

Các công thức khuyến cáo về lượng phân N – P – K cho bắp ở vùng ĐBSCL cũng thay đổi từ 100 – 180 kg N + 90 – 120 kgP2O5 + 40 – 60 kgK2O /ha Ở đất kém màu

mỡ cần bón nhiều phân hơn (Dương Minh, 1999)

2.3.5.2 Cách bón

Theo Ngô Hữu Tình (2003), số lần bón phân có thể thực hiện như sau:

+ Bón lót: trước khi làm đất bón toàn bộ lượng phân chuồng (hoặc phân hữu cơ

vi sinh), toàn bộ phân lân + 1/3 lượng urê (tuỳ tính chất đất có thể bón hoặc không bón lót urê) Riêng đất chua nên bón thêm 0,5 – 1 tấn vôi /ha, nên bón trước khi bón lót phân

+ Bón thúc lần 1: khi cây bắp có 4 – 5 lá thật (10 – 15 ngày sau gieo) bón 1/2

N còn lại sau khi bón lót và 1/2 K Để rễ tiếp xúc được phân nhanh nên rạch một rãnh nông 5 cm cách gốc hàng bắp 5 cm, rắc phân rồi lấp đất lại Vì rễ giai đoạn này chưa phát triển mạnh và không có tính hướng phân

+ Bón thúc lần 2: khi cây bắp có 9 – 10 lá (sau gieo 35 – 40 ngày), bón hết lượng phân bón còn lại (1/2 N và 1/2 K còn lại) Thời điểm này hệ thống rễ đã phát

Trang 25

triển rất mạnh, bao phủ hết khu vực quanh gốc, chỉ cần rải đều phân theo hàng cách gốc 5 cm trên mặt đất rồi kết hợp vun gốc lấp phân

2.3.6 Chăm sóc

2.3.6.2 Tỉa dặm

Để loại bỏ cây xấu và đảm bảo mật độ trồng Khoảng 4 – 6 ngày sau khi gieo (cây con được 1 lá) phải gieo dặm những nơi mọc thiếu Sau đó nhổ bỏ những cây mọc yếu, chừa đúng số cây /hốc đã định khi cây được 3 – 4 lá (12 – 15 ngày sau khi gieo) Tỉa và dặm trễ sẽ làm cây mọc yếu, giảm năng suất (Dương Minh, 1999)

2.3.6.2 Làm cỏ, vun gốc

Sau khi bắp mọc đều 2 – 3 lá, nên tiến hành xới xáo mỏng nhằm phá váng hạn chế sự mất nước kết hợp với trừ cỏ Sau đợt phá váng, tiến hành bón thúc lần 1 (Ngô Hữu Tình, 2003)

Phương pháp làm cỏ bằng tay thường được nông dân kết hợp để vun gốc bắp cùng lúc với diệt cỏ lần cuối để giảm đổ ngã (Dương Minh, 1999)

2.3.6.3 Tưới nước

Dù tương đối kháng hạn, cây bắp cũng cần nhiều nước trong giai đoạn nẩy mầm và trổ (10 ngày trước khi trổ và 20 ngày sau khi trổ) Tổng lượng nước bắp cần lúc trổ khoảng 50% tổng lượng nước cả vụ m độ đất luôn đảm bảo 80% độ thủy dung Do

đó, mùa nắng, cần dẫn thủy theo rãnh hoặc tưới ngập cách 4 – 7 ngày /lần khi bắp trổ (Dương Minh, 1999)

Theo Ngô Hữu Tình (2003), bắp cần nước vào các giai đoạn: bắp 3 – 4 lá, khi cây chuyển phương thức lấy chất dinh dưỡng từ hạt sang đất Bắp 6 – 9 lá, khi bắp tạo lập các cơ quan sinh thực Trước và sau ra hoa 7 ngày, giai đoạn xác định số hạt, kích thước hạt và sức chứa đổ đầy hạt

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NG I NƯỚC

Sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng không chỉ phụ thuộc vào sự cung cấp đầy

đủ ẩm độ và ánh sáng mà nó còn phụ thuộc vào các chất dinh dưỡng khoáng (Marschner, 1995) Những nguyên tố đa lượng mà cây trồng có khả năng hấp thu từ đất gồm: N, P, K Còn Ca, Mg và S được gọi là nguyên tố trung lượng vì cây trồng

có nhu cầu hấp thu với một lượng thấp hơn nhiều so với N, P và K Những yếu tố thiết yếu còn lại mà cây trồng hấp thu được gọi là dưỡng chất vi lượng, vì cây trồng cần chúng với số lượng nhỏ, đó là 9 nguyên tố: Fe, Mn, Zn, Cu, B, Mo, Ni, Co và Cl (Brady và Weil, 2002)

Tương tác giữa N và P xảy ra thông thường và làm ảnh hưởng năng suất cây trồng (Marschner, 1995), chủ yếu là do hiệu ứng N làm tăng sự hút thu P bởi cây trồng (Sumner và Farina, 1986) Cơ chế hiệu ứng N bao gồm (i) tăng sự phát triển rễ, (ii) tăng cường khả năng rễ hút thu và hoán vị P, và (iii) tăng P hòa tan là kết quả của giảm pH đất đi kèm với hấp phụ NH4+ (Wilkinson et al., 2000)

Trang 26

Hầu hết cây họ hòa thảo, N và K là chất dinh dưỡng đa lượng đòi hỏi số lượng lớn nhất Vụ trồng năng suất cao đòi hỏi lượng lớn các chất dinh dưỡng này và tương tác

có ý nghĩa về mặt kinh tế trong nâng cao sản lượng bắp thường đi kèm với điều chỉnh sự mất cân bằng của N và K (Miles, 2009)

Ảnh hưởng của việc gia tăng bón N lên nồng độ K trong cây có liên quan đến mức

độ khả năng sinh học ở vùng rễ (Wilkinson et al., 2000) Trường hợp hàm lượng kali trong đất cận biên hoặc giới hạn, sự gia tăng cung cấp N thường dẫn đến giảm nồng

độ K trong cây do ảnh hưởng pha loãng (tương tác không chuyên biệt) Tuy nhiên, dưới điều kiện cung cấp K đầy đủ, bón N tăng làm tăng hút thu K Khi N thiếu hụt nghiêm trọng, thường là hút thu K kém đi mặc dù khả năng sinh học của K không giới hạn

Bắp là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác Cây bắp không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn

là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn Tuy vậy, cho đến nay sản xuất bắp ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu

từ trên tới 1 triệu tấn bắp hạt (Bộ NN&PTNT, 2011)

Theo báo Nông nghiệp Việt Nam (12.12.2012), cây bắp lai được xem là cây trồng có nhiều triển vọng tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Mặc dù sản lượng bắp lai

ở ĐBSCL được nâng cao nhờ vào sử dụng các giống ngô lai trong những năm gần đây, nhưng sản xuất bắp lai của Việt Nam còn có những vấn đề: (i) Năng suất thấp so với trung bình của thế giới; (ii) Giá thành sản xuất còn cao; (iii) Hiện nay các cơ quan khuyến nông ở các Tỉnh ĐBSCL còn lúng túng trong hướng dẫn cho nông dân

về liều lượng và cách bón phân phù hợp cho việc trồng bắp lai ở địa phương

Theo Viện Nghiên Cứu Cây Ngô Việt Nam đối với các giống bắp lai quy ước như P11, CP888, liều lượng bón phân cao: 160 kgN – 100 kgP2O5 – 80 kgK2O trên ha, ngoài ra cần bón thêm phân chuồng với lượng 7 – 10 tấn /ha

Ở đồng bằng sông Cửu Long, cây bắp được trồng tập trung trên một số vùng có đất phù sa Sau một vụ trồng, lượng dinh dưỡng khoáng mà cây bắp lấy đi từ đất là khá lớn Lượng dưỡng chất N, P, K, ca và Mg (kg /ha) mà cây bắp lấy đi ở năng suất 8,3 tấn/ha trên đất phù sa ở Ô Môn – Cần Thơ theo thứ tự là 208, 58, 158, 31 và 49 Khả năng cung cấp dưỡng chất P, K, Ca và Mg từ đất này thì đáp ứng chỉ 72% – 88% so với lượng lấy đi, ngoại trừ N chỉ được đất cung ứng khoảng 25% so với lượng lấy đi (Nguyễn Quốc Khương và Ngô Ngọc Hưng, 2011)

Ca được cây trồng hấp thu từ dung dịch đất dưới dạng ion Ca2+

Nồng độ tiêu biểu của Ca trong dung dịch đất ở các vùng đất ôn đới từ 30 ppm – 300 ppm Trên các vùng đất mưa nhiều, nồng độ Ca trong dung dịch vào khoảng 8 ppm – 45 ppm, trung bình vào khoảng 33 ppm Nồng độ Ca đáp ứng nhu cầu của cây trồng từ 0,1% – 5,0% của trọng lượng chất khô (Nguyễn Thị Xuân Hương, 2009)

Trang 27

Hàm lượng Ca của cây thay đổi trong khoảng 0,1% – 5,0% trọng lượng khô tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng, loại cây trồng và cơ quan của cây Nhu cầu Ca cho sinh trưởng tối hảo ở cây một lá mầm thấp hơn ở cây hai lá mầm rất nhiều (Lonegaran và ctv, 1968; Lonegaran và Snowball, 1969)

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), hàm lượng Mg trong mô cây vào khoảng 0,5%,

và giới hạn thiếu cho cây họ đậu vào khoảng 0,1%, hàm lượng Mg trong hạt biến thiên từ 0,13% – 0,54%, trung bình khoảng 0,20% Trong hạt của cây có dầu có hàm lượng Mg cao vì có hàm lượng lân cao Lượng Mg cây trồng hút thu thường thấp hơn K và Ca

Theo dự án “Quản lý dinh dưỡng theo địa điểm chuyên biệt” bắt nguồn từ chữ tiếng Anh: Site Specific Nutrient Management (SSNM) - chương trình hợp tác Đại học Cần Thơ và Viện dinh dưỡng cây trồng quốc tế, thời kỳ đầu cây bắp hút chất dinh dưỡng chậm, thời kỳ từ 7 – 8 lá đến sau trỗ 15 ngày toàn bộ các bộ phận trên mặt đất cũng như các bộ phận dưới mặt đất của cây bắp tăng trưởng nhanh, các cơ quan sinh trưởng phát triển mạnh, lượng tinh bột và chất khô tăng nhanh Đây là giai đoạn cây bắp hấp thu chất dinh dưỡng tối đa (bằng 70% – 90% dinh dưỡng cả vòng đời cây hút) Ở thời kỳ này nếu cây thiếu nước và chất dinh dưỡng sẽ làm giảm năng suất từ 10% – 20% Trong các yếu tố dinh dưỡng thì đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng bậc nhất của cây bắp

Nhu cầu đạm của bắp nổi bật vào thời kỳ 3 – 9 lá và ở giai đoạn trỗ cờ, việc bón đạm vào các thời kỳ đó thường có tác dụng tăng năng suất rõ rệt Triệu chứng thiếu đạm

là cây thấp, lá nhỏ có màu vàng, các lá già có vệt xém đỏ, cây sinh trưởng chậm, cằn cỗi, cờ ít, bắp nhỏ năng suất kém (Nguyễn Xuân Trường et al., 2000) Cây bắp hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6 – 12 lá sau đó giảm

đi ở các thời kỳ sau

Triệu chứng thiếu lân ở cây bắp biểu hiện bằng màu huyết dụ trện bẹ lá và gốc cây, trái bắp cong queo Trường hợp thiếu nặng lá sẽ chuyển vàng và chết Hiện tượng này xảy ra ở lá già trước, sau đó chuyển sang lá non và phổ biến trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt (Nguyễn Xuân Trường et al., 2000) Mức phân lân phổ biến hiện nay đang khuyến cáo cho cây bắp lai trồng ở Việt Nam là 100 kg – 200 kg lân super trên một hecta (Cục Trồng Trọt, 2008)

Theo Trần Thượng Tuấn & Dương Minh (1979) thì cây bắp cần K ngay từ giai đoạn đầu sau khi mọc Trong các giai đoạn sinh trưởng đầu bắp hút thu K nhiều hơn N, P Cây bắp cần nhiều K trong thời kỳ tăng trưởng tích cực, cho đến khi trổ cờ cây có thể hấp thu khoảng 60% tổng lượng K Trong giai đoạn tạo hột K trong thân cây được chuyển vị vào hột Thiếu K cây bắp sẽ phát triển chậm, lá già sẽ bị vàng, rễ phát triển kém, trái và hột nhỏ, hột dễ bị lép (Dương Minh, 1999)

Nhiều nghiên cứu cho thấy dưỡng chất trong đất trồng bắp ở ĐBSCL đang tình trạng thiếu hụt và việc bón bổ sung một số dưỡng chất làm gia tăng năng suất bắp, đặc biệt

là các vùng đê bao có biểu hiện hàm lượng dưỡng chất trong đất đang bị giảm thấp

Trang 28

Hàm lượng các dưỡng chất trong hạt bắp được ghi nhận: 0,97% – 1,40% N; 0,21% – 0,41% P; 0,27% – 0,48% K; 0,02% – 0,05% Ca; 0,08% – 0,18% Mg Tỷ lệ giữa các dưỡng chất trong hạt: N/P; N/K trên đất phù sa thấp hơn so với đất phèn nhẹ, ngược lại có tỷ lệ Mg /Ca thì trên đất phù sa cao hơn trên đất phèn Sự đáp ứng K và P đối với năng suất bắp thì rất thấp (0,1 – 0,2 tấn /ha) ở Ô Môn và (0,2 – 1,3 tấn /ha) ở Giồng Riềng Khả năng cung cấp dưỡng chất P, K, Ca và Mg từ đất cho cây bắp ở Ô Môn và Giồng Riềng thì đáp ứng chỉ 72% – 88% so với lượng lấy đi, ngoại trừ N chỉ được cung cấp khoảng 25% so với lượng lấy đi (Nguyễn Quốc Khương và Ngô Ngọc Hưng, 2011) Sử dụng kỹ thuật lô khuyết ở tỉnh Sóc Trăng trong vụ Đông Xuân 20 (ĐX) 2005 – 2006 và ĐX 2006 – 2007 cũng cho thấy, mức độ thiếu hụt dinh dưỡng đất ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất bắp lai được xác định theo thứ tự là N >> P >

K (Ngô Ngọc Hưng và ctv,.2009) Thử nghiệm đáp ứng của bón lân trên bắp lai được thực hiện trong nhà lưới trên chín biểu loại đất trồng bắp ở ĐBSCL, kết quả cho thấy các loại đất trong thử nghiệm hầu hết đều có đáp ứng tăng năng suất bắp khi bón P

và được phân cấp từ nghèo đến trung bình theo thang đánh giá Bray (Ngô Ngọc Hưng, 2009) Một nghiên cứu khác cũng cho thấy có sự đáp ứng tăng năng suất của bắp lai khi bón lân trên hầu hết các loại đất ĐBSCL trong điều kiện nhà lưới Sự đáp ứng cao nhất được ghi nhận trên loại đất xám bạc màu như Tri Tôn 2 (151%) và Mộc Hóa (63,4%) (Lý Ngọc Thanh Xuân và Ngô Ngọc Hưng, 2010)

Dựa vào kết quả nghiên cứu, Dobermann và ctv (1996) đề nghị một mạng lưới mới cho quản lý dinh dưỡng theo tiểu vùng Tiểu vùng phải là những vùng có điều kiện đất đai, cơ cấu cây trồng, chế độ tưới tiêu, nguồn nước cung cấp, sâu bệnh xuất hiện,

cỏ dại thường gặp và điều kiện khí hậu thời tiết phải gần giống nhau Khuyến cáo bón phân cho tiểu vùng được xây dựng cho từng giống hoặc nhóm giống cây trồng, cho từng mùa vụ nhau Khuyến cáo bón phân theo tiểu vùng được xây dựng cho từng giống hoặc nhóm giống cây trồng, cho từng mùa vụ khác nhau Mỗi nhóm giống cây trồng có một mức khuyến cáo theo từng mùa vụ cụ thể Theo Witt (2006), quản lý dinh dưỡng chuyên vùng (SSNM) với mục đích cung cấp cho những người trồng bắp những kiến thức để họ sử dụng phân bón hiệu quả nhất và đạt được lợi nhuận tối ưu giữa dinh dưỡng cần cho mùa vụ năng suất cao và nguồn dinh dưỡng bản địa được cung cấp từ tự nhiên như đất, vật chất hữu cơ, thải thực vật vụ trước, phân bón và nước tưới Trong phương pháp bón phân chuyên vùng để xác định được hàm lượng phân bón tối hảo, đạt năng suất cao và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng phân bón, thì việc tính toán khả năng cung cấp các dưỡng chất N, P, K từ đất là rất quan trọng và cần thiết (Nguyễn Mỹ Hoa, 2008)

2 5 ĐẶC ĐIỂM GIỐNG BẮP NK 7328

Giống NK 7328 thể hiện những ưu điểm là: thời gian sinh trưởng trung bình 110 ngày, thích hợp trồng nhiều vụ trong năm Có số lá trung bình, vỏ bẹ mỏng, lá bi bao kín bắp, độ đồng đều cao, bắp to, lõi nhỏ, hạt sâu khi chín có màu vàng cam đậm, đẹp, cứng cây, chống đổ tốt, chịu hạn và sạch bệnh Năng suất ước đạt trên 10 tấn/ha Ngoài ra, giống còn một số ưu điểm nổi bật như: chiều cao đóng bắp phù hợp (120 –

Trang 29

130 cm) thuận lợi cho việc thu hoạch Lá bắp xanh đậm, bản lá to, khi thu hoạch vẫn còn xanh có thể tận dụng làm thức ăn cho gia súc Vỏ bi kín hạn chế được sâu hại (Nguyễn Văn Vinh và ctv, 2013)

Trang 30

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN V PHƯƠNG PHÁP

3.1 PHƯƠNG TIỆN

Giống bắp NK7328

Dụng cụ thu chỉ tiêu ngoài đồng: Thước kẹp, thước dây, cân, khoan lấy mẫu đất và

sổ ghi chép

Dụng cụ phân tích trong phòng thí nghiệm: Cân điện tự 4 số, bình định mức 50 ml,

100 ml, 200 ml, 500 ml, 1000 ml, máy ly tâm, ống chuẩn độ,

Thiết bị phân tích: máy đo quang phổ UV, máy hấp thu nguyên tử, ống Kjeldahl, máy chạy độ đạm,…

Các hóa chất cần thiết: dung dịch H2SO4 (đđ), dung dịch H2SO4 (0,1 N), dung dịch NaOH, amonium Molydate, potassium Antimonyl Tertrate,…

Các loại phân bón được sử dụng: urê (46% N), super lân (16% P2O5, 20% CaO), kali (60% K2O), vôi (20% CaO, 10% MgO) và Magie (92% MgO)

3.2 PHƯƠNG PHÁP

3.2.1 Địa điểm ố trí thí nghiệm

Xã Quốc Thái, xã Khánh An và xã Phú Hữu của huyện An Phú tỉnh An Giang

Hình 3.1: Bản đồ huyện An Phú thể hiện vị trí 3 xã Khánh An, Quốc Thái và

Phú Hữu thuộc địa điểm nghiên cứu của đề tài

Thí nghiệm nông trại được thực hiện trên ba xã, mỗi xã 8 nông hộ ở vụ Đông Xuân

2014 Giống bắp lai được sử dụng là NK7328, mật độ 60 cm x 30 cm (55.000 cây ha

-1

) với 2 hột/lỗ Mỗi ruộng nông dân được bố trí gồm 7 nghiệm thức (Bảng 3.1), diện

Ngày đăng: 08/01/2017, 10:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hoa đực. - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Hình 2.1 Hoa đực (Trang 13)
Hình 2.2: Hoa cái. - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Hình 2.2 Hoa cái (Trang 14)
Hình 2.3: Hạt bắp bổ đ i. - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Hình 2.3 Hạt bắp bổ đ i (Trang 15)
Hình 3.1: Bản đồ huyện An Phú thể hiện vị trí 3 xã Khánh An, Quốc Thái và - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Hình 3.1 Bản đồ huyện An Phú thể hiện vị trí 3 xã Khánh An, Quốc Thái và (Trang 30)
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của  ón NP Ca g đến hàm lượng NPK của bắp lai trên - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của ón NP Ca g đến hàm lượng NPK của bắp lai trên (Trang 34)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của  ón NP Ca g đến hàm lượng NPK của bắp lai trên - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của ón NP Ca g đến hàm lượng NPK của bắp lai trên (Trang 35)
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của  ón NP Ca g đến hàm lượng NPK của bắp lai trên - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của ón NP Ca g đến hàm lượng NPK của bắp lai trên (Trang 35)
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của  ón NP Ca g đến sinh khối bắp lai trên đất phù sa - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của ón NP Ca g đến sinh khối bắp lai trên đất phù sa (Trang 36)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của  ón NP Ca g đến hấp thu NPK trong các bộ phận - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của ón NP Ca g đến hấp thu NPK trong các bộ phận (Trang 37)
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của  ón NP Ca g đến hấp thu NPK trong các bộ phận - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của ón NP Ca g đến hấp thu NPK trong các bộ phận (Trang 38)
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của  ón NP Ca g đến hấp thu NPK trong các bộ phận - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của ón NP Ca g đến hấp thu NPK trong các bộ phận (Trang 39)
Bảng  4.9:  Ảnh  hưởng  của  bón  NP Ca g  đến  tổng  hấp  thu  NPK  của  bắp  lai - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
ng 4.9: Ảnh hưởng của bón NP Ca g đến tổng hấp thu NPK của bắp lai (Trang 40)
Bảng 4.10: So sánh năng suất bắp lai ở các điểm thí nghiệm do ảnh hưởng của - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Bảng 4.10 So sánh năng suất bắp lai ở các điểm thí nghiệm do ảnh hưởng của (Trang 42)
Hình 4.1: Cây bắp được duy trì 2 cây/lỗ được bón N-P-K-Ca-Mg (Hình 4.1a); Trái bắp lúc thu - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Hình 4.1 Cây bắp được duy trì 2 cây/lỗ được bón N-P-K-Ca-Mg (Hình 4.1a); Trái bắp lúc thu (Trang 43)
Hình 4.2:  iểu đồ so sánh năng suất bắp lai giữa các nghiệm thức bón phân tại - Đánh giá khả năng cung cấp đạm, lân và kali cho cây bắp lai trên vùng đất phù sa không bồi tại huyện an phú   tỉnh an giang
Hình 4.2 iểu đồ so sánh năng suất bắp lai giữa các nghiệm thức bón phân tại (Trang 44)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm