Luân trùng là loài có kích thước nhỏ dao động trong khoảng 50 – 200 µm, là thành phần quan trọng trong quần xã động vật phù du ở các loại hình thủy vực nước ngọt Vũ Ngọc Út, 2013.. Mục t
Trang 1TÓM TẮT Nghiên cứu “Khảo sát thành phần loài luân trùng (Rotifera) vào mùa khô ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2014
với 2 đợt thu mẫu qua 7 vị trí khảo sát Kết quả nghiên cứu đã phát hiện được 10 loài Rotifera thuộc 7 giống khác nhau: Brachionus, Keratella, Filinia, Lepadella, Trichocerca, Polyarthra, Lecane Số lượng Rotifera biến động lớn từ 660 – 67.980 ct.m-3 Loài Filinia terminalis có sinh lượng cao nhất và Brachionus angularis là loài có khả năng nuôi sinh khối phục vụ
trong nuôi trồng thủy sản
Từ khóa: Luân trùng, Filinia terminalis, Brachionus angularis, nuôi sinh khối, Long Xuyên
Trang 2ABSTRACT Investigating, “Survey of species of Rotifera in the dry season in the area of Long Xuyen city, An Giang province” was carried out from April to October, 2014 with 2 stage
sampling survey time 7 locations Results showed that found 10 species of Rotifera belonging to seven genus: Brachionus, Keratella, Filinia, Lepadella, Trichocerca, Polyarthra, Lecane The density of Rotifera fluctuated from 660 – 67.980 ind.m-3 Particularly the
species Filinia terminalis with the highest density and Brachionus angularis can use in life
food
Keywords: Rotifera, Filinia terminalis, Brachionus angularis, biomass, Long Xuyen
Trang 3MỤC LỤC
CHẤP NHẬN CỦA HỘI DỒNG i
LỜI CẢM TẠ ii
LỜI CAM KẾT iii
TÓM TẮT iv
ABSTRACT v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
LIỆT KÊ CÁC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 SƠ LƯỢC VỀ VÙNG KHẢO SÁT 2
2.1.1 Vị trí địa lý 2
2.1.2 Khí hậu và thủy văn 2
2.1.2.1 Nhiệt độ 2
2.1.2.2 Thủy văn 2
2.1.3 Đặc điểm kinh tế 3
2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LUÂN TRÙNG 3
2.2.1 Đặc điểm hình thái 3
2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA LUÂN TRÙNG 4
2.4 SỰ PHÂN BỐ CỦA LUÂN TRÙNG THEO HỆ SINH THÁI 5
2.4.1 Sông 5
2.4.2 Rạch 6
2.4.3 Ao 7
2.4.4 Ruộng 7
2.5 SINH VẬT CHỈ THỊ 8
2.6 CHỈ SỐ ĐA DẠNG SINH HỌC 8
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 ĐỊA ĐIỂM THU MẪU 10
3.2 THỜI GIAN VÀ CHU KỲ THU MẪU 10
3.3 PHƯƠNG PHÁP THU MẪU 11
3.3.1 Thu mẫu định tính 11
Trang 43.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MẪU 11
3.4.1 Phân tích định tính 11
3.4.2 Phân tích định lượng 11
3.5 PHƯƠNG PHÁP ĐANH GIÁ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC 11
3.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU 12
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 THÀNH PHẦN LOÀI ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG 13
4.2 SỐ LƯỢNG ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG 15
4.3 TÍNH ĐA DẠNG CỦA ROTIFERA KHU VỰC LONG XUYÊN, AN GIANG 17
4.4 ĐỊNH HƯỚNG LOÀI TIỀM NĂNG ĐỂ NUÔI SINH KHỐI LÀM THỨC ĂN TỰ NHIÊN 18
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20
5.1 KẾT LUẬN 20
5.2 KIẾN NGHỊ 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
PHỤ LỤC 25
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Cơ cấu giá trị GDP của thành phố Long Xuyên qua các năm 3
Bảng 2 Mức độ ô nhiễm của thủy vực với các chỉ số Shannon H’ 9
Bảng 3 Loại hình và vị trí khảo sát Rotifera trên các thủy vực 10
Bảng 4 Mức độ ô nhiễm của thủy vực với các chỉ số Shannon H’ 12
Bảng 5 Kết quả phân tích định tính qua đợt thu mẫu lần 1 13
Bảng 6 Kết quả phân tích định tính qua đợt thu mẫu lần 2 14
Bảng 7 Biến động số lượng Rotifera theo vị trí thu mẫu 17
Bảng 8 Biến động chỉ số đa dạng của Rotifera theo vị trí thu mẫu 18
Bảng 9 Kết quả phân tích định lượng lần 1 25
Bảng 10 Kết quả phân tích định lượng lần 2 25
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 Biến động thành phần loài Rotifera qua 2 đợt thu mẫu 14Hình 2 Sự biến động số lượng Rotifera theo từng đợt khảo sát 16
Trang 7
LIỆT KÊ CÁC TỪ VIẾT TẮT
NXB: Nhà xuất bản
ct: cá thể
cs: cộng sự
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Luân trùng thuộc ngành Rotifera hiện diện trên 2.000 loài trong đó có 95% phân bố trong môi trường nước ngọt Luân trùng xuất hiện rộng trong hầu hết các loại hình thủy vực như sông, kênh, ao, hồ Luân trùng là loài có kích thước nhỏ dao động trong khoảng 50 – 200
µm, là thành phần quan trọng trong quần xã động vật phù du ở các loại hình thủy vực nước ngọt (Vũ Ngọc Út, 2013)
Chúng là mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn trong thủy vực tự nhiên, là thức ăn quan trọng cho ấu trùng tôm cá Bên cạnh đó luân trùng còn là sinh vật chỉ thị cho sự ô nhiễm môi trường cũng như khả năng lọc sạch môi trường của chúng Ngoài vai trò là thức ăn tự nhiên cho động vật thủy sản luân trùng còn là loài chỉ thị môi trường giúp chúng ta dự đoán được mức độ nhiễm bẩn của từng thủy vực
Chính vì những lý do đó, đề tài “Khảo sát thành phần loài luân trùng (Rotifera) vào mùa khô ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” được thực hiện
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát thành phần loài, số lượng Rotifera ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào mùa khô nhằm xác định tính đa dạng, mức độ ô nhiễm nguồn nước và bước đầu định hướng loài có tiềm năng có thể nuôi sinh khối làm thức ăn tự nhiên
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát thành phần loài, số lượng Rotifera ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào mùa khô
Định hướng có tiềm năng có thể nuôi sinh khối làm thức ăn tự nhiên
Đánh giá sơ bộ được mức độ ô nhiễm của môi trường tại khu vực khảo sát dựa vào biến động thành phần loài và số lượng của các loài Rotifera
Xác định tính đa dạng của nhóm Rotifera
Trang 9CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 SƠ LƯỢC VỀ VÙNG KHẢO SÁT
2.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Long Xuyên là trung tâm của tỉnh An Giang nằm ở 10°22′22″ vĩ độ Bắc, 105°25′33″ kinh độ Đông Thành phố có diện tích khoảng 115,31 km2 (Cục Thống Kê tỉnh An Giang, 2012)
Thành phố Long Xuyên cách Thành phố Hồ Chí Minh 189 km về phía Tây Nam, cách biên giới Campuchia 45 km Thành phố nằm bên bờ sông Hậu Tây Bắc giáp huyện Châu Thành, đường ranh giới dài 12,446 km Đông Bắc tiếp giáp với huyện Chợ Mới Tây giáp huyện Thoại Sơn với chiều dài đường ranh giới là 10,054 km Nam giáp quận Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ (Cục Thống Kê tỉnh An Giang, 2012)
2.1.2 Khí hậu và thủy văn
2.1.2.2 Thủy văn
Theo Bùi Đạt Trâm (1985) thành phố Long Xuyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, trong thời gian này mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 10 mang hơi ẩm của gió mùa Tây Nam từ vịnh Thái Lan thổi vào Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau mang theo gió mùa Đông Bắc khô khan thổi từ lục địa Châu Á
Cũng theo Cục Thống Kê tỉnh An Giang (2012) thì trong năm lượng mưa trung bình thấp nhất từ tháng 12 đến tháng 3, lượng mưa cao nhất vào tháng 10, tháng 11 hằng năm, lượng mưa cũng thay đổi theo qui luật tăng từ tháng 4 và cao nhất vào tháng 10, tháng 11 và giảm dần từ tháng 12 đến tháng 3 Lượng mưa thường không vượt quá 100 mm
Bên cạnh đó lưu lượng nước biến động lớn và chịu ảnh hưởng của thủy triều, của lưu lượng nguồn, mưa tại chỗ, gió chướng nhưng dòng chảy trong năm khá ổn định do tác động điều tiết của Biển Hồ Lưu lượng đầu nguồn chảy vào châu thổ phân định theo mùa rõ rệt và biểu thị qua chế độ dòng chảy Vào mùa lũ, nước từ thượng nguồn chảy xuống xuôi theo một chiều (bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11) Trong đó, tháng có dòng chảy lớn nhất
là tháng 9 và tháng 10 Mùa khô, toàn bộ hệ thống sông ngòi, kênh, mương chảy theo hai
chiều, vào mùa này tháng có dòng chảy lớn nhất là tháng 4 (Võ Lâm và cs., 2007)
Trang 102.1.3 Đặc điểm kinh tế
Thành phố Long Xuyên là một trong những trung tâm kinh tế chính trị - văn hóa lớn của Đồng bằng Sông Cửu Long Với những thế mạnh sẵn có về tự nhiên và cả kinh tế xã hội, thành phố đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế theo hướng mở rộng khu vực dịch vụ và công nghiệp trên cơ sở phát huy các thế mạnh nông nghiệp hàng hóa sẵn có
Bảng 1 Cơ cấu giá trị GDP của thành phố Long Xuyên qua các năm
Đơn vị: % Khu vực kinh tế 2009 2010 2011 Dự báo 2015
Công nghiệp và xây dựng 23,7 23,5 23,2 25,5
Nguồn: UBND Tp Long Xuyên, 2011
2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LUÂN TRÙNG
2.2.1 Đặc điểm hình thái
Luân trùng hay còn gọi là trùng bánh xe thuộc nhóm động vật đa bào nhỏ nhất Cơ thể của tất cả các loài luân trùng gồm có một số lượng không đổi tế bào, loài Brachionus chứa khoảng 1.000 tế bào (Dhert, 1996) Luân trùng có kích thước từ 100 – 340 μm (Dhert, 1996) Các con đực có kích thước nhỏ và kém phát triển hơn các con cái, một số chỉ có kích thước 60
µm (Dương Trí Dũng, 2000) Luân trùng có dạng hình trứng dài, hơi hẹp theo hướng lưng bụng, bờ bụng trước có 4 gai dạng u lồi giữa có khe hình chữ V Luân trùng thường phân bố
ở ao đầm nước lợ và vùng cửa sông (Đặng Ngọc Thanh, 1980) Ở nước ta loài luân trùng
thường gặp là loài Brachionus rotundiformis (Trương Sĩ Kỳ, 2004)
Biểu bì chứa một lớp dày đặc các protein giống kêratin được gọi là vỏ giáp Hình của vỏ giáp và mặt bên của cột sống và các phần trang điểm cho phép xác định các loài và các kiểu hình thái khác nhau Cơ thể trùng bánh xe được phân biệt thành ba phần khác nhau gồm đầu, thân và chân Phần đầu chứa cơ quan quay hoặc vành rất dễ được nhận biết bởi các lông tơ hình vành khăn và chính nó là nguồn gốc của tên trùng bánh xe Vành có thể co rụt đảm bảo
sự vận động và chuyển động xoáy của nước làm cho con vật hấp thụ dễ dàng các hạt thức
ăn nhỏ (chủ yếu là tảo và các mùn bã) Phần thân chứa ống tiêu hóa, hệ thống bài tiết và ống sinh dục Cơ quan đặc trưng đối với Rotifera là mề nghiền (tức là bộ máy đã hóa vôi ở vùng miệng), nó rất có tác dụng trong việc nghiền các hạt thức ăn Chân là một cấu trúc có thể co rụt được kiểu vòng không có phần đốt ở một hoặc bốn ngón (Lavens & Sorgeloos, 1996)
2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Nogrady (1993) thì luân trùng là loài ăn lọc và hạt thức ăn liên quan trực tiếp đến kích thước và cấu tạo của tiêm mao và hàm nghiền Sự di chuyển xoay tròn của tiêm mao hướng dòng nước chứa các hạt thức ăn vào trong miệng và những hạt thức ăn thích hợp sẽ được nuốt vào thông qua điều chỉnh của cơ quan cảm giác như Filinia, Keratella, Euchlanis,
Trang 11Brachionus… Còn những giống như Asplanchna, Synchaeta, Trichocerca …sẽ phát hiện ra
con mồi của nó nhờ vào râu cảm giác hay sự phát hiện hoạt chất sinh hóa nào đó (Dương Trí Dũng, 2000)
Thức ăn của luân trùng trong tự nhiên là sinh vật đa bào cỡ nhỏ, tảo, luân trùng nhỏ khác và động vật nổi hay chất lơ lửng (Schluter & Groeneweg, 1981)
2.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA LUÂN TRÙNG
Trong khoảng 2.000 loài luân trùng đã được mô tả thì có đến 95% loài sống trong môi trường nước ngọt bao gồm sông, hồ, ao… Chúng có thể phát triển với mật độ trung bình từ 40 –
500 ct.L- và đôi lúc lên đến 5.000 ct.L- Chỉ có khoảng 5% số luân trùng còn lại là sống trong môi trường nước lợ (Pechenik, 2000; Dương Trí Dũng, 2000)
Ở nước lợ mặn chỉ vài loài luân trùng xuất hiện thường là các loài thuộc giống Synchaeta và
thỉnh thoảng là B plicatilis Park và Marshall (2000) khi nghiên cứu về sự phân bố của luân
trùng từ vùng nước ngọt đến cửa sông thuộc vịnh Chesapeake (Hàn Quốc) cho thấy có sự tương quan nghịch giữa độ mặn với mật độ, sinh khối, thành phần loài luân trùng Tại các
địa điểm có độ mặn từ 0,05 đến 16,03‰, luân trùng B angularis đạt mật độ cao nhất ở độ
mặn 1,52‰ (24,8 ct.L-) và thấp nhất ở độ mặn 8,96‰ (0,4 ct.L-) và không thấy xuất hiện ở
độ mặn 16,03‰ Tương tự loài B calyciflorus và B caudatus phát triển mạnh ở độ mặn
0,07‰ (lần lượt là 63,8 và 48,3 ct.L-) Một số loài phát triển mạnh tại điểm thu có độ mặn
17,38‰ là Synchaeta baltica và S fennica (71,8 và 75,8 ct.L-tương ứng)
Zakaria et al (2007) khi điều tra về sự biến động quần thể động vật phiêu sinh tại vịnh
El-Mex (Alexandria, Ai Cập) với sự pha trộn nguồn nước mặn từ Địa Trung Hải và nước thải
từ đất liền có độ mặn dao động từ 3 đến 39‰ Kết quả cho thấy ở vùng có độ mặn <10‰ luân trùng phong phú với 19 loài, mật độ đạt 86% tổng các loài động vật phù du Các loài
phát triển mạnh bao gồm Ascomorpha saltans, B Angularis (3.318 ct.m-3), B calyciflorus,
B plicatilis đặc biệt loài B urceolaris và loài Filinia longiseta chiếm tỉ lệ cao (68,39 và
14,63% tổng luân trùng tương ứng) Ở độ mặn từ 10 – 30‰, mật độ luân trùng đạt tỉ lệ
57,8% tổng động vật phù du với 19 loài trong đó B urceolaris chiếm ưu thế (79%) kế tiếp
là các loài Ascomorpha sp., B plicatis và B calyciflorus (loài B angularis chỉ có 42 ct.m-3)
Ở độ mặn 30 – 38‰ mật độ luân trùng chỉ đạt 4,2% tổng động vật phù du trong đó loài
Synchaeta okai chiếm ưu thế kế tiếp là B plicatilis, S oblonga và S pectinata (loài B angularis chỉ có 17 ct.m-3) Ở độ mặn > 38‰ chỉ có 2 loài luân trùng xuất hiện là Synchaeta
okai và S pectinata xuất hiện chiếm tỉ lệ 2%
Theo Nogrady (1993) thì nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chức năng sinh lý và quá trình trao đổi chất của sinh vật Ở những thủy vực ôn đới, sự xuất hiện của luân trùng theo mùa càng rõ rệt hơn
Anuraeopsis, Pompholyx… là những loài chỉ thích nhiệt độ ấm, xuất hiện ở vùng ôn đới
hoặc vùng nhiệt đới trong khi Trochosphaera equatorialis, Horaella donneri chỉ được tìm thấy ở vùng nóng Còn những loài như Notholca, Kellicottia, Keratella hiemalis, Synchaeta
lakowitziana,… có thể sống dưới những lớp băng vào mùa đông Tuy nhiên, bên cạnh đó thì
có những loài luân trùng có thể xuất hiện quanh năm và không phụ thuộc vào các mùa mặc
Trang 12dù đôi khi mật độ quần thể của chúng có thể khác nhau tùy thuộc vào điều kiện sống thích hợp (Nogrady, 1993)
Andrew và Fitzsimons (1992) đã chỉ ra rằng sinh khối của luân trùng trong thủy vực chỉ tăng cao khoảng 2 – 3 tháng/năm với sự phát triển của một số loài ưu thế Tại thủy vực nhiệt đới thì sự phát triển sinh khối của luân trùng trong thủy vực phụ thuộc vào mùa mưa hoặc mùa khô mà ít khi ảnh hưởng bởi sự biến động nhiệt độ Trong một nghiên cứu năm 2000 của Park và Marshall tại vịnh Chesapeake đã cho thấy rằng luân trùng bao gồm các loài
Tricocerca marina, Synchaeta spp., Polyarthra vulgaris, Keratella cochlearis và Brachionus spp phát triển vào mùa hè ở vùng nước ngọt và cửa sông với lượng sinh khối
của luân trùng chiếm 10 – 20% tổng sinh khối các loài động vật phù du có kích thước nhỏ trong khi ở các vùng có độ mặn cao thì lượng sinh khối của luân trùng chỉ đạt 3% Cajander (1983) cũng tìm thấy được lượng sinh khối của luân trùng trong tháng 7 tại hồ Finnish chiếm 49% tổng sinh khối cả năm và khoảng 88% trong 3 tháng hè
Mitchell (1992) đã cho biết rằng trong môi trường tự nhiên pH dao động trong khoảng 6 –
9 Giá trị pH nhỏ hơn 5 hoặc trên 10 có thể làm giảm sự phát triển của nhiều loài thủy sinh vật trong đó có động vật phiêu sinh Trong tự nhiên luân trùng có thể sống ở pH từ 5 – 10,
thích hợp từ 7,5 – 8,5 (Trần Thị Thanh Hiền và cs., 2004)
pH có ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển của luân trùng Chúng được phân chia thành
các loại ưa kiềm (B angularis, B.calyciflorus, B quadridentatus), ưa axit (B patulus, B
urceolaris) và các loài rộng pH Berzins và Pejler (1987) đã cho biết rằng luân trùng phân
bố trong môi trường nghèo dinh dưỡng thì pH thích hợp từ trung tính đến thấp hơn trong khi các loài xuất hiện ở thủy vực giàu dinh dưỡng thì pH thích hợp từ trung tính trở lên
Theo Saksena (1987) luân trùng được xem là sinh vật chỉ thị cho chất lượng nước Những
loài như B angularis, B.urceus, Keratella quadrata, Trichocera capucina, Rotaria rotaria… xuất hiện trong vùng nước giàu dinh dưỡng trong khi những loài như Anuraeopsis fissa,
Monostyla hamata, M bulla… lại chỉ thị cho vùng nước sạch
Tại Việt Nam Vũ Ngọc Út và cs (2011) trong một nghiên cứu ở khu vực Cầu Ngang, Trà
Vinh nhận thấy rằng luân trùng chủ yếu xuất hiện vào mùa mưa và các tháng đầu mùa khô
và thường gặp nhất là các giống Brachionus, Keratella
Luân trùng Brachionus angularis phân bố nhiều ở khu vực nước tĩnh, ở độ mặn 0‰, ở độ
mặn 1‰ vẫn xuất hiện nhưng mật độ không đáng kể, ở độ mặn 5‰ không có xuất hiện (Trần Bình Nguyên, 2008)
2.4 SỰ PHÂN BỐ CỦA LUÂN TRÙNG THEO HỆ SINH THÁI
2.4.1 Sông
Sự phân bố của luân trùng ở hệ sinh thái này thường thấp do điều kiện môi trường không thuận lợi như dòng chảy của nước, độ đục cao và thiếu thức ăn (Nogrady, 1993) Các giống loài này sinh sản kém trong vùng có dòng nước chảy và thường đến từ các khu vực ven bờ, đầy cỏ dại, ao tù hoặc các vùng duyên hải khác (Donner, 1970; 1972) Saunders và Lewis (1988, 1989) khi điều tra sự hiện diện của động vật phù du ở trên sông White và sông Oricono của Venezuela cho thấy mặc dù đạt mật độ thấp (138 ct.L-) nhưng luân trùng đã chiếm tỉ lệ
Trang 13khoảng 90% mật độ của động vật phiêu sinh trên sông Vasquez và Rey (1989) điều tra dọc theo sông Oricono (khoảng 900 km) chỉ tìm thấy 100 loài luân trùng trong đó loài đạt mật
độ cao nhất chỉ chiếm 22,9 ct.L- Kết quả điều tra trên sông Zamanti, Develi, Thổ Nhĩ Kỳ
vào tháng 12 năm 2005 cho thấy có sự xuất hiện của luân trùng B angularis, Keratella
cochlearis, K quadrata, K.tecta… (Kaya & Altindag, 2007)
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Viết Phổ (1982) và Trần Trường Lưu (1982) (trích bởi Đặng Ngọc Thanh, 2002) thì sông là nơi cư trú rất quan trọng, được đặc trưng bởi hàm lượng oxy hòa tan cao như sông Hậu 4,3 – 7,9 mg/l Nhiệt độ phụ thuộc vào nhiệt độ khí quyển, nhiệt độ tầng mặt sông Cửu Long trung bình từ 27,5 – 30,00C, sông nhỏ nước chảy chậm nhiệt độ sẽ cao hơn sông lớn nước chảy mạnh pH phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên như đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng mà sông chảy qua, miền nam pH từ 7 – 9 và cao nhất vào mùa khô, thấp nhất vào mùa mưa Độ đục và hàm lượng dinh dưỡng tương đối cao, thường cao nhất vào mùa lũ Mật độ thực vật nổi sông Hồng mùa khô năm 1997 dao động trong khoảng 7.256 – 345.804 tế bào/L, động vật nổi 1.122 – 6.367 con/m3 chủ yếu là Copepoda, Cladocera,
Rotifera (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2002)
Trong một điều tra của Trần Sương Ngọc và Vũ Ngọc Út (2011) ở trên sông Hậu khu vực Thốt Nốt và Ô Môn của thành phố Cần Thơ đã cho thấy sự hiện diện của các loài luân trùng với mật độ 3.844 ct.m-3 trong đó sự hiện diện của Brachionus angularis là 433 ct.m-3
2.4.2 Rạch
Rạch thuộc hệ sinh thái nước chảy và ảnh hưởng rất nhiều từ sông nhưng do rạch nhỏ hơn sông và dinh dưỡng nhận từ nguồn nước thải sinh hoạt hoặc từ các chợ tự phát ven bờ kênh rạch nên có thể dinh dưỡng trong nước cao hơn ở sông Đây là điều kiện cho động vật phù
du phát triển đặc biệt là luân trùng
Tập trung nhiều ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Môi trường nước biến động theo mùa, nguồn nước từ các con sông lớn đổ vào Do thủy vực nhỏ hẹp hơn sông nên môi trường dễ biến động, vào mùa mưa pH thường thấp dao động từ 3,5 – 6 do hiện tượng rửa trôi phèn Vào mùa khô mực nước thấp, nhiệt độ dao động lớn Động vật nổi khá phong phú, không có loài đặc trưng (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Khi khảo sát các thủy vực rạch (Rạch Ngỗng – Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ và Rạch Cái – Quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ) thì sự hiện diện của luân trùng ở mật số rất cao 48.111 ct.m-3 trong đó B angularis hiện diện với mật độ 1.111 ct.m-3 (Trần Sương Ngọc và Vũ Ngọc Út, 2011)
Một khảo sát khác của Dương Trí Dũng và Nguyễn Hoàng Oanh (2012) khi nghiên cứu sự phân bố của động vật nổi trên rạch Cái Khế của Thành phố Cần Thơ ở năm 2010 vào lúc nước lớn và nước ròng trong ngày đã cho thấy số loài luân trùng và động vật nguyên sinh tăng dần khi đi từ sông Hậu vào sâu trong rạch Cái Khế Luân trùng chiếm từ 51 - 100%
trong tổng số loài, riêng loài Filinia longiseta luôn xuất hiện ở tất cả các đợt thu mẫu và các
điểm đã khảo sát
Trang 142.4.3 Ao
Theo Đặng Ngọc Thanh (2002) thì ao có độ sâu trung bình trên dưới 1 m, lớp bùn dày từ 20 – 40 cm Hàm lượng oxy thay đổi theo chu kỳ ngày thường cao vào buổi trưa và thấp nhất vào sáng sớm do sự quang hợp và hô hấp của thực vật thủy sinh Nhiệt độ phụ thuộc vào nhiệt độ của không khí thay đổi theo mùa, tầng nước pH dao động từ 6,5 – 8,6 Hàm lượng dinh dưỡng cao nên nhóm sinh vật nổi rất phát triển Các ao bón phân lượng động vật nổi cao đạt tới 321.000 con/m3, trong khi đó ao không bón phân mật độ chỉ đạt được 55.000 con/m3
Luân trùng sống trong hệ sinh thái này thường có dạng sống phiêu sinh hoặc sống đáy Một
số luân trùng thường sống trong môi trường ao như Brachionus angularis, B calyciflorus,
B caudatus, Asplanchna sieboldi, Keratella tropica… (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980)
Nghiên cứu thành phần quần thể động vật phù du trong 12 ao mới đào được làm đầy ao bằng nước máy và bổ sung nước giếng để duy trì mức nước trong ao và không thả cá, Jenkins (1995) cho thấy luân trùng phát triển chiếm ưu thế về cả mật độ, sinh khối và thành phần loài so với các nhóm động vật phù du khác (47 loài luân trùng trong tổng số 61 loài) Green (1995) so sánh thành phần loài luân trùng sống phiêu sinh và sống bám ở khu vực cửa sông Kemaman và Chukai (Malaysia) và hai ao ở khu vực gần bên cho thấy số loài hiện diện trong
ao (29 loài) thấp hơn nhiều so với 63 loài ở vùng cửa sông
Trần Sương Ngọc và Vũ Ngọc Út (2011) cho biết trong hệ sinh thái ao bao gồm các ao tự nhiên, ao ương và nuôi cá tra cho thấy ở đợt thu mẫu tháng 5/2008 đều có sự xuất hiện của
luân trùng B angularis Tuy nhiên mật độ luân trùng B angularis thay đổi rất lớn từ 695
đến 27.612 ct.m-3 phụ thuộc vào mô hình nuôi Trong ao ương luân trùng B angularis xuất
hiện trong ao ương và đạt mật độ cao nhất là 27.612 ct.m-3 Trong ao nuôi cá tra thâm canh
mật độ B angularis thấp hơn so với trong ao ương (3.778 ct.m-3)
Điều này cũng được Trần Sương Ngọc và Vũ Ngọc Út nhận định trong một nghiên cứu của mình năm 2011 khi cho rằng hệ sinh thái ruộng phụ thuộc rất nhiều vào tác động của con người thông qua mùa vụ trồng lúa vì vậy các điều kiện môi trường biến động rất lớn đặc biệt
là mức nước Chiều cao cột nước được giữ lại trong ruộng nhiều hay ít phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cây lúa Nhiệt độ ở hệ sinh thái này thay đổi theo ngày và đêm cũng như theo các mùa trong năm Vào thời điểm thu mẫu tháng 5/2008 là lúc ruộng lúa chuẩn bị thu
hoạch nên không sử dụng thuốc trừ sâu vì vậy có sự xuất hiện của luân trùng B angularis
với mật độ thấp (833 ct.m-3) với tỉ lệ phần trăm của loài luân trùng này trên tổng số luân
trùng là 0,2% Tuy nhiên trong một nghiên cứu khác của Ngô Thành Trung và cs (2008) khi
khảo sát các thủy vực ruộng lúa ở huyện Gia Lâm, Hà Nội đã tìm thấy sự hiện diện của 9
Trang 15loài Rotifera (Trichocerca capucina, Asplanchna sieboldi, Lecane luna, Lecane bulla,
Euchalanis dilatata, Brachionus falcatus, Platyias quadricornis, Filinia longgiseta, Tetramastix opoliensis) nhưng không phát hiện thấy sự hiện diện của B angularis
2.5 SINH VẬT CHỈ THỊ
Sinh vật chỉ thị là những sinh vật có thể cho biết những thông tin về điều kiện môi trường
và nơi sinh sống của nó thông qua sự tồn tại, vắng mặt hay biểu hiện về tập tính của những sinh vật này Tuy nhiên, sử dụng sự tồn tại của sinh vật để chỉ thị cho môi trường sẽ thích hợp hơn sử dụng sự biến mất của sinh vật khi môi trường thay đổi (Van Gestel & Brummelen,
1995) Theo Lê Văn Khoa và cs (2007), sinh vật chỉ thị là những đối tượng sinh vật có yêu
cầu nhất định về điều kiện sinh thái liên quan đến nhu cầu dinh dưỡng, hàm lượng oxy, cũng như khả năng chống chịu (tolerance) một hàm lượng nhất định các yếu tố độc hại trong môi trường sống và do đó, sự hiện diện của chúng biểu thị một tình trạng về điều kiện sinh thái của môi trường sống nằm trong giới hạn nhu cầu và khả năng chống chịu của đối tượng sinh vật đó
Tính đa dạng của Rotifera thường phản ảnh thông qua chỉ số đa dạng Shannon H’, chỉ số này biểu hiện cho sự phát triển ưu thế của các loài đó trên từng vị trí khảo sát Theo Nguyễn Văn Tuyên (1998) thì chỉ số đa dạng H’ vừa nói lên mức độ đa dạng về loài, vừa nói lên mức đồng đều của các loài đó Giá trị H’ tăng khi số loài trong quần xã tăng, trong thực tế giá trị H’ không vượt quá 5,0 Giá trị H’ càng cao môi trường càng ít ô nhiễm (Lê Trình, 2004)
2.6 CHỈ SỐ ĐA DẠNG SINH HỌC
Để đánh giá tính đa dạng của một quần xã thuỷ sinh vật trong thiên nhiên, người ta thường dùng cách tính toán một số hệ số đa dạng sinh học dùng cho một số quần xã là đối tượng so sánh về tính đa dạng Nguyên tắc của các phương pháp tính toán này dựa trên mối quan hệ giữa số loài và số cá thể có trong một quần xã thuỷ sinh vật, và theo qui luật tính đa dạng của quần xã thay đổi khi hệ sinh thái thuỷ vực có biến đổi, đặc biệt khi bị ô nhiễm
Chỉ số đa dạng sinh học được ứng dụng rộng rãi từ những năm 1960 để đánh giá phản ứng của các quần thể cá trước ô nhiễm (Norris và Georges, 1993) Cairns (1977) nhận định đây
có thể là chỉ số phù hợp và đơn giản nhất để đánh giá sự phong phú loài trong môi trường nước sông suối
Một trong những hệ số sinh học chỉ thị cho đa dạng sinh học được áp dụng nhiều nhất là hệ
số Shannon – Wiener đầu tiên được công bố bởi nhà khoa học Shannon (Shannon và Weaver, 1949)
Hệ số Shannon H’ thường được dùng phổ biến trong việc đánh giá mức độ ô nhiễm một thủy vực căn cứ vào hiện trạng tính đa dạng của quần xã thủy sinh vật sống trong đó, theo một bảng tính sẵn, có giá trị từ H’ >4.5 (rất sạch) tới H’ <1 (rất bẩn) Mặc dù hệ số này chủ yếu dùng cho nhóm sinh vật đáy, nhưng cũng có thể áp dụng cho các nhóm sinh vật khác
Trang 16Bảng 2 Mức độ ô nhiễm của thủy vực với các chỉ số Shannon H’
Trang 17CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỊA ĐIỂM THU MẪU
Xác định thành phần loài và số lượng Rotifera được thực hiện bằng cách thu mẫu trên các thủy vực sông, ao, rạch và ruộng lúa ở khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Thể hiện ở bảng 1
Bảng 3 Loại hình và vị trí khảo sát Rotifera trên các thủy vực
Vị trí Loại hình
thủy vực
Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên, An Giang
Thủy vực nước chảy, ít ô nhiễm
A2 Rạch Giáp với sông Hậu (rạch
Cái Sao), Long Xuyên,
An Giang
Thủy vực nước chảy, ô nhiễm
thịt thâm canh
Vùng nuôi Việt An, Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên, An Giang
Ao cá tra thịt nuôi được 4 – 5 tháng thả với mật độ 50 con/m2
giống thâm canh
Vùng nuôi Việt An, rạch Cái Sao, Long Xuyên,
Ao nuôi cá quảng canh tại phường Mỹ Quý, Long Xuyên, An Giang
Mật độ thả cá thấp, ít cho ăn
A7 Ruộng lúa Phường Mỹ Phước,
Long Xuyên, An Giang
Ruộng lúa là thủy vực tự nhiên mực nước cạn chịu tác động của phân bón, thuốc trừ sâu
3.2 THỜI GIAN VÀ CHU KỲ THU MẪU
Mẫu được thu làm 2 đợt: đợt 1 tháng 04/2014; đợt 2 tháng 05/2014
Mẫu được thu vào buổi sáng (6 – 10h)